Cựu Phụ tá Ngoại trưởng Robert Funseth, người đàm phán chương trình H.O.

Ít năm sau ngày cuộc chiến Việt Nam kết thúc, Hoa Kỳ bắt đầu thảo luận với Việt Nam để đưa những cựu quân nhân Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa và gia đình sang Mỹ định cư, qua chương trình được gọi là H.O, viết tắt từ chữ Humanitarian Operation mà chúng tôi xin được tạm dịch là Chương Trình Nhân Ðạo.

RobertFunsett150.jpg
Ông Robert Funsett hôm 3-4-2005. Photo by Thy Nga

Vô đây nghe

Ðại diện cho Washington để thảo luận với Hà Nội về vấn đề này là ông Phụ Tá Ngoại Trưởng Robert Funseth, từng làm Người Phát Ngôn cho Bộ Ngoại Giao trong thời gian cuộc chiến Việt Nam đang xảy ra.

Ông Funseth nay đã nghỉ hưu và đồng ý dành cho Ban Việt Ngữ chúng tôi cuộc phỏng vấn đặc biệt vào đúng chiều 29 tháng Tư giờ Washington, tức sáng sớm ngày 30 tính theo giờ Việt Nam. Cuộc phỏng vấn do Nguyễn Khanh thực hiện.

Nguyễn Khanh: Chắc ông vẫn nhớ chuyện gì xảy ra ở Washington cách đây 30 năm chứ?

Robert Funseth: đúng giờ này, tức là vào chiều ngày 29 tháng Tư năm 1975, Sài Gòn bắt đầu sụp đổ. Từ phòng điều hành, ông Phụ Tá Ngoại Trưởng Phillip Habib và tôi nói chuyện lần cuối cùng với ông Ðại Sứ Graham Martin.

Ðại Sứ Martin không muốn rời Việt Nam, vì ông ta muốn kéo dài thì giờ để có thể cứu thêm những người khác. Cuối cùng, chúng tôi phải chỉ thị bắt ông đại sứ phải rời nhiệm sở.

Ông đại sứ Martin nói chuyện với tôi và tôi còn nhớ là ông ta bảo sẽ lên sân thượng của Tòa Ðại Sứ, dùng trực thăng để ra hạm đội. Không đầy một giờ đồng hồ sau đó, đại sứ Martin gọi điện lại báo đã ra tới hạm đội bình yên.

Ðại Sứ Martin là một người anh hùng, người con trai duy nhất của ông ta chết ở chiến trường Việt Nam. Ông Martin tìm đủ cách đã hoãn giờ phải rời Sài Gòn vì ông ta muốn di tản được càng nhiều người Việt càng tốt.

Kể từ cái đêm kinh hoàng 29 tháng Tư 1975 đó ở Washington, chúng tôi không bao giờ quên được Việt Nam. Ở ngay Bộ Ngoại Giao, chúng tôi có đặt một tấm bảng tưởng niệm những nhân viên ngoại giao đã hy sinh ở chiến trường Việt Nam.

Tấm bảng này ghi tên biết bao nhiêu nhân viên ngoại giao Hoa Kỳ đã chết vì lý tưởng đem lại tự do và dân chủ cho nhân dân miền NamViệt Nam.

Riêng cá nhân tôi, tôi không thể nào nghĩ rằng 7 năm sau ngày khó quên đó, tôi lại được trao trách nhiệm đàm phán với giới lãnh đạo Hà Nội để yêu cầu thả tù chính trị và cho họ cùng với gia đình sang Hoa Kỳ định cư, cũng như cho những người thuộc diện con lai và thân nhân của những người Việt đang sinh sống tại Mỹ được rời Việt Nam theo chương trình Ra Ði Có Trật Tự.

Nguyễn Khanh: Tại sao chương trình Ra Ði Có Trật Tự được thành hình?

Robert Funseth: Vì lúc đó có biết bao nhiêu người chết trên biển cả, nên chúng tôi muốn phía Việt Nam đồng ý cho những người Việt muốn sang Mỹ được nộp đơn xin định cư và đến Mỹ an toàn hơn.

Nguyễn Khanh: Về chương trình H.O, tức là chương trình đưa tù cải tạo mà trong cuộc điều đình với Hà Nội, Washington gọi là tù nhân chính trị và thân nhân của sang Mỹ, chúng tôi muốn biết ai là người đưa ra sáng kiến này?

Robert Funseth: Khi tôi được cử về làm việc cho Văn Phòng Ðặc Trách Tỵ Nạn của Bộ Ngoại Giao, kế hoạch cứu tù chính trị được đặt trong khuôn khổ của Chương Trình Ra Ði Có Trật Tự và nằm dưới sự hỗ trợ của Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc.

Chúng tôi bắt đầu tham khảo với đại diện của phía Việt Nam ở Geneva, và ngay trong buổi gặp gỡ đầu tiên với họ, tôi được thông báo là trong số những người Hoa Kỳ muốn đón sang Mỹ định cư, thành phần tù nhân chính trị là diện khó nhất. Năm 1982, tôi gặp ông Trợ Lý Bộ Trưởng Hà Văn Lâu và đưa đề nghị cho thân nhân của những người đang cư ngụ ở Mỹ và thành phần tù chính trị được nộp đơn định cư, tức là những cựu quân nhân quân đội Việt Nam Cộng Hòa bị tù cải tạo vì họ có liên hệ với Hoa Kỳ, và những nhà văn, nhà báo, các tu sĩ.

Chúng tôi tiếp tục thảo luận, tiếp tục áp lực Việt Nam qua những phiên họp cấp thấp nhưng kết quả chẳng được là bao. Một năm sau đó tôi gặp lại ông Hà Văn Lâu, tiếp tục yêu cầu và thúc đẩy để đạt kết quả.

Ðến mùa hè năm 1984, tôi đánh giá thấy những cuộc vận động ngoại giao như vậy không đem lại kết quả, nên tôi đề nghị ông Ngoại Trưởng George Schultz trình thẳng với Tổng Thống Reagan là khi thông báo cho Quốc Hội Liên Bang biết về con số người nước ngoài được nhập cảnh vào Mỹ hàng năm, ông Ngoại Trưởng sẽ thay mặt Tổng Thống đưa ra một chương trình mới là nhận 10,000 tù nhân chính trị từ Việt Nam và 5,000 người ở diện con lai.

Sau đó tôi đi Geneva đưa vấn đề này ra nói với đại diện của Việt Nam là ông Trợ Lý Bộ Trưởng Ngoại Giao Lê Mai nhưng cũng không nhận được đáp ứng tích cực, và con số tù nhân chính trị mà chúng tôi hứa nhận định cư cứ mỗi năm mỗi tăng.

Cuối cùng vào năm 1988, tôi đi Hà Nội gặp ông Trợ Lý Bộ Trưởng Trần Quang Cơ và chúng tôi đạt được thỏa thuận đầu tiên. Ðùng một cái chuyện Hà Nội chiếm đóng ở Kampuchea được đưa ra mổ xẻ, Hà Nội bèn loan báo đình chỉ tất cả mọi hợp tác với Hoa Kỳ như hợp tác POW/MIA, hợp tác thảo luận và thực hiện chương trình cho tù chính trị sang Mỹ định cư.

Lúc đó làn sóng người vượt biển tiếp tục xảy ra, những chiếc tầu tiếp tục đến các nước trong vùng, nhiều người chết trên biển cả, bao nhiêu người khác lọt vào tay hải tặc.

Chúng tôi vẫn tiếp tục thúc đẩy, nói với Hà Nội rằng họ không thể nào có quan hệ tốt với các nước láng giềng và với Hoa Kỳ nếu không đồng loạt giải quyết 3 vấn đề then chốt là Kampuchea, POW/MIA và cho tù nhân chính trị sang Mỹ định cư.

Cuối cùng, tại Hội Nghị Quốc Tế Lần Thứ Nhì Về Tỵ Nạn Ðông Dương được tổ chức ở Geneva hồi 1989, tôi gặp ông Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Cơ Thạch là người cầm đầu phái đoàn Việt Nam để trình bầy chính sách của Hoa Kỳ, và phía Việt Nam đồng ý mời tôi trở lại Hà Nội vào tháng Bảy năm đó và hai bên đều hiểu là sẽ đi đến kết quả rõ rệt.

Nguyễn Khanh: Cuộc đàm phán kéo dài bao nhiêu năm mới hoàn tất, theo ông thì tại sao lại kéo dài như vậy không?

Robert Funseth: Tôi không biết rõ chuyện gì xảy ra trong nội bộ của họ ở Hà Nội, nhưng có lẽ vấn đề tù nhân chính trị, tù cải tạo là một vấn đề gây rất nhiều tranh cãi, tôi tin rằng ngay trong nội bộ đảng Cộng Sản Việt Nam, nhất là trong quân đội của họ không muốn thấy chuyện thả tù và cho đi Mỹ định cư xảy ra.

Nhưng cũng có những người thực tế hơn, lượng định rằng nếu Việt Nam muốn cải tiến quan hệ với các nước Ðông Nam Á và với Hoa Kỳ, thì phải làm điều này, phải giải quyết những vấn đề có tính cách nhân đạo.

