Hồ Chí Minh là tên Diệt Chủng thế kỷ 20

nomaino
Về đường lối chính trị độc ác của Lê-nin, Simon Leys (Essais sur la Chine, Robert Laffont, Paris, 1998) trích một câu nói kinh điển của Lê-nin. Cần ghi ra đây để thấy tại sao cộng sản phải cai trị độc tài triệt để : « Một chế độ sẵn sàng thực thi khủng bố không giới hạn thì không thể nào bị sụp đổ ». Nguồn . Tại bài viết: CHUNG QUANH VÀI LUẬN ĐIỂM MỚI BÊNH VỰC HỒ CHÍ MINH (Ở gần cuối trang này). 

Hồ Chí Minh là tên Diệt Chủng thế kỷ 20.
(Lãnh tụ đảng cộng sản Vietnam)

Ngày 7.10.2014, theo sự tham khảo của báo Daily Mail, một tờ báo lớn hàng đầu tại nước Anh Quốc. Hồ Chí Minh cũng có tên trong danh sách những kẻ diệt chủng độc ác nhất thế kỷ 20 trên thế giới .

Báo Anh Quốc (Dailymail) cho biết Hồ Chí Minh lãnh đạo chế độ cộng sản Việt Nam từ năm 1945 đến 1969 đã tàn sát giết chết khoảng 200.000 người Việt (đây là con số mặt nổi tại Bắc Việt) .

zzdietchung-1

Nhưng con số đến hàng triệu người Việt chết qua cuộc Cải Cách Ruộng Đất, Nhân Văn Giai Phẩm và đưa quân Bắc Việt vào đánh chiếm Nam Việt khoảng 1.7 triệu người .

zzhcminh

Northern Vietnam
The death toll: 1.7 million
Years in power: 24 (1945-1969)
The most heinous crime: the Vietnam War
Type of regime: communist
Cause of death: heart failure

Vậy, tại sao ? Chế Độ Cộng Sản Việt Nam tôn vinh một tên diệt chủng sát nhân Hồ Chí Minh là “Cha già Dân Tộc” là bác Hồ vĩ đại … Chúng đưa vô sách vở dạy tại các trường học buộc học sinh phải học tập làm theo tư tưởng, gương đạo đức Hồ Chí Minh. Và tuyên truyền trên đài phát thanh, truyền hình cho toàn dân Việt già trẻ cả nước phải học tập làm theo gương và đạo đức của tên diệt chủng dã man nhất trong thế kỷ 20 trong tầm cỡ Thế Giới như Joseph Stalin, Mao Zedong, Adolf Hitler…

Trước mắt thấy, người Cộng Sản Việt Nam được đào tạo theo gương đạo đức Hồ Chí Minh . Cho nên chúng lãnh đạo đất nước Việt Nam đã đưa xã hội hiện nay con người gần như mất sạch đạo đức nhân bản tinh hoa của Dân Tộc Việt Ngàn Năm Văn Hiến .

Vivi
Norway 28.2.2015

Tài liệu :
http://www.dailymail.co.uk/home/moslive/article-2091670/Hitler-Stalin-The-murderous-regimes-world.html
http://oddstuffmagazine.com/13-bloody-dictators-of-the-20th-century.html
___________________

Những lời vàng ngọc .

1- Ta thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vua đất Bắc.
( Trần Bình Trọng )

2- “Thưa Ngài Đại sứ, tôi biết tình trạng hiện nay rất là nguy hiểm. Đã đến đỗi như vậy Hoa Kỳ cũng có phần trách nhiệm trong đó. Nay ông Đại sứ đến mời tôi ly hương, tôi rất cảm ơn ông Đại sứ. Nhưng tôi đã suy nghĩ kỹ và dứt khoát ở lại với nước tôi. Tôi cũng dư biết rằng Cộng Sãn vào được Sài Gòn, bao nhiêu đau khổ, nhục nhã sẽ trút xuống đầu dân chúng miền Nam. Tôi là người lãnh đạo hàng đầu của họ, tôi tình nguyện ở lại để chia sẻ với họ một phần nào điều đau khổ tủi nhục, nỗi thống khổ của người dân mất nước”.

(Cố TT Trần Văn Hương – 29/4/1975 –
trả lời Đại sứ Hoa Kỳ G. Martin)

3- “Nếu tôi thắng trong cuộc chiến, tôi sẽ không kết án các anh
như các anh kết án tôi. Tôi cũng không hạ nhục các anh như
các anh bôi lọ tôi. Tôi cũng không hỏi các anh câu mà các anh hỏi tôi.
Tôi chiến đấu cho tự do của người dân. Tôi có công mà không có tội.
Các anh không ai có quyền kết tội tôi. Lịch sử sẽ phán xét các anh là giặc đỏ
hay tôi là nguỵ . Các anh muốn giết tôi các anh cứ giết đi. Không cần phải bịt mắt”.

(Cố Đại tá Hồ Ngọc Cẩn – 14/8/1975
bị CS xử bắn tại sân vận động Cần Thơ )

Vivi (st)

Bài Đọc Quan Tâm

30.4.1975 – Ngày Tự Thú của csVN
30.4.1975 – Ngày Hận Thù của csVN
VNCH – Sau 30 năm tị nạn csVN
Danh Ngôn Chủ Nghĩa Cộng Sản
30 câu nói về Cộng Sản
Chiến tranh nam bắc Mỹ
Ngô Đình – Hiểm Họa Xâm Lăng
Ngày Quốc Hận – 30.4.1975
Ghi Chú : Việt Nam – Trung Cộng
Hồ Chí Minh – Tên Diệt Chủng thế kỷ 20
TT Thiệu – Hòa bình của nấm mồ
Quốc Ca – Cờ Vàng – Cờ Đỏ
Quốc Hận – 30.4.75 Tại Sao ?
Hòa Giải – Hòa Hợp – Dân Tộc
Thanh Trừng – Nội Bộ Đảng csVN

Advertisements

18 thoughts on “Hồ Chí Minh là tên Diệt Chủng thế kỷ 20

  1. Ba Lan “công bố” TỘI ÁC của HỒ CHÍ MINH!

    — On Sat, 3/16/13, Nguyen Quang Duy wrote:

    Thời báo Ba Lan (Polska Times) ‘xếp hạng’ Hồ Chí Minh

    BaLan HCM-1

    Hồ Chí Minh- Ảnh trên tờ Polska Times(thu gọn)

    “Hồ chí Minh không phải là “danh nhân” thế giới mà là tội đồ của dân tộc VN và nhân lọai”LDS

    .
    Tờ Polska Times tức Thời báo Ba Lanhôm 5/3 vừa đưa ra một bản xếp hạng 13 nhà độc tài đẫm máu nhất thế kỉ 20, trong đó có Hồ Chí Minh. Theo đó, Hồ Chí Minh qua 24 năm cầm quyền của mình đã gây ra cái chết của 1,7 triệu người Việt qua cuộc chiến tranh đẫm máu.
    Cũng như nhiều sự bình chọn trước đó của các trang mạng khác, các nhà độc tài thuộc 3 thể chế chính trị: Phát xít, Cộng sản và Quân phiệt.
    Những nhân vật của Polska Time như sau:
     
    * 1 – Ismail Enver, Thổ Nhĩ Kỳ, cầm quyền 1913-1918, chịu trách nhiệm về cái chết của 1,1 đến 2,5 triệu người; tội ác lớn nhất: diệt chủng người Armenia
    * 2 – Kim Nhật Thành, Bắc Triều Tiên, cầm quyền 1948-1994, chịu trách nhiệm về cái chết của 1,6 triệu người; tội ác lớn nhất: chiến tranh Triều Tiên
    * 3 – Hồ Chí Minh, Việt Nam, cầm quyền 1945-1969, chịu trách nhiệm về cái chết của 1,7 triệu người; tội ác lớn nhất: chiến tranh Việt Nam
    *4 – Pol Pot, Campuchia, cầm quyền 1975-1979, chịu trách nhiệm về cái chết của 1,7 – 2,4 triệu người; tội ác lớn nhất: diệt chủng ở Campuchia
     
    * 5 – Saddam Hussein, Irad, cầm quyền 1969-2003, chịu trách nhiệm về cái chết của 2 triệu người; tội ác lớn nhất: diệt chủng người Kurd
    *6 – Yahya Khan, Pakistan, cầm quyền 1969-1971, chịu trách nhiệm về cái chết của 2 đến 12 triệu người; tội ác lớn nhất: diệt chủng ở Bangladesh
    *7 – Hideki Tojo, Nhật Bản, cầm quyền 1941-1944, chịu trách nhiệm về cái chết của 4 triệu người; tội ác lớn nhất: hành quyết thường dân trong chiến tranh thế giới thứ II.
    * 8 – Vladimir Lenin, Nga, cầm quyền 1917-1924, chịu trách nhiệm về cái chết của 4 triệu người; tội ác lớn nhất: nội chiến ở Nga
    * 9 – Hoàng đế Hirohito Nhật Bản, cầm quyền 1926-1989, chịu trách nhiệm về cái chết của 6 triệu người; tội ác lớn nhất: thảm sát ở Nam Kinh
    * 10 – Tưởng Giới Thạch, Trung Quốc, cầm quyền 1928-1949, chịu trách nhiệm về cái chết của 10 triệu người; tội ác lớn nhất: thảm sát tại Đài Loan vào năm 1947
    * 11 – Adolf Hitler, Đức, cầm quyền 1933-1945, chịu trách nhiệm về cái chết của 17-20 triệu người; tội ác lớn nhất: Holocaust
    * 12 – Joseph Stalin, Nga, cầm quyền 1924-1953, chịu trách nhiệm về cái chết của 40-62 triệu người; tội ác lớn nhất: Trại tập trung Gulag
    * 13 – Mao Trạch Đông, Trung Quốc, cầm quyền 1943-1976, chịu trách nhiệm về cái chết của 45-75 triệu người; tội ác lớn nhất: nạn đói lớn và Cách Mạng Văn Hóa.
    Cũng cần nói thêm, Polska Times là tờ báo có số lượng truy cập khá lớn. TheoAlexa Ranking, lượng người đọc của tờ này đứng hạng thứ 30.000 trong số hàng chục triệu trang mạng trên toàn thế giới.
    © Đàn Chim Việt
    NGUYÊN BẢN TIẾNG BA LAN – TẠI ĐÂY

    ________________________

    Hồ Chí Minh, Lê Duẩn: Hai con quỷ trong lịch sử nhân loại?

    A-A 1
    Ba loại quỷ
    Trang mạng kể trên đã chia các nhân vật lịch sử thế giới ra làm 3 loại quái vật tùy theo mức độ tội ác mà họ gây ra cho nhân loại.
    – Chịu trách nhiệm về cái chết của ít nhất 20 triệu người: Stalin, Hitler và Mao.
    – Chịu trách nhiệm về cái chết của ít nhất một triệu người: Danh sách này có 15 người, trong đó có Hồ Chí Minh, Polpot, Lenin, Kim Nhật Thành, Kim Chính Nhật, Saddam Hussein…
    – Chịu trách nhiệm về cái chết của trên 10.000 người: Có 16 nhân vật, trong số đó có cố Tổng bí thư đảng Cộng sản Việt Nam- Lê Duẩn.
    Nếu phân theo hình thức phạm tội ác thì có 4 loại: Phát xít, cộng sản, chế độ quân phiệt và chế độ quân chủ. Chủ nghĩa cộng sản góp mặt 12 người.
    Các nước “vinh hạnh” có 2 người là Nga (Stalin, Lenin), Việt Nam (Hồ Chí Minh, Lê Duẩn), Bắc Triều Tiên (cha con ông Kim). Số còn lại rơi vào Campuchia, Romania, Nam Tư (cũ), Trung Quốc, Ethiopia và Afghanistan.
  2. NỐI NGHIỆP HỒ CHÍ MINH TIẾP TỤC BÁN NƯỚC


    Cuộc gặp Thành Đô giữa lãnh đạo Trung-Việt (3-9-1990).
    Hàng trước từ trái sang: Hoàng Bích Sơn, trưởng ban đối ngoại T.Ư.(1), Phạm Văn Đồng, cố vấn BCHTƯ (3), Nguyễn Văn Linh, tổng bí thư (4), Giang Trạch Dân (5), Lý Bằng (6), Đỗ Mười (7), Hồng Hà (9)

    ĐỌC LẠI HỒ SƠ BÁN NƯỚC: HỘI NGHỊ THÀNH ĐÔ 1990
    Bài 1

    VỀ HỘI NGHỊ CẤP CAO
    VIỆT – TRUNG TẠI THÀNH ĐÔ – TRUNG QUỐC

    Hồi ký “Hồi Ức và Suy Nghĩ” của Trần Quang Cơ
    nhà báo Trần Quang Thành giới thiệu

    LỜI GIỚI THIỆU: Từ đầu năm 2004, giới cán bộ ngoại giao rồi giới trí thức ở Việt Nam đã chuyền tay nhau tập hồi ký Hồi ức và Suy nghĩ của ông Trần Quang Cơ, nguyên Thứ trưởng Ngoại giao. Tập hồi ký 82 trang (khổ A4, viết xong lần thứ nhất năm 2001, hoàn thành tháng 5-2003) chưa được xuất bản công khai. Với nội dung phong phú, chính xác và trung thực, tác giả cung cấp những thông tin quý hiếm về những vấn đề Việt Nam đương đại.

    Tác giả làm việc ở Bộ ngoại giao từ năm 1954. Năm 1968 ông tham gia Hội nghị Paris (1968-1973), cuộc đàm phán về bình thường hoá quan hệ với Mỹ (1975-1978) và các cuộc thương lượng giải quyết vấn đề Campuchia (thập niên 80-90 thé ký 20). Năm 1991, được đề nghị làm Bộ trưởng Ngoại giao thay thế ông Nguyễn Cơ Thạch, ông viện lý do “sức khoẻ” để từ chối. Cuối năm 1993, ông xin rút khỏi Ban chấp hành Trung ương Đảng.

    Những tư liệu dưới đây trích trong cuốn hồi ký Hồi ức và Suy nghĩ của ông Trần Quang Cơ là những thông tin rất quan trọng nói lên sự thật về quan hệ đối ngoại của Việt Nam trong một giai đoạn khó khăn, đồng thời về những bất đồng trong nội bộ lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam.

    Trong lịch sử ngoại giao Việt Nam kể từ sau sự kiện ngày 30-04-1975 đến hôm nay, sự kiện hội nghị bí mật Thành Đô tháng 9-1990 giữa hai đoàn đại biểu cấp cao hai nước Việt – Trung để bình thường hóa quan hệ là một thất bại nhục nhã của Việt Nam chuyển con đường phát triển của nước dẫn đến tình hình một lần nữa Trung Quốc lại trở thành mối uy hiếp trực tiếp và nguy hiểm nhất đối với độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và con đường phát triển của Việt Nam.

    Cuộc gặp Thành Đô giữa lãnh đạo Trung-Việt (3-9-1990).
    Hàng trước từ trái sang: Hoàng Bích Sơn, trưởng ban đối ngoại T.Ư.(1), Phạm Văn Đồng,
    cố vấn BCHTƯ (3), Nguyễn Văn Linh, tổng bí thư (4), Giang Trạch Dân (5), Lý Bằng (6), Đỗ Mười (7), Hồng Hà (9)

    Nội dung các tư liệu này nêu bật trách nhiệm nặng nề của hai ông Nguyễn Văn Linh và Lê Đức Anh vào đầu thập niên 1990 (lúc đó là Tổng bí thư và Bộ trưởng Quốc phòng) trong quan hệ với Bắc Kinh về việc giải quyết vấn đề Campuchia và bình thường hóa quan hệ Việt Trung

    Vể cuộc gặp cấp cao Việt – Trung ở Thành Đô diễn ra hai ngày 3 và 4/9/1990, trong hồi ký Hồi ức và Suy nghĩ, ông Trần Quang Cơ viết :

    “Cuộc gặp cấp cao Việt – Trung tại Thành Đô : Ngày 29.8.90, đại sứ Trương Đức Duy xin gặp gấp Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh và Thủ tướng Đỗ Mười chuyển thông điệp của Tổng Bí Thư Giang Trạch Dân và Thủ tướng Lý Bằng mời Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, Thủ tướng Đỗ Mười và Cố vấn Phạm Văn Đồng sang Thành Đô , thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên Trung Quốc ngày 3.9.90 để hội đàm bí mật về vấn đề Campuchia và vấn đề bình thường hoá quan hệ hai nước. Trương nói mập mờ là Đặng Tiểu Bình có thể gặp anh Tô (Cố vấn Phạm Văn Đồng). Trung Quốc còn lấy cớ ở Bắc Kinh đang bận chuẩn bị tổ chức ASIAD (Á Vận hội) nên không gặp cấp cao Việt Nam ở thủ đô Bắc Kinh được vì khó giữ được bí mật, mà gặp ở Thành Đô.”

    Theo ông Trần Quang Cơ :

    “Đây quả là một sự chuyển biến đột ngột của phía Trung Quốc. Trước đây Trung Quốc nói không chỉ sau khi giải quyết xong vấn đề Campuchia mới gặp cấp cao ta và mới bàn vấn đề bình thường hoá quan hệ. Năm ngày trước – ngày 24.8.90 – Trung Quốc còn bác bỏ việc gặp cấp cao, nay lại mời ta gặp cấp cao trong một thời hạn rất gấp và đồng ý cấp cao sẽ nói chuyện về cả hai vấn đề Campuchia và vấn đề bình thường hoá quan hệ”.

    Thái độ “ thiện chí ” gấp gáp như vậy của Bắc Kinh không phải tự nhiên mà có. Nó có những nguyên nhân sâu xa và nhân tố bức bách :

    a. Tất cả những hoạt động đối ngoại và đối nội của Trung Quốc trong hơn 10 năm qua khẳng định chiến lược nhất quán của họ là kiên quyết thực hiện “ 4 hiện đại ”, biến Trung Quốc thành một cường quốc hàng đầu trên thế giới, đồng thời xác định vị trí nước lớn của mình trước hết ở Đông Nam Á và châu Á – Thái Bình Dương. Vì lợi ích chiến lược đó, Trung Quốc kiên trì tranh thủ Mỹ, Nhật, phương Tây, đồng thời bình thường hoá quan hệ với Liên Xô.

    Nhưng sau hơn 10 năm cải cách và mở cửa, tình hình chính trị, xã hội và kinh tế của Trung Quốc rất khó khăn. Sau sự kiện Thiên An Môn, mục tiêu chiến lược đó đang bị đe doạ nghiêm trọng. Về đối ngoại, bị Mỹ, Nhật và phương Tây thi hành cấm vận. Trong khi đó, quá trình cải thiện quan hệ Mỹ-Xô tiến triển rất nhanh. Xô-Mỹ hợp tác chặt chẽ giải quyết các vấn đề thế giới và khu vực không kể đến vai trò của Trung Quốc. Ngay trong vấn đề Campuchia, vai trò Trung Quốc cũng bị lấn át (Xô-Mỹ tiếp xúc trao đổi chặt chẽ về vấn đề Campuchia, cuộc gặp Sihanouk – Hun Xen ở Tokyo là do sự dàn xếp của Mỹ, Nhật và Thái, ngoài ý muốn của Trung Quốc). Phương Tây tiếp tục đòi Trung Quốc thực hiện dân chủ và giải quyết vấn đề Campuchia trên cơ sở kiềm chế Khmer Đỏ.

    b. Chuyến đi Đông Nam Á của Lý Bằng (6-13.8.90) nằm trong yêu cầu chiến lược của Trung Quốc tranh thủ hoàn cảnh quốc tế hoà bình để thực hiện “ 4 hiện đại ”, diễn ra trong bối cảnh liên minh Trung Quốc xây dựng ở Đông Nam Á trong 10 năm qua để chống Việt Nam đang tan vỡ sau khi Việt Nam rút quân khỏi Campuchia và sau khi Mỹ đã điều chỉnh chính sách. Cuộc đi thăm của Lý đã bộc lộ những điểm đồng và bất đồng giữa Trung Quốc và các nước ASEAN. Các nước ASEAN vẫn rất lo ngại lý do bành trướng của Trung Quốc. Trung Quốc buộc phải cam kết nội bộ các nước trong khu vực, ủng hộ các đảng cộng sản và vấn đề Hoa kiều, tuyên bố sẵn sàng thương lượng và hợp tác về vấn đề Trường Sa. Tiếp tục đối đầu với Việt Nam không còn phù hợp với chính sách Đông Nam Á của Trung Quốc lúc này nữa.

    c. Sau khi Việt Nam đã hoàn tất việc rút quân khỏi Campuchia, các nước phương Tây, Mỹ, Nhật, ASEAN đi vào cải thiện quan hệ với ta theo hướng không có lợi cho tính toán của Trung Quốc ở Đông Nam Á. Trước tình hình đó, Trung Quốc không muốn chậm chân.

    d. Về thời điểm : trong cuộc họp ngày 27 và 28.8.90 tại Nữu Ước, P5 đã thoả thuận văn kiện khung về giải pháp toàn bộ cho vấn đề Campuchia (gồm các vấn đề : các lực lượng vũ trang Campuchia, tổng tuyển cử dưới sự bảo trợ của LHQ, nhân quyền và bảo đảm quốc tế đối với thể chế tương lai của Campuchia). Văn kiện về nhân quyền không đề cập trực tiếp đến vấn đề diệt chủng, chỉ nói Campuchia sẽ “ không trở lại chính sách và hành động trong quá khứ ”.

    Còn Trung Quốc buộc phải nhân nhượng không còn đòi lập chính phủ liên hiệp 4 bên ngang nhau, phải chấp nhận vai trò lớn của LHQ. P5 thoả thuận lịch giải quyết vấn đề Campuchia : trong tuần từ 3.9 đến 9.9 họp các bên Campuchia ở Jakarta để lập SNC trước phiên họp Đại hội đồng LHQ, tiếp đó họp mở rộng với các nước trong khu vực (có Trung Quốc), đến khoảng tháng 10-11.90 họp uỷ ban Phối hợp Hội nghị Paris về Campuchia để soạn thảo Hiệp định trên cơ sở văn kiện khung do P5 vạch ra, các ngoại trưởng ký Hiệp định ; 15 nước trong Hội đồng Bảo An thông qua.

    Trung Quốc đặt cuộc gặp cấp cao Trung-Việt trong cái khung thời gian này. Tuy nhiên Bắc Kinh giấu không cho ta biết gì về những thoả thuận giữa họ và các nư­ớc lớn trong Hội đồng bảo an, mặt khác cũng giữ kín cuộc hẹn gặp ta ở Thành Đô vì không muốn làm cho phương Tây và ASEAN lo ngại khả năng đoàn kết hợp tác giữa Trung Quốc và Việt Nam.

    Ngày 30.8.90, Bộ Chính trị họp bàn về việc gặp lãnh đạo Trung Quốc. Anh Linh nêu ý kiến là sẽ bàn hợp tác với Trung Quốc để bảo vệ chủ nghĩa xã hội chống đế quốc, và hợp tác giữa Phnom Penh và Khmer Đỏ để giải quyết vấn đề Campuchia, mặc dù trước đó Bộ Ngoại Giao đã trình bày đề án nêu rõ là rất ít khả năng thực hiện phương án này vì phương hướng chiến lược của Trung Quốc vẫn là tranh thủ phương Tây phục vụ “ 4 hiện đại ”.

    Anh Lê Đức Anh bổ sung ý anh Linh : “ Phải nói về hoà hợp dân tộc thực sự ở Campuchia. Nếu không có Pol Pot thì vẫn tiếp tục chiến tranh ”. Anh Võ Chí Công không đồng ý, nói : “ Trung Quốc sẽ không nghe ta về hợp tác bảo vệ chủ nghĩa xã hội. Trung Quốc muốn tranh thủ phương Tây ”.