Nguyễn Khanh: Lúc ngồi trên máy bay đi Hà Nội để ký kết văn kiện đưa những tù nhân chính trị từ Việt Nam sang Mỹ, cảm tưởng của ông như thế nào?

Robert Funseth: Nếu tính từ năm 1982 cho đến năm 1989, tôi thu thập được rất nhiều kinh nghiệm đàm phán với Hà Nội, vì ít nhất là tôi và họ nói chuyện với nhau 25 lần, phần lớn là ở Geneve, có 2 lần ở New York. Vì thế trên đường đi Hà Nội, tôi vừa hy vọng những cũng không lạc quan quá mức.

Tôi còn nhớ rõ là hôm 29 tháng Bảy, sau 2 ngày thảo luận rốt ráo vẫn chưa đi đến kết quả nào cụ thể cả. Cuối cùng tôi đề nghị với người cầm đầu đoàn đàm phán Việt Nam là ông Vũ Khoan là tôi với ông ta gặp riêng nhau, để thảo luận từng điểm một. Chúng tôi cùng nhau giải quyết từng điểm một và cuối cùng văn kiện ngoại giao đó thành hình, tôi và ông ta cùng ký tắt ở Hà Nội.

Nguyễn Khanh: Ông nghĩ gì lúc đặt bút ký kết?

Robert Funseth: Dĩ nhiên tôi rất vui mừng, nhưng đồng thời cũng tiếc là phải mất quá nhiều thời gian mới giải quyết được chuyện này. Phải cho giải quyết được nhanh hơn thì có thể giảm bớt những ngày khổ đau cho những người tù chính trị ở Việt Nam. Ngày ký kết cũng là ngày mà tôi hãnh diện nhất trong 40 năm làm ngoại giao.

Ðến nay, đã có 300,000 người Việt, gồm cả những cựu tù nhân chính trị và gia đình đến Mỹ định cư qua chương trình H.O.

Nguyễn Khanh: Họ có liên hệ với ông không?

Robert Funseth: Nhiều lắm. Trong những năm qua, tôi cảm động, nghẹn ngào vì cảm tình họ dành cho tôi. Tôi nói với mọi người là công này không phải chỉ mình tôi, mà còn liên quan đến rất nhiều người khác nữa, từ những người tham dự đàm phán cho tới những người thực hiện chương trình giúp định cư.

Tôi nghĩ phần nào chương trình này đã bù lại cho những mất mát xảy đến sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, khi Sài Gòn thất thủ, bao nhiêu người phải đi tù. Chúng tôi vẫn kiên trì, không bỏ rơi họ và cuối cùng đạt được thành công.

Nguyễn Khanh: Xin cám ơn ông.

4 thoughts on “Cựu Phụ tá Ngoại trưởng Robert Funseth, người đàm phán chương trình H.O.

  1. Ông Robert Funseth, ân nhân của cựu tù cải tạo VNCH

    ZZZ-1

    Ông Robert Funseth, phụ tá ngoại trưởng kiêm phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ trong thời chiến Việt Nam, qua đời ngày 25 tháng Chín vừa qua trong sự nhớ tiếc của những  gia đình cựu tù cộng sản từ Việt Nam qua Mỹ định cư theo chương trình HO từ năm 1990. Thanh Trúc ghi nhận cảm tưởng của một số cựu tù HO khắp nơi:

    Nếu không nhờ chương trình HO và nhờ nỗ lực ngoại giao của phụ tá ngoại trưởng Robert Funseth thì không chắc những quân nhân  miền Nam  ra khỏi tù cộng sản có thể được tái định cư hợp pháp tại Mỹ từ năm 1990 trở đi.

    Đó là cảm tưởng chung của những cựu sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa, còn được gọi là những người HO vì được qua Mỹ định cư theo chương trình Humanitarian Operation, tạm gọi là chương trình nhân đạo, mà người lãnh nhiệm vụ thương thuyết với phía Việt Nam khi đó không ai khác ngoài ông Robert Funseth .

    Từ Illinois, ông Bùi Bổn, cựu sĩ quan miền Nam bị cộng sản tập trung cải tạo 10 năm, qua Mỹ theo diện HO4 năm 1990:

    Khi ở trong trại tù thì tôi đã nghe được những tin tức là chính phủ Hoa Kỳ có can thiệp với cộng sản Việt Nam để cho một số tù cải tạo và gia đình của họ được ra đi định cư tại  Hoa Kỳ. Ông Funseth là người mà chúng tôi rất biết ơn bởi vì cũng nhớ chính sự ngoại giao của ông at thành thử chương trình HO tị nạn và nhân đạo cho những tù nhân cải tạo được hoàn tất.

    Phải nói thành thật chúng tôi sống được là nhờ công lao của ông Funseth. Nếu không có chương trình HO này thì chúng tôi và gia đình chúng tôi mãi mãi sống trong sự đau khổ và nhục nhã ở trên chính quê hương của chúng tôi. Trước sự ra đi của ông Funseth chúng tôi vô cùng đau lòng và tiếc nuối. Bản thân tôi đã chuyển những tin tức nhanh nhất về tin ông Funseth đã rời bỏ chúng tar a đi đến cộng đồng người Việt.

    Người thứ hai, cũng là HO4 với 6 năm tập trung cải tạo, ông Bùi Phước Ty, hiện cư ngụ tại California:

    Chúng tôi được tin ông Robert Funseth không còn nữa. Với việc làm của ông, với tư cách phụ tá ngoại trưởng Mỹ, ông Robert Funseth đã bỏ không biết bao nhiêu công sức để có thể thương thuyết với chính quyền Việt Nam và sau đó chương trình HO giúp những gia đình của người tù cộng sản tái định cư ở Mỹ.

    Cá nhân  tôi và gia đình chúng tôi thì không bao giờ quên được người đã giúp mình tái lập được một cuộc sống mới ở Hoa Kỳ, con cái có cơ hội học hành và thay đổi cuộc sống từ sự cùng khổ ở đất nước Việt Nam sang xứ người.

    Cá nhân  tôi và gia đình chúng tôi thì không bao giờ quên được người đã giúp mình tái lập được một cuộc sống mới ở Hoa Kỳ, con cái có cơ hội học hành và thay đổi cuộc sống từ sự cùng khổ ở đất nước Việt Nam sang xứ người.
    – ông Bùi Phước Ty

    Chúng tôi được biết vào khoảng tháng Mười Một này tại Nam Cali, anh Nguyễn Phán với tư cách hội phó Hội HO, Thương Phế Binh Và Quả Phụ Việt Nam Cộng Hòa, sẽ tổ chức một buổi hội ngộ cựu tù tại Nam Cali. Chúng tôi sẽ đề nghị ban tổ chức một buổi vinh danh và tưởng niệm ông Robert Funseth. Ngày thang nào còn sống trên cuộc đời này thì chúng ta còn nhớ đến ông Robert Funseth. Hy vọng ban tổ chức sẽ thực hiện trong buổi hội ngộ HO này.

    Phải mất 7 năm ông Robert Funseth mới thành công và ký kết bản thỏa thuận về chương trình HO với viên chức cao cấp  Việt Nam lúc bấy giờ là ông Vũ Khoan.

    Nói về ông Robert Funseth, phụ tá ngoại trưởng thời tổng thống Ronald Reagan, là nói đến một viên chức tận tụy với trách vụ, một con người giàu tình cảm và lòng nhân đạo ngay cả với những người  không phải ruột  thịt của mình:

    Từ năm 1977 Hội Gia Đình Tù Nhân Chính Trị bắt đầu vận động, điểm quan trọng nhất là khi tổng thống Reagan chấp thuận, đồng ý cho Bộ Ngoại Giao cử ông Funseth thương thảo với Việt Nam về vấn đề tù nhân chính trị.

    Không bao giờ chúng tôi trong hội quên cái ngày mà ông Funseth cùng phái đoàn đi qua Việt Nam để ký kết bản thỏa hiệp ngày 30  tháng 7 năm 1989, khi đó ông Funseth đã cầu nguyện một đêm cho việc được hoàn thành. Khi về tới phi trường Bangkok thì ông Funseth đã gọi vợ là bà Marylin để bà báo tin cho chúng tôi biết vì tất cả anh chị em Hội Gia Đình Tù Nhân Chính Trị đều chờ đợi kết quả đó.

    Đó là lời bà Khúc Minh Thơ, người cùng tổ chức Gia Đình Cựu Tù Nhân Chính Trị từng sát cánh với ông Robert Funseth để chương trình HO hoàn thành. Theo bản thỏa thuận này, quân dân cán chính miền Nam được chấp thuận cho sang Mỹ định cư sau khi bị tập trung cải tạo trong các trại tù cộng sản 3 năm trở lên.

    hinh2-400
    Ông Robert Funseth và bà Khúc Minh Thơ

    Không chỉ những cựu sĩ quan HO mà cả những cựu quân nhân không đi theo diện HO, điển hình như người ở Houston, Texas, ông Huỳnh Công Ánh, không giấu được sự bàng hoàng trước tin ông Robert Funseth qua đời:

    Tôi là cựu tù chính trị các trại tù khắp miền Nam tới miền Bắc. Tôi trốn tù đầu năm 1981và qua Mỹ năm 81. Từ đó tôi sát cánh với bà Khúc Minh Thơ và ông Funseth. Sau  khi  có hội Gia Đình Từ Nhân thì tôi thành lập Tổng Hội Cựu Tù Nhân và chúng tôi sát cánh với nhau.

    Tôi biết rất rõ là mỗi lần ông Funseth họp hành với phía bên kia thì ông đều báo về cho bà Khúc Minh Thơ. Cũng nhiều lần, hình như 3 lần, ông có xuống Houston để cùng tổ chức với tôi chương trình vận động đó.

    Tôi biết ông là một người rất tha thiết, rất nhiệt tình. Nếu  không có ông thì tôi e rằng bản thỏa hiệp không có, hoặc là có chậm đi năm mười năm nữa thì liệu anh em HO trong các trại tù khốn khổ mà tôi biết rõ sẽ chết chóc rất nhiều. Cho nên công của ông đối với anh em HO rất lớn. Hàng năm chúng tôi đều có liên lạc với nhau. Khi ông nằm bịnh thì chính bà Khúc Minh Thơ hàng ngày vô bệnh viện và thông báo cho tôi những chi tiết. Từ khi ông nằm xuống thì chúng tôi cứ chờ đợi chương trình tang lễ để chúng tôi lên và có cơ hội đưa tiễn cuối cùng.

    Từ thành phố Dallas, Texas, nhà báo Thái Hoa Lộc, cựu tù cộng sản:

    Thời gian mà tôi biết ông Robert Funseth là khi thành  lập Khu Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị đầu tiên tại Dallas Fort Worth, sau đó chúng tôi phối hợp với 3 khu hội khác là Khu Hội Houston, Khu Hội Nam Cali và Bắc Cali, thì lần đầu tiên mà chúng tôi gặp được ông Funseth là trong lần chúng tôi đi Washington để tham dự bữa cơm ĐồngTâm do bà Khúc Minh Thơ tổ chức, lúc đó ông Funseth đã ký được cái hiệp ước với ông Vũ Khoan ngày 30 tháng Bảy năm 1989. Chúng tôi đã gặp ông rất nhiều lần. Nhờ sự cố gắng trong vòng 7 năm mà ông Robert Funseth đã đưa được một số cựu tù nhân chính trị, trong đó có những chiến hữu của tôi, đến được Hoa Kỳ cùng gia đình của họ gần 300.000 người.

    Sự ra đi của ông Ông Robert Funseth là sự mất mát. Dù không là HO nhưng chúng tôi biết ơn ông, tất cả những tù nhân chính trị đều biết ơn ông.

    Đã có nhiều gia đình HO, khi đã tạm ổn cuộc sống tại Mỹ, tìm cách liên lạc với ông Robert Funseth để thăm hỏi và cảm ơn. Cũng vậy, khi về hưu và không còn phục vụ trong nghành ngoại giao nữa, cựu phụ tá ngoại trưởng Robert Funseth vẫn thường xuyên giữ mối dây thân tình đến những gia đình HO mà ông biết.

    Đó là tính cách của nhà ngoại giao Robert Funseth, người ân của HO. Anh Lê Thành con trai một gia đình đi khá muộn là HO 31, hiện  là giám đốc công ty kỹ thuật cao Luraco nổi tiếng, nói như vậy về ông Robert Funseth:

    Không bao giờ chúng tôi trong hội quên cái ngày mà ông Funseth cùng phái đoàn đi qua Việt Nam để ký kết bản thỏa hiệp ngày 30  tháng Tám năm 1979…
    – bà Khúc Minh Thơ

    Ba của Lê Thành là Khóa 1 đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt, khi miền Nam sụp đổ, ba vào trại cải tạo 7 năm. Ba đi tù cộng sản về thì gia đình rất khó khăn, tuy nhiên nhờ chương trình HO, đặc biệt sự vận động của ông Funseth, thì gia đình Lê Thành sang Mỹ theo diện HO 31 năm 1995 để có được sự đổi đời như vậy.

    Trong thời gian qua Lê Thành cũng may mắn có sự gần gũi với ông, ông có viết thư cho Thành và Thành cũng có viết thư cho ông. Trong những giờ phút hấp hối tại bệnh viện, cô Khúc Minh Thơ hỏi ông có nhớ Tom Lê của Luraco không thì ông nói ông có nhớ, một điều mà hôm qua nói chuyện với cô Khúc Minh Thơ làm Thành rất nghẹn ngào và cảm động. Cho phép Thành đại diện gia đình cũng như toàn thể nhân viên công ty Luraco xin thành kính phân ưu.

    Thể theo ý nguyện của người quá cố, tang lễ sẽ được tổ chức rất đơn giản trong vòng riêng tư với gia đình. Ông Robert Funseth sẽ được an táng bên cạnh mộ phần người vợ thân yêu của ông là bà Marylin Funseth và con trai của hai người.

    Một buổi lễ tưởng niệm ông Robert Funseth sẽ được tổ chức tại Washington DC đầu tháng Mười Hai để những người yêu mến ông có thể đến tham dự đông đủ hơn.

    NGUON

  2. MỘT THỜI… “H. O” – 25 NĂM H. O,
    MỘT CUỘC ĐỔI ĐỜI !

    xma8899-9

    (Riêng tặng tất cả Cựu Tù và gia đình có cùng mẫu số chung H.O, nhân “Ngày Họp Mặt Kỷ Niệm 25 Năm H.O”)

    25 năm, một phần tư thế kỷ !

    Khoảng thời gian khá dài so với một đời ngừơi. Nhưng với những ngừơi H.O, những Cựu Tù Nhân Chính Trị sau nhiều năm tháng đọa đày, khổ nhục trong các Trại tù Cộng Sản , được định cư tại Hoa Kỳ như vừa trải qua giấc mơ. Một giấc mơ không tưởng, một giấc mơ thật đẹp sau giấc ngủ dài với những cơn ác mộng triền miên trên quê hương đau khổ.

    25 năm nhanh chóng trôi qua kể từ tháng Giêng 1990, khi Ngừơi H.O đầu tiên bước lên phi cơ bay đến đất nứơc xa lạ hơn nửa vòng trái đất nhận làm quê hương thứ hai. Ngừơi H.O cùng với gia đình đã phải đối diện muôn ngàn khó khăn trước một xã hội hoàn toàn xa lạ. Chưa kể những cái nhìn kỳ thị cùng với sự phân biệt đối xử cuả một số it người hẹp hòi, may mắn nhanh chân di tản trong giờ phút hai mươi lăm của cuộc chiến. Tuy nhiên Ngừơi H.O đã không ngừng phấn đấu vươn lên, âm thầm chịu đựng, vựơt qua biết bao gian khổ từ ngôn ngữ đến phong tục tập quán hội nhập vào dòng chính xã hội Hoa Kỳ với những thành quả rất đáng tự hào trên mọi lảnh vực từ y tế, văn hóa, kinh tế ,kỹ thuật ,mỹ thuật kể cả quân sự.

    Hơn ai hết, Người H.O và gia đình hiểu rõ Cộng Sản, vì chính họ là những nhân chứng sống trải qua biết bao đau thương tủi nhục từ trong các “Trại Tù Cải Tạo” và cuộc sống nhiểu nhương ngoài xã hội khi đất nước thay ngôi đổi chủ. Niềm tự hào không dừng lại ở một cá nhân, một gia đình mà hầu hêt những gia đình có cùng chung mẩu số H.O.

    Hai chữ “H.O” từ hai mươi lăm năm qua đã tạo một ấn tượng khá sâu sắc trong cộng đồng ngừơi Việt hảỉ ngoại. Người H.O góp phần cho bộ măt Cộng Đồng Người Việt hải ngoại thêm khởi sắc, phong phú và đa dạng trên nhiều lảnh vực, nhứt là Chính trị, Văn Hoá và Xã hội.

    Trước đây hơn mười lăm năm ,một nhân vật Cộng Đồng ( người viết xin phép không nêu tên ) khi viết về Người H.O đã có nhận xét: ” Người H.O khi sang dịnh cư tại Hoa Kỳ đa số già yếu bệnh hoạn, không giúp ích gì được cho xã hội Hoa Kỳ …..”.

    Nhận xét nầy quả thât không sai. ít ra trong thời điểm những năm đâù khi vừa mới định cư. Ngừơi H.O sau bao nhiêu năm sống trong đọa đày tủi nhục, cả tinh thần lẩn vật chất bị hao mòn, đói không đủ ăn, đau không đủ thuốc, chết không có hòm chôn, chỉ quấn bằng chiếc chiếu củ hoặc chiếc mền củ, không có cả tấm bia, ngôi mộ. Sự thiếu thốn vật chất hoà với nổi đau tinh thần từng ngày hủy hoại thân xác, biến Người H.O thành những thể xác bệnh tật, còm cỏi da bọc xương.