    Anh Thạch cảnh giác : “ Vẫn có 3 khả năng về quan hệ giữa ta và Trung Quốc, không phải chỉ là khả năng tốt cả. Dự kiến Trung Quốc sẽ nêu công thức “ SNC 6+2+2+2 ” để nhấn rõ là có 4 bên Campuchia (trong đó Khmer đỏ là 1 bên), xoá vấn đề diệt chủng…” Sự thực sau này cho thấy Trung Quốc còn đòi cao hơn thế !

    Ngày 2.9.90, ba đồng chí lãnh đạo cao cấp của ta đến Thành Đô đúng hẹn. Tháp tùng có Hồng Hà – Chánh Văn phòng Trung ương, Hoàng Bích Sơn – Trưởng ban Đối ngoại, và Đinh Nho Liêm – Thứ trưởng Bộ Ngoại Giao. Đáng chú ý là trong đoàn không có bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch.

    Sau 2 ngày nói chuyện (3-4.9.90), kết quả được ghi lại trong một văn bản gọi là“ Biên bản tóm tắt ” gồm 8 điểm. Khi nghiên cứu biên bản 8 điểm đó, chúng tôi nhận thấy có tới 7 điểm nói về vấn đề Campuchia, chỉ có 1 điểm nói về cải thiện quan hệ giữa hai nước mà thực chất chỉ là nhắc lại lập trường cũ Trung Quốc gắn việc giải quyết vấn đề Campuchia với bình thường hoá quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc.

    Trong 7 điểm về Campuchia, 2 điểm là những điểm có tính chất chung về mặt quốc tế mà 2 bên đang còn tranh cãi (giải pháp chính trị toàn diện cho vấn đề Campuchia ; rút hết quân Việt Nam ở Campuchia có dẫn chứng), còn 5 điểm thì hoàn toàn là đáp ứng yêu cầu của Trung Quốc. Không có điểm nào theo yêu cầu của ta cả. Trong bản thoả thuận, vấn đề nổi cộm nhất là điểm 5 về việc thành lập SNC.

    Lãnh đạo ta đã thoả thuận dễ dàng, không do dự (!), công thức “ 6+2+2+2+1 ” (phía Phnom Penh 6 người ; phía “ 3 phái ” 7 người ; 2 của Khmer đỏ, 2 của phái Son San, 2 của phái Sihanouk và bản thân Sihanouk) mà Từ Đôn Tín vừa đưa ra ở Hà Nội và bị tôi bác. Công thức này bất lợi cho Phnom Penh, với công thức “6+6” hay “6+2+2+2”, tức là hai bên có số người ngang nhau mà Sihanouk và Hun Xen đã thoả thuận ở Tokyo.

    Về sáng kiến “ giải pháp Đỏ ” cho vấn đề Campuchia mà lãnh đạo ta đưa ra, tưởng như phía Trung Quốc sẽ nhiệt liệt hoan ngênh, song Lý Bằng đã bác đi: “Các đồng chí nói cần thực hiện 2 đảng cộng sản hợp tác với nhau để phát huy hơn nữa. Tôi đồng ý một phần và không đồng ý một phần. Bốn bên Campuchia, xét về lực lượng quân sự và chính quyền, mạnh nhất là hai đảng cộng sản, có vai trò nhiều hơn. Nhưng phần tôi không đồng ý là ở Campuchia không chỉ có hai đảng cộng sản mà còn có các thế lực khác là lực lượng của Sihanouk và lực lượng của Son San. Lực lượng của họ không lớn lắm nhưng họ được quốc tế ủng hộ. Bài xích họ thì cô lập SNC, không thể đoàn kết Campuchia. Cần phải để cho hai bên kia phát huy tác dụng ở Campuchia ”.

    Và Giang Trạch Dân cùng nói thêm : “ Các nước phương Tây rất chú ý tới quan hệ của chúng ta. Các đồng chí đến đây, cho đến nay các nước không ai biết, cũng không cho các bên Campuchia biết. Chúng tôi cảnh giác vấn đề này. Họ cho rằng Việt nam XHCN, Trung Quốc XHCN đều do Đảng Cộng sản lãnh đạo, họp với nhau bàn cái gì đây ? Vì vậy chúng tôi giữ kín chuyến đi này. Tình hình quốc tế hiện nay nếu để hai đảng cộng sản bắt tay nhau là sách lược không lợi cho chúng ta ”.

    Thành Đô là thành công hay là thất bại của ta ?

    Ngay say khi ở Thành Đô về, ngày 5.9.90 anh Linh và anh Mười, có thêm anh Thạch và Lê Đức Anh, đã bay sang Phnom Penh thông báo lại với Bộ Chính trị Campuchia nội dung cuộc gặp gỡ cấp cao Việt-Trung.

    Để thêm sức thuyết phục Phnom Penh nhận Thoả thuận Thành Đô, anh Linh nói với lãnh đạo Campuchia : “Phải thấy giữa Trung Quốc và đế quốc cũng có mâu thuẫn trong vấn đề Campuchia. Ta phải có sách lược lợi dụng mâu thuẫn này. Đừng đấu tranh với Trung Quốc đến mức xô đẩy họ bắt tay chặt chẽ với đế quốc”.

    Lập luận này được Lê Đức Anh mở rộng thêm: “Mỹ và phương Tây muốn cơ hội này để xoá cộng sản. Nó đang xoá ở Đông Âu. Nó tuyên bố là xoá cộng sản trên toàn thế giới. Rõ ràng nó là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm. Ta phải tìm đồng minh. Đồng minh này là Trung Quốc.”

    Nhưng câu trả lời của Heng Somrin, thay mặt cho lãnh đạo Campuchia, vẫn là : “ Phải giữ nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của chúng ta. Những vấn đề nội bộ liên quan đến chủ quyền CPC phải do các bên CPC giải quyết ”.

    Về “ giải pháp Đỏ ”, Phnom Penh nhận định : “ Trung Quốc không muốn hai phái cộng sản ở Campuchia hợp tác với nhau gây phức tạp cho quan hệ của họ với Sihanouk và với phương Tây. Vì vậy chúng tôi thấy rằng khó có thể thực hiện “ giải pháp Đỏ ” vì “ giải pháp Đỏ ” trái với lợi ích của Trung Quốc ”.

    Mặc dù ban lãnh đạo Campuchia đã xác định rõ thái độ như vậy, song Lê Đức Anh vẫn cứ cố thuyết phục Bạn : “ Ta nói “giải pháp Đỏ” nhưng đó là “ giải pháp Hồng ”, vừa xanh vừa đỏ. Trước mắt không làm được nhưng phải kiên trì. Ta làm bằng nhiều con đường, làm bằng thực tế. Các đồng chí cần tìm nhiều con đường tiếp xúc với Khmer Đỏ. Vấn đề tranh thủ Khmer Đỏ là vấn đề sách lược mang tính chiến lược… Nên kiên trì tìm cách liên minh với Trung Quốc, kéo Khmer Đỏ trở về… Ta đừng nói với Trung Quốc là làm “ giải pháp Đỏ ”, nhưng ta thực hiện “ giải pháp Đỏ ” ; có đỏ có xanh…nhưng thực tế là hợp tác hai lực lượng cộng sản ”.

    Nguyễn văn Linh bồi thêm : “ Xin các đồng chí chú ý lợi dụng mâu thuẫn, đừng bỏ lỡ thời cơ. Trung Quốc muốn đi với Mỹ, nhưng Mỹ ép Trung Quốc nên Trung Quốc cũng muốn có quan hệ tốt với Lào, Việt Nam và Campuchia. Nếu ta có sách lược tốt thì ta có giải pháp Đỏ.”

    Theo báo cáo của đại sứ Ngô Điền, thái độ của bạn Campuchia đối với ta từ sau Thành Đô có đổi khác. Về công khai, bạn cố tránh tỏ ra bị lệ thuộc vào Việt Nam. Trên cơ sở tính toán về lợi ích của mình, bạn tự quyết định lấy đối sách, không trao đổi trước với ta, hoặc quyết định trái với sự gợi ý của ta trên nhiều việc.Nhìn lại, trong cuộc gặp Thành Đô, ta đã mắc lỡm với Trung Quốc ít nhất trên 3 điểm :

    * Trung Quốc nói cuộc gặp Thành Đô sẽ đàm phán cả vấn đề Campuchia và vấn đề bình thường hoá quan hệ, nhưng thực tế chỉ bàn vấn đề Campuchia, còn vấn đề bình thường hoá quan hệ hai nước Trung Quốc vẫn nhắc lại lập trường cũ là có giải quyết vấn đề Campuchia mới nói đến chuyện bình thường hoá quan hệ hai nước ;

    * Trung Quốc nói mập mờ là Đặng Tiểu Bình có thể gặp cố vấn Phạm Văn Đồng, nhưng đó chỉ là cái “ mồi ” để kéo anh Đồng tham gia gặp gỡ cấp cao.

    * Trung Quốc nói giữ bí mật việc gặp cấp cao hai nước, nhưng ngay sau cuộc gặp hầu như tất cả các nước đã được phía Trung Quốc trực tiếp hay gián tiếp thông báo nội dung chi tiết bản thoả thuận Thành Đô theo hướng bất lợi cho ta.

    Ngày 7.9.90 Bộ chính trị đã họp thảo luận về kết quả cuộc gặp cấp cao Việt-Trung và cuộc gặp cấp cao Việt- Campuchia sau đó, và quyết định ngay hôm sau Đỗ Mười gặp đại sứ Trung Quốc thông báo lại lập trường của Campuchia ; đồng thời thông báo với Liên Xô, Lào như đã thông báo với Campuchia.

    Nếu có ai hỏi về công thức “ 6+2+2+2+1 ”, nói không biết. Nhưng Báo Bangkok Post ngày 19.9.90 trong bài của Chuchart Kangwaan đã công khai hoá bản Thoả thuận Thành Đô, viết rõ Việt Nam đã đồng ý với Trung Quốc về thành phần SNC của Campuchia sẽ gồm 6 người của Nhà nước Campuchia, 2 của Khmer đỏ, 2 của phái Son San, 2 của phái Sihanouk, thành viên thứ 13 là Hoàng thân Sihanouk giữ chức Chủ tịch Hội đồng.

    Tạp chí Kinh tế Viễn Đông (FEER) số 4/10 (10.10.90) đăng bài Củ cà-rốt và cái gậy viết về cuộc gặp gỡ cấp cao Trung-Việt ở Thành Đô giữa Tổng Bí Thư Đảng và Thủ tướng hai nước, cho biết hai bên đã thoả thuân công thức “ 6+6+1 ” về việc lập SNC.

    Phía Việt Nam có nhượng bộ nhiều hơn. Việc Ngoại trưởng hai nước không dự họp cấp cao là đáng chú ý. Bên trong, Trung Quốc nói họ coi ông Thạch là người có quan điểm cứng rắn về vấn đề Campuchia cũng như đối với Trung Quốc.

    Ngày 12.10.90, nhà báo Nayan Chanda nói với anh Thạch : “ Trung Quốc đang tuyên truyền rộng rãi là lãnh đạo Việt Nam đánh lừa mọi người, họ ký kết với lãnh đạo Trung Quốc về thành phần SNC nhưng đã không thực hiện thoả thuận cấp cao Việt-Trung. Việt Nam lại còn xúi dục chính quyền Phnom Penh chống việc bầu Sihanouk làm chủ tịch SNC và đưa ra hết điều kiện này đến điều kiện khác.”

    Ngày 5.10.90, anh Nguyễn Cơ Thạch gặp Ngoại trưởng Mỹ Baker.

    Baker cho biết là sau khi cuộc họp các bên Campuchia ở Bangkok vừa qua thất bại, Trung Quốc rất bất bình với lãnh đạo Việt Nam. Trung Quốc cho rằng lãnh đạo cấp cao của Việt Nam đã hoàn toàn đồng ý với đề nghị của Trung Quốc về con số 13 thành viên của SNC nhưng lại nói với Phnom Penh là công thức đó là ý kiến riêng của Trung Quốc, đã không làm gì để thúc đẩy Phnom Penh thực hiện thoả thuận giữa cấp cao hai nước. Không thể tin được ngay cả lãnh đạo cấp cao nhất của Việt Nam cũng như Bộ Ngoại giao Việt Nam.

    Baker còn nói rằng Trung Quốc đã bác bỏ đề nghị của lãnh đạo cấp cao nhất của Việt Nam là Việt Nam và Trung Quốc đoàn kết bảo vệ CNXH chống âm mưu của đế quốc Mỹ xoá bỏ CNXH cũng như đề nghị của Việt Nam về giải pháp dựa trên liên minh giữa Phnom Penh và Pol Pot.

    Còn Lý Bằng trong khi trả lời phỏng vấn của Paisai Sricharatchang, phóng viên tờ Bangkok Post tại Bắc Kinh, ngày 24.10.90, đã xác nhận có một cuộc gặp bí mật giữa lãnh đạo Trung Quốc và Việt Nam hồi đầu tháng 9 và cho biết kết quả cuộc gặp đã được phản ảnh qua cuộc họp giữa các bên Campuchia ngày 10.9.90 tại Jakarta. Trong khi nói không biết chắc phía Việt Nam đã cố gắng thuyết phục Phnom Penh đến đâu, Lý nhận định là Hà Nội chắc chưa làm đủ mức. Điều đó có thể thấy được qua việc Phnom Penh đã có “ một thái độ thiếu hợp tác ”.

    Sở dĩ ta dễ dàng bị mắc lừa ở Thành Đô là vì chính ta đã tự lừa ta.

    Ta đã tự tạo ra ảo tưởng là Trung Quốc sẽ giương cao ngọn cờ CNXH, thay thế cho Liên Xô làm chỗ dựa vững chắc cho cách mạng Việt Nam và chủ nghĩa xã hội thế giới, chống lại hiểm hoạ “ diễn biễn hoà bình ” của chủ nghĩa đế quốc do Mỹ đứng đầu. Tư tưởng đó đã dẫn đến sai lầm Thành Đô cũng như sai lầm “ giải pháp Đỏ ”.

    Sau Thành Đô, trong Bộ Chính trị đã có nhiều ý kiến bàn cãi về chuyến đi này. Song mãi đến trước Đại hội VII, khi Bộ Chính trị họp (15-17.5.91) thảo luận bản dự thảo Báo cáo về tình hình thế giới và việc thực hiện đường lối đối ngoại của Đại hội VI và phương hướng tới, cuộc gặp cấp cao Việt Nam – Trung Quốc ở Thành Đô mới lại được đề cập tới khi bản dự thảo báo cáo của Bộ Ngoại Giao có câu “ có một số việc làm không đúng với các Nghị quyết của Bộ Chính trị về vấn đề Campuchia ”.

    Cuộc họp này đầy đủ Tổng Bí Thư Nguyễn văn Linh, các cố vấn Phạm văn Đồng, Võ Chí Công, các uỷ viên BCT Đỗ Mười, Võ Văn Kiệt, Nguyễn Cơ Thạch, Lê Đức Anh, Mai Chí Thọ, Nguyễn Đức Tâm, Đào Duy Tùng, Đồng Sĩ Nguyên, Đoàn Khuê, Nguyễn Thanh Bình.

    Anh Tô nói :
    “ Có thời giờ và có cơ hội đem ra kiểm điểm những việc vừa qua để nhận định sâu sắc thì tốt thôi. Sau chuyến đi Thành Đô, tôi vẫn ân hận về thái độ của mình. Nói là tự kiểm điểm thì tự kiểm điểm. Tôi ân hận là ở hai chỗ.

    Lúc ở Thành Đô, khi bàn đến vấn đề Campuchia, người nói là anh Linh. Anh Linh nói đến phương án hoà giải dân tộc Campuchia. Sau đó Lý Bằng trình bày phương án “ 6+2+2+2+1 ” mà Từ Đôn Tín khi đàm phán với anh Cơ ở Hà Nội đã ép ta nhận song ta bác. Anh Linh đã đồng ý (nói không có vấn đề). Lúc đó có lẽ do thấy thái độ của tôi, Giang mời tôi nói. Tôi nói : tôi không nghĩ phương án 13 này là hay, ý tôi nói là không công bằng… Tôi ân hận là lẽ ra sau đó đoàn ta nên hội ý lại sau bữa tiệc buổi tối.

    Nhưng tôi không nghĩ ra, chỉ phân vân. Sáng sớm hôm sau, mấy anh bên Ban Đối Ngoại và anh Hồng Hà nói nhỏ với tôi là cốt sao tranh thủ được nguyên tắc “ consensus ” (nhất trí), còn con số không quan trọng. Tôi nghe hơi yên tâm nhưng vẫn nghĩ có hội ý vẫn hơn. Sau đó, Trung Quốc đưa ký bản thoả thuận có nói đến con số 13… Tôi phân vân muốn được biết nội dung trước khi ta hạ bút ký. Nếu như đoàn ta trao đổi với nhau sau phiên họp đầu, sau khi Lý Bằng đưa ra công thức 6+2+2+2+1 thì ta có thể có cách bàn thêm với họ.

    Hai là trước khi ký văn bản do chuyên viên hai bên thoả thuận, các đồng chí lãnh đạo cần xem lại và bàn bạc xem có thể thêm bớt gì trước khi ký. Nghĩ lại, khi họ mời Tổng Bí Thư, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ta sang gặp Tổng Bí Thư, Chủ tịch Quốc vụ viện, lại mời thêm tôi. Tôi khá bất ngờ, không chuẩn bị kỹ. Anh Mười cho là họ mời rất trang trọng, cơ hội lớn, nên đi. Nhưng đi để rồi ký một văn bản mà ta không lường trước hậu quả về phản ứng của Bạn Campuchia, rất gay gắt. Tôi hiểu là Bạn khá bất bình, thậm chí là uất nhau. Cho ta là làm sau lưng, có hại cho người ta.”

    Anh Linh : “ Anh Tô nhớ lại xem. Không phải tôi đồng ý, tôi chỉ nói ta nghiên cứu xem xét và cuối cùng đặt vấn đề thông báo lại Campuchia… Bây giờ tôi vẫn nghĩ thế là đúng. Tôi không thấy ân hận về việc mình chấp nhận phương án 13… Vấn đề Campuchia dính đến Trung Quốc và Mỹ. Phải tính đến chiến lược và sách lược. Phải tiếp tục làm việc với Campuchia về chiến lược, phải có nhiều biện pháp làm cho bạn thấy âm mưu của đế quốc Mỹ chống phá chủ nghĩa xã hội ở châu Á, cả ở Cuba. Nó đã phá Trung Quốc qua vụ Thiên An Môn rồi, nay chuyển sang phá ta… Trung Quốc muốn thông qua Khmer Đỏ nắm Campuchia. Song dù bành trướng thế nào thì Trung Quốc vẫn là một nước xã hội chủ nghĩa.”

    Anh Thạch : “ Về chuyện Thành Đô, Trung Quốc đã đưa cả băng ghi âm cuộc nói chuyện với lãnh đạo ta ở Thành Đô cho Phnom Penh. Hun Xen nói là trong biên bản viết là “ hai bên đồng ý thông báo cho Campuchia phương án 6+2+2+2+1” nhưng băng ghi âm lại ghi rõ anh Linh nói là “ không có vấn đề gì ”.

    Tôi xin trình bày để các anh hiểu nguyên do con số 13 là từ đâu. Tại Tokyo tháng 6.90, Sihanouk và Hun Xen đã thoả thuận thành phần SNC gồm hai bên ngang nhau = 6+6. Từ Đôn Tín sang Hà Nội, ép ta nhận công thức 6+2+2+2+1 không được. Đến cuộc gặp Thành Đô, Trung Quốc lại đưa ra. Khi ta sang Phnom Penh để thuyết phục bạn nhận con số 13 với nguyên tắc làm việc consensus trong SNC, anh Hun Xen nói riêng với tôi : chúng tôi thắng mà phải nhận số người ít hơn bên kia (bên ta 6, bên kia 7) thì mang tiếng Campuchia bị Việt nam và Trung Quốc ép. Như vậy, dù là consensus cũng không thể thuyết phục nhân dân Campuchia được. Chỉ có thể nhận 12 hoặc 14 thành viên trong Hội đồng Dân tộc Tối cao. Phải nói là Phnom Penh thắc mắc nhiều với ta. Liên Xô, Anh, Pháp, Nhật, Mỹ đều cho ta biết là Trung Quốc đã thông báo cho họ đầy đủ về Thoả thuận Thành Đô và nói với họ là lãnh đạo Việt Nam không đáng tin cậy. Trung Quốc đã sử dụng Thành Đô để phá quan hệ của ta với các nước và chia rẽ nội bộ ta…”

    Hôm sau, Bộ Chính trị họp tiếp,
    anh Mười nói : “ Ta tán thành Sihanouk làm chủ tịch Hội đồng Dân tộc Tối cao, Hun Xen làm phó chủ tịch, lấy nhất trí trong Hội đồng Dân tộc Tối cao làm nguyên tắc. Đây không phải là một nhân nhượng… Nếu có anh Thạch đi Thanh Đô thì tốt hơn…”

    Anh Tô : “ Vấn đề chủ yếu không phải là thái độ của ta ở Thành Đô như anh Mười nói, mà là kết quả và tác động đến bạn Campuchia đánh giá ta như thế nào ? Ở Thành Đô, điều ta làm có thể chứng minh được nhưng Cam-puchia cho là ta giải quyết trên lưng họ. Vì vậy mà tôi ân hận. Tôi ân hận là về sau này sẽ để lại hậu quả.”

    Anh Mười : “ Với tinh thần một người cộng sản, tôi cho là ta không sai. Ban Campuchia nghĩ gì về ta là quyền của họ. Với tinh thần một người cộng sản, ta không bao giờ vi phạm chủ quyền của bạn.”

    Anh Thạch : “ Họp Bộ Chính trị để kiểm điểm, tôi xin được nói thẳng. Có phải khi đi Thành Đô về, anh Đỗ Mười có nói với tôi là hai ông anh nhận hơi sớm. Anh Linh nhận công thức 13 và anh Tô nhận consensus (nguyên tắc nhất trí) ” .

    Anh Võ Văn Kiệt : “ Trong thâm tâm tôi, tôi không đồng ý có anh Tô trong đoàn đi Thành Đô. Nếu có gặp anh Đặng thì anh Tô đi là đúng. Tôi nói thẳng là tôi xót xa khi biết anh Tô đi cùng anh Linh và anh Mười chỉ để gặp Giang và Lý, không có Đặng. Mình bị nó lừa nhiều cái quá. Tôi nghĩ Trung Quốc chuyên là cạm bẫy.”

    Vốn là người điềm đạm, song anh Tô có lúc đã phải phát biểu : “ Mình hớ, mình dại rồi mà còn nói sự nghiệp cách mạng là trên hết, còn được hay không thì không sao. Cùng lắm là nói cái đó, nhưng tôi không nghĩ như vậy là thượng sách. Tôi không nghĩ người lãnh đạo nên làm như vậy.”

    Thoả thuận Việt Nam – Trung Quốc ở Thành Đô đúng như anh Tô lo ngại đã để lại một ấn tượng không dễ quên đối với Phnom Penh. Trong phiên họp Quốc hội Campuchia ngày 28.2.91, Hun Xen phát biểu :

    “ Như các đại biểu đã biết, vấn đề SNC này rất phức tạp. Chúng ta phải đấu tranh khắc phục và làm thất bại âm mưu của kẻ thù nhưng bọn ủng hộ chúng không đâu. Mặc dù Hội đồng đã được thành lập trên cơ sở 2 bên bình đẳng nhưng người ta vẫn muốn biến thành 4 bên theo công thức 6+2+2+2+1, và vấn đề chủ tịch làm cho Hội đồng không hoạt động được ”.