    Hai mươi lăm năm sau, nhận xét nâỳ đã hoàn toàn trái ngựơc, nếu không muốn nói là hoàn toàn sai. Ngừơi H.O đã hảnh diện ngẩng măt lên với quê hương thứ hai, với cộng đồng hải ngoại. Hảnh diện với những thành quả đạt đươc không thua kém bất cứ ai may mắn đi định cư trước. Sự thành công không những của thế hệ một rửơi, thế hệ thứ hai mà chính ngay thế hệ thứ nhứt.

    Người H.O thế hệ thứ nhứt dù phảỉ trải qua nhiều khó khăn về sức khoẻ, tuổi tác, ngôn ngử, nhưng vẩn kiên trì vượt qua, đạt được nhiều thành quả đáng kể trong nhiều lảnh vực. Có không ít Bác sĩ, Kỷ sư, Giáo sư, Tiến sĩ ,Nhà Phát Minh,Chủ Nhà Hàng, Chủ Nhân Trung Tâm Sửa chửa Xe, Chủ Nhân Các Cơ Sở Kinh Doanh Bất Động Sản là những “Người H.O” định cư rải rác trên khắp các tiểu bang Hoa Kỳ. Họ không chối bỏ và vẩn luôn hảnh diện với danh xưng H.O nầy.

    Bước đầu cuộc sống mới trên quê hương thứ hai, Người H.O thường làm nhiều nghề nghiệp chân tay thấp kém trong xã hội như chạy bàn trong các nhà hàng Việt Nam, cắt cỏ, cắt chỉ , phụ bếp, lau chùi cầu tiêu, bỏ báo, giử trẻ, rửa xe, làm công trong các nông trại, …..và rất nhiêu công viêc cưc nhọc khác . Người H.O vẩn âm thầm bước đi, kiên trì chịu đựng ,vượt qua mọi khó khăn trở ngại bằng ý chí và sự cần cù, tự vươn lên bằng số vốn kiến thức và kinh nghiệm có được trong cuộc chiến đau thương, dai dẳng trên quê hương.

    Hoa Kỳ là vùng đất cơ hội cho tất cả những ai có ý chí vươn lên, tạo điều kiện cho cuộc sống ngày một thăng tiến. Người H.O đã không bỏ lở cơ hội thăng tiến cho chính bản thân và gia đình. Bên cạnh đó, Người H.O luôn quan tâm giáo dục cho thế hệ con cháu giá trị của thành quả học vấn và sự hội nhập. Kết quả là hiên nay không ít con em của H.O hiên ngang bước vào dòng chính trong mọi lảnh vực trên quê hương thứ hai. Xuất sắc trong những vai trò lảnh đạo, dân cử, trong các lảnh vực chuyên môn, xoá bỏ mọi thành kiến của người bản xứ đối với những người từng mang căn cước tỵ nạn , như lời Khoa Học Gia Dương Nguyệt Ánh phát biểu trong khi nhận lảnh phần thưởng cao quý nhất cho những người đã cống hiến thành tựu cho xã hội ” ….Chúng ta đã trả hết món nợ đối với quốc gia đã cưu mang chúng ta, kể cả lời….”

    25 năm trôi qua nhiều ngừơi vẫn còn thắc măc về hai chử H.O, mặc dù qua sách vở báo chí nhiều học giả đã giải thích xem ra khá hợp tình hợp lý: H.O là hai chử đầu của Humanitarian Operation, hoăc Humanitarian Organization tức là những ngừơi đựơc định cư taị Hoa Kỳ trong Chương Trình Nhân Đạo.

    Gần đây nhất có một khán giả cuả Chương Trình SBTN Morning gửi thư cho hai nhà bình luận tin tức Đỗ Dủng và Mai Phi Long xác nhận trong khi làm hồ sơ định cư ông ta đựơc một viên chức trong sở Ngoại Vụ tại Sài Gòn cho biết chử H là chử đầu của “Học Tâp Cải Tạo” và O là số đệm đầu cuả các số lẻ từ số 1 đến số 9, như H.O1, H.O2 …… Đến số 10 thì không gọi là H.O10, H.O11….. mà chỉ gọi H.10,H 11, H12…….Đây cũng chỉ là một trong nhiều giả thuyết, ngừơi viết xin dành quyền phán đoán cho quý độc giả.

    Con đừơng đi của người Cựu Tù từ các trại “Tâp Trung Cải Tạo” cho đến khi đặt chân lên quê hương thư hai là con đường cam go đầy máu và nước mắt. Nhiều ngừơi kiệt lực, gục ngã, trút hơi thở cuối cùng, lòng còn mang nặng nổi ưu tư nghiệt ngã cho thân phân đọa đày của ngừơi tù không bản án.

    H.O chính là liều thuốc bổ, liều thuốc hồi sinh cho Ngừơi Tù trong các trại “Tâp Trung Cải Tạo” . H.O còn là niềm hi vọng vươn lên cho những thân phận đọa đày, giúp tăng thêm sức chịu đựng. Vựơt qua những đau thương, tủi nhục triền miên mà Ngừơi Tù phải đối diện từng ngày, từng giờ.

    Ngày còn trong Trại “Tập Trung Cải Tạo”,qua tin tức của người thân và gia đình chuyển vào trong những giây phút thăm nuôi ngắn ngủi , người “Tù Cải Tạo” đã biết đựơc tin những cưụ quân,cán chính Việt Nam Cộng Hoà đang bị”Tập Trung Cải Tạo” sẽ có một ngày được sang định cư taị Hoa Kỳ. Từ bản tin ngắn ngủi nầy,một số ngừơi giàu tửơng tượng thêu dệt thêm nhiều câu chuyện lý thú nhằm bổ xung cho niềm hi vọng vươn lên từng ngày từng giờ:

    Nào là phái đoàn Mỹ sẽ vào từng traị “Tâp Trung Cải Tạo” lập danh sách Tù Nhân rồi đưa thẳng ra phi trừơng sang Mỹ.Vợ con và gia đình sẽ đựơc Mỹ rước đi sau.

    Nào là các “Tù Nhân Cải Tạo” sẽ được tập trung vào một khu “kinh tế mới” riêng biệt, phái đòan Mỹ sẽ đến phỏng vấn rồi lần lượt bốc sang Hoa Kỳ. Khi sang Hoa Kỳ Chính Phủ sẽ trả tiền truy lảnh từ ngày 30 tháng 4 năm 1975 lại còn chu cấp nhà cửa khang trang , xe cộ đời mới bóng loáng, thậm chí sẽ còn tặng cho mổi gia đình $30.000 đôla tiền mặt như một sự đền bù cho những tháng năm nghiệt ngã trong lao tù .

    Đại loại những tin như vậy được chuyền miệng nhau hàng ngày từ những “Tù Nhân” được gia đình thăm nuôi. Và để gia tăng niềm tin, các đương sự quả quyết là chính gia đình họ đã nghe lén tin tức qua các đài BBC,VOA cũng như một số các đài truyền thanh khác…

    Hư thực ra sao chưa biết nhưng những tin đồn đải hàng ngày đã làm nức lòng người “Tù Nhân Cải Tao”, như một liều thuốc bổ cực mạnh, thấm sâu vào huyết quản của những thân xác còm cỏi. Tạo nên một sức mạnh tinh thần, một niềm hi vọng để có sức chống chỏi với những tháng năm mờ mịt cuả thân phận “Người Tù Không Bản Án”. Nhiều ngừơi gần như đặt niềm tin tuyệt đối luôn chuẩn bị trong tư thế sẳn sàng ” đề phòng” Mỹ bốc đi thình lình, lại còn căn dặn vợ con về nhà phải luôn sẳn sàng mọi thứ để Mỹ đến rước đi.

    Đôi lúc có tin tức Mỹ sẽ rước đi trong tuần tới hoăc trong tháng tới, mọi việc thương lượng đã xong . Mổi người “Tù Cải Tạo” ra đi Chánh Phủ Hoa Kỳ trả cho Chính phủ Cộng Sản …một chiếc máy cày. Đến Mỹ sẽ được phái đoàn ra tiếp đón trang trọng như tiếp đón các vị anh hùng trở về từ vùng đất chết. Môt ngôi “làng” khang trang với nhiều ngôi nhà cất chung cùng một khuôn mẩu đang sẳn sàng chờ đón anh hùng của Việt Nam Cộng Hoà và gia đình sang ở.

    Thế rồi tuần tới qua đi. Tháng tới cũng âm thầm nhanh chóng trôi qua, chẳng thấy có ai đến rước. Niềm hi vọng vươn lên thật cao để rồi xẹp xuống giống như quả bóng xì hơi. Những gương mặt buồn thiu tiếp tục ngày ngày tay xẻng, tay cuốc, lon gô , aó quần vá víu chằn đụp cùng với những bửa cơm độn khoai, bắp “đạm bạc” không đủ no sau những giờ lao đông khổ nhọc trên những cánh đồng khô cằn sỏi đá.

    Nguồn hi vọng bổng chốc trở thành hiện thực làm nức lòng người Cưụ Tù . Đầu năm 1990 Những Người H.O đầu tiên lần lượt bước lên phi cơ sang định cư tại Hoa Kỳ .Tôi và gia đinh được may mắn ra đi trong đơt đầu tiên nầy, H.O1. Bước lên phi cơ lòng bồi hồi ,buồn vui lẩn lộn.