    Tôi còn nhớ khi tiếp tôi ở Phnom Penh, ngày 28.9.90, Hun Xen đã có những ý khá mạnh về thoả thuận Thành Đô : “ Khi gặp Sok An ở Bangkok hôm 17.9, Trung Quốc doạ và đòi SOC phải công nhận công thức mà Việt Nam và Trung Quốc đã thoả thuận. Nhưng Phnom Penh độc lập. Sok An đã nói rất đúng khi trả lời Trung Quốc là ý này là của Việt Nam không phải của Phnom Penh.”

    Cuộc hội đàm Thành Đô tháng 9.90 hoàn toàn không phải là một thành tựu đối ngoại của ta, hiện tại đó là một sai lầm hết sức đáng tiếc về đối ngoại. Vì quá nôn nóng cải thiện quan hệ với Trung Quốc, đoàn ta đã hành động một cách vô nguyên tắc, tưởng rằng thoả thuận như thế sẽ được lòng Bắc Kinh nhưng trái lại thoả thuận Thành Đô đã làm chậm việc giải quyết vấn đề Campuchia và do đó làm việc bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc, uy tín quốc tế của ta bị hoen ố.

    Việc ta đề nghị hợp tác với Trung Quốc bảo vệ chủ nghĩa xã hội chống đế quốc Mỹ, thực hiện “ giải pháp Đỏ ” ở Campuchia là không phù hợp với Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị mà còn gây khó khăn với ta trong việc đa dạng hoá quan hệ với các đối tượng khác như Mỹ, phương Tây, ASEAN, và tác động không thuận lợi đến quan hệ giữa ta và đồng minh, nhất là quan hệ với Liên Xô và Campuchia.

    Trung Quốc một mặt bác bỏ những đề nghị đó của ta, nhưng mặt khác lại dùng ngay những đề nghị đó chơi xấu ta với các nước khác nhằm tiếp tục cô lập ta, gây sức ép với ta và Campuchia.

    Cùng với việc ta thúc ép Phnom Penh đi vào “ giải pháp Đỏ ”, việc ta thoả thuận với Trung Quốc công thức SNC tại Thành Đô là không phù hợp với nguyên tắc nhất quán của Đảng ta là không can thiệp và không quyết định các vấn đề nội bộ của Campuchia, làm tăng mối nghi ngờ vốn có của Campuchia đối với ta, đi ngược lại chủ trương tăng cường và củng cố mối quan hệ với ta với Campuchia và Lào.”

    Trần Quang Cơ
    Hồi ký “Hồi ức và Suy nghĩ” (Trích)

  3. Bài 2

    VAI TRÒ VÀ TRÁCH NHIỆM
    CỦA NGUYỄN VĂN LINH – LÊ ĐỨC ANH
    TRONG QUAN HỆ VIỆT NAM – TRUNG QUỐC

    Hồi ký “Hồi Ức và Suy Nghĩ” của Trần Quang Cơ
    nhà báo Trần Quang Thành giới thiệu

    Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh gặp
    Đại sứ Trương Đức Duy (5-6-1990)

    Lời giới thiệu : Trong cái gọi là công cuộc đổi mới, giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam tâng bốc Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh là người khởi xướng ; còn Lê Đức Anh thì được thuộc hạ xủng ái như môt thái thượng hoàng thời cộng sản độc quyền cai trị đất nước. Nhưng trong hồi ký “Hồi ức và Suy nghĩ”,Nguyễn Văn Linh và Lê Đức Anh đã bộc lộ một bộ mặt khác: Hèn nhát, bạc nhược đầu hàng quan thầy Trung Quốc.

    Chương 10 mang tựa đề “Thuốc đắng nhưng không dã được tật” nhà ngoại giao kỳ cựu Trần Quang Cơ viết :

    “Sáng 30.5.90, Bộ Chính Trị họp bàn về đàm phán với Trung Quốc, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh thông báo với Bộ Chính trị về cuộc họp với 2 Tổng bí thư Đảng Lào và Đảng Campuchia ngày 20-21/5, nói là dự định sẽ gặp đại sứ Trung Quốc và Từ Đôn Tín khi Từ đến Hà Nội. Cố vấn Phạm Văn Đồng và một số trong Bộ Chính trị tỏ ý phải thận trọng trong xử sự với Trung Quốc.

    Anh Tô nói: Mấy nghìn năm Trung Quốc vẫn là Trung Quốc, không nên cả tin. Ta cần thăm dò thúc đẩy nhưng phải cảnh giác, đừng để hớ. Đỗ Mười cũng khuyên anh Linh không nên gặp đại sứ Trung Quốc và Từ Đôn Tín trước cuộc đàm phán. Nhưng Lê Đức Anh lại tỏ ra đồng tình với dự định của anh Linh, cho rằng phải thăm dò và phân tích chiến lược của Trung Quốc, xử lý mối quan hệ của 3 nước lớn và 5 nước thường trực Hội đồng bảo an, tranh thủ thế giới thứ ba, ủng hộ các nước XHCN.

    Đa số trong Bộ Chính trị đều cho rằng không nên nói đến “giải pháp Đỏ” với Trung Quốc nữa. Cuối cùng Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh kết luận lại là anh sẽ chỉ gặp đại sứ Trung Quốc, còn không gặp Từ Đôn Tín; về phía lãnh đạo ta, chỉ có anh Thạch tiếp Từ. Nguyễn Văn Linh còn nói khi gặp Trương Đức Duy anh sẽ chỉ nói về hợp tác hai nước và đề nghị gặp cấp cao, không nói đến “giải pháp Đỏ”. Nhưng trên thực tế trong cuộc gặp đại sứ Trung Quốc vài hôm sau, Nguyễn Văn Linh đã lại nêu vấn đề đó.

    Ngày 5.6.90, vài ngày trước khi Từ Đôn Tín đến Hà Nội, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đã mời đại sứ Trương Đức Duy (vừa từ Bắc Kinh trở lại Hà Nội) đến Nhà khách Trung ương Đảng nói chuyện thân mật để tỏ lòng trọng thị đối với Bắc Kinh.

    Trong cuộc gặp, như để chấp nhận lời phê bình của Đặng (nói qua Kayson), Nguyễn Văn Linh nói “Trong quan hệ hai nước, 10 năm qua có nhiều cái sai. Có cái đã sửa như việc sửa đổi Lời nói đầu của Hiến pháp, có cái sai đang sửa”.

    Anh sốt sắng ngỏ ý muốn sang gặp lãnh đạo Trung Quốc để “bàn vấn đề bảo vệ chủ nghĩa xã hội” vì “đế quốc đang âm mưu thủ tiêu chủ nghĩa xã hội… chúng âm mưu diễn biến hoà bình, mỗi đảng phải tự lực chống lại. Liên Xô là thành trì Xã hội chủ nghĩa , nhưng lại đang có nhiều vấn đề. Chúng tôi muốn cùng các người cộng sản chân chính bàn vấn đề bảo vệ chủ nghĩa xã hội… Tôi sẵn sàng sang Trung Quốc gặp lãnh đạo cấp cao Trung Quốc để khôi phục lại quan hệ hữu hảo. Các đồng chí cứ kêu một tiếng là tôi đi ngay… Trung Quốc cần giương cao ngọn cờ chủ nghĩa xã hội, kiên trì chủ nghĩa Mác-Lênin”.

    Về vấn đề Campuchia, anh Linh đã gợi ý dùng “giải pháp Đỏ” để giải quyết: “Không có lý gì những người cộng sản lại không thể bàn với những người cộng sản được”, “họ gặp Sihanouk còn được huống chi là gặp lại nhau”.

    Sáng 6.6.90, Bộ trưởng Quốc phòng Lê Đức Anh lại gặp riêng và mời cơm đại sứ Trương Đức Duy. Cuộc gặp riêng chỉ giữa hai người, Trương Đức Duy vốn là thông dịch, rất thạo tiếng Việt nên không cần có người làm phiên dịch.

    Nội dung cuộc gặp này mãi đến ngày 19/6 trong cuộc họp Bộ Chính trị để đánh giá cuộc đàm phán 11-13/6 giữa tôi và Từ Đôn Tín, Lê Đức Anh mới nói là đã gặp Trương Đức Duy để nói cụ thể thêm ba ý mà anh Linh đã nói với đại sứ Trung Quốc hôm trước (gặp cấp cao hai nước; hai nước đoàn kết bảo vệ chủ nghĩa xã hội; hai nhóm cộng sản Khmer nên nói chuyện với nhau).

    Nhưng trước đó, từ ngày 6/6, phía Trung Quốc (tham tán Lý Gia Trung và Bí thư thứ nhất Hồ Càn Văn) đã cho ta biết nội dung câu chuyện giữa Lê Đức Anh và Trương Đức Duy.

    Còn đại sứ Trung Quốc cho anh Ngô Tất Tố, Vụ trưởng vụ Trung Quốc biết là trong cuộc gặp ông ta ngày 6/6, anh Lê Đức Anh đã nói khá cụ thể về “giải pháp Đỏ”: “Sihanouk sẽ chỉ đóng vai trò tượng trưng, danh dự, còn lực lượng chủ chốt của hai bên Campuchia là lực lượng Heng Somrin và lực lượng Polpot, Trung Quốc và Việt Nam mỗi bên sẽ bàn với bạn Campuchia của mình, và thu xếp để hai bên gặp nhau giải quyết vấn đề. Địa điểm gặp nhau có thể ở Việt Nam, có thể ở Trung Quốc, nhưng ở Trung Quốc là tốt hơn cả. Đây là gặp nhau bên trong, còn bên ngoài hoạt động ngoại giao vẫn như thường… Ngày xưa Polpot là bạn chiến đấu của tôi…”

    Trưa ngày 9/6/90, Đại sứ Trương Đức Duy nói với Vụ Trung Quốc Bộ Ngoại giao ta rằng, trong cuộc gặp Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, phía Trung Quốc rút ra được 3 ý kiến:

    Đồng chí Nguyễn Văn Linh nói về quan hệ hai nước rất đậm đà. Nói 10 năm qua có nhiều cái sai. Có cái sai như lời nói đầu của Hiến pháp, có cái sai đang sửa. Muốn gặp cấp cao Trung Quốc để trao đổi những vấn đề lớn trong quan hệ hai nước.

    Về tình hình quốc tế: tình hình Liên xô, Đông Âu có nhiều thay đổi. Liên Xô trước đây là thành trì của chủ nghĩa xã hội, nay thành trì này cũng lung lay rồi. Trung Quốc cần giương cao ngọn cờ xã hội chủ nghĩa, kiên trì chủ nghĩa Mác-Lênin. Việt Nam kiên trì chủ nghĩa Mác-Lênin. Những mgười cộng sản chân chính phải đoàn kết để bảo vệ chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa đế quốc luôn tấn công vào chủ nghĩa xã hội. Chúng tuyên bố đến cuối thế kỷ này sẽ làm cho chủ nghĩa xã hôi biến mất.

    Về Campuchia: tại sao những người cộng sản không hợp tác với nhau ? Polpot và Hunxen phải hợp tác với nhau.

    Chiều 10/6/90, Bí thư thứ nhất sứ quán Trung Quốc Hồ Càn Văn nói với anh Vũ Thuần, Vụ phó vụ Trung Quốc Bộ Ngoại giao: “Từ Đôn Tín tuy là trợ lý ngoại trưởng nhưng là người có thực quyền trong việc giải quyết các vấn đề châu Á. Trên khía cạnh nào đó có thể nói còn có thực quyền hơn cả cấp thứ trưởng. Việc Từ sang Việt Nam lần này là có sự quyết định của cấp cao nhất của Trung Quốc, chứ không phải Bộ Ngoại giao.”

    Theo Hồ Càn Văn, ngày 23/5/90 Cục trưởng Cục Đối ngoại Bộ Quốc phòng Việt Nam Vũ Xuân Vinh đã mời Tuỳ viên quân sự Trung Quốc Triệu Nhuệ đến để thông báo là Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh và Bộ trưởng Quốc phòng Lê Đức Anh sẽ tiếp Từ Đôn Tín khi Từ đến Hà Nội. Chính những động thái bất thường và vượt ra ngoài khuôn khổ ngoại giao này của ta đã làm cho Trung Quốc hiểu rằng nội bộ Việt Nam đã có sự phân hoá và vai trò của Bộ Ngoại Giao không còn như trước.

    Ngày 8/6/90, khi được biết là lần này tôi sẽ là người đứng ra thay anh Đinh Nho Liêm đàm phán với Từ Đôn Tín. Bộ trưởng Quốc phòng Lê Đức Anh còn điện thoại dặn tôi tránh chủ động nói đến “giải pháp Đỏ”:

    Việc hai bên Đỏ tiếp xúc với nhau là chuyện lâu dài, cần cho ổn định lâu dài. Trung Quốc sẽ tác động với phía Campuchia thân Trung Quốc, ta sẽ tác động với phía Campuchia thân ta để hai bên kiềm chế việc thù địch nhau. Việc này phải có thời gian, không thể nhanh được, không thể đòi họ trả lời ngay. Đừng thúc họ, cứ để họ chủ động, khi nào trả lời được thì họ trả lời… Phải rất bí mật. Lộ ra rất nguy hiểm. Chỉ nói khi gặp riêng chứ không nói khi đàm phán. Việc anh Nguyễn Văn Linh đặt vấn đề với đại sứ Trương Đức Duy nói sẵn sàng đi Trung Quốc gặp cấp cao nhất, cũng không nên hỏi lại nếu họ chưa nói tới.”

    Những lời dặn dò này đối với tôi thực ra là không cần thiết, không phải vì tôi sẵn ý thức bảo mật cao, mà bởi vì ngay từ đầu tôi đã khó chịu với cái ý nghĩ gọi là “giải pháp Đỏ”, với ý nghĩ bắt tay với bọn diệt chủng – dù chỉ là gián tiếp – để làm vừa lòng Trung Quốc.

    Nhưng sự việc trở nên phức tạp khi trưa ngày 11/6/90 sau đàm phán phiên đầu với Từ Đôn Tín tôi về Bộ Ngoại Giao hội báo lại với anh Thạch. Anh Thạch lúc này đang họp Hội nghị ngoại giao đánh giá tình hình Đông Âu – Liên Xô.

    Nghe tôi phản ánh tình hình đàm phán xong, anh liền gạn hỏi tôi có nói với Từ về “giải pháp Đỏ” không. Tôi nói: “Đồng chí Lê Đức Anh đã dặn phải thận trọng tránh nói đến vấn đề đó khi đàm phán.” Anh Thạch vặn lại: “Vậy đồng chí nghe theo ý kiến Bộ trưởng Quốc phòng hay ý kiến Bộ trưởng Ngoại giao ?”. Tôi đáp: “Là cán Bộ Ngoại giao, tôi sẵn sàng chấp hành ý kiến anh, với sự hiểu biết rằng anh nói với tư cách là Ủỷ viên Bộ Chính trị”.

    Lúc ấy tôi thật bất ngờ trước phản ứng của anh Thạch, nhưng đồng thời cũng cảm nhận được vết rạn nứt trong Bộ Chính trị đã khá sâu.

    Phía Trung Quốc tất nhiên không để lọt hiện tượng này vì chính họ đang muốn tác động vào nội bộ ta. Chính thái độ quá đặc biệt, quá nhún mình và cũng quá sơ hở của lãnh đạo ta ngày 5 và 6/6/90 đã gây khó khăn không nhỏ cho ngoại giao ta trong đợt đàm phán này.

    Ngay từ hôm đầu đến Hà Nội và trong suốt mấy ngày đàm phán, Từ Đôn Tín luôn giở giọng cao ngạo, dùng uy lực của chính lãnh đạo ta để gây sức ép với cán bộ ngoại giao ta. Ngay trong lời đáp từ tại buổi tiệc của tôi chiêu đãi đoàn Trung Quốc tối 9/6/90, Từ đã nói:

    “Sau khi nghe đại sứ Trương Đức Duy báo cáo lại, tôi càng tăng thêm lòng tin tưởng, tôi tin rằng đồng chí thứ trưởng Trần Quang Cơ và các đồng chí ở Bộ Ngoại giao Việt Nam nhất định sẽ tuân theo ý nguyện và tinh thần của các đồng chí lãnh đạo Việt Nam, cụ thể hoá vào cuộc trao đổi với chúng tôi để chúng ta nhanh chóng giải quyết xong vấn đề”.

    Vào phiên đàm phán đầu tiên, sáng 11/690, Từ đã tìm cách ghim lại những điểm có lợi cho Trung Quốc hoặc ít nhất cũng hợp với ý đồ của họ bằng cách nêu ra “5 nhận thức chung rất bổ ích” mà hai bên đã đạt được trong cuộc gặp ở Bắc Kinh đầu tháng 5/90:

    “Hai bên đều cho rằng vấn đề Campuchia cần đạt được một giải pháp toàn diện, công bằng và hợp lý.

    Phía Việt Nam bày tỏ đã rút hết quân khỏi Campuchia, chấp nhận sự kiểm chứng của LHQ và cam kết sẽ không quay lại Campuchia.

    Hai bên đều cho rằng, trong thời kỳ quá độ ở Campuchia sau khi Việt Nam rút hết quân, chấm dứt viện trợ bên ngoài và thực hiện ngừng bắn, cần thành lập Hội đồng toàn quốc tối cao. Về nguyên tắc, hai bên chúng ta đều tán thành Hội đồng toàn quốc tối cao phải là cơ cấu quyền lực có thực quyền. Còn việc tổ chức Hội đồng đó thế nào, ý kiến của hai bên cơ bản nhất trí với nhau. Ứng cử viên của Hội đồng đó cụ thể là ai thì phải do các bên Campuchia lựa chọn. Trung Quốc, Việt Nam tôn trọng sự lựa chọn đó. Chúng ta tán thành Hội đồng toàn quốc tối cao không loại trừ bất cứ bên nào, cũng không để bên nào nắm độc quyền. Về Hoàng thân Sihanouk, hai bên đều chủ trương Hoàng thân Sihanouk làm Chủ tịch Hội đồng toàn quốc tối cao.

    Vấn đề quân sự trong thời kỳ quá độ, hai bên đều cho rằng để tránh xảy ra nội chiến và giữ hoà bình ở Campuchia, cần có sự sắp xếp thoả đáng quân đội 4 bên Campuchia. Dĩ nhiên sắp xếp như thế nào, hai bên chúng ta cần bàn thêm.

    Còn một điểm nữa, các đồng chí Việt Nam bày tỏ từ nay về sau sẽ không nhắc đến vấn đề diệt chủng, kể cả trong các văn kiện quốc tế cũng không nêu nữa”.

    Vì vậy Từ đề nghị tập trung bàn hai điểm tồn tại của lần gặp trước là vấn đề phạm vi quyền lực của SNC và vấn đề lực lượng vũ trang của các bên Campuchia trong thời kỳ quá độ.

    Trong 3 ngày đàm phán, mỗi khi phía Trung Quốc thấy ta không chấp nhận yêu sách vô lý của họ về hai vấn đề thuộc nội bộ Campuchia này, nhất là khi ta kiên trì công thức “hai bên Campuchia” – tức là hai chính phủ PhnomPenh và chính phủ Campuchia Dân chủ, hoặc có thể nói “các bên Campuchia”, nhưng dứt khoát bác công thức “4 bên Campuchia” của họ mang hàm ý chấp nhận vai trò hợp pháp của bọn Khmer đỏ và nhắc đến thoả thuận Tokyo, thì Từ lại lên giọng chê trách tôi làm trái ngược ý kiến của lãnh đạo Việt Nam.

    Y đưa ra lập luận là lãnh đạo Việt Nam đã đưa ra ý “hợp tác giữa 2 phái cộng sản Khmer” tức là1 nhận từ “4 bên Campuchia” (có nghĩa là đưa Khmer đỏ lên ngang với Chính phủ PhnomPenh).

    Từ nói: “Phát biểu của các đồng chí không nên trái ngược với các đồng chí lãnh đạo Việt Nam. ý kiến của Bộ Ngoại giao nên nhất trí với ý của lãnh đạo cấp cao, không nên có hai tiếng nói trái ngược”.

    Tôi phải đưa Từ trở về vị trí của y: “Đồng chí có thể yên tâm, không cần lo hộ chúng tôi là Bộ Ngoại giao có tiếng nói khác Trung ương. Đảng chúng tôi nhất trí từ trên xuống dưới. Bộ Ngoại giao là một bộ phận chịu sự lãnh đạo chặt chẽ của Bộ Chính Trị chúng tôi”.

    Về vấn đề Hội đồng Dân tộc Tối cao Campuchia, Trung Quốc kiên trì 3 điểm:

    a. SNC phải là cơ quan chính quyền tối cao hợp pháp duy nhất, đại diện cho độc lập, chủ quyền, thống nhất của Campuchia. Về mặt đối ngoại, đại diện cho Campuchia trên quốc tế, giữ ghế của Campuchia ở LHQ; về mặt đối nội, thực hiện quyền lập pháp và quản lý hành chính, trực tiếp nắm các ngành quan trọng ảnh hưởng đến tổng tuyển cử tự do, công bằng gồm quốc phòng, ngoại giao, nội vụ, tuyên truyền, tài chính (với hiểu ngầm là xoá 5 bộ này của chính quyền PhnomPenh).

    b. Không loại bên nào (tức là không loại Khmer Đỏ), không bên nào độc quyền.

    c. Thành phần, số lượng do 4 bên Campuchia bàn bạc và quyết định. Sihanouk làm chủ tịch SNC (thực chất là bác bỏ Thông cáo chung Tokyo đã thoả thuận là Hội đồng gồm 12 người, chia đều cho 2 bên, mỗi bên 6 người).

    Tôi khẳng định SNC có trách nhiệm và quyền lực trong việc thực hiện các hiệp định được ký kết về Campuchia, về hoà giải dân tộc và về tổng tuyển cử; hai chính quyền hiện tồn tại không được làm việc gì cản trở trách nhiệm và quyền lực trên đây của SNC. Còn việc các bên Campuchia chấp nhận ý kiến của Trung Quốc đến đâu là quyền của các bên Campuchia, Việt Nam và Trung Quốc không thể thay các bên Campuchia sắp đặt việc nội bộ của Campuchia.

    Về vấn đề lực lượng vũ trang, Trung Quốc đòi ghi vào biên bản thoả thuận: quân đội của 4 bên Campuchia phải tập kết vào những địa điểm của Ủỷ ban giám sát của LHQ chỉ định. Còn việc giảm quân hay giải pháp thì để cho SNC hoặc chính phủ sau bầu cử quyết định.

    Tôi nói: “Việt Nam tôn trọng thoả thuận giữa các bên Campuchia ở Tokyo là lực lượng vũ trang ở đâu đóng đó. Nguyên tắc về lực lượng vũ trang các bên Campuchia là chấm dứt nội chiến càng sớm càng tốt, duy trì ngừng bắn, không can thiệp vào đời sống chính trị, không can thiệp vào tổng tuyển cử để bảo đảm cho tổng tuyển cử được thực sự tự do và công bằng. Còn các biện pháp để thực hiện các nguyên tắc trên sẽ do các bên Campuchia thoả thuận với nhau”.

    Sau khi tỏ phản ứng về lập trường của ta, Từ nói:

    “Tôi muốn nói thật rằng nếu lần này chúng ta đi một bước không hay thì sẽ có hậu quả sau này. Không những hai chúng ta thất vọng mà kết quả còn trái ngược với nguyện vọng của đồng chí Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh và các đồng chí lãnh đạo khác nói với chúng tôi. Chúng ta đang ở ngã ba đường, lựa chọn thế nào ? Thời gian không cho phép. Trung tuần tháng 7, 5 nước Hội đồng bảo an họp lại. Trung Quốc không thể không tỏ thái độ. Nếu Trung Quốc và Việt Nam không đạt được kết quả giải quyết vấn đề Campuchia thì lòng mong muốn của chúng ta sẽ chịu hậu quả lớn.”

    Như để thuyết phục ta chấp nhận lập trường của họ, Từ đưa ra dự kiến của Trung Quốc giải quyết vấn đề Campuchia theo 5 bước:

    Trung – Việt đạt được thoả thuận về giải pháp vấn đề Campuchia và ghi nhận lại bằng một biên bản nội bộ;
    Họp ngoại trưởng 5 nước Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan, Inđônêxia, Lào và ra tuyên bố chung;
    Họp hội nghị có tính chất khu vực giữa 5 nước trên và 4 bên Campuchia;
    Họp 5 nước Hội đồng Bảo an và 4 bên Campuchia.
    Họp hội nghị quốc tế Paris về Campuchia.

    Từ nói chỉ trao đổi nội bộ với ta dự kiến này ở đây, không nói với 4 nước Uỷ viên thường trực Hội đồng bảo an, cũng không nói với Liên Xô để tránh sự quấy nhiễu của bên ngoài. Tôi tránh bình luận cụ thể, chỉ nói đây là một gợi ý thú vị, rất đáng suy nghĩ, song cần làm sao cho bước khởi động của chúng ta ở đây có kết quả thì toàn bộ kế hoạch mới có khả năng triển khai được.

    Chiều ngày 12/6/90, theo yêu cầu của phía Trung Quốc, đã có cuộc họp hẹp giữa hai trưởng đoàn. Qua đó Từ nhờ tôi chuyển tới lãnh đạo Việt Nam trả lời của lãnh đạo Trung Quốc về những ý kiến mà Nguyễn Văn Linh và Lê Đức Anh đã nói với đại sứ Trung Quốc ngày 5 và 6/6/90:

    “Lãnh đạo Trung Quốc rất coi trọng quan hệ Trung – Việt, Lãnh đạo Trung Quốc cũng rất coi trọng những ý kiến Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh và đồng chí Lê Đức Anh đã nói với đại sứ Trương Đức Duy. Phía Trung Quốc cho rằng quan hệ Trung–Việt sớm muộn cũng sẽ bình thường hoá. Hai bên đều cần cùng nhau cố gắng để thực hiện. Vấn đề Campuchia, cuộc chiến tranh Campuchia đã kéo dài hơn 10 năm. Đây là vấn đề toàn thế giới quan tâm, các nước trong khu vực, nhất là ASEAN, cũng rất quan tâm. Đối với hai nước Trung Quốc và Việt Nam, nhiệm vụ cấp bách cần giải quyết hiện nay là trên cơ sở những nhận thức chung đã đạt được, tiếp tục trao đổi ý kiến về hai vấn đề tồn tại (vấn đề quyền lực của Hội Đồng tối cao và việc xử lý quân đội của các bên Campuchia), làm sao cho có tiến triển hai vấn đề này. Nếu được như vậy, chúng ta sẽ góp phần vào việc thực sự giải quyết vấn đề Campuchia. Bước đi này là hết sức quan trọng. Chỉ có đi xong bước này, chúng ta mới có thể suy nghĩ đến những bước sau. Cũng có nghĩa là chỉ có đi xong bước này lãnh đạo Trung Quốc mới suy nghĩ về việc gặp cấp cao và việc thúc đẩy hai phái cộng sản Khmer hoà giải với nhau”.

    Nghe Từ đọc xong, tôi hỏi lại: “Như vậy có phải là chỉ sau khi giải quyết xong vấn đề quyền lực của SNC và vấn đề lực lượng vũ trang Campuchia thì Trung Quốc mới nghĩ đến việc gặp cấp cao?”

    Từ khẳng định đúng là như vậy và nói thêm: “Giải quyết hai vấn đề đó có nghĩa là Trung Quốc và Việt Nam đã nhất trí cơ bản về việc giải quyết vấn đề Campuchia, sẽ làm thành biên bản chung ghi các điều đã nhất trí làm cơ sở để thúc đẩy giải quyết vấn đề Campuchia, tác động đối với bạn bè mỗi bên và mở đầu quá trình bình thường hoá quan hệ hai nước”.

    Từ nói: “Nhất quyết phải giải quyết xong hai điểm tồn tại đó để có được giải pháp toàn bộ, không nên vượt qua vấn đề Campuchia. Giải quyết xong vấn đề Campuchia thì các bước tiếp theo về gặp gỡ cấp cao và bình thường hoá quan hệ giữa hai nước sẽ dễ giải quyết”.

    Ngay sau đó, tôi sang gặp Thủ tướng Đỗ Mười báo cáo tình hình cuộc đàm phán để chuẩn bị cho việc anh ấy tiếp Từ Đôn Tín chiều hôm sau như đã dự định. Tôi nói:

    “Chỉ với việc anh Linh và anh Lê Đức Anh gặp Trương Đức Duy trước khi Từ Đôn Tín tới Hà Nội đã làm cho phía Trung Quốc lên giọng trong đàm phán, nay nếu anh Linh hoặc anh Mười lại tiếp hắn nữa thì rất không nên”.

    Nghe tôi trình bày xong, Đỗ Mười bảo sở dĩ anh nghĩ đến chuyện gặp Từ là vì sáng 10/6/90, Lê Đức Anh đến yêu cầu Đỗ Mười gặp Từ, nay như vậy thì không cần gặp nữa. Đỗ Mười bảo tôi cùng đi ngay sang báo cáo sự tình với Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh vì anh Linh cũng dự định tiếp Từ.

    Sau khi nghe tôi trình bày, có một phút lặng đi, tôi nghĩ bụng Tổng bí thư chắc bị bất ngờ về những câu trả lời quá ư lạnh nhạt của lãnh đạo Trung Quốc đối với những điều tâm huyết mà anh và Lê Đức Anh đã thổ lộ với đại sứ Trương Đức Duy. Rồi anh Linh cho ý kiến là trong tình hình này anh Mười hoặc một cấp cao khác của ta không cần tiếp Từ Đôn Tín nữa.

    Ba ngày đàm phán với Từ nói chung là căng, nhưng giông tố chỉ nổ ra khi Từ Đôn Tín đến chào Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch chiều 13/6/90 trước khi đoàn Trung Quốc rời Hà Nội.

    Ngay từ đầu không khí trò chuyện đã không lấy gì làm mặn mà lắm. Nhưng đến khi Từ nói:

    “Các đồng chí nói chúng ta nên khuyên hai phái cộng sản Campuchia hoà giải với nhau, (Hói đó là mong muốn chân thành của Việt Nam Nhưng trên thực tế, các đồng chí cố sức tiêu diệt Khmer Đỏ. Nếu lãnh đạo Việt Nam muốn có sự hoà giải giữa hai nhóm cộng sản Khmer thì lẽ dĩ nhiên phải chấp nhận “4 bên”.] Chúng tôi không thể hiểu được trong hai giọng nói đó, cái nào là thật, cái nào là giả. Nghe tiếng nói này thì tiếng nói kia là giả dối, nghe tiếng nói kia thì tiếng nói này là giả dối. Mong rằng sau này các đồng chí không nên làm như vậy”,

    anh Thạch đã phản ứng mạnh: “Chúng tôi không đòi các đồng chí nói chỉ có hai bên Campuchia; các đồng chí cũng không thể đòi chúng tôi nói 4 bên. Chúng tôi nói các bên, không loại bỏ bên nào là đủ rồi. Nếu nói khác đi là chống lại Hội nghị Tokyo. Tôi nói thật, dùng thủ đoạn xuyên tạc thì rất khó đàm phán… Tôi rất trọng đồng chí nhưng rất không hài lòng với những điều đồng chí nói vì đồng chí có những xuyên tạc. Như thế rất khó đàm phán”.

    Cuộc nói chuyện kết thúc bằng câu “Chào Ngài ! ” của Từ Đôn Tín. Và anh Thạch cũng đáp lại bằng từ đó thay vào từ “đồng chí”.

    Tôi không có mặt trong buổi anh Thạch tiếp Từ Đôn Tín, nhưng khi nghe kể lại chuyện đó tôi không hề ngạc nhiên.

    Tôi nhớ như in cái giọng ngạo mạn kiểu “sứ giả thiên triều” của Từ trong buổi gặp ngày 13/6/90: “Lần này tôi sang Hà Nội chủ yếu để bàn với các đồng chí Việt Nam về vấn đề Campuchia, đồng thời cũng xem xét nguyện vọng của các đồng chí, chúng tôi đã chuẩn bị ý kiến về quan hệ hai nước Trung Quốc – Việt Nam”.

    Khi nói “nguyện vọng của các đồng chí” là Từ muốn nói đến những điều mà anh Linh và Lê Đức Anh đã nói với đại sứ Trung Quốc Trương Đức Duy ngày 5 và 6/6/90. Đây là cuộc đàm phán giữa hai quốc gia bình đẳng, làm sao Trung Quốc có thể nói đến chuyện “xem xét nguyện vọng” của lãnh đạo Việt Nam được. Thêm vào đó, tâm trạng Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch trong những ngày này lại đang nặng chĩu những suy tư khác.

    Sau khi xảy ra va chạm giữa Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch và trưởng đoàn Trung Quốc Từ Đôn Tín, sức ép vào nội bộ ta càng mạnh hơn: suốt nửa cuối 1990 đến 1991, Trung Quốc phớt lờ Bộ Ngoại giao, chỉ làm việc với Ban Đối ngoại; Ngoại trưởng Tiền Kỳ Tham từ chối gặp Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch tại kỳ họp Đại hội Đồng LHQ ở Nữu-ước tháng 9.90.

    Trước đó, ý đồ Trung Quốc phân hoá nội bộ ta đã bộc lộ rõ: muốn ta phải thay đổi Bộ trưởng Ngoại giao. Không chỉ thế, Trung Quốc còn lợi dụng sự cả tin của lãnh đạo ta để phá hoại uy tín đối ngoại của ta bằng cách dùng thủ đoạn cố ý lộ tin ra với các nước.

    Liều thuốc của thày Tàu bốc cho ta thật là đắng, thế nhưng đâu có dã được tật !

    Trần Quang Cơ
    Hồi ký “Hồi ức và Suy nghĩ” (Trích)

  4. Bài 3:

    QUỶ KẾ BÀNH TRƯỚNG, BÁ QUYỀN CỦA TRUNG QUỐC
    ĐỐI VỚI VIỆT NAM VÀ SỰ LỆ THUỘC, QUỲ PHỤC CỦA LÊ ĐỨC ANH

    Hồi ký “Hồi Ức và Suy Nghĩ” của Trần Quang Cơ
    nhà báo Trần Quang Thành giới thiệu

    Đỗ Mười và Trương Đức Duy
    Lời giới thiệu: Đại hội lần thứ bảy Đảng Cộng sản Việt Nam (17-27/6/1991) kết thúc, Đỗ Mười được bầu làm Tổng bí thư, Lê Đức Anh chiếm vị trí thứ hai trong Đảng nắm giữ 3 khối quan trọng nhất: Quốc phòng, An ninh, Ngoại giao và lên chức Chủ tịch nước, Đào Duy Tùng là Ủy viên Bộ Chính trị, thường trực Ban bí thư.

    Bộ ba Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Đào Duy Tùng thâu tóm quyền lực cao nhất trong Đảng, nhưng thực chất người có ảnh hưởng lớn nhất là Lê Đức Anh. Từ sau Đại hội VII, bộ măt bành trướng, bá quyền của tập đòan thống trị Bắc Kinh đối với Việt Nam ngày càng quỷ quyệt, can thiệp sâu và trắng trợn vào nội bộ lãnh đạo Việt Nam. Sự quỳ phục của Lê Đức Anh ngày càng bộc lộ rõ rệt trong việc bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc.

    Dưới tiêu đề “Đai hội VII và cái giá phải trả cho việc bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc:” trong chương 18 hồi ký “Hồi ức và Suy nghĩ”, nhà ngoại giao kỳ cựu Trần Quang Cơ viết:

    “Từ 17 đến 27.6.91 Đảng Cộng sản Việt Nam họp Đại hội lần thứ VII đưa lại nhiều thay đổi quan trọng về nhân sự: Đỗ Mười thay Nguyễn Văn Linh làm Tổng bí thư; Lê Đức Anh nay nghiễm nhiên giữ vị trí thứ 2 trong Đảng, Uỷ viên thường trực Bộ Chính trị kiêm Bí thư Trung ương phụ trách cả 3 khối quốc phòng – an ninh – ngoại giao và lên chức Chủ tịch nước. Võ Văn Kiệt được giới thiệu với Nhà nước cử làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng; Đào Duy Tùng thường trực Ban bí thư. Bộ ba Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Đào Duy Tùng nắm bộ phận thường trực của Bộ Chính trị và của Ban Bí thư. Đại tướng Võ Nguyên Giáp bị gạt ra khỏi chức Ủỷ viên Trung ương. Còn Nguyễn Cơ Thạch bị bật ra khỏi Bộ Chính trị và chuẩn bị thôi chức Bộ trưởng Bộ Ngoại Giao… (thực ra những thay đổi về nhân sự trong Bộ Chính trị đã được quyết định từ tháng 5 và Trung Quốc đã biết). Dư luận quốc tế xôn xao cho rằng Nguyễn Cơ Thạch là “vật tế thần” trong việc Việt Nam bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc. Tôi nghĩ rằng đó mới chỉ là một cách nói đơn giản vì vấn đề không chỉ là bình thường hoá quan hệ mà là phụ thuộc hoá quan hệ.

    Trước hết vấn đề đặt ra là ai sẽ thay anh Thạch giữ chức bộ trưởng ngoại giao ?

    Từ đầu tháng 7, tôi đã nhiều lần được triệu tập lên gặp Tổng bí thư Đỗ Mười và Trưởng ban Tổ chức trung ương Lê Phước Thọ (người thay Nguyễn Đức Tâm), để được thông báo và đả thông về dự định đưa tôi làm Bộ trưởng Ngoại giao.

    Lần gặp sáng ngày 10/7/91, thấy tôi vẫn từ chối, Đỗ Mười đã hiểu lầm tưởng tôi không nhận vì chưa được vào Bộ Chính trị như Bùi Thiện Ngộ – người thay Mai Chí Thọ làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ – nên hứa sẽ giải quyết chuyện đó sau khi nhận chức Bộ trưởng Ngoại giao.

    Tôi nói chỉ vì lý do “sức khoẻ” mà xin không nhận:

    “45 năm nay tôi liên tục công tác, cố gắng làm tốt các công việc được giao, không từ nan. Song lần này không thể nhận. Tôi chỉ có nguyện vọng và làm nốt công việc Thứ trưởng Ngoại giao. Đề nghị các anh quyết định theo phương án chúng tôi đề nghị ngày hôm qua: cử anh Vũ Oanh hay anh Vũ Khoan. Nhân đây tôi xin phản ảnh tư tưởng chung của anh em cán bộ nhân viên Bộ Ngoại giao là có sự đối xử chưa công bằng với Ngoại giao”.

    Vì sao tôi được người ta chọn để thay Nguyễn Cơ Thạch tuy biết rõ tôi có cùng quan điểm về chính trị đối ngoại với anh Thạch ? Tôi nghĩ có 2 lý do: một là, che đậy ý nghĩa chính trị của việc thay thế Nguyễn Cơ Thạch; hai là, cơ chế mới về đối ngoại sau Đại hội VII có khả năng vô hiệu hoá hoàn toàn mới chủ trương và hành động sai khác với quan điểm của mấy vị trong Ban Thường trực Bộ Chính trị mới.

    Sau khi tôi được miễn, đã có một cuộc vận động khá sôi nổi quanh vấn đề này. Những tên tuổi như Vũ Oanh, Hồng Hà, Hoàng Bích Sơn, Vũ Khoan, Nguyên Dy Niên… được nói tới. Cuối cùng Nguyễn Mạnh Cầm, lúc đó đang là Đại sứ ta tại Liên Xô được chọn, mặc dù khi ấy anh còn rất lưỡng lự.

    Sau Đại hội VII, mọi vấn đề quan trọng về đối ngoại của Nhà nước đều do Hồng Hà, Bí thư Trung ương, phụ trách đối ngoại, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Lê Đức Anh và tất nhiên được sự tán thưởng của Tổng bí hư Đỗ Mười, quyết định. Những phần công việc xưa nay vốn do Bộ Ngoại giao đảm nhiệm nay đều do Hồng Hà và Ban Đối ngoại chủ trì.

    Một thí dụ điển hình về vì ý đồ cá nhân họ sẵn sàng bỏ qua danh dự và quốc thể:

    Ngày 5/8/91, tại cuộc họp Hội đồng Bộ trưởng, Hồng Hà tuyên bố:

    ‘Từ nay trong quan hệ với Trung Quốc các ngành cứ tập trung ở chỗ anh Trương Đức Duy (Đại sứ Trung Quốc), không cần qua sứ quán Việt Nam ở Bắc Kinh’.

    Lê Đức Anh cho biết khi ở Trung Quốc, Phó ban Đối ngoại Trung Quốc Chu Lương có đề nghị: vì lý do kỹ thuật, quan hệ giữa hai Đảng xin làm qua Trương Đức Duy. Hôm sau, Hồng Hà với tư cách Trưởng ban Đối ngoại tiếp Đại sứ Campuchia Ouch Borith, đã thông báo:

    “Theo sự phân công của Bộ Chính trị Việt Nam, từ nay đồng chí Lê Đức Anh và đồng chí Hồng Hà sẽ phụ trách việc thảo luận giải pháp Campuchia và các vấn đề liên quan. Nếu lãnh đạo Campuchia muốn bàn các vấn đề trên thì đề nghị quan hệ và thảo luận trực tiếp với 2 đồng chí đó.

    Tổng bí thư Đỗ Mười gặp Đại sứ Trương Duy Đức (9/7/1991)

    Ngày 9/7/91, vừa được bầu làm Tổng bí thư, Đỗ Mười gặp đại sứ Trung Quốc Trương Đức Duy tỏ ý muốn cử Đặc phái viên đi Bắc Kinh để thông báo về Đại hội VII và trao đổi về quan hệ giữa hai nước.

    Trước đó ít ngày–ngày 11/6/91 – Bộ Ngoại giao ta cũng đã gặp đại sứ Trung Quốc đề nghị mở lại đàm phán cấp Thứ trưởng Ngoại giao hai nước.

    Ngày 17/7, Trung Quốc trả lời đồng ý gặp cấp Thứ trưởng ở Bắc Kinh từ 5/8 đến 10/8.
    Hai ngày sau, Trung Quốc trả lời đồng ý việc ta cử Đặc phái viên gặp lãnh đạo Trung Quốc, nhưng lại sắp xếp cuộc gặp Đặc phái viên Đảng trước cuộc gặp Thứ trưởng Ngoại giao…

    Việc làm trên cho thấy một mặt Trung Quốc muốn gặp ta ở cả hai cấp, mặt khác muốn dùng những thoả thuận với cấp Đặc phái viên để ép ta trong cuộc gặp cấp Thứ trưởng Ngoại giao. Để đề cao công việc này, phía Trung Quốc đã đề nghị thay chữ “Đặc phái viên” thành “đoàn Đại diện đặc biệt của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam” tuy Đoàn chỉ có 2 thành viên là Lê Đức Anh và Hồng Hà.

    Hồng Hà lúc đó là Bí thư Trung ương, phụ trách đối ngoại. Phụ tá đoàn là Trịnh Ngọc Thái, phó ban Đối ngoại của Đảng. Tôi nhớ khi đó Bộ Ngoại giao có đề nghị có một Thứ trưởng Ngoại giao là uỷ viên Trung ương đi với đoàn để nắm tình hình vận dụng vào cuộc đàm phán cấp Thứ trưởng Ngoại giao ngay sau đó, nhưng đề nghị không được chấp nhận. Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc Đặng Nghiêm Hoành cũng không được tham dự các hoạt động của đoàn, trong khi đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam, Trương Đức Duy lại có mặt trong mọi hoạt động chính thức của đoàn tại Trung Quốc.

    Ngày 28/7/91, đoàn đã đến Bắc Kinh và trong mấy ngày sau đó đã gặp Kiều Thạch, Lý Bằng, Giang Trạch Dân thông báo khá chi tiết về Đại hội VII. Thông báo cả những ý kiến khác nhau quá trình thảo luận, tranh luận và việc biểu quyết những vấn đề quan trọng trong Đại hội, và cơ cấu nhân sự của Ban Chấp hành Trung ương mới…, Giang Trạch Dân và Lý Bằng tỏ ra quan tâm đến việc Việt Nam sẽ có Ngoại trưởng mới (thay Nguyễn Cơ Thạch) trong kỳ họp Quốc hội tháng 8/91, Giang tỏ ý hài lòng: “Từ đáy lòng mình, tôi hết sức hoan nghênh kết quả Đại hội VII của các đồng chí Việt Nam”.

    Đặc biệt mặc dù chuyến đi có mục đích gặp lãnh đạo Trung Quốc thông báo về Đại hội VII và bàn quan hệ hai nước, nhưng Lê Đức Anh và Hồng Hà đã chủ động xin gặp Từ Đôn Tín tới 2 lần, chiều 297 và tối 317 để tạ lỗi (?).

    Mở đầu cuộc gặp chiều 29/7, Lê Đức Anh đã nói:

    “Năm ngoái khi đồng chí Từ Đôn Tín sang Việt Nam đã xảy ra một số trục trặc không hay lắm do phía chúng tôi gây ra (!) Đồng chí Nguyễn Văn Linh và chúng tôi khi biết việc này, chúng tôi không vui lắm. Hôm nay gặp đồng chí, tôi nói tình cảm của đồng chí Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và của tôi… Tình hình trục trặc trong quan hệ là một việc đau lòng, nhất là giữa những người cộng sản. Khúc nhạc cũ đã qua rồi, mong các đồng chí yên tâm”.

    Còn Từ thì cũng mượn dịp này để than phiền về đại sứ Đặng Nghiêm Hoành:

    “Một năm nay đồng chí ấy không gặp tôi, trừ khi gặp ở các cuộc chiêu đãi. Đây là lần đầu tiên tôi gặp đồng chí Hoành kể từ tháng 6 năm ngoái” (sự thực là phía Trung Quốc đã có thành kiến với anh Hoành từ trong cuộc đàm phán tháng 6/90 ở Hà Nội).

    Từ không quên nhắc đến điều kiện không thể thiếu có thể bình thường hoá quan hệ với Việt Nam: “Tôi rất hoan nghênh đồng chí Lê Đức Anh và đồng chí Hồng Hà là từ nay không nói diệt chủng nữa. Khi về Hà Nội nếu gặp Campuchia đề nghị các đồng chí cũng nói ý này… Nếu các đồng chí lãnh đạo Việt Nam sang Trung Quốc mà cái đuôi Campuchia vẫn còn thì chúng tôi khó nói với nhân dân. Mong vấn đề Campuchia được giải quyết thì khi bình thường hoá quan hệ chúng tôi có thể ăn nói với nhân dân Trung Quốc và nhân dân thế giới”.

    Để dọn đường cho cuộc gặp cấp Thứ trưởng ở Bắc Kinh tháng 8/91, tối 31/7 Hồng Hà đảm bảo với Từ Đôn Tín: “Đồng chí Lê Đức Anh và tôi sẽ làm việc trực tiếp với Thứ trưởng Nguyễn Dy Niên (người được chỉ định đi đàm phán với Trung Quốc chỉ vì chưa có “tiền sử” với Trung Quốc) trước khi đồng chí ấy đi Trung Quốc. Chúng tôi phải báo cáo với Bộ Chính trị để có ý kiến chỉ đạo không những về nội dung mà cả về tinh thần và thái độ làm việc. Tinh thần của chúng tôi là phấn đấu làm cho cuộc gặp thành công”.