    Buồn vì phải xa quê hương nơi ghi dấu nhiều kỷ niệm cuả thời ấu thơ, cùng với những thăng trầm cuả một thời chiến trận . Ngồi trên phi cơ bay sang Thái Lan tôi cứ ngở như đang trong giấc mơ. Nhiều lúc tôi cố định thần xem thực hay mơ.Khi phi cơ đáp xuống phi trừơng Bangkok Thái Lan nhìn quang cảnh phi trường nhộn nhịp, xe cộ nối đuôi ,tiếng động cơ phản lực gầm rú trên không trung ,tôi bắt đầu nhận rỏ là thật chứ không là mơ. Tức giấc mơ từ bao nhiêu năm qua đã trở thành hiện thực.

    Vui vì những tháng năm nghiệt ngã qua rồi, đã lùi về dĩ vãng cùng với những đau thương tủi nhục của kẻ bất đắc dỉ phải thua trận.Vui vì những tia sáng lấp lánh ở cuối đường hầm báo hiệu cho một tương lai sáng sủa đang dành cho chính cá nhân và gia đình. Những bước chân ngỡ ngàng, xa lạ trên quê hương thứ hai nhanh chóng luì vaò quá khứ, nhường chỗ cho những ánh mắt đầy tự tin qua những sự lo lắng thật chu đáo của chính phủ Hoa Kỳ và người bản xứ .

    Xin dành hai chữ “Tri Ân” sâu sắc cho Chính Phủ Hoa Kỳ và tất cả những ai đã nhân danh lòng nhân đạo cưu mang cho những người vì vận nước phải sa cơ lở vận.

    Nói đến H.O mà không nhắc đến một vị ân nhân, một người đàn bà có tâm hồn vỉ đại. bao nhiêu năm âm thầm, đơn độc đấu tranh cho Người Cựu Tù được sang định cư tại Hoa Kỳ là một điều thiếu sót. Ngừơi đàn bà có tâm hồn vĩ đại đó chính là bà Khúc Minh Thơ.Tôi có hân hạnh được găp và tiếp xúc với bà Khúc Minh Thơ lần đầu tiên trong một dịp bà từ Virginia về Hungtington Beach Nam California chịu tang ông ngoại chồng, bác sĩ Nguyễn Văn Ngọc nguyên Giám Đốc Bệnh viên Đa Khoa tỉnh Phong Dinh . Bác sĩ Ngọc cũng chinh là người anh họ của tôi. Gia đình bên chồng của bà Khúc Minh Thơ quê quán Bình Dương, là gia đình khoa bảng .

    Bà Khúc Minh Thơ với dáng người phúc hậu, giọng nói nhỏ nhẹ cởi mở đã bày tỏ sự cảm thông với nổi bất hạnh của những người đã và đang trải qua những năm tháng đoạ đày tủi nhục trong các “Trại Tù Cải Tạo” Cảm thông với gánh nặng quằng trên đôi vai của những người thiếu phụ trẻ thay chồng nuôi nấng đàn con nheo nhóc. bên cạnh muôn vàn khó khăn cuả một xã hội đầy nhiễu nhương, bất công và vị kỷ.

    Chính Bà Khúc Minh Thơ đã mang nổi bất hạnh trở thành goá phụ khi tuổi đời vừa tròn 23.

    Bà Khúc Minh Thơ sinh năm 1939 taị Sađéc miền Tây Việt Nam, nay thuộc tỉnh Đồng Tháp. Trước ngày 30 tháng 4 1975 Bà Khúc Minh Thơ đang phuc vụ trong Toà Đại Sứ Việt Nam Cộng Hoà tại thủ đô Manila, Philippine.

    Phu quân bà Khúc Minh Thơ, Đại Úy Hiến Binh Nguyễn Đình Phúc quê Bình Dương, khoá 1 Thủ Đức hi sinh vì tổ quốc trong một chuyến công tác taị tỉnh Vỉnh Long miền Tây. Tin như sét đánh bên tai, Bà Khúc Minh Thơ, tuổi đời còn rất trẻ, tay dắt hai con thơ, bụng đang mang bào thai đứa con thứ ba được năm tháng đi nhận xác chồng.

    Còn nỗi đau nào hơn. Bà Khúc Minh Thơ khóc lóc vật vã trước xác chồng, ôm choàng lấy xác, máu tươi từ trong miệng, mũi của Đại Úy Nguyễn Đình Phúc bổng trào ra như xót thương cho người vợ trẻ bỗng chốc trở thành góa phụ, xót thương cho các con ngây thơ sớm chịu cảnh mồ côi .

    Sau khi đất nước thay ngôi đổi chủ, bà Khúc Minh Thơ tiếp tục lưu laị Phi Luật Tân hai năm. Tại đây bà thường liên lạc với nữ tu Pascal Lê Thị Tríu giúp đở thuyền nhân Việt Nam vượt biển đến Phi. Nhờ vậy bà biết được nhiều tin tức về tù nhân trong các “Trại Cải Tạo”tại Việt Nam, cùng với cảnh đọa đầy tủi nhục mà các cưụ quân cán chánh Việt Nam Cộng Hoà đang phải gánh chịu .

    Năm 1977 Bà Khúc Minh Thơ xin tỵ nạn taị Hoa Kỳ, định cư tại thành phố Arlington, tiểu bang Virginia. Hình ảnh các Tù Nhân cưụ quân cán chánh Việt Nam Cộng Hoà bị đọa đày trong các Traị Tù Cải Tạo luôn ẩn hiện trong tâm trí, thôi thúc bà phải làm một việc gì giúp đỡ cho các tù nhân trong các “Trại Caỉ Tạo ” và gia đình. Cơ may lại đến, bà gặp lại một người bạn củ,bà Hiệp. Bà Hiệp có chồng Mỹ, ông Shef Lawman một chuyên viên của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ phục vụ tại Việt Nam nhiều năm cho đến ngày cuối cùng của cuộc chiến. Ông thường xuyên theo dõi và biết rất rõ tình hình chính trị Viêt Nam. Không bỏ lở cơ hội, bà Khúc Minh Thơ trinh bày ước nguyện với Ông Shef Lawman . Ông Lawman bày tỏ sự ủng hộ, thế là từ đó Hội Gia Đình Tù Nhân Chính Trị Việt Nam được hình thành. Hội được chính thức thành lập vào năm 1977 bà Khúc Minh Thơ là Chủ Tịch sáng lập, hội viên đa số là vợ, con của các tù nhân.

    Những năm đầu Hội hoạt động âm thầm, không nhận được bất cứ một sự tài trợ nào, chi phí họat động do hội tự túc. Đến năm 1982, tổng thống Ronald Reagan đắc cử tổng thống . Ngay trong năm đầu tiên cuả nhiệm kỳ thứ nhứt tổng thống Reagan đã nghỉ ngay đến việc phục hồi danh dự cho cưụ chiến binh Việt Nam, giải quyết các chiến binh Mỹ còn đang bị giam cầm (POW), đồng thời các chiến binh còn mất tích trong chiến tranh (MIA).

    Tổng Thống Ronald Reagan bổ nhiệm ông Robert Funseth, một chuyên gia ngoại giao lảo luyện làm Phụ Tá Thứ Trưởng Ngoại Giao đặc trách tỵ nạn và tù nhân Việt Nam. Từ đó Ông Robert Funseth luôn sát cánh giúp đở cho Bà Khúc Minh Thơ và Hội Gia Đình Tù Nhân Chính Trị. Mặc dù trải qua bao khó khăn, gian khổ có lúc gần như tuyệt vọng Ông Robert Funseth vẩn luôn tận tình giúp đở , an ủi bà Khúc Minh Thơ. Có lúc thấy bà Thơ xuống tinh thần quá, ông Robert Funseth bắt bà phải hứa là không được bỏ cuộc, và bà đã hứa quyết tâm đi cho đến cùng.

    Sau gần 10 năm với biết bao gian lao, khổ nhọc, thăng trầm của Ông Robert Funseth, bà Khúc Minh Thơ và một số viên chức của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, đầu năm 1990 Người H.O đầu tiên đã lên đường đi định cư tại Hoa Kỳ và tiếp nối hơn 300.000 ( Ba trăm ngàn) cưụ tù nhân cùng gia đình lần lượt rời Việt Nam đi định cư.

    Xin có lời tri ân Ông Robert Funseth, Bà Khúc Minh Thơ và tất cả những ai đã đóng góp một bàn tay cho cuộc đổi đời cuả Cưụ tù nhân và gia đình trên quê hương thứ hai.

    Hai mươi lăm năm H.O quả thật là một cuộc đổi đời. Người H.O già yếu bênh hoạn của hai mươi lăm năm về trước đã thay hình đổi dạng. Lấy lại phong độ cuả một thời chiến trận xa xưa mang kinh nghiệm đau thương tủi nhục của những tháng năm đọa đày trong các “Trại Tù Cải Tạo” hun đúc ý chí cho đàn con cháu thế hệ một rưởi và thế hệ thứ hai. Tạo cho con cháu biết sống ,biết trân quý giá trị cuả hai chữ Tự Do.