    Sau khi đã cam kết từ nay không nói đến vấn đề diệt chủng nữa, Hồng Hà hỏi Từ: “Tôi muốn hỏi đồng chí ngoài vấn đề diệt chủng, còn hai vấn đề gai góc là vấn đề quân đội các bên Campuchia và vai trò LHQ thì phương hướng giải quyết nên thế nào, để chúng tôi có thể góp phần làm cho cuộc gặp thứ trưởng Việt – Trung ở Bắc Kinh sắp tới đạt kết quả tốt”.

    Xin ý kiến đối phương và hướng giải quyết vấn đề để đàm phán trước khi đàm phán, thật là chuyện có một không hai trong lịch sử đối ngoại !

    Sau khi ở Trung Quốc về, ngày 4/8/91, Lê Đức Anh và Hồng Hà gặp tôi và Nguyễn Dy Niên tại Văn phòng Trung ương Đảng để chuẩn bị cho Niên đi đàm phán với Trung Quốc.

    Sau khi anh Niên đọc bản đề án của Bộ Ngoại giao, tôi nói:

    “Anh Hoành (đại sứ ta ở Trung Quốc) vừa điện về phía Trung Quốc thông báo có 3 buổi làm việc nhưng họ nói có thể làm một buổi là xong. Chắc chắn Từ Đôn Tín sẽ đưa văn bản buộc chúng ta phải thoả thuận. Nếu ta nhận, họ sẽ xì ra cho các nước P5, ASEAN và bạn Campuchia. Ta sẽ ở vào thế phản bội đồng minh, phản bội bạn bè. Nếu ta đòi sửa văn bản của Trung Quốc thì sẽ không ra được văn bản, đàm phán sẽ thất bại. Chúng tôi đã xem lại biên bản thấy Trung Quốc gắn rất chặt vấn đề Campuchia với việc bình thường hoá quan hệ, vẫn coi Campuchia là điều kiện. Trung Quốc rất khôn, khi gặp cấp cao chỉ tập trung vào vấn đề quan hệ hai nước, còn cái xương để lại. Gặm cái xương này, chúng ta phải giải quyết vấn đề có tính nguyên tắc. Ta quyết tâm bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc nhưng không được phá quan hệ với Campuchia và không được để thế giới thấy anh Việt Nam là người tráo trở”.

    Biết tôi quá gai góc, không chịu chấp nhận ý đồ thoả hiệp vô nguyên tắc với Trung Quốc, Lê Đức Anh và Hồng Hà chỉ nói chung chung về chuyến đi Bắc Kinh vừa qua.

    Hồng Hà nói: “Tinh thần tôi nắm được là ý Trương Đức Duy và Từ Đôn Tín đều lo cuộc gặp Thứ trưởng thất bại. Từ có hỏi: Không biết đồng chí Thứ trưởng nào gặp tôi có nắm được tinh thần này không ?”

    Tôi liền bảo: “Như vậy càng rõ là họ có yêu cầu cao nên họ sợ ta không thể chấp nhận được”.

    Hồng Hà nói: “Tôi hiểu họ muốn bình thường hoá quan hệ là chính nên họ lo”.

    Tôi đáp: “Về mặt này thì phải nói là Việt Nam lo hơn vì Việt Nam mót bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc hơn.”

    Vào cuối buổi họp, Hồng Hà nói: “Chuyến đi của anh Niên là thuận lợi, sau chuyến đi của anh Lê Đức Anh. Anh Niên cũng là nhân vật mới, không có “tiền sử”. Khi nhắc đến tháng 6/90 họ rất cay cú”.

    Lê Đức Anh thêm vào: “Sau tháng 6/90 lại có phát biểu với báo chí của hai bên nên càng tích tụ thêm, gắng thêm”. (ý nói đến lần sau đàm phán tháng 6/90, giữa tôi và Từ Đôn Tín có sự phê phán nhau trên báo chí). Và đến chiều, khi họp Thường trực Bộ Chính trị bàn về việc đàm phán với Trung Quốc họ chỉ triệu tập anh Niên, không triệu tập tôi.

    Được biết trong cuộc họp này Tổng bí thư Đỗ Mười đã khẳng định là không nên vì vấn đề Campuchia mà cản trở việc bình thường hoá quan hệ của ta với Trung Quốc.

    Về vấn đề Campuchia, họ chỉ thị cho anh Niên thoả thuận với phía Trung Quốc:
    1. Không nói về vấn đề diệt chủng. Lê Đức Anh nói phải dứt khoát thôi vấn đề diệt chủng. Và Tổng bí thư Đỗ Mười nhấn thêm: “Nếu nói vấn đề diệt chủng tức là đồng minh với Mỹ chống Trung Quốc” (!)
    2. Nâng cao vai trò SNC Campuchia, hạ thấp vai trò LHQ.
    3. Giảm quan các bên Campuchia 50%

    Để đảm bảo cuộc đàm phán không đi chệch khỏi quỹ đạo đã dàn xếp trước với Trung Quốc, Hồng Hà còn để Trịnh Ngọc Thái, phó ban Đối ngoại, ở lại Bắc Kinh để tham gia đoàn đàm phán, thực chất để giám sát Nguyễn Dy Niên có theo đúng những điều họ đã thoả thuận trước với Trung Quốc không.

    Ngày 10/8/91, sau khi cái gọi là cuộc đàm phán này đạt kết quả đúng ý Trung Quốc (hoan nghênh Sihanouk giữ chức chủ tịch SNC, ủng hộ văn kiện khung của LHQ về giải pháp Campuchia), vào đúng ngày Quốc hội Việt Nam thông qua việc bổ nhiệm Nguyễn Mạnh Cầm thay Nguyễn Cơ Thạch làm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Ngoại trưởng Trung Quốc Tiền Kỳ Tham nhận tiếp Nguyễn Dy Niên và ngỏ lời mời tân Ngoại trưởng Nguyễn Mạnh Cầm thăm Trung Quốc ngày 16/9/91 để chuẩn bị cho cuộc gặp cấp cao Trung – Việt ở Bắc Kinh.

    Ta đã dự kiến sau cuộc đàm phán ở Bắc Kinh sẽ sang PhnomPenh thông báo cho bạn Campuchia nhưng tối 18/8/91 Hồng Hà lại gọi điện chỉ thị: “Theo ý kiến đồng chí Lê Đức Anh, anh Niên không phải đi Campuchia thông báo với bạn nữa và cũng không thông báo cho bất cứ ai về cuộc đàm phán ở Bắc Kinh vừa qua” (mặc dù phía Trung Quốc đã thông báo cho các nước ASEAN và các nước phương Tây rồi). Và còn nói thêm: “Từ nay trở đi, trên giấy trắng mực đen đừng ghi ý đồ của Trung Quốc nữa (?) vì vấn đề này Bộ Chính trị đã nắm rồi.”

    Nói chung, từ sau Đại hội VII, tiến trình bình thường hoá quan hệ Việt Nam – Trung Quốc như cỗ máy đã được tra dầu đầy đủ, diễn biến trơn tru theo trình tự đã định.

    Ngày 5-10/11/91, sau khi Hiệp định về Campuchia được ký kết ở Pari, Tổng bí thư Đỗ Mười và Thủ tướng Võ Văn Kiệt thăm chính thức Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa để hoàn thành việc bình thường hoá mối quan hệ bị trục trặc lớn từ tháng 2/79.

    Nhưng trong khi lãnh đạo ta ôm kỳ vọng cùng Trung Quốc “bảo vệ chủ nghĩa xã hội chống đề quốc” thì họ đã xác định quan hệ với ta là “thân nhi bất cận, sơ nhi bất viễn, tranh nhi bất đầu” (thân nhưng không gần, sơ nhưng không xa, đấu tranh nhưng không đánh nhau).

    Trung Quốc nói thế song luôn luôn lấy thế nước lớn để lấn chiếm lãnh thổ lãnh hải ta, và hiểm độc nhất là không ngừng tác động vào nội bộ ta.”

    Trần Quang Cơ
    Hồi ký “Hổi ức và Suy nghĩ” (Trích)

  5. Bài 4:

    TẬP ĐOÀN BÁ QUYỀN, BÀNH TRƯỚNG TRUNG QUỐC NGÀY CÀNG CAN THIỆP SÂU, PHÂN HOÁ
    NỘI BỘ VIỆT NAM

    Hồi ký “Hồi Ức và Suy Nghĩ” của Trần Quang Cơ
    nhà báo Trần Quang Thành giới thiệu

    Lời giới thiệu: Từ sau hội nghi Việt Trung ở Thành Đô (Trung Quốc), tập đoàn bá quyền, bành trướng Trung Quốc càng lộ liễu, trắng trợn can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, dùng sức ép về chính trị, kinh tế và các thủ đoạn nham hiểm khác chía rẽ nhóm cầm đầu Đảng Cộng sản Việt Nam, lấn chiếm lãnh thổ, lãnh hải của Việt Nam.

    Hơn 20 năm trôi qua từ hội nghị Thành Đô (9/1990) đến hội nghị Bắc Kinh (10/2011), từ cái ngày ông Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam – Nguyễn Văn Linh lén lút đi gặp quan thầy Trung Quốc tại Thành Đô để mua lấy sự sống còn cho đảng đến bây giờ đã hơn 20 năm. Những gì xảy ra cho đất nước Việt Nam từ bàn tay khuynh loát, thống trị của Trung Quốc ra sao trong suốt thời gian đó nhiều người đã quá rõ.

    Và như nhà nghiên cứu Nguyễn Trung trong bài viết mang tựa đề “Phải chặn đứng nguy cơ tái diễn kịch bản Thành Đô 1990” đã viết :

    “Nhìn lại hơn 20 năm qua, điểm lại toàn bộ những việc trong quan hệ hai nước đã làm được, từ đàm phán biên giới trên bộ và dưới biển, phát triển quan hệ kinh tế, việc Trung Quốc trúng thầu hàng trăm công trình kinh tế quốc gia quan trọng của Việt Nam, thuê đất, thuê rừng, bô-ít Tây Nguyên, ti-tan ven biển miền Trung, những hoạt động tăng cường quan hệ thực ra là nhằm tăng cường chi phối nhân sự nước ta, những hoạt động tăng cường giao lưu.., tất cả đều chịu sự chi phối sâu sắc của quyền lực mềm Trung Quốc.

    Những sai lầm, yếu kém chủ quan của ta, do chính ta tự gây nên, cần phải được nhìn nhận khách quan và phê phán nghiêm khắc, không thể đổ thừa cho bất kỳ ai bên ngoài.

    Dù khẳng định dứt khoát như thế, vẫn phải đánh giá nghiêm khắc: Tổng hợp tình hình hơn 20 năm qua, thực tế đang diễn ra là quan hệ Việt – Trung càng phát triển, thì Việt Nam càng lệ thuộc nhiều hơn vào Trung Quốc về kinh tế và chính trị, bị uy hiếp nhiều hơn về đối ngoại và quốc phòng. Thực tế này, cùng với ảnh hưởng chính trị nói chung của Trung Quốc vào đối nội của Việt Nam một mặt đang kìm hãm nghiêm trọng toàn bộ sự phát triển của Việt Nam nói chung, mặt khác gây ly tán đến mức nguy hiểm giữa nhân dân và lãnh đạo đất nước, khiến cho trấn áp và mất dân chủ trong đối nội phải gia tăng, đồng thời thực tế này cũng khuyến khích tham nhũng tiêu cực phát triển. Những vụ trấn áp biểu tình vừa qua chống yêu sách của Trung Quốc trên Biển Đông nói lên nhiều điều và càng đổ dầu thêm vào lửa bức xúc trong nhân dân.

    Hiện nay, đất nước có rất nhiều yếu kém bên trong, lệ thuộc và hèn yếu về đối ngoại, nguyên nhân của thực trạng này – ngoài các lẫm lỗi chủ quan của ta – có nguyên nhân chi phối rất nghiêm trọng của ảnh hưởng Trung Quốc.

    Ngày nay, lợi ích quốc gia đòi hỏi phải lọai bỏ xu thế đang diễn ra là quan hệ Việt – Trung càng phát triển thì Việt Nam càng lệ thuộc vào Trung Quốc và tương lai phát triển của Việt Nam càng bị chặn đứng. Ngày nay quốc gia đang đứng trước nguy cơ Trung Quốc tìm cách tiếp tục lấn chiếm biển đảo của đất nước trên Biển Đông. Sau 37 năm độc lập thống nhất, đất nước đang lâm nguy.

    Những yếu kém của ta trước đây đã dẫn đến Thành Đô 1990. Không loại trừ nguy cơ những yếu kém hiện nay của nước ta có thể tái lập một Thành Đô 1990 đời mới, với hệ quả là vứt bỏ cả thế giới đang đứng về phía chính nghĩa của nước ta, để quay lại hòa hiếu với Trung Quốc và để đẩy tiếp cả đất nước xuống bùn đen!

    Cả nước phải đồng lòng nhất trí loại bỏ nguy cơ mới này. Muốn có được quan hệ hữu nghị thực sự, hợp tác bình đẳng cùng có lợi giữa Việt Nam – Trung Quốc, càng nhất thiết phải loại bỏ nguy cơ Thành Đô 1990 đời mới!

    Hồi ký “Hồi ức và Suy nghĩ” của Trần Quang Cơ đã phơi bầy một phần sự thật

    Chương 16 dưới tiêu đề “Món nợ Thanh Đô”, nhà ngoại giao kỳ cựu Trần Quang Cơ viết :

    “Từ tháng 9/90, Trung Quốc luôn coi ta mắc nợ họ về thoả thuận Thành Đô, đòi ta thực hiện thoả thuận đó, cụ thể là tác động với Phnom Penh nhận SNC có 13 thành viên và do Sihanouk làm Chủ tịch. Với cách làm đó, họ khơi sâu thêm bất đồng trong nội bộ ta…

    Trung Quốc thấy rằng việc thực hiện thoả thuận Thành Đô gặp trở ngại chính từ Bộ Ngoại giao nên chủ trương chia rẽ nội bộ ta càng trắng trợn hơn. Đại sứ mới của Malaysia ngày 3.10.90 đến chào xã giao, nói với tôi là ở Bắc Kinh người ta đưa tin là có sự khác nhau giữa Bộ Ngoại giao và lãnh đạo Đảng về chủ trương đối ngoại cho nên trong chuyến đi Thành Đô gặp cấp cao Trung Quốc không có ông Nguyễn Cơ Thạch.

    Sau Thành Đô, trong khi ta nới rộng hoạt động của sứ quán Trung Quốc ở Việt Nam thì phía Trung Quốc lại tỏ ra lạnh nhạt với Bộ Ngoại giao công kích lãnh đạo Bộ Ngoại giao Việt Nam; hạn chế hoạt động của Đại sứ ta ở Bắc Kinh, không sắp xếp Đại sứ ta tham dự vào cuộc Lý Bằng tiếp anh Võ Nguyên Giáp, anh Vũ Oanh; cử cán bộ cấp thấp tiếp và làm việc với Đại sứ ta. Trung Quốc một mặt khẳng định là vấn đề Campuchia chưa giải quyết thì quan hệ Trung – Việt “chỉ có bước đi nhỏ”, mặt khác thăm dò và tích cực tác động đến vấn đề nhân sự và phương án chuẩn bị Đại hội VII của Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ họp vào giữa năm 1991.

    Từ tháng 3/91, tại kỳ họp Quốc hội Trung Quốc khoá 7, Lý Bằng tuyên bố “quan hệ Trung – Việt đã tan băng” và có một số điều chỉnh mềm dẻo hơn trong vấn đề Campuchia. Về vấn đề SNC của Campuchia. Trung Quốc không cố bám giữ con số 13, tạm gác vấn đề chủ tịch, phó chủ tịch, đưa ra công thức “Sihaouk chủ trì các cuộc họp SNC”. Từ chỗ chỉ có quan hệ với 3 phái, sau cuộc gặp SNC ở Pattaya (Thái Lan), Trung Quốc chuyển sang quan hệ trực tiếp với Nhà nước Campuchia, mời Hunxen thăm Bắc Kinh trong 3 ngày (22-24/7/91).

    Chiều Chủ nhật 18/11/90 họp Bộ Chính trị về vấn đề Campuchia. Từ sau khi P5 thoả thuận về văn kiện khung (28/890) cuộc đấu tranh về vấn đề Campuchia đi vào giai đoạn cuối, gay gắt và quyết liệt. Thay mặt Bộ Ngoại giao, tôi trình bày đề án về nguyên tắc đấu tranh về văn kiện khung của P5 và về vấn đề SNC để Bộ Chính trị cho ý kiến.

    Khi tôi trình bày xong, anh Thạch đề nghị Bộ Chính trị khẳng định 2 điểm:

    1. Vấn đề SNC là vấn đề nội bộ của Campuchia, ta không ép bạn được, phải tôn trọng chủ quyền của bạn;

    2. Về văn kiện khung, ta phải bác những điểm vi phạm Hiến chương LHQ. Nếu không sau này có ảnh hưởng đến vấn đề xử lý Trường Sa… Ta thấy rõ Trung Quốc và Mỹ đều nhất trí xoá Nhà nước Campuchia bằng cách khác nhau.

    Cuối cuộc họp, Tổng bí thư Linh kết luận: “Về SNC ta không thể góp ý với bạn được… Nếu nói Trung Quốc và Mỹ như nhau thì tôi không đồng ý. Sau hội nghị Trung ương, Bộ Chính trị sẽ đánh giá lại một số vấn đề liên quan đến ngoại giao như nhận định về Trung Quốc thế nào, tuyên bố hoặc nói về Trung Quốc như thế nào ?”

    Nguyễn Cơ Thạch nói luôn : “Đồng ý đánh giá lại cả cuộc hội đàm ở Thành Đô”.

    Dự thảo Hiệp định toàn bộ về Campuchia ngày 26/11/90 do P5 thảo ra đã được các thành viên SNC Campuchia chấp nhận về cơ bản tại cuộc họp ở Paris ngày 23/12/90.

    Chủ trương của ta là giải pháp chính trị về Campuchia, nhất là những vấn đề nội bộ Campuchia, phải do bạn tự quyết định và chịu trách nhiệm với dân tộc Campuchia. Ta hết sức giúp đỡ họ, gợi ý để họ tránh được những thất bại không đáng có, nhưng ta không thể làm thay. Như vậy ta vừa hết lòng giúp bạn vừa không để Việt Nam một lần nữa bị sa lầy vào cuộc đấu tranh nội bộ của Campuchia. Không để vấn đề giải pháp chính trị về Campuchia lại một lần nữa trở thành vấn đề lịch sử trong quan hệ Việt Nam – Campuchia.

    Theo yêu cầu của bạn, ngày 14/1/91, tôi cùng các anh Huỳnh Anh Dũng, Lê Công Phụng, Vũ Tiến Phúc, chuyên viên về giải pháp Campuchia, sang Phnom Penh làm việc với bạn với mục đích:

    a. Tìm hiểu suy nghĩ và ý định của bạn về giải pháp Campuchia sau khi bạn đã chấp nhận văn kiện khung của P5 tại cuộc họp Jakarta 10/9/90 và chấp nhận về cơ bản dự thảo Hiệp định 26/11 của P5 tại cuộc họp Paris 23/12/90;

    b. Thuyết phục bạn kiên quyết tách riêng các vấn đề nội bộ thuộc chủ quyền Campuchia để chỉ thaỏ luận và giải quyết trong SNC;

    c. Thoả thuận kế hoạch chuẩn bị cho việc họp lại Hội nghị quốc tế Paris.

    Khi tiếp tôi, anh Hunxen nói: “Trong nội bộ Campuchia, xu hướng mạnh nhất là muốn có một giải pháp chính trị giữ được thành quả cách mạng, không để cho Polpot quay trở lại… Tình hình hiện nay rất tế nhị. Tình hình phức tạp sẽ xảy ra nếu ta chấp nhận một giải pháp vô nguyên tắc. Chỉ cần chấp nhau một giải pháp như vậy thì nội bộ Campuchia đã hỗn loạn rồi chứ chưa nói là ký kết. Ta giữ lập trường cứng như vừa qua là tốt. Đề nghị Việt Nam không để đẩy quá nhanh tiến trình giải pháp.

    Như vậy, qua các cuộc gặp Bộ trưởng Hor Nam Hong, Thứ trưởng Dith Munty và Thứ trưởng Sok An, nhất là qua phát biểu của Chủ tịch Hunxen chiều 16/11, có thể thấy được chủ trương của bạn cố kéo dài trạng thái đánh đàm hiện tại vì nhiều yếu tố chủ quan khách quan khác nhau, song chủ yếu vì trong nội bộ lãnh đạo bạn xu hướng chưa muốn đi vào giải pháp còn rất mạnh.

    Hunxen cho biết theo quyết định của Bộ Chinh trị Campuchia, trong cuộc họp Trung ương ngày 17/1/91, ông ta sẽ thông báo cho Trung ương là “năm 1991 sẽ chưa có giải pháp”. Tuy nhiên, tôi lại có cảm thấy trong suy nghĩ cũng như trong hành động lãnh đạo Campuchia đang có nhiều mâu thuẫn lúng túng, chưa xác định được cho mình một đường lối rõ ràng mạch lạc, mà chỉ lo đối phó từng bước với những vấn đề trong nội bộ cũng như với đối phương.

    Trong lần gặp Heng Somrin ở Hà Nội ngày 24/2/91, anh Nguyễn Văn Linh vẫn cố ép bạn “cần thực hiện tốt chính sách hoà hợp dân tộc, không nên nhấn mạnh vấn đề diệt chủng, nên SNC gồm 13 thành viên và Sihanouk làm Chủ tịch”.

    Heng Somrin về nói lại với Bộ Chính trị Đảng Campuchia thì tất cả đều băn khoăn và ngại rằng Heng Somrin không thạo tiếng Việt nên nghe có thể sai sót. Thực ra, như Hunxen nói với anh Ngô Điền, khi nghe Heng Somrin nói lại những ý kiến của anh Linh, Bộ Chính trị Campuchia rất lo vì thấy Việt Nam khác Campuchia nhiều quá.

    Ngày 13/3/91 Hunxen nói với anh Thạch: “Có thể có sách lược phân hoá Khmer đỏ, nhưng dứt khoát không thể bỏ vấn đề diệt chủng. Nếu bỏ sẽ có 3 mối nguy hiểm: sẽ mất con bài mặc cả trong đàm phán ngay từ đầu; mất lợi thế trong tổng tuyển cử; kẻ thù sẽ có lợi trong việc vu cáo Việt Nam là mọi chuyện xảy ra 12 năm qua đều do Việt Nam gây ra cả. Số lượng thành viên SNC có thể là 12 hoặc 14, không thể chấp nhận con số 13, sẵn sàng cho Sihanouk làm chủ tịch, Hunxen làm phó, không đòi chức chủ tịch luân phiên hay đồng chủ tịch nữa”.

    Trong cách làm này của ta cho thấy ta chỉ quan tâm đến điều mà ta cho là có lợi ích đối với ta mà thiếu cân nhắc xem điều đó có phù hợp với lợi ích của bạn không. Cách làm đó tất yếu ảnh hưởng xấu đến quan hệ gắn bó lâu nay giữa ta với Phnom Penh.

    Đầu năm 1991, Bộ Chính trị đã có cuộc họp tại T78 thành phố Hồ Chí Minh (24-25/1/91) để bàn về vấn đề Campuchia. Tôi trình bày chủ trương tách mặt quốc tế với mặt nội bộ của giải pháp Campuchia, đồng thời báo cáo ý kiến của Hunxen cho biết là Bộ Chính trị Campuchia quyết định không đi vào giải pháp trong năm 1991.

    Bộ Chính trị quyết định cần thăm dò khả năng họp Bộ Chính trị 3 nước để hướng Campuchia đi vào giải pháp, họp có tính chất trao đổi, gợi ý chứ không quyết định, ta không thể ép bạn, đồng thời phải tỏ được thiện chí, tránh mọi việc làm ta bị cô lập.