    Mặc dù đã ổn định cuộc sống và gia đình nơi quê hương thứ hai ,Người H.O vẩn không quên những chiến hữu đã cống hiến một phần thân thể cho quê hương, đang kéo lê cuộc sống tàn phế bên lề xã hội.

    Hội H.O Cứu Trợ Thương Phế Binh và Quả Phụ Việt Nam Cộng Hoà chính là một điểm son từ gần hai mươi năm qua. H.O cưụ Trung Tá không quân Hạnh Nhơn, H.O 1 , chủ tịch Hội mặc dù tuổi đời chồng chất vẩn không quản ngại gian khổ mang niềm vui đến cho các Thương Phế Binh tại quê nhà. Những phần quà tuy rất khiêm nhường nhưng đã mang laị niềm vui lớn lao cho các chiến hữu, làm ấm lòng chiến hưũ và gia đình không may trong chiến trận.

    Bên cạnh H.O Hạnh Nhơn là khuôn mặt quen thuộc cuả cưụ nữ Thiếu Tá Cảnh Sát Nguyễn Thanh Thủy H.O 12, Biệt Đội Trưởng Biệt Đội Thiên Nga Tổng Nha Cảnh Sát VNCH. Mặc dù sức khoẻ yếu kém do ảnh hưởng của hơn 13 (mười ba ) năm trong các traị “Tù Cải Tạo” với nhiều năm biệt giam, H.O Thanh Thuỷ vẩn luôn hăng hái sát cánh với Hội , luôn tận tụy với công việc giúp Hội đạt được nhiều thành quả đáng kể. Ngoài ra còn rất đông cưu Nử Quân Nhân VNCH đã góp phần cho việc điều hành Hội trong nhiều năm qua. Cưụ nử quân nhân trung úy Nguyễn Hoàng H.O 4 , cựu đại úy Nguyễn Phán H.O6 cũng là những nhân tố tích cực của Hội, luôn sát cánh với H.O Hạnh Nhơn và H.O Thiên Nga Thanh Thủy .

    Một bông Hồng tươi thắm nhất xin được trao tặng cho tất cả những ai đã đóng góp cho Hội H.O Cứu Trợ Thương Phế Binh Quả Phụ Việt Nam Cộng Hoà, xoa dịu phần nào vết thương của các chiến hữu không may mắn.

    Hai mươi lăm năm trôi qua. Một cuộc đổi đời kỳ diệu vô tiền khoáng hậu. Người H.O hãnh diện ngẩng cao mặt bước đi. Những thành quả mang laị cho gia đình, cho xã hội góp phần cho sự phồn vinh của quê hương thứ hai là minh chứng hùng hồn cho ý chí vươn lên của những con người trưởng thành trong khói lửa chiến tranh cùng những năm tháng đoạ đày khổ nhục trong các “Trại Tù Cải Tạo”

    Xin tri ân tất cả những ai đã đóng góp một bàn tay cho cuộc đổi đời!

    Đặc biệt xin tri ân cố Tổng Thống Ronald Reagan, Phụ Tá Thứ Trửơng Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ Ông Robert Funseth, ông bà Shef Lawman và Bà Khúc Minh Thơ./.

    Nguyễn Hữu Của
    H.O 1
    (Nguyên Chủ Tịch Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại / Tây Nam Hoa Kỳ

  3. Một H.O. Không Giống Ai ?

    Đáng lý tôi phải viết ra chuyện nầy để chư liệt vị thưởng lãm từ lâu; nhưng cứ lần khân mãi cho đến bây giờ mới “khai bút”! Mà bây giờ có nghĩa là đã qua những 25 năm sau khi chương trình H.O bắt đầu.

    Hồi đó, trước năm 1990, chẳng có ai trong những người tù từ các trại tập trung của Cộng Sản được “tha” về với gia đình mà tưởng tượng được sẽ có một ngày bản thân họ cùng vợ con được thong dong leo lên phi cơ; thực hiện một cuộc “đổi đời” từ địa ngục trần gian tới thiên đường!

    Thế nhưng chuyện khó tin đó đã trở thành sự thật. Chương trình định cư những người tù, trở về từ các trại tập trung của Cộng Sản sau ngày mất nước 30-4-75 đã không còn là hoang đường, là ảo tưởng nữa. Chúng tôi, hàng mấy chục ngàn cựu tù, đủ mọi thành phần quân, cán, chính và dân sự trong guồng máy Việt Nam Cộng Hòa; đã được cứu vớt.

    Ở đây, chúng ta chỉ gói gọn về lãnh vực nhân đạo và tiếng của con tim, để nói lên lòng cảm ơn nhân dân, quốc hội, chính phủ Hoa Kỳ, đã tạo cơ hội cho hàng trăm ngàn những con người chúng tôi được “đổi đời”, làm lại từ đầu trên quê hương tự do dân chủ và tôn trọng quyền con người! Nếu không có chương trình H.O, chúng tôi và gia đình vợ con sẽ sống ra sao trong một đất nước, dưới gót dép râu ngu dốt và nón tai bèo chất chứa hận thù để, đến 40 năm sau kết thúc cuộc chiến, Việt Nam càng ngày càng trở về với thời mông muội của văn mình nhân loại!

    Bốn mươi năm sau cái ngày đen tối 30 tháng tư, 25 năm sau ngày chúng tôi được đổi dời; có rất nhiều chuyện để kể về những H.O. Hàng trăm, thậm chí hàng ngàn câu chuyện nói về sự thành công của những H.O và con cái họ trên quê hương thứ hai như thế nào… Nhưng câu chuyện kể của tôi sau đây thì rất dặc biệt, rất riêng biệt, rất khác biệt với những chuyện bình thường, về một HO hoàn toàn không giống ai trong số những HO mà tôi được quen biết!

    xXx

    blank

    Hình ảnh về một H.O. độc đáo.

    Đại đa số những cựu tù theo diện H.O, qua Hoa Kỳ với hai bàn tay trắng, tháp tùng là vợ con nheo nhóc. Khi đến nơi, trừ một số ít tiếp tục theo học ở các Đại Học Cộng Đồng, sau đó làm những việc chuyên môn… còn đại thể, vừa học Anh Văn trong các trường ESL ban đêm miễn phí, ban ngày tìm việc làm bất cứ loại gì để “bắc cầu” cho các con được đi học; lo cho từng đứa, nguyện cầu cho chúng vào đại học, tốt nghiệp ra trường… Nhìn chung, chúng tôi đều thực tế, tất cả vì tương lai các con, dồn hết sức, dầu tư mọi thứ cho chúng được thành công!

    Trường hợp “cá biệt” sau đây, tôi nghĩ, có thể là rất đặc biệt trong hàng ngũ những cựu tù H.O.! Tôi vẫn thường kêu tù hữu này là thằng, tiếng thằng, tiếng mày tao thân thương suốt thời gian chúng tôi cùng quằn quại trong thê lương, khốn cùng của tầng cuối địa ngục từ trại Long Giao (Long Khánh), ra đến Hoàng Liên Sơn, xuống Hồng Ka (Yên Bái), về Tân Lập (Vĩnh Phú)…Trong hơn một trăm hai mươi con giáp, nó hoàn toàn không giống con nào. Anh em trong tù, đa số bị cú lừa đau đớn của cọng sản, tự ý nộp mình “trình diện đi cải tạo” trong khi nó bị bắn nát đầu gối, bị bắt với vũ khí trên tay, bị tra tấn, bị cùm xiềng rồi mới bị đưa vô tù với hai cánh tay còn bị trói lặt sau lưng! Người cựu tù nầy, lúc mất nước, chỉ là một Trung Úy xuất thân Khóa 2 Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt, chưa có vợ. Khi nghe Dương Văn Minh kêu gọi đầu hàng, nó trốn vào rừng chiến đấu trong hàng ngũ “Phục Quốc”. Tháng 10/1975 bị bắt, bị hành hạ tàn phế một bên chân nên nó chỉ còn một cẳng rưỡi thôi. Khi ở trại K2 Tân Lập, tỉnh Vĩnh Phú, tuy đôi chân khập khiểng nó vẫn hàng ngày ”được phân công” gánh hai thúng đi dọn hết “phân bắc” trong tất cả các nhà xí trong trại ra ruộng rau xanh…! Anh em tù thường gọi là “Thăng cứt”, nó dính chết cái tên từ đó! Sau hơn tám năm nó được ra trại về xum họp gia đình.

    Thế mà, sau khi qua Hoa Kỳ theo diện H.O như bao nhiêu anh em tù khác, nó lại càng không giống ai khi có một “chổ đứng” riêng biệt không ai ngờ. Lúc tôi gặp lại nó, với quân phục rằn ri, mang lon Trung Tá trong trong Oregon State Defense Force, thuộc Oregon Military Department, thì tưởng rằng mình đang nằm mơ, tưởng nó mua đồ lính cũ về mặc lấy le chơi! Không thể nào ngờ một tù chính trị được định cư theo diện “con bà phước” H.O mà, sau 25 năm lại là một sĩ quan trong đội quân phòng vệ tiểu bang Oregon.

    xXx

    blank

    Hình ảnh về một H.O. độc đáo.