    Nhân dịp này, tôi đã ngỏ ý với anh Thạch là tôi muốn rút khỏi Trung ương khoá tới. Anh Thạch tỏ ý không tán thành. Đến tháng 2/91, khi có cuộc bầu đại biểu ở các tỉnh để đi dự Đại hội VII, tôi đã gửi thư cho anh Nguyễn Đức Tâm, Trưởng ban Tổ chức Trung ương, xin rút khỏi danh sách dự Đại hội VII.

    Lúc này tinh thần tôi đã có phần mệt mỏi vì những sự việc trong thời gian qua. Nhưng yêu cầu của tôi không được đáp ứng. Tôi nhận được giấy đi dự Đại hội tỉnh Đảng bộ Sơn la và được bầu vào Đoàn đại biểu tỉnh Sơn la đi dự Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII.Tháng 6/91, tôi có giấy đi dự Đại hội Đảng với tư cách đại biểu tỉnh Sơn La rồi tiếp tục tham gia Trung ương khoá VII
    .
    Tình hình bất đồng ý kiến trong Bộ Chính tri càng đến gần Đại hội càng bộc lộ gay gắt.

    Ngày 13/4/91, trong cuộc họp Bộ Chinh trị bàn về tình hình thế giới và đường lối đối ngoại để chuẩn bị báo cáo chính trị tại Đại hội, sau khi anh Thạch bản báo cáo về “Tình hình thế giới và chiến lược đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta”, Lê Đức Anh giới thiệu đại tá Lân, cán bộ Cục II Bộ Quốc phòng, trình bày về tình hình thế giới và mưu đồ đế quốc”.

    Nghe xong, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh phát biểu: “Chủ quan tôi nghĩ giữa bản trình bày sáng nay (của Bộ Ngoại giao) và bản trình bày tình hình quân sự chiều nay của Bộ Quốc phòng có nhiều chỗ khác nhau. Muốn thảo luận chủ trương thì phải thảo luận tình hình trước, nhưng cách đánh gia tình hình còn khác nhau”

    Cố vấn Phạm Văn Đồng: “Nói khôi hài lúc này thật không phải lẽ. Chúng ta cần cố gắng làm việc đúng lương tâm, nghiêm chỉnh, đúng trách nhiệm của mình. Bộ Chính trị đã giao cho 3 đồng chí phụ trách 3 ngành làm nhưng lại chưa làm”.

    Lê Đức Anh: “Bộ Chính trị nên nghe tình hình nhiều mặt, ngay trong nước chúng ta cũng đánh giá khác nhau. Căn cứ vào đánh gía chung, mỗi ngành có đề án riêng, không làm chung được”.

    Nguyễn Cơ Thạch đồng ý 3 ngành thảo luận để đi tới nhất trí về tình hình, còn công tác thì mỗi ngành làm.

    Trên tinh thần đó, ngày 2/591, đã có cuộc họp giữa Ngoại giao, An ninh và Quốc phòng để thống nhất nhận định tình hình thế giới.

    Dự họp về phía Bộ Quốc phòng có: Lê Đức Anh, Trần Văn Quang, Đại tá Lân (thường gọi là Lân thọt), Bộ Nội vụ có: Mai Chí Thọ; Bộ Ngoại giao có Nguyễn Cơ Thạch và 4 thứ trưởng. Còn 3 phó ban Đối ngoại: Nguyễn Thị Bình, Trịnh Ngọc Thái, Nguyễn Quang Tạo.

    Thu hoạch của cuộc họp khá nghèo nàn, không đem lại được sự nhất trí trong nhận định tình hình, chỉ nhất trí được mấy điểm lý luận chung chung.

    Chỉ còn một tháng đến ngày họp Đại hội VII, Chính trị B họp liền gần 3 ngày (15,16 và 17/5/91) để thảo luận bản dự thảo “Báo cáo về tình hình thế giới và việc thực hiện đường lối đối ngoại của Đại hội VI và phương hướng tới”.

    Bộ Chính trị có mặt đông đủ. Theo dõi cuộc họp ở ghế dự thính. Số dự thính lúc đầu có 10 người, từ chiều 16/5 khi đi vào kiểm điểm việc thực hiện các Nghị quyết về đối ngoại của Đại hội VI thì dự thính thu hẹp lại chỉ còn có Hồng Hà, Hoàng Bích Sơn, Đinh Nho Liêm và tôi.

    Từ đầu đến cuối, tôi đã nhận rõ sự đấu tranh giữa hai quan điểm về mặt quốc tế, nhất là khi đi vào phần kiểm điểm thực hiện đường lối đối ngoại, nói đến vấn đề Campuchia và quan hệ với Trung Quốc.

    Bản dự thảo báo cáo của Bộ Ngoại giao có nêu “đã có một số việc làm không đúng với các Nghị quyết của Bộ Chính trị”, “thái độ đối với Trung Quốc có sự thay đổi qua 2 giai đoạn (trước và sau năm 1989) trái với Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị (20/5/88)”, “giữa ta và bạn Campuchia đã bộc lộ sự khác nhau khá rõ rệt”, về đối ngoại, ta “lúng túng, thiếu bình tĩnh” trước cuộc khủng hoảng chính trị ở Đông Âu và Liên Xô…; đã bỏ lỡ cơ hội cải thiện với ASEAN (khi Thái Lan mời Thủ tướng Đỗ Mười sang thăm, nhưng anh Mười nói phải đi Liên Xô, đi Ấn Độ rồi mới đi Thái), đã làm nảy sinh tranh cãi khá căng, đặc biệt khi bàn đến đúng sai trong chuyện gặp cấp cao Trung Quốc ở Thành Đô tháng 9.90 và vấn đề chống diệt chủng và “giải pháp Đỏ”.

    Anh Võ Chí Công: “Về Trung Quốc rất phức tạp… Bộ Chính trị đã đánh giá Trung Quốc có hai mặt xã hội chủ nghĩa và bá quyền. Về xã hội chủ nghĩa cũng cần thấy là trong “nháy nháy”… Khó khăn là chưa bình thường hoá quan hệ… Họ đưa ra 5 trở ngại, có cái hàng trăm năm không giải quyết nổi. Ví dụ như chuyện “Liên bang Đông Dương”, họ biết ta không có ý đồ đó song cứ nêu lên cốt để chia rẽ và giành lấy Lào và Campuchia, gạt ta ra… Chuyện “giải pháp Đỏ” là không được, vì như vậy thì có nghĩa là Trung Quốc sẽ đi với ta chống Mỹ trong lúc chủ trương của họ là tranh thủ khoa học – kỹ thuật của phương Tây để hiện đại hoá, còn gì là Trung Quốc nữa ?

    Tới cuối cuộc họp, Nguyễn Đức Tâm còn nói: “Chưa làm dự thảo Nghị quyết ngay được vì qua thảo luận thấy ý kiến Bộ Chính trị còn khác nhau về đánh giá đúng thành tích, đúng bạn thù, đối sách. Đại hội đến nơi, sau Đại hội không còn Bộ Chính trị này nữa, tuy một số đồng chí còn ở lại… Mặc dù vậy Nguyễn Thanh Bình chủ trì cuộc họp vẫn kết luận làm dự thảo Nghị quyết về đối ngoại.”

    Chương 20 là chương kêt thúc hồi ký Hồi ức và Suy nghĩ”.
    Dưới tiêu đề “Kết thúc một chặng đường nhưng lịch sử chưa sang trang”, nhà ngoại giao kỳ cựu Trần Quang Cơ viết :

    “Sau 12 năm ròng rã, đối với chúng ta, vấn đề Campuchia coi như đã kết thúc và đã trở thành một hồ sơ của bộ phận lưu trữ trong Bộ Ngoại giao Việt Nam. Nhưng những bài học của 12 năm ấy vẫn còn có nhiều tính chất thời sự, nhất là bài học về chính sách và thái độ cư xử với các nước lớn.

    Tiếp sau việc vấn đề Campuchia được giải quyết là việc thực hiện bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc. Theo thoả thuận giữa hai bên, ngày 5/11/91, Tổng bí thư Đỗ Mười và Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã có cuộc đi thăm chính thức nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, đánh dấu sự bình thường hoá quan hệ giữa hai nước. “Quan hệ Việt – Trung tuân thủ các nguyên tắc tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau… Quan hệ Việt – Trung không phải là quan hệ đồng minh, không trở lại quan hệ như những năm 50-60…”

    Tuy nhiên sau khi bình thường hoá quan hệ, lại dồn dập diễn ra những sự kiện xấu trên nhiều mặt quan hệ giữa hai nước, tập trung gay gắt nhất là các vấn đề liên quan đến lãnh thổ trên bộ vùng biên giới Hà Giang tháng 2, 3, 4/92; vụ nối lại đường xe lửa Liên vận ở Đồng Đăng, Lạng Sơn tháng 12/91 rồi 4.5.92; Lục Lầm, Quảng Ninh tháng 5.92) và tranh chấp biển đảo mà đỉnh cao là vụ Trung Quốc công khai hoá việc ký kết họp đồng thăm dò khai thác dầu khí với Công ty Năng lượng Mỹ Crestone tại một vùng rộng lớn trên thềm lục địa của Việt Nam (bãi Tư Chính).

    Vì sao Trung Quốc tăng cường lấn ép ta vào thời điểm này ? Vì Trung Quốc cho rằng tình hình đó đang thuận lợi cho họ tranh thủ gấp rút thực hiện yêu cầu tăng thế và lực (xây dựng hải quân nhanh, nổ thử bom 1000 kilôton, thi hành chiến lược “biên giới mềm”) nhằm tạo cho mình một vị thế đỡ bất lợi so với Mỹ và các nước lớn khác, trong đó có ý đồ gấp rút biến biển Nam Trung Hoa – mà ta gọi là biển Đông – thành vùng biển độc chiếm của Trung Quốc, từ đó khống chế toàn bộ vùng Đông Nam Á.

    1. Trật tự thế giới cũ không còn, trật tự thế giới mới chưa hình thành. Các đối thủ chính của Trung Quốc ở châu Á – Thái Bình Dương đều đang gặp khó khăn, Liên Xô vừa tan rã. Liên bang Nga trước mắt chưa phải là thách thức đáng kể, Mỹ đang giảm bớt sự có mặt về quân sự ở châu Á – Thái Bình Dương, tránh can thiệp nếu lợi ích của Mỹ và đồng minh không bị đụng đến.

    2. Đông Nam Á mới bắt đầu quá trình nối lại các quan hệ giao lưu giữa hai nhóm nước đối đầu cũ. Triển vọng liên kết hay nhất thể hoá Đông Nam Á, bất lợi đối với ý đồ bá quyền của Trung Quốc, đang còn có những trở ngại (nghi ngờ nhau do khác ý thức hệ, va chạm lợi ích, ý đồ của Thái Lan đối với Lào, Campuchia) đòi hỏi thời gian khắc phục Trung Quốc muốn tranh thủ thời gian này để cản phá xu thế hợp tác khu vực giữa Đông Dương, chủ yếu là Việt Nam và ASEAN tạo ra một tập hợp lực lượng thân Trung Quốc ở Đông Nam Á (quân phiệt Thái, quân phiệt Myanmar, Khmer đỏ ở Campuchia và Lào nếu có thể) để khuất phục Việt Nam.

    3. Bản thân Việt Nam còn đang lúng túng về những vấn đề chiến lược (vấn đề đồng minh, vấn đề tập hợp lực lượng, vấn đề bạn thù) trong tình hình mới sau khi Liên Xô tan rã, quan hệ với Mỹ chưa bình thường hoá, Trung Quốc muốn đi vào bình thường hoá quan hệ với Việt Nam trên thế mạnh.

    Vì vậy Trung Quốc nhẩn nha trong các bước bình thường hoá quan hệ với Việt Nam, vừa tạo bề mặt thân mật gắn bó Trung – Việt, vừa xiết chặt bên trong, giành lợi thế cho mình trên mọi lĩnh vực quan hệ. Cả hai mặt đều nhằm đạt mục tiêu khẳng định Việt Nam – Đông Dương là thuộc khu vực ảnh hưởng của Trung Quốc, muốn tách Việt Nam khỏi Đông Nam Á và thế giới bên ngoài.
    *
    * *
    Ngày 29/11/93, tại cuộc họp Trung ương thứ 6 khoá VII để nhận định tình hình và bàn về ảnh hưởng tới, với dự tính sẽ xin rút khỏi Trung ương trong kỳ họp Trung ương giữa nhiệm kỳ tới, tôi đã tranh thủ nói rõ quan điểm của tôi trước phiên họp toàn thể Trung ương dưới dạng trình bày những suy nghĩ của mình về “Thời cơ và những thách thức”.

    Tôi cho rằng cục diện mới lúc này có mặt thuận lợi là đang nảy sinh những xu thế phù hợp với yêu cầu mở cửa, hoà nhập vào đời sống kinh tế–chính trị quốc tế của ta, đang tạo nên thời cơ thực hiện mục tiêu hoà bình và phát triển của nước ta.

    Đó là:

    Xu thế độc lập tự chủ, tự lực tự cường của những nước nhỏ và vừa, có ý thức về lợi ích dân tộc của mình, cưỡng lại chính trị cường quyền áp đặt của nước lớn.

    Xu thế đa dạng hoá quan hệ đối ngoại, tăng cường ngoại gia đa phương do nhu cầu đẩy mạnh giao lưu kinh tế và an ninh tập thể.

    Xu thế giữ hoà bình ổn định thế giới và khu vực nhằm bảo đảm môi trường quốc tế thuận lợi cho tập trung phát triển kinh tế.

    Xu thế liên kết khu vực về kinh tế và an ninh khu vực.

    Đồng thời, cũng có những thách thức lớn đối với an ninh và phát triển của ta, cả từ bên trong lẫn từ bên ngoài:

    Thách thức bên trong là tệ nạn tham ô và nhũng nhiễu đang huỷ hoại sức để kháng vật chất cũng cũng tinh thần của dân tộc ta, làm giảm hẳn khả năng chống đỡ của ta đối với các thách thức bên ngoài.

    Diễn biến hoà bình – một dạng biểu hiện của mâu thuẫn Đông – Tây sau chiến tranh lạnh.

    Bá quyền bành trướng. Nguy hiểm không kém diễn biến hoà bình, ở sát nách ta, thể hiện lúc mềm, cứng để gây mơ hồ mất cảnh giác (điểm này trong hội nghị hầu như không có ý kiến nào đề cập tớ).

    Tình hình Campuchia còn đầy bất chắc với Khơ me đỏ còn đó, cộng với chủ nghĩa dân tộc cực đoan của người Campuchia.

    Trên cơ sở nhận định về thời cơ và nguy cơ như vậy, tôi đã đưa ra kiến nghị:

    Cần nhìn tổng thể tình hình khách quan và chủ quan, đối chiếu các thách thức với khả năng các mặt của ta để chọn cách xử lý sát thực tế, vừa sức.
    Trước hết xử lý thách thức nào trong tầm tay của ta, tập trung chống tham nhũng để bảo tồn và tăng cường sức đề kháng phòng ngừa thách thức bên ngoài.
    Ưu tiên cho liên kết khu vực (Đông Nam Á). Liên kết không phải để đối đầu chống nước nào.
    Đối với các nước lớn, quan hệ hữu hảo, không đối đầu nước nào, nhưng đều giữ khoảng cách nhất định.
    Song song với việc kết bạn, không lơ là với việc đấu tranh khi cần thiết. Song luôn giữ giới hạn. không gây nguy cơ mất ổn định khu vực.
    Tránh không làm gì có thể dồn hai hoặc ba đối thủ câu kết lại vơi nhau chống ta.
    Những ý kiến trên đây có thể dùng làm đoạn kết cho phần hồi ức này của tôi, vì phản ảnh khá đầy đủ quan điểm của tôi và cho đến nay (năm 2000) xem ra nó chưa phải đã lỗi thời.”

    Trần Quang Cơ
    Hồi ký “Hồi ức và Suy nghĩ” (Trích)

    https://nr-013.appspot.com/www.trinhanmedia.com/2012/09/oc-lai-ho-so-ban-nuoc-hoi-nghi-thanh-o.html

  6. Sự thật bị giấu kín :
    Bao nhiêu lính Trung Quốc tham gia cuộc chiến VN ?
    (320 ngàn quân Trung Cộng từng tham gia chiến tranh Việt Nam)

    Quân số Trung cộng tham gia chiến tranh Việt nam được tiết lộ trong những tài liệu trước đây:

    Bên cạnh Liên-Xô, vào thời điểm 1967 ngoài hàng vạn tấn đạn dược, vũ khí, đã có 16 sư đoàn với 170 ngàn quân Trung cộng tại miền Bắc Việt Nam để yểm trợ cho đảng Cộng sản Việt Nam nhưng đồng thời để bảo vệ vòng đai an ninh của Trung cộng. Tội ác của đảng Cộng sản Trung cộng đối với dân tộc Việt Nam, từ các tư tưởng độc hại đến võ khí giết người, từ cải cách ruộng đất đến đến Hoàng Sa, Trường Sa, từ chiến tranh biên giới đến trận chiến Lão Sơn, không thể viết hết trong một bài, trong một cuốn sách mà phải xây dựng một trung tâm dữ kiện.

    Trần Trung Đạo: Từ Buổi Chiều Trên Nghĩa Địa Hàng Dương

    http://www.trantrungdao.com/?p=290

  7. CHỈ LÀ VẤN ĐỀ THỜI GIAN

    Các nhà lãnh đạo miến Bắc, khi tự đặt mình vào sự chi phối của Trung Cộng, đã đặt chúng ta trước một viễn ảnh nô lệ kinh khủng. Hành động của họ, nếu có hiệu quả, chẳng những sẽ tiêu diệt mọi cơ hội phát triển của chúng ta, mà lại còn đe dọa đến sự tồn tại của dân tộc.

    Sở dĩ, tới ngày nay, sự thống trị của Trung Cộng đối với Việt Nam chưa thành hình, là vì hoàn cảnh chính trị thế giới chưa cho phép, và sự tồn tại của miền Nam dưới ảnh hưởng của Tây phương là một trở lực vừa chính trị vừa quân sự cho sự thống trị đó. Giả sử mà Nam Việt bị Bắc Việt thôn tính, thì sự Trung Cộng thôn tính Việt Nam chỉ là một vấn đề thời gian.

    Chính đề Việt Nam
    Tác già Ngô Đình Nhu (1910-1963)

    Vô đây đọc tiếp

    ***
    Bài Đọc Quan Tâm

    30.4.1975 – Ngày Tự Thú của csVN
    30.4.1975 – Ngày Hận Thù của csVN
    VNCH – Sau 30 năm tị nạn csVN
    Danh Ngôn Chủ Nghĩa Cộng Sản
    30 câu nói về Cộng Sản
    Chiến tranh nam bắc Mỹ
    Ngô Đình – Hiểm Họa Xâm Lăng
    Hồ Chí Minh – Tên Diệt Chủng thế kỷ 20
    TT Thiệu – Hòa bình của nấm mồ
    TT Phạm Văn Đồng – Tù Cải Tạo 30.4.1975
    Ngày Quốc Hận – 30.4.1975
    Ghi Chú : Việt Nam – Trung Cộng
    Quốc Ca – Cờ Vàng – Cờ Đỏ
    Quốc Hận – 30.4.75 Tại Sao ?
    Hòa Giải – Hòa Hợp – Dân Tộc
    Thanh Trừng – Nội Bộ Đảng csVN

  8. PHẢI PHÁ VỠ NHỮNG NGỤY BIỆN VỀ HỒ CHÍ MINH

    Phạm Khánh Chương
    6-6-2015

    Vậy, hoàn cảnh lịch sử phức tạp nào lúc ấy khiến Hồ Chí Minh và Việt Minh bắt buộc phải thủ tiêu đối lập? Hoàn cảnh phức tạp nào lúc ấy khiến Hồ Chí Minh chỉ có thể làm “cuộc cách mạng Đông Dương…..bằng một cuộc khởi nghĩa vũ trang” , phát động cuộc “trường kỳ kháng chiến” kéo dài 9 năm làm chết hàng vạn người?

    Tất cả lý luận để bênh vực Hồ Chí Minh chỉ là hình thức đánh lừa vị giác, hay nói cách khác, là tự đánh lừa mình. Biết là sai nhưng vẫn tự đánh lừa mình thì là ngu, nhưng dùng nó để đánh lừa cả người khác là bất lương, là tội ác.

    Những kẻ biện hộ cho Hồ Chí Minh lý luận rằng ông ta ảnh hưởng tư tưởng Khổng Giáo nhiều hơn tư tưởng CS, rằng những việc làm của ông ta lúc trước là do biện pháp tình thế, ngoài ý muốn, do người khác làm, rằng nhận xết về Hồ Chí Minh phải khách quan về hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ, v,v….Tất cả những lý luận biện hộ đó đều là ngụy biện.

    Hồ Chí Minh xuất thân bần nông, có khuynh hướng dùng bạo lực để giải quyết vấn đề hơn dùng trí óc để tìm giải pháp. Chính vì thế, năm 1920, khi ông ta đọc được “Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của Lenin, ông ta hoàn toàn bị CS mê hoặc vì CS chủ trương đấu tranh bạo lực để giải phóng con người, giải phóng XH.

    Nếu Cụ Phan Chu Trinh chủ trương nâng cao dân trí, hội nhập thế giới văn minh, rồi từ đó đấu tranh giành độc lập mà không cần dùng bạo lực hay cầu viện ngoại bang thì Hồ Chí Minh đã chọn con đường hoàn toàn trái ngược. Và ông ta đã đi theo, và chỉ theo con đường trái ngược đó cho tới khi chết.

    Tuy bị mê hoặc bởi chủ nghĩa CS và đi theo CS, Hồ Chí Minh khi ấy cũng không hiểu rõ CS. Chính vì không hiểu CS là gì nên tại Hội Nghị Quốc Tế Nông Dân năm 1923, Hồ Chí Minh chỉ nêu ra vấn đề thuộc địa (thực chất là nêu ra vấn đề đàn áp nông dân tại thuộc địa) mà không quan tâm (hay không biết đến) những vấn đề khác của phong trào CS trên thế giới lúc bấy giờ  như phong trào công nhân, phong trào đấu tranh ở thành thị, v.v… Điều này làm Stalin không hài lòng, gây khốn khổ cho Hồ Chí Minh đến mãi sau này, cho tới khi ông ta hiểu biết hơn về CS và “sửa sai tư tưởng” bằng phong trào Cải Cách Ruộng Đất tại VN.

    Sự mơ hồ về chủ nghĩa CS của Hồ Chí Minh còn kéo dài cho tới khi Trần Phú về triệu tập Hội Nghị Trung Ương tháng 10-1930, đổi tên đảng CSVN thành đảng CS Đông Dương, nhấn mạnh phải lấy “giai cấp chống giai cấp làm trọng tâm cho mọi đường lối đấu tranh chính trị của đảng.

    Những tay lý luận biện hộ cho Hồ Chí Minh chụp lấy cơ hội trên cho rằng khuynh hướng “tả”“những hành động bạo lực” sau đó là “ngoài ý muốn” của Hồ Chí Minh vì lúc đó Hồ Chí Minh đang ở nước ngoài. Đây chỉ là ngụy biện vì đường lối CS Quốc Tế là đường lối chung, có Hồ Chí Minh khi ấy hay không cũng vậy, Trần Phú chỉ là người làm sáng tỏ đường lối đấu tranh theo ý thức hệ CS mà những đảng viên CS, kể cả Hồ Chí Minh, phải tuân theo.

    Những kẻ ngụy biện còn cố gán cho Hồ Chí Minh ảnh hưởng Khổng Giáo để làm giảm bản chất CS của ông ta, nhưng ai học sách Nho ngày xưa mà không ảnh hưởng Khổng Giáo? Thật ra, Hồ Chí Minh cũng có ảnh hưởng bởi Khổng Giáo và một số tư tưởng dân chủ Âu Tây, ông ta từng viết “Khổng tử, Jésus, Marx, Tôn Dật Tiên,…đều có những điểm chung giống nhau, đó là cùng mưu cầu hạnh phúc cho loài người. Tôi cố gắng là người học trò nhỏ của các vị ấy”, nhưng những bài viết, văn kiện của Hồ Chí Minh cho thấy ông ta chịu ảnh hưởng rất nặng tư tưởng CS của Lenin. Điều này chứng tỏ Hồ Chí Minh tuy mơ hồ về lý thuyết CS nhưng ông ta không mơ hồ về con đường mình đi và quyết tâm chọn con đường đó vì nó phù hợp với bản chất của ông ta.

    Chính vì ảnh hưởng rất nặng tư tưởng của Lenin và quyết tâm theo con đường CS, Hồ Chí Minh đã dể dàng chấp nhận lấy quan điểm “giai cấp đấu tranh giai cấp” bạo lực của Stalin và Mao làm con đường đấu tranh duy nhất để “lật đổ chế độ tư bản chủ nghĩa, xây dựng chế đxã hi ch nghĩa, thiết lập chuyên chính vô sản” (cương lĩnh của Đệ Tam Quốc Tế do Lenin lãnh đạo).

    Việc Hồ Chí Minh có phải là người đem CNCS hay thành lập đảng CS tại VN hay không không thành vấn đề, ông ta vẫn là một trong những đảng viên tiên phong của phong trào CS tại VN. Đảng CS do ông ta lãnh đạo và kế thừa đã tích cực áp dụng phương pháp đấu tranh bạo lực, “giai cấp chống giai cấp” của Stalin và Mao để giải quyết vấn đề đất nước.

    Ngoài ra, nếu nói sự chọn lựa đó “ngoài ý muốn” thì tại sao năm 1941, khi ban Trung Ương cũ do Trần Phú dựng lên và những người theo ông ta bị bắt và hy sinh gần hết, Hồ Chí Minh về làm lãnh tụ tối cao của đảng, ông ta không thay đổi quan điểm đấu tranh của đảng?

    Hồ Chí Minh và đảng CS có rất nhiều cơ hội để thay đổi đường lối đấu tranh hòa bình hơn, nhân bản hơn theo hướng những đàn anh đi trước và trí thức hơn ông ta như Cụ Phan Chu Trinh, nhưng ông ta và đảng CS đã không làm, vì đó không phải chủ trương của đảng CS nói chung. Nói tới  Cộng sản, Việt Minh hay sau này là Việt Cộng, là nói tới thanh trừng, khủng bố và dối trá. Bạo lực và dối trá nối tiếp bạo lực và dối trá.

    Hồ Chí Minh đã khéo léo dùng chiêu bài “dân tộc”, “yêu nước” để che dấu bộ mặt thật Việt Minh-Cộng Sản với nhân dân VN, nhưng không thể qua mắt được người Mỹ. Người Mỹ và các nước Tây phương biết rõ Hồ Chí Minh không phải là “nhà ái quốc” hay người theo “chủ nghĩa dân tộc” (dù có vài người tin như vậy!), Hồ Chí Minh chỉ là một đảng viên đảng CS Quốc Tế dưới sự lãnh đạo của CS Xô-viết.

    Tình hình VN lúc bấy giờ rất phức tạp (Pháp, Nhật, Tàu, phe phái, v.v…), nhiệm vụ, mục tiêu đấu tranh của đảng CS do Hồ Chí Minh lãnh đạo có thay đổi nhưng quan điểm đấu tranh hoàn toàn không thay đổi. Kết quả, tháng 8-1945, thay vì kết hợp với chính phủ Trần Trọng Kim để xây dựng một nhà nước dân chủ, đa đảng, Hồ Chí Minh chọn việc cướp chính quyền, loại bỏ chính phủ đầu tiên của VN, một chính phủ hợp hiến của một quốc gia độc lập, độc lập không đổ máu.

    Tháng 5-1946, Hồ Chí Minh qua Pháp dự Hội Nghị Fontainebleau, thực chất là tránh mặt cho Võ Nguyên Giáp thủ tiêu các đảng phái khác như Quốc Dân Đảng, Việt Cách, Việt Quốc, Đại Việt và những người Trotskist, tức là thủ tiêu những người không cùng đường lối, không cùng ý thức hệ CS.

    Thật ra, dù Hiệp Ước 1946 thành công hay thất bại, dù Pháp có phá vỡ Hiệp Ước hay không, Hồ Chí Minh và đảng CS cũng sẽ sử dụng vũ lực vì tư tưởng sử dụng bạo lực để cướp chính quyền đã có từ trước. Ngày 19-5-1941, tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ VIII, Hồ Chí Minh đã khẳng định, trích:

    cuộc cách mạng Đông Dương sẽ kết liễu bằng một cuộc khởi nghĩa vũ trang” “với lực lượng sẵn có, ta có thể lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương giành thắng lợi mà mở đường cho một cuộc tổng khởi nghĩa to lớn”.

    Tư tưởng bạo lực của QTCS luôn chi phối mọi suy nghĩ và hành động của ông ta.

    Tháng 3-1947, lấy lý do Pháp phá vỡ Hiệp Ước, Hồ Chí Minh kêu gọi tiêu thổ, trường ký kháng chiến. Năm 1951, tình hình thuận lợi cho phép Hồ Chí Minh lộ mặt, đưa đảng CS ra hoạt động công khai trở lại, lấy tên là đảng Lao Động VN.

    Lê Diễn Đức viết trong “Hồ Chí Minh và di sản của ông”, trích:

    Sau chiến thắng Điện Biên Phủ và hiệp định Geneva năm 1954…. Ngay lập tức Hồ Chí Minh đã phản bội lại chính mình, phản bội lại tất cả những điều mà ông ta sử dụng nó để đưa người dân vào 9 năm kháng chiến trường kỳ”.

    Không! Hồ Chí Minh không phản bội lại ông ta, ông ta chỉ không cần phải dấu mặt thật nữa thôi!

    Không thể nào nói một người như Hồ Chí Minh không hiểu rằng nếu sử dụng bạo lực là sẽ có đổ máu. Kéo cả dân tộc vào đấu tranh bạo lực thì máu sẽ thành sông, xương thành núi, nhưng ông ta vẫn bất chấp, không những thế, còn tìm mọi cách để thực hiện (đấu tranh bạo lực). Rất nhiều nước thuộc địa đã dành được độc lập, tự do mà không cần phải mất nhiều xương máu như vậy.

    Một người ái quốc hay theo chủ nghĩa dân tộc, lấy dân làm gốc, không bao giờ lấy xương máu nhân dân để làm phương tiện cho mục đích chính trị của đảng phái mình, trừ khi người đó bị lôi cuốn bởi một quyền lực u mê vô hình nào đó. Quyền lực u mê vô hình ở đây là chủ nghĩa CS mà Hồ Chí Minh suốt đời “không chỉ là một người cộng sản Việt Nam mẫu mực, Người còn là chiến sĩ cộng sản quốc tế trong sáng, thuỷ chung, luôn quan tâm đến sự phát triển chung của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế”.

    Một số người bênh vực Hồ Chi Minh cho rằng, trong giai đoạn phức tạp của lịch sử lúc đó,do tình thế bắt buộc,  Hồ Chí Minh không thể chủ động lựa chọn mà phải chấp nhận (khi không còn con đường nào khác). Đây là cách ngụy biện nguy hiểm nhằm mục đích đổ lỗi cho người khác. Những tay ngụy biện còn đi xa hơn cho rằng, xét công-tội của Hồ Chí Minh phải xét tới hoàn cảnh lịch sử phức tạp lúc ấy.

    Hoàn cảnh lịch sử phức tạp lúc ấy đã cho phép Cụ Trần Trọng Kim thành lập chính phủ VN đầu tiên mà không cần phải đổ máu (dù vẫn chịu sự bảo hộ của quân dội Nhật – lúc đó đã thất trận, giải giáp và chuẩn bị rút về nước).

    Vậy, hoàn cảnh lịch sử phức tạp nào lúc ấy khiến Hồ Chí Minh và Việt Minh bắt buộc phải thủ tiêu đối lập? Hoàn cảnh phức tạp nào lúc ấy khiến Hồ Chí Minh chỉ có thể làm “cuộc cách mạng Đông Dương…..bằng một cuộc khởi nghĩa vũ trang” , phát động cuộc “trường kỳ kháng chiến” kéo dài 9 năm làm chết hàng vạn người?

    Hoàn cảnh phức tạp nào lúc ấy, bắt buộc Hồ Chí Minh viết thư nặc danh vu cáo bà Nguyễn Thị Năm, một người địa chủ có công với đất nước? Hoàn cảnh phức tạp nào lúc ấy bắt buộc Hồ Chí Minh phải tiến hành Cải Cách Ruộng Đất làm chết cả trăm ngàn người, trong đó hơn 70% là vô tội?

    Hoàn cảnh phức tạp nào lúc ấy, ép Hồ Chí Minh và đảng CS do ông ta lãnh đạo phải tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Miền Nam kéo dài hơn 20 năm với hàng triệu người chết mà ruốt cuộc, sau 40 năm thống nhất, đất nước càng ngày tụt hậu, nghèo nàn và lệ thuộc vào Tàu?

    Tất cả chỉ vì Hồ Chí Minh là đảng viên trung kiên của đảng CSQT, suốt đời sống là làm việc theo chỉ thị của đảng CSQT (nay là đảng CS Tàu). Những kẽ kế thừa ông ta hiện nay vẫn đang “tiếp tục kế thừa tư tưởng và phát huy sự nghiệp” của ông ta.

    Một người tự trọng sẽ không cho phép mình đổ thừa hoàn cảnh để chạy tội. Không có dân tộc nào trên thế giới muốn có một lãnh đạo như Hồ Chí Minh để bị dẫn dắt đi hết chổ chết này tới chổ chết khác.

    Người VN nào vẫn xem ông ta là “cứu tinh dân tộc“, hãy nhìn lại chặng đường hơn 80 năm qua của dân tộc, của đất nước từ khi có đảng CS dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh đề suy nghĩ lại. Những trí thức VN hãy có đủ bản lĩnh trí thức để thoát khỏi sự nô lệ của cái bóng ma quái Hồ Chí Minh, trí thức bị nô lệ tư tưởng không phải là trí thức.

    Lịch sử VN đời đời lên án Lê Chiêu Thống, Trần Ích Tắc là những kẻ “cõng rắn cắn gà nhà“,“rước voi về giày mả tổ“, bất chấp hoàn cảnh lịch sử lúc ấy như thế nào. VN này nay bị mất đất, mất biển, đất nước bị lệ thuộc Tàu cộng, tất cả chỉ vì Hồ Chí Minh là “chiến sĩ cộng sản quốc tế thuỷ chung“. Hồ Chí Minh rổi đây cũng sẽ bị lịch sử phê phán như vậy

    Hồ Chí Minh là “nhân vật lịch sử”, Hồ Chí Minh  không phải là “thánh” để mà tôn thờ và Hồ Chí Minh hoàn toàn không phải là “cha già dân tộc”. Những kẻ gọi Hồ Chí Minh là “cha già dân tộc” là những kẻ đang sĩ nhục tổ tiên và phỉ báng dân tộc.

    Ngày sau dù chế độ nào cầm quyền đi nữa thì người ta cũng sẽ học về Hồ Chí Minh, nhưng học về Hồ Chí Minh không phải để làm theo mà để tránh vết xe đổ của lịch sử, tránh những nguy cơ gây tổn thất, mất mát, đau khổ cho dân tộc và cả nguy cơ mất nước mà Hồ Chí Minh và những kẻ CS kế thừa của ông ta đã và đang làm hiện nay.

    ____________________

    Tham Khảo:

    – Nguyễn Văn Trần, “Chung Quanh Vài Luận Điểm Mới Bênh Vực Hồ Chí Minh”
    – Lê Diễn Đức, “Hồ Chí Minh và Di Sản Của Ông”

    Phạm Khánh Chương
    nguon

  9. CHUNG QUANH VÀI LUẬN ĐIỂM MỚI BÊNH VỰC HỒ CHÍ MINH

    Hình bên: Hồ Chí Minh là một trong “13 tên độc tài khát máu
    (13 Deadliest Dictator) theo tờ The Dailybeast

    Nguyễn Văn Trần
    5-06- 2015

    Hồ Chí Minh chết nay được 46 năm, mồ yên mả đẹp nhưng ông vẫn chưa được yên. Người ta đào bới lên đủ thứ chuyện về ông :  bản thân, gia đình, con đường lập thân, … để xác định một Hồ Chí Minh  thật trong lịch sử  Vìệt Nam .

    Gác qua những phê phán, công kích hay đánh giá hoàn toàn tiêu cực về Hồ Chí Minh, chúng ta, hôm nay, chỉ ghi nhận, trong gần đây, xuất hiện vài nhận định (*) khá mới, ôn hòa, có vẻ như mang tính khách quan, phê phán tình trạng kinh tế tụt hậu, xã hội băng hoại, đạo đức bật gốc, tham nhũng tràn lang, đàn áp dã man mọi người khác chánh kiến, …và qui trách tất cả đều do ” lỗi hệ thống ” . Tức lỗi của chế độ . Và chế độ đó là chế độ ở Hà nội hiện nay .Từ phê phán này, người ta mới đặt vấn đề « cần có nhận thức và đánh giá Hồ Chí Minh như thế nào để đạt tới sự chính xác, công bằng, khách quan ? » .

    Ai cũng biết Hồ Chí Minh là người cộng sản và khai sanh ra chế độ cộng sản ở Hà nội năm 1945. Vậy ông có những liên đới trách nhiệm gì với tình trạng đất nước suy đồi hiện nay, với những tội ác “long trời lở đất ” do đảng cộng sản của ông gây ra cho dân tộc liên tục từ trước tới nay hay không ?

    Những luận điểm nhằm khôi phục giá trị lịch sử Hồ Chí Minh, cho rằng ông không phải là người đầu tiên du nhập cộng sản vào Việt nam, ông là người cộng sản theo Lê-nin chớ không phải theo Staline-Mao, ông là người yêu nước theo chủ nghĩa dân tộc, dân chủ, theo Tôn Dật Tiên và Phan Chu Trinh, …

    Chúng tôi hoàn toàn không đồng ý với những luận điểm nhằm khôi phục, vớt vát lại giá trị lịch sử của Hồ Chí Minh. Tại sao ?

    I – Công lao to lớn cứu nước, giải phóng dân tộc ?

    Ngày 6 tháng 3/1946, Hồ Chí Minh ký thoả hiệp án với Pháp để rước Pháp trở lại Hà nội với ý đồ mượn tay Pháp tiêu diệt lực lượng các đảng phái quốc gia vì lúc bấy giờ lực lượng Việt minh hãy còn yếu. Có người trong hàng ngũ lãnh đạo Mặt Trận Việt Minh, lúc đó, hỏi Hồ Chí Minh : « Nhựt trao trả độc lập cho Việt nam. Tại sao ta không nhận mà còn đánh giặc ? » . Hồ Chí Minh không ngần ngại giải thích : “Ta nhận độc lập đó là độc lập của các đảng phái quốc gia . Độc lập thật sự là độc lập do ta cướp được chánh quyền ...” .

    Trong quá khứ có nhiều cơ hội độc lập, tránh chiến tranh đổ máu, cùng xây dựng đất nước dân chủ và phát triển . Nhưng Hồ Chí Minh đều bỏ qua và còn tuyên bố « Dù phải đánh giặc mười năm nữa để có độc lập cho ta, ta cũng phải làm » .

    Trong những cơ hội đó, độc lập đầu tiên và thật sự, cần ghi nhớ, là độc lập do Hoàng Đế bảo Đại tiếp thu ở Nhựt với đầy đủ giá trị pháp lý và cả tính chánh đáng . Nhưng biến cố này bị quên lãng do tuyên truyền của cộng sản chỉ nhắc nhở cách mạng tháng 8 và Tuyên ngôn Độc lập 2/9 của Hồ Chí Minh . Tiếp theo, chánh quyền quốc gia Đệ I Cộng Hòa vì chủ trương « bài phong đả thực » mà nhận chìm bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoàng Đế Bảo Đại thêm mấy độ sâu nữa trong quên lãng .

    Thật bất hạnh cho dân tộc ! Sau khi thu hồi độc lập, ngày 17 tháng 3 năm 1945, Hoàng Đế bảo Đại ban hành Dụ số 1, long trọng xác nhận những điểm cụ thể về vận mệnh mới của Việt nam :

    «  1. Chế độ chính trị từ nay căn cứ vào khẩu hiệu « DÂN VI QUÍ » .

    1. Trong chính giới sẽ chiêu tập các nhân tài đích đáng để chỉnh đốn lại nền tảng Quốc gia cho xứng đáng là một nước độc lập chân chính có thể hợp tác với Đại-Nhật-Bản trong công cuộc kiến thiết Đại-Đông-Á.
    2. Trẫm sẽ tài định và tuyên bố các cơ quan chính trị để ban hành những phương pháp hợp với nguyện vọng của Quốc dân “.

    Nhận định về Đạo dụ này, Luật Sư Bùi Tường Chiểu (Thanh Nghị, số 107, ngày 5 tháng Năm 1945) nhấn mạnh đến tầm quan trọng đặc biệt của bản văn :

    Đạo dụ trên đối với chế độ chính trị nước ta sau này có một tính cách quan trọng đặc biệt mà ta có thể nói rằng Đạo dụ này đã nêu lên một cách tóm tắt những quả quyết rõ ràng về những nguyên tắc kiến thiết chính thể nước Việt-Nam sau này ” .

    Dựa trên « Dân Vi Quý », ông phân tích :

    “ Nay đạo Dụ số 1 đã nêu lên khẩu hiệu Dân vi quí có nghĩa là Hoàng Đế Bảo Đại đã hủy bỏ cái lý thuyết cũ mà đến nay hầu hết các nước văn minh đã cho là không hợp thời. Đã lấy dân làm trọng, đã lấy quyền lợi dân để trên tất cả thì vua tất chỉ là một cơ quan tối cao trong nước điều khiển những cơ quan chính trị khác để phụng vụ quốc gia, tìm những phương pháp hợp với nguyện vọng của cả quốc dân mà thi hành. Như thế là trong nền chính trị Hoàng Đế Bảo Đại đã định đặt quốc dân ta đi vào một con đường mới ” (**).

    Sau đó, Hoàng Đế Bảo Đại đã từng bước tiến hành tổ chức Chánh quyền, xây dựng đất nước bằng những nguyên tắc lấy dân chủ làm căn bản để xây dựng một thể chế mới với sự đóng góp của nhiều người thay vì của một thiểu số quan lại trong triều . Tức chánh sách Đại đoàn kết dân tộc . Cụ thể, Ngài cho thành lập 4 cơ quan tối cao gồm các nhơn sĩ đại diện đủ 3 Miền :

    Hội Đồng Dự Thảo Hiến Pháp,

    Hội Đồng Cải Cách cai Trị, Tư Pháp và Hành Chính,

    Hội Đồng Cải Cách Giáo dục,

    Hội Đồng Thanh Niên .

    Nhà Vua còn ban hành một số Dụ về các quyền căn bản như tự do lập nhiệp đoàn, tự do lập hội, tự do hội họp, …

    Đây là những đạo luật ấn định những nguyên tắc qui định các quyền tự do căn bản của người dân của một chế độ dân chủ pháp trị thật sự .

    Chỉ trong vòng không quá 3 tháng, Chánh phủ Việt nam Độc lập đầu tiên Trần Trọng Kim, dưới sự lãnh đạo của Hoàng Đế Bảo Đại, đã thật sự chấm dứt chế độ quân chủ cả ngàn năm trong đó 400 năm triều đại Nhà Nguyễn, đã đặt được những nền móng cho một chế độ dân chủ thật sự theo nguyên tắc « do dân, vì dân  » (Dân vi quí). Phải chăng đây là một cuộc cách mạng chánh trị đúng nghĩa của nó ? Điều này thực hiện được tốt đẹp do lòng ái quốc và sự quyết tâm của nhà vua phối hợp với tâm huyết tha thiết đem lại nền độc lập cho Việt nam của Nội các Trần Trọng Kim .

    Nhưng nền độc lập này là của đất nước Việt Nam chớ không phải của cộng sản Đệ III Quốc tế nên ngày 19/8, Hồ Chí Minh đã  phải ra tay « cướp chánh quyền » (sau khi chánh phủ Trần Trọng Kim từ nhiệm) và dẹp bỏ tất cả các cơ chế dân chủ vừa thành lập, điển hình, ngày 22/9/1945, sau khi tuyên bố độc lập lần nữa, Hồ Chí Minh ban hành lệnh « bãi bỏ các nghiệp đoàn trên toàn cõi Vìệt nam » và Bộ trưởng Nội vụ Võ Nguyên Giáp ký Nghị định ngày 14/9/1945 giải tán Hội Khai Trí Tiến Đức, đồng thời ký một Nghị định khác thành lập Hội Văn Hóa Cứu Quốc Việt nam .

    Sự hiệu lực xóa bỏ các cơ sở dân chủ của nước Việt nam độc lập do Nhà Vua Bảo Đại tuyên cáo ngày 11 tháng 3 năm 1945 là từ 1954, rồi 30/04/75,mọi quyền căn bản của người dân bị Hồ chí Minh và chế độ cộng sản do ông khai sanh tước đoạt sạch . Người dân bị chế độ độc tài khủng bố, đàn áp . Đất nước bị đảng cộng sản từng bước đưa vào vòng lệ thuộc Tàu theo cùng hệ xã hội chủ nghĩa .

    Đó là công lao to lớn đầu tiên của Hồ Chí Minh chọn lựa con đường cộng sản để cứu nước và giải phóng dân tộc mà người dân, ai không cộng sản, cũng đều thấy rỏ ràng .

    II – Hồ Chí Minh phải chọn con đường cộng sản Lê-nin

    Lập luận bênh vực Hồ Chí Minh giải thích rằng hồi thập niên 20 của thế kỷ trước Hồ đã phải chọn con đường Lê-nin vì

    « tư bản lúc đó đi chiếm thuộc địa, từ đầu đến chân nó đều thấm bùn và máu », khác với ngày nay « đã lột xác trở thành văn minh . Cũng như vậy, Quốc tế III thời Lê-nin đầu thế kỷ XX cũng khác với cộng sản đã bị Staline và Mao hóa sau này . Nếu Quốc tế III không công khai ủng hộ các dân tộc thuộc địa – nếu cũng chỉ như Quốc tế II – chắc gì Hồ đã ngã  theo chủ nghĩa cộng sản ?

     Thứ hai, cũng cần phân biệt điều mà Hồ Chí Minh tự giác, chủ động lựa chọn với điều mà tình thế bắt buộc ông phải chấp nhận (khi không còn con đường nào khác), lại càng khác xa với những điều người khác nhân danh Hồ Chí Minh đã làm ! Vai trò của vĩ nhân là ở chỗ có biết nắm bắt thời cơ và tận dụng được thời cơ do thời cuộc mang lại để thành đạt mục tiêu độc lập, thống nhất hay không; còn cá nhân một lãnh tụ, dù lỗi lạc đến đâu – nhất là lãnh tụ của một nước thuộc địa  nghèo nàn, lạc hậu như nước ta – làm sao có thể vượt qua được vị thế yếu kém của mình, để tác động vào thời đại, nhằm thực hiện thắng lợi lý tưởng, hoài bão mà mình theo đuổi ? » .