    Tôi tham dự trại Hướng Đạo Trưởng Niên mang tên “Bách Hợp 2015” tại Oregon từ ngày 28-29-30 tháng 8 năm 2015. Xét trong số bạn bè định cư ở tiểu bang nầy, quanh quẩn chỉ một mình “Thăng C.” nằm trong danh sách nhờ vả! Qua điện thoại, nó rất hoan hỷ chấp nhận đón ở phi trường và cho tôi tá túc mấy ngày chưa nhập trại…! Yên chí lớn, vợ tôi cũng an lòng vì có bạn tin cẩn để giao “hàng quý hiếm”!

    Cả vợ chồng Thăng có mặt ở phi trường Portland rất sớm đón tôi về nhà cách xa 45 phút đường xa lộ. Hai ông bà rất niềm nỡ và hiếu khách, làm tôi cũng bớt phần lo. Ở khách sạn làm sao bằng tá túc nhà bạn bè để ôn lại những vui buồn của đầy ắp kỷ niệm tù! Sau khi vào nhà, tôi sững sờ với những hình ảnh treo đầy phòng làm việc của Thăng. Nếu không có dịp đến nhà chàng, tôi nghĩ, chẳng bao giờ nhìn được những tấm hình, bằng cấp, huy chương… của người bạn tù H.O thuở trước, hiện tại là một sĩ quan trong quân đội tiểu bang Oregon! Quả thật tôi bị lóa mắt vì không ngờ bạn mình lại thăng tiến trong lãnh vực độc đáo này! Quan sát quanh phòng, nào lễ phục, quân phục làm việc, quân phục tác chiến, các loại mủ mảo, túi ngủ dã chiến… các loại súng cá nhân từ dài đến ngắn. Đặc biệt lần đầu tiên tôi thấy cây súng hình dáng như cold 45, nhưng nhỏ xíu nằm gọn trong lòng bàn tay, rất đẹp!

    Vợ chồng Thăng nhìn tôi cười, tôi thật sự ngạc nhiên và khâm phục người bạn tù ngày nào, bây giờ đường đường là một sĩ quan cấp tá trong quân đội Hoa Kỳ. Sau cơm tối, tôi bèn mon men cố ý “phỏng vấn” nhưng nó cố tình đánh trống lảng, vin đủ mọi lý do từ chối vì “chuyện của tui thật sự không giống ai. Rất tầm thường. Một cái job thông ngôn thông dịch bình thường như mọi người. Còn thua cái job Disney land nữa kìa (cười). Anh em mình, nếu không mất nước, nếu chưa bị leo lên bàn thờ ngồi ngắm gà mái khỏa thân, thì tối thiểu cũng Đại Tá hay Tướng rồi, chứ nhằm nhò gỉ một cái mai bạc này” nó nói.

    Nhưng tao chỉ tò mò muốn biết lúc nào và nguyên do nào mầy vào quân đội Tiểu Bang Oregon. Ở Cali, anh em Tân Lập nghe nói mầy vào lính, cấp bậc trung tá, nhiều đứa thối miệng đồng hóa mầy với quý vị “nhà đòn”. Bây giờ, trước mặt tao là những bằng chứng rất thật; nào hình ảnh, bằng cấp, huy chương, lệnh thăng cấp có chữ ký của Thống Đốc…Và một lô súng ống, đạn dược, quân trang, quân dụng được trử trong nhà mầy! Thú thật, tao không thể tưởng tượng trong anh em mình lại có một H.O mà không giống “H.O.” nào hết trơn dzậy ?!?

    xXx

    blank

    Hình ảnh về một H.O. độc đáo.

    Sau ba ngày trại “Bách Hợp 2015” trong rừng, tôi được Thăng lên tận trại đón về. Bà xã nó đi thăm con gái vừa sanh cháu ngoại. Sau khi ra tù, chàng lấy vợ trẻ hơn những 10 tuổi. Lúc lên máy bay theo diện HO13, bầu đoàn thê tử của nó là một vợ và hai con nhỏ xíu! Hai cháu gái giờ dây là hai Dược Sĩ đang phục vụ trong hai bệnh viện ngay tai Oregon,

    Thăng chỡ thẳng tôi đến trang trại của vợ chồng sở hữu đã 15 năm trước. Theo lời nó kể, lúc đầu mới qua Mỹ, vợ chồng chàng ở Cali, nhưng có bà con ở Washington State và Oregon, nên dọn đến Olympia, sau đó trụ lại Oregon vì hai vợ chồng cùng đi làm cho hãng điện tử Merix. Một năm sau, khi thời cơ đến, nó sang lại và làm chủ một “garage” chuyên sửa hộp số xe với một manager cùng 5 thợ người Mỹ. Từ cơ ngơi này, tiến đến mua hai trang trại, tổng cộng hơn 30 mẫu tây. Quả thật, “giấc mơ Hoa Kỳ” và vận may đã mỉm cười với gia đình nó khiến cho mọi việc đều xuôi tay chèo mát mái một cách nhẹ nhàng!

    Cuối năm 2000, Quân đội Oregon tuyễn dụng một số Thông Dịch Viên các thứ tiếng. Thăng nạp đơn ứng thí, được trúng tuyển. Lúc tuyễn dụng, người ta xem résumé, chấp nhận cho chàng cấp bực Trung Úy, nó không chịu, vì nếu tính từ 1975 thì giờ đây (2000) nó tối thiểu phải là cấp Tá trong QLVNCH. Vì thế, sau đó người ta thuận cho nó mang lon Đại Úy.. Vì cùng lúc đang cưu mang cơ xưởng sữa xe và trang trại… nên chàng xin làm việc theo Hợp Đồng. Thế là từ đó nó ung dung làm việc và tuần tự trèo từ Đại Úy lên đến cấp bực Trung Tá trong 12 năm!

    Trang trại của vợ chồng giờ đây cho người Mỹ mướn trồng cỏ trong kỷ nghệ chăn nuôi bò sửa. Có mấy mẫu trồng táo, mận giống từ Đà Lạt. Tuy vợ chồng đã về hưu thong dong nhân thế, mua nhà trong thành phố, nhưng tới mùa thì phải tốn cả tháng thu hoạch, sấy, đóng gói và phân phối… Nhưng cái “job” quân đội thì chàng vẫn tiếp tục không kể tuổi tác !!!

    Tù chính trị Việt Nam sau 1975, được định cư Hoa Kỳ theo diện H.O. hàng trăm ngàn. Nhưng, theo tôi chủ quan, Nguyễn Thế Thăng là một H.O. độc đáo, có một không hai, vẫn còn theo “binh nghiệp” ngay trên quê hương thứ hai nầy. Hậu duệ thế hệ thứ hai, thứ ba… vào quân đội Hoa Kỳ, mang lon cấp Tá, cấp Tướng là chuyện bình thường. Nhưng nó, chính nó, một người tù H.O mới là chuyện đáng nói! Tôi rất vinh dự có nó là một tù hữu của tôi.

    Letamanh
    Tháng 9 năm 2015

    Bài Đọc Quan Tâm

    30.4.1975 – Ngày Tự Thú của csVN
    30.4.1975 – Ngày Hận Thù của csVN
    VNCH – Sau 30 năm tị nạn csVN
    Chiến tranh nam bắc Mỹ
    Ngô Đình – Hiểm Họa Xâm Lăng
    Hồ Chí Minh – Tên Diệt Chủng thế kỷ 20
    TT Phạm Văn Đồng – Tù Cải Tạo 30.4.1975
    Ghi Chú : Việt Nam – Trung Cộng
    Hòa Giải – Hòa Hợp – Dân Tộc
    Thanh Trừng – Nội Bộ Đảng csVN

  4. Còn đâu một thời ‘tị nạn!’

    Tạp ghi Huy Phương

    Qua một bài viết của Tiến Sĩ Phan Văn Song vào Tháng Mười Một, 2013, chúng ta được biết trên báo “Ép Phê” số 4 tại Paris (không ghi rõ ngày phát hành) ký giả Xuân Mai đã đưa một tin có 22,417 người Việt tại Pháp bị tước bỏ quyền tị nạn, vì đã phản bội tư cách tị nạn của mình.

    Người tị nạn Việt Nam tại phi trường Manila, Philippines, chuẩn bị sang
    định cư vĩnh viễn tại Mỹ. (Hình minh họa: Joel Nito/AFP/Getty Images)

    Nhưng quyền tị nạn là gì?

    Liên Hiệp Quốc định nghĩa về tị nạn như sau: “Đó là người có đủ lý do để sợ rằng bị bách hại vì lý do chủng tộc, tôn giáo, quốc tịch, hoặc vì là thành viên của một đoàn thể xã hội nào, hoặc vì chính kiến, hiện sống ở ngoài quốc gia mà mình mang quốc tịch nhưng không thể nhận được hoặc không muốn nhận sự bảo vệ của quốc gia mà mình mang quốc tịch vì những lý do trên, hoặc là người không có quốc tịch vì ở ngoài quốc gia thường trú nhưng nay không thể trở về quốc gia đó, hoặc là người vì những lý do kể trên không muốn trở về quốc gia thường trú.”

    Tại Việt Nam, khi lực lượng Cộng Sản chiếm miền Nam vào Tháng Tư, 1975, hàng trăm ngàn người dân miền Nam tìm cách ra đi. Số đầu tiên do quân đội Hoa Kỳ cứu vớt, chỉ trong ngày đầu tiên đã có tới 2,074 người tị nạn được chuyển an toàn tới hàng không mẫu hạm Midway. Tiếp theo là hàng loạt người chạy trốn Cộng Sản bằng đường biển và đường bộ suốt thập niên 1980 lên hơn một triệu người. Tình hình tương tự ở Lào và Cambodia cũng mở đầu cho hàng trăm ngàn người trốn tránh chính sách áp bức của chính quyền vượt biên giới sang Thái Lan.

    “Ông Nguyễn Văn Tuyền, 59 tuổi, đến định cư tại Pháp năm 1980. Với lá đơn thống thiết như sau: ‘Nếu tôi ở lại, nhà cầm quyền CSVN sẽ bắt giam, đánh đập và bỏ tù không có ngày ra. Vì lý do nhân đạo, tôi trân trọng thỉnh cầu nước Pháp, vui lòng chấp thuận cho tôi được tị nạn chính trị, sống tạm dung trên mảnh đất tự do này, và tôi chỉ trở về quê cũ khi nào quê hương tôi không còn chế độ độc tài Cộng Sản.’”

    Nhưng ông Tuyền đã phản bội tư cách tị nạn của ông đến bảy lần từ năm 1995 đến năm 2000. (Theo tài liệu của OFPRA – Office Francais de Protection des Réfugiés et Apatride – Văn Phòng Bảo Vệ Người Tị Nạn và Vô Tổ Quốc).

    Ngày 27 Tháng Sáu, 2000, ông Tuyền và 544 Việt kiều Pháp bị OFPRA gởi thơ thông báo rút lại thẻ tị nạn, với lý do trở về quê cũ khi còn chế độ độc tài Cộng Sản.

    “Chiếu theo điều 1, khoản 2A của Hiệp Định Geneva ngày 28 Tháng Bảy, 1951, chúng tôi thu hồi thẻ tị nạn, đồng thời cũng trình lên Cao Ủy Tị Nạn LHQ, kể từ nay, OFPRA không còn chịu trách nhiệm với ông, về tình trạng cư trú, xin việc làm, hưởng trợ cấp xã hội theo diện người tị nạn chính trị.”

    Được biết, từ năm 1988 đến năm 2000, tổng số người Việt ở Pháp bị truất bỏ quyền tị nạn và quyền lợi, với con số là 22,417.

    Bài viết ghi như sau: “Chính phủ Việt Cộng qua các đại sứ từ Võ Văn Sung, Mai Văn Bộ, Trịnh Ngọc Thái đến Nguyễn Chiến Thắng đã coi người Việt Nam là thành phần cực kỳ phản động, cần phải triệt hạ, hoặc áp dụng chính sách gậy ông đập lưng ông. Đó là, dễ dãi trong việc cấp chiếu khán cho họ, để họ bị OFPRA cắt quyền tị nạn và trợ cấp xã hội. Sau khi cấp chiếu khán, tòa đại sứ thông báo danh sách cho Bộ Nội Vụ Pháp biết tên họ của những người vi phạm luật tị nạn. Một khi mất thẻ tị nạn thì mất luôn thẻ thường trú (Carte de Séjour) nên không xin được việc làm. Trường hợp đó, muốn sống ở Pháp trên ba năm, thì phải có sổ thông hành của chính phủ CSVN, để trở thành công dân Việt Cộng cho đến mãn kiếp. Cái thâm độc của Việt Cộng là như thế.”

    Tiến Sĩ Phan Văn Song có nói đến việc xin tị nạn ở Pháp, như khi được nước Pháp nhận cho vào, việc đầu tiên là làm đơn xin tị nạn, nói về lý do phải bỏ nước ra đi, nếu ở lại sẽ bị tù đày, kỳ thị và trả thù. Quy chế tị nạn chánh trị được chứng minh bằng tư cách vượt biên trốn chạy ra khỏi biên giới nước Việt Nam của mình, bằng đường bộ, đường biển, vượt biển được tàu buôn vớt, hay vượt biên đến một trại tị nạn ở một nước thứ ba.

    Cơ quan bảo vệ người tị nạn, sau khi người tị nạn tuyên thệ và ký tên hứa không về Việt Nam nữa, sẽ cấp cho họ thẻ tị nạn, gọi là thẻ OFFRA. Với cái thẻ này, người mang thẻ được chứng minh là người “réfugié,” tức là người tị nạn, và từ nay họ cũng là người “vô tổ quốc” (apatride) luôn, đương nhiên sẽ mất luôn quyền công dân, hết còn là người CHXHCN Việt Nam nữa!

    Hưởng được quy chế tị nạn là được giấy tạm trú (Carte de séjour temporaire), giấy phép đi làm (Carte du travail), có trợ cấp bảo hiểm xã hội (Sécurité Sociale), có trợ cấp y tế (bác sĩ, bệnh viện), trợ cấp nhà (APL-Allocation Pour le Logement). Ở Pháp còn các loại trợ cấp đặc biệt khác như trợ cấp mẹ đơn chiếc không chồng mà phải nuôi con, trợ cấp cho con bú, nuôi con không có sữa hay không muốn cho con bú, thì có trợ cấp để mua sữa bò hay sữa bột.

    Du lịch là chuyện nhân quyền, nên muốn đi du lịch đã có sổ thông hành (Titre de Voyage). Đi đâu cũng được nhưng dân tị nạn Việt Nam bị cấm đi du lịch ở các quốc gia gần nơi mình bỏ xứ ra đi.

    Dân tị nạn muốn qua mặt việc kiểm soát về Việt Nam thì đã có tòa lãnh sự lo, họ chỉ cần ghi danh vào Hội Việt Kiều Đoàn kết, Liên Hiệp Việt Kiều, Việt Kiều Yêu Nước, các cơ quan này lo giấy đi du lịch Malaysia, từ đây sẽ về Việt Nam và trở lại. Nhưng những ai đi theo lối này, sẽ bị các cơ quan ngoại giao Cộng Sản thông báo danh sách lại cho cơ quan OFPRA để cắt quyền tị nạn. Trong trường hợp này những ai không vào được quốc tịch Pháp để có dân quyền như một người dân địa phương thì phải có giấy chứng nhận của tòa đại sứ hay lãnh sự quán Việt Nam, chứng nhận họ là công dân Việt Nam, quốc tịch Việt Nam, có sổ thông hành Việt Nam, sinh viên có ghi danh đại học, hoặc làm việc ở một cơ quan ngoại giao Việt Nam, hay có hợp đồng làm việc với một công ty Pháp hay hãng ngoại quốc tại Pháp, đóng thuế lợi tức cho nước mình cư ngụ để trở thành Việt Kiều đúng nghĩa.

    Ngày nay ở Pháp không biết còn ai là thuộc diện tị nạn. Phần lớn đã vào quốc tịch Pháp, số còn lại theo tòa đại sứ Việt Cộng để làm Việt kiều cư ngụ, làm ăn trên đất Pháp.

    Liệu ngày nay, bốn triệu người Việt ở ngoại quốc, ai còn mang trong mình cái “căn cước tị nạn” vì Việt Cộng áp chế mà phải bỏ nước ra đi. Trong những người này, ai là tị nạn chính trị, ai là tị nạn áo cơm, ai là Việt Kiều, ai là Việt Cộng, ai đã trở thành lưu vong, ai nhận một đất nước khác làm quê hương?

    Theo nguồn tin trong nước, những ngày cuối năm 2014, có một triệu “kiều bào” về Việt Nam đón Tết Ất Mùi … và con số tiền hải ngoại rót về Việt Nam năm 2014 ước tính lên đến $13 tỷ! Nhìn quanh sinh hoạt của cộng đồng người Việt chúng ta ở đây hay ở đó, con số này, dù có bị thổi phồng lên đi nữa cũng là chuyện rõ ràng và đáng buồn!

    Không phải chuyện ông Nguyễn Văn Tuyền, tị nạn Cộng Sản ở Pháp năm 1980, từ năm 1995 đến năm 2000 đã trở về Việt Nam bảy lần, tôi biết một người, nguyên là thiếu úy tị nạn đến Mỹ từ năm 1975, tính đến năm 2012 đã trở lại Việt Nam 57 lần. Trong hai năm nay, không còn gặp, tôi không biết con số lượt đi-về này đã tăng thêm bao nhiêu lần nữa?

    Chúng tôi đồng ý với kết luận của Tiến Sĩ Phan Văn Song ở Pháp, “Chỉ tội nghiệp cho những người còn tâm huyết ký tên thỉnh nguyện với chánh phủ Mỹ, chánh phủ Úc xin hãy đặt điều kiện nhân quyền với chánh phủ Việt Nam. Người Việt tị nạn chúng ta có ai đặt điều kiện nhân quyền với Hà Nội không, khi hằng năm gởi về $10 tỷ, khi hằng năm trở về du hý, du lịch? Mình không thể nhờ người ta đấu tranh nhân quyền, cho dân chủ, cho tự do, của dân tộc mình, khi mình không làm gì hết!”

    nguon

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s