    Ngày nay, người cộng sản không thể bênh vực Staline và Mao vì 2 người này đã gìết hại hằng 100 triệu nhơn dân của họ khi họ cầm quyền . Và còn qui sự cai trị bạo ngược, dã man của cộng sản ở Tàu, Bắc Hàn và Việt Nam là do theo Staline và Mao . Vậy Lê-nin thế nào ?

    Chúng tôi, để phơi bày lại bộ mặt thật, rất thật của Lê-nin mà “Hồ Chí Minh đã chọn đi theo làm cách mạng vì không có con đường nào khác – và đó là một chọn lựa của một vĩ nhơn vì tự giác – không gì bằng mời bạn đọc xem qua bức điện của Lê –nin gởi đi ngày 11 tháng 8 năm 1918 kêu gọi giết :

    « Này các đồng chí, cuộc nổi dậy của phú nông  trong trong năm vùng của các đồng chí phải được tiêu diệt không thương tiếc . Quyền lợi của cách mạng bắt buộc, bởi vì ở khắp nơi, sự tranh đấu với phú nông từ nay đi vào giai đoạn kết thúc .

    Các đồng chí phải :

    1/ bắt (tôi nói bắt là làm cho mọi người trông thấy) không dưới một trăm phú nông hút máu nhân dân.

    2/ Công bố tên tuổi của chúng nó.

    3/ Tịch thâu tất cả mùa màng của chúng .

    4/ Nhận dìện những con tin như tôi đã chỉ thị trong bức điện hôm qua . Làm điều này bằng cách trong phạm vi hơn 100 km, nhơn dân chứng kiến được, thấu hiểu, rung sợ và thét lên : người cách mạng sìết cổ và tiếp tục sìết cổ những phú nông hút máu .

    Các đồng chí hãy đánh điện trả lời đã nhận được và đã thi hành chỉ thị này .

    Lê-nin của các đồng chí » 

                                                           (Nicolas Werth, Lénine, Paris, 2003)

    Bức điện này là một trong hằng ngàn văn kiện của vị sáng lập ra Liên-xô chưa bao giờ được phổ biến, cả trong « Lê-nin Toàn tập » qua suốt 5 lần ấn hành trong thời gian từ 1920 tới 1960 .

    Nhờ Liên-xô sụp đổ, văn khố mở cửa mà những văn kiện « kiểm duyệt của Lê-nin » mới được các sử gia tham khảo .

    Cũng về đường lối chánh trị của Lê-nin, Simon Leys (Essais sur la Chine, Robert Laffont, Paris, 1998) trích dẫn một câu nói kinh điển của Lê-nin tưởng cũng cần ghi ra đây để thấy tại sao cộng sản phải cai trị độc tài triệt để : « Một chế độ sẵn sàng thực thi khủng bố không giới hạn thì không thể nào bị sụp đổ được » .

    Hơn nữa, nên nhớ Lê-nin rất tâm đắc « Hư vô chủ nghĩa » (nihilisme) . Trong quyển « Le jeune Staline – Calmann-Lévy, Paris, 2010 », tác giả người Anh S.S Montefiore kể lại chuyện Staline thởi trai trẻ được Lê-nin tuyển dụng vì bản tánh du đảng, đã có thành tích ăn cướp, để đào tạo Staline ăn cướp ngân hàng lớn lấy tiền lập đảng cộng sản . Nhà Hư vô chủ nghĩa Serge Netchaiev, trong « Giáo lý Cách mạng » nổi tiếng, dạy rỏ để trở thành người cách mạng cộng sản « Mọi âu yếm, ủy mị trong tình ruột thịt, bằng hữu, tình ái, lòng biết ơn và ngay cả danh dự phải được thủ tiêu, nhường chổ cho một thứ đam mê duy nhứt và lạnh lùng là cách mạng » .

    Chính nhóm khủng bố « Ý Chí Nhơn Dân » lúc bấy giờ lấy tư tưởng của Serge Netchaiev làm kim chỉ nam mà  « Giáo lý của Nhà Cách mạng » đã khai sanh ra Lê-nin và Staline . Giáo lý dạy phải bìến cái thế giới những người du đảng này thành một sức mạnh vô địch và bất diệt » (Le jeune Staline, các trang 180-183) .

    Nay mọi người đã hiểu tại sao báo Anh, Daily Mail, 10/2014, trong bài “ Từ Staline đến Hitler, những chế độ diệt chủng ác nhứt thế giới » ghi tên Hồ Chí Minh vào danh sách cùng với những tên đồ tể như Staline, Mao Trạch-đông, Hitler, Kim Nhựt-thành, Pol Pot và nói rõ thêm « Hồ Chí Minh và chế độ cộng sản ở Hà nội là thủ phạm gây ra cái chết của ít nhứt 200 000 người dân Mìền nam Việt nam » .

    Vậy ai có thể nói khác hơn được Hồ Chí Minh và cái đảng cộng sản của ông vì học theo Lê-nin mà cho tới ngày nay không luôn luôn « ngập trong bùn và máu của nhơn dân việt nam từ đầu tới chơn » ?

    Và Hồ chí Minh không ai khác hơn là tên tội phạm chống nhơn loại, một thứ tội bất khả thời tiêu !

    _____________

    Chú thích:

    (*) Lê Kỳ Sơn, « Chung quanh vấn đề nhận thức và đánh giá Hồ Chí Minh hiện nay », Việt-Studies, 17/05/2015

          Từ Quốc Hoài, « Tháo bỏ ách tắc để giữ lấy độc lập và chấn hưng đất nước – Thư ngỏ gời Ban Chấp Hành TƯ và đảng viên đảng cộng sản Việt nam », internnet, 31/07/2014 .

    (**) Phạm Cao Dương, « Lẽ ra ngay từ năm 1945, dân tộc ta đã có độc lập, tự do rồi », trên «dhsps.org .

    Nguyễn văn Trần
    Trí Nhân Media
    nguon

  10. Hội nghị Thành Đô hay là Mật hội Bán Nước Thành Đô

    22-maho

    Phía Việt Nam sẽ cố hết sức mình để vun đắp tình hữu nghị lâu đời vốn có giữa hai đảng và nhân dân hai nước do Chủ tịch Mao Trạch Đông và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dày công xây đắp trong quá khứ. Và Việt Nam bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền Trung Ương tại Bắc Kinh, như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông, Tân Cương, Tây Tạng, Quảng Tây”.

    Lê Duy San

    Sau khi cưỡng chiếm được miền Nam Việt Nam, bọn “lãnh đạo” Hà Nội cảm thấy Trung Cộng quá lấn áp Việt Nam; nếu không sớm thoát khỏi sự kìm kẹp này thì sớm muộn gì, Việt Nam, nếu không trở thành một tỉnh của Tầu thì cũng trở thành một nước nô lệ Tầu như hai lần Bắc thuộc trước. Do đó bọn lãnh đạo Hà Nội đã thi hành chính sách đánh tư sản mại bản để không những cướp đoạt tài sản của người miền Nam mà cả của người Hoa và trục xuất người Hoa ra khỏi Việt Nam bằng cách cho vượt biên bán chính thức. Điều này đã làm cho Trung Cộng nổi giận. Không những thế, bọn lãnh đạo Hà Nội còn xua quân sang Cao Miên để đánh nhau với bọn Khmer Đỏ là bọn đang cầm quyền và được Trung Quốc ủng hộ và trợ giúp lúc bấy giờ. Trung Cộng cho rằng bọn lãnh đạo Hà Nội là một bọn “ăn cháo đá bát” và cần phải dậy cho chúng một bài học. Đó là nguyên nhân của cuộc chiến Việt Trung vào năm 1979.

    Tuy nhiên cuộc chiến Việt Trung 1979 vẫn không làm bọn lãnh đạo Hà Nội khiếp sợ, vì chính Trung Quốc cũng thiệt hại và đã phải rút lui, chỉ chiếm giữ một số đất vùng biên giới, Ải Nam Quan và thác Bản Giốc. Hơn nữa, bọn lãnh đạo Hà Nội vẵn còn chỗ dựa vũng chắc, đó là Liên Sô, một cường quốc vẫn còn đang ở vị thế vững mạnh nhất nhì thế giới về quân sự. Do đó chúng vẫn tiếp tục đánh nhau với Khmer Đỏ và dựng lên một chính phủ thân Việt Nam do Heng Samrin làm chủ tịch.

    I/ Nguyên nhân đưa đến Hội Nghị Thành Đô.

    Sau 10 năm chiến tranh với Khmer Đỏ (1979-1989), Việt Nam tổn phí cũng nhiều. Hơn nữa, Liên Sô, lúc bấy giờ do Gorbachev nắm quyền, chủ trương xét lại, nên bọn lãnh đạo Hà Nội không còn trông mong gì ở Liên Sô nữa. Năm 1989, bức tường Bá Linh xụp đổ. Cộng Sản Hà Nội càng cảm thấy rất nguy hiểm nếu vẫn cứng dắn với Trung Quốc nên đã quyết định rút quân toàn bộ khỏi Campuchia để làm hài lòng Trung Cộng và ngỏ ý muốn sang thăm Trung Quốc để hàn gắn lại tình hữu nghị hai nước. Trung Cộng cũng biệt vậy, nhưng thấy Mỹ đã thay đổi chính sách đối với Cộng Sản Việt Nam, nên cũng cảm thấy nếu qúa cứng dắn với Cộng Sản Việt Nam có thể bất lợi. Do đó mà Hội Nghị Thành Đô đã được manh nha hình thành. Theo các tư liệu được Trung Quốc tiết lộ thì vào chiều ngày 28/8/1990, Đại Sứ Trung Cộng Trương Đức Duy ở Việt Nam đã nhận được chỉ thị từ trong nước để chuyển tới Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh một thông điệp như sau: “Tổng Bí Thư Giang Trạch Dân và Thủ Tướng Lý Bằng hoan nghênh Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh và Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng Đỗ Mười thăm nội bộ Trung Quốc từ ngày 3 đến ngày 4 tháng 9 năm 1990, cũng hoan nghênh Cố Vấn Phạm Văn Đồng cùng đi.” (Xem thêm tại http://nghiencuuquocte.net/forums/topic/hoi-nghi-thanh/).

    Hội Nghị Thành Đô, đúng ra là một Mật Hội bán nước, được diễn ra vào ngày 3 và 4 tháng 9 năm 1990 tại tỉnh Tứ Xuyên bên Tầu. Cả hai “chính phủ” Trung Cộng và Việt Cộng đều không chính thức loan báo về bất cứ một tin tức gì về Hội Nghị này. Người ta chỉ mới biết được trong 2 năm gần đây nhờ Wikileaks và một vài tài liệu khác như Nhật Ký của Lý Bằng, Hồi Ký của Trần Quang Cơ, bài viết của Lý Gia Trung (Tham Tán Chính Trị ĐSQ Trung Cộng), bài viết của Trương Thanh (Vụ Phó Vụ Á Châu Bộ Ngoại Giao Trung Cộng) v.v…mà phiá Trung Cộng đã tiết lộ.

    II/ Nội dung Hội Nghị Thành Đô.

    Lý Bằng, Giang Trạch Dân, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và Phạm Văn Đồng.

    Hội nghị thành Đô không hề nói gì tới những thiệt hại mà Trung Cộng đã gây cho Việt Nam trong chiến tranh Việt Trung năm 1979 và cũng không đề cập gì tới những phần đất của Việt Nam ở biên giới, đến Ải Nam Quan, đến thác Bản Giốc mà Trung Cộng đã chiếm. Trái lại, đảng Cộng Sản Việt Nam lại xin được làm một khu tự trị trực thuộc Bắc Kinh. Wikileaks xác định văn kiện đó là một trong 3,100 bức điện thư lưu trữ tại Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ. Biên bản buổi họp kín giữa Nguyễn Văn Linh, Tổng Bí Thư đảng CSVN, Đỗ Mười, Chủ tịch Hội Đồng Bộ Trưởng, đại diện phía Việt Nam, và Giang Trạch Dân, TBT/CSTQ, Lý Bằng, Thủ tướng Trung Cộng, đã họp 2 ngày từ 3 và 4-9-1990, tại Thành Đô thuộc tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc. Tài liệu chi tiết như sau:

    “Vì sự tồn tại của sự nghiệp xây dựng Chủ Nghĩa Cộng Sản, đảng Cộng Sản và nhà nước Việt Nam đề nghị phía Trung Quốc giải quyết các mối bất đồng giữa hai nước. Phía Việt Nam sẽ cố hết sức mình để vun đắp tình hữu nghị lâu đời vốn có giữa hai đảng và nhân dân hai nước do Chủ tịch Mao Trạch Đông và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dày công xây đắp trong quá khứ. Và Việt Nam bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền Trung Ương tại Bắc Kinh, như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông, Tân Cương, Tây Tạng, Quảng Tây”.

    “Phía Trung Quốc đồng ý và chấp nhận đề nghị nói trên, và cho Việt Nam thời gian 30 năm (1990-2020) để đảng CSVN “giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc.”

    Tháng 11 năm 1991, sau hội nghị Thành Đô, lãnh đạo cao cấp hai đảng, hai nước liên tiếp thăm viếng lẫn nhau. Sự giao lưu, hợp tác giữa hai bên về các lãnh vực chính trị, kinh tế, quân sự, khoa học kỹ thuật, văn hoá v.v… được mở rộng, nâng lên tầm cao là bước đầu của việc hội nhập.

    Tiếp tục thúc đẩy tiến trình bí mật 30 năm Thành Đô, Giang Trạch Dân đưa ra chiêu bài để ngụy trang là phương châm 16 chữ vàng. Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu nhất trí ngay và cam kết luôn luôn thực hiện với quyết tâm cao độ để hoàn thành “đại cuộc” đó. Thế là phương châm 16 chữ vàng ra đời từ đó. Bản tuyên bố chung về 16 chữ vàng chính thức được Giang Trạch Dân và Lê Khả Phiêu ký vào tháng 2 năm 1999.

    Ngày thứ bảy, 31 tháng 5, 2014 đài BBC đưa tin như sau: “Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam nói quan hệ Việt-Trung vẫn “phát triển tốt đẹp” và so sánh xung đột hiện nay trên Biển Đông với ‘mâu thuẫn gia đình’.

    Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh

    GS Carl Thayer cho biết: “Giới chức Việt Nam thường có thói quen nói chung chung và không đi vào cụ thể”, do đó ta có thể nhận ra ‘mâu thuẫn gia đình’ nằm trong đại gia đình các dân tộc Trung Quốc. Còn Ngoại Trưởng Nguyễn Cơ Thạch của Việt Cộng thì than thở: “Một thời kỳ Bắc thuộc rất nguy hiểm đã bắt đầu.” Chính vì lời nói này mà ông đã bị mất chức Ngoại Trưởng.

    Cho dù Wikileaks không tiết lộ, thì xuyên qua những hành động hèn nhát và bất động mà đảng CSVN đã thể hiện và nhiều người đã xác nhận đó là hành động bán nước và Hội Nghị Thành Đô là Hội Nghị Bán Nước..

    Do kinh nghiệm ở hai khu tự trị Tây Tạng và Tân Cương, chính quyền trung ương ở Bắc Kinh đã kiềm chế CSVN bằng cách đặt chiếc vòng kim cô lên đầu CSVN cho nên những tên Hán gian hiện nay như cá nằm trên thớt, không dám cựa quậy hay phản đối gì.

    HBSơn, PVĐồng, NVLinh, Giang Trạch Dân, (áo xám đứng giữa), LBằng, ĐMười, và HHà.

    Theo Huỳnh Tâm tác giả bài “Tiến Trình Đàm Phán Bí Mật Thành Đô 1990” thì “Kỷ yếu hội nghị bí mật Thành Đô 1990”, mà Nguyễn Văn Linh đã ký kết gồm có 5 qui ước Việt Cộng phải tuân thủ thực hiện:

    1 – Xác định chủ quyền vùng đảo Bạch Long Vĩ và Vịnh Bắc Bộ.
    2 – Laoshan thuộc về lãnh thổ Trung Cộng.
    3 – Xác định chủ quyền biên giới Trung-Việt từ đất liền đến Biển Đông.
    4 – Áp đặt luật pháp Trung Quốc vào Việt Nam.
    5 – Kế hoạch đưa quân đội Trung Quốc vào Việt Nam.

    Kết quả của Hội Nghị Thành Đô là Giang Trạch Dân đã cho CSVN thời gian 30 năm để tiến hành “sự nghiệp vĩ đại” đối với Việt Nam cho nên gọi đó là “đại cuộc” và việc thực hiện chương trình 30 năm nằm trong khuôn khổ “4 tốt và 16 chữ vàng”. Vì thế cứ mỗi lần có tranh chấp gì thì Bắc Kinh khuyên nhũ Việt Cộng hãy vì “đại cuộc”, và CSVN luôn luôn cam kết thực hiện 4 tốt là: “Láng giềng tốt, Bạn bè tốt, Đồng chí tốt, Đối tác tốt” và 16 chữ vàng là: “Láng giềng hữu nghi, Hợp tác toàn diện, Ổn định lâu dài, Hướng tới tương lai”. Và tất cả những Tổng bí thư, chủ tịch nước, Chủ tịch quốc hội và thủ tướng của Việt Nam đều phải qua diện kiến lãnh đạo Trung Cộng. Tổng bí thư, chủ tịch nước của Việt Nam đều phải ký những bản Tuyên bố chung xác định quyết tâm thúc đẩy, hợp tác toàn diện trên phương châm 4 tốt và 16 chữ vàng mà thực chất là hoàn tất lộ trình 30 năm (1990-2020), để sát nhập vào “đại gia đình các dân tộc Trung Quốc”.

    Tóm lại, hội nghị Thành Đô không những để tái lập bang giao giữa hai nước được tổ chức công khai vào hai ngày 3 và 4 tháng 9 năm 1990 tại Thành Đô, Tứ Xuyên, mà còn là để cho CSVN xin được sát nhập vào đại gia đình các dân tộc Trung Quốc tức sát nhập Việt Nam vào Trung Quốc. Vì thế gọi Hội Nghị Thành Đô là Hội Nghị Bán Nước của Việt Cộng cũng không sai.

    Cho mãi đến khi Wikileaks phổ biến tài liệu mật đó thì người Việt ở nước ngoài mới biết đến, nhưng đối với đa số người trong nước thì nó vẫn còn là một bí mật. Vì thế, để lừa bịp nhân dân Việt Nam, chương trình 30 năm mà hai đảng Cộng Sản nầy thực hiện được ngụy trang dưới những từ ngữ mỹ miều như “đại cuộc”, “phương châm 16 chữ vàng”, “hợp tác chiến lược toàn diện”, “Ủy ban Chỉ đạo Hợp tác toàn diện” v.v…

    Bọn Tàu được vào Việt Nam không cần Visa nhập cảnh, nên tự do đi lại như chúng đã từng đi vào Tây Tạng, Tân Cương, Mãn Châu, Nội Mông. Bọn chúng đã có mặt trên khắp hang cùng ngỏ hẻm của đất nước Việt Nam. Trong 65 khu chế xuất, khu công nghiệp, không nơi nào vắng bóng bọn Tầu.

    Chúng chiếm đóng các vị trí chiến lược, từ việc thuê đất 306,000 hecta trong 50 năm với giá rẻ mạt ở biên giới phía Bắc, từ Bauxite Tây Nguyên đến Cà Mau, chúng di dân tới ở và có thể thành lập nhiều sư đoàn của đạo quân thứ năm với những công nhân người Hoa, mà thực chất là binh sĩ, tình báo, đặc công. Họ nắm trong tay những bản đồ vị trí các nhà máy điện, nhà máy nước, các cơ quan quốc phòng, cơ xưởng sản xuất v.v…

    Chúng thuê dài hạn những đất đai mầu mỡ của Việt Nam và cho di dân tới tạo lập thành những khu riêng biệt của người Hoa mà công an Việt Nam không được vào đó để kiểm soát.

    “Trung tâm thương mại Đông Đô Đại Phố “ở Bình Dương

    ”Sau Casino của người Hoa ở Đà Nẵng chỉ dành cho người nước ngoài, lại đến khu phố dành riêng cho người Hoa ở Bình Dương, Hà Tĩnh v.v… nơi mà người Việt cũng không được bén mảng tới. Vậy trong tương lai, người Việt còn được sử dụng một phạm vi đất đai là bao nhiêu bởi vì biển, rừng, đô thị đều tràn ngập người Hoa ?

    Phố Tàu là khu vực riêng biệt của cộng đồng người Hoa, người Việt khó len chân vào. Phố Tàu ở Bình Dương mang tên “Trung Tâm Thương Mại Đông Đô Đại Phố”, trong đó có một trường Đại học quốc tế Miền Đông, một bịnh viện có cả 1,000 giường cho bệnh nhân, một khu vực ăn chơi, giải trí gồm: các sân vận động thể thao, sân golf, các cửa hiệu thương mại, các nhà hàng sang trọng v.v…

    Bọn Tàu sinh hoạt theo phong tục tập quán của họ và luật pháp Việt Nam Cs bị bỏ ra ngoài. Nhân viên công lực CSVN không được vào để kiểm tra cần thiết hay để kiểm soát an ninh khu vực. Ngay cả nghĩa địa người Hoa ở Việt Nam cũng là một khu vực riêng biệt bất khả xâm phạm. Vậy thử hỏi chủ quyền quốc gia của Việt Nam còn hay đã mất?

    Lê Duy San 10/ 6/2015
    nguon

  11. Tư liệu: ‘Việt – Trung và Giải pháp Đỏ’

    BBC
    1 tháng 7 2015

    Để cung cấp thêm một góc nhìn vào các diễn biến dẫn tới bình thường hóa quan hệ Việt – Trung và hội nghị Thành Đô 3-4/09/1990, BBC xin giới thiệu phần tư liệu từ cuốn Hồi ký của nhà ngoại giao Trần Quang Cơ (1927-2015):

    Những biến động lớn trong tình hình thế giới bên ngoài lúc này đã tác động mạnh mẽ tới suy nghĩ của lãnh đạo ta về phương hướng chiến lược đối ngoại.

    null
    TBT Nguyễn Văn Linh dẫn đầu phái đoàn VN sang Thành Đô 3-4/09/1990

    Cuộc khủng hoảng chính trị tại nhiều nước theo chế độ XHCN đã bùng nổ từ năm 1989 và đang có chiều hướng lan rộng ra.

    Tháng 6.89 xảy ra vụ Thiên An Môn ở Trung Quốc. Cũng trong năm 1989, chế độ XHCN ở các nước Đông Âu như CHDC Đức, Ba Lan, Rumani, Hung, Tiệp, Ba Lan đều đã sụp đổ.

    Đầu tháng 10.89, TBT Nguyễn Văn Linh đi dự kỷ niệm 40 năm Quốc khánh CHDC Đức, khi về đến Hà Nội thì bức tường Berlin đổ, Honecker bị lật…

    Trước tình hình ấy, trong nội bộ lãnh đạo ta đã nảy sinh những ý kiến khác biệt trong nhận định về sự kiện Thiên An Môn cũng như về những biến đổi dồn dập tại các nước XHCN Đông Âu và Liên Xô.

    Nổi lên là ý kiến nhấn mạnh mặt XHCN của Trung Quốc, phải bằng mọi giá bắt tay ngay với Trung Quốc để bảo vệ chủ nghĩa xã hội, để chống Mỹ và các thế lực đế quốc khác. Chính điều đó đã tạo nên bước ngoặt khá đột ngột trong thái độ của ta đối với Trung Quốc…Lào cũng đã thoả thuận trao đổi đại sứ trở lại với Trung Quốc và bình thường hoá quan hệ giữa hai nước, đánh dấu bằng cuộc đi thăm chính thức Trung Quốc của Kayson Phomvihan, TBT Đảng NDCM Lào, tháng 10.89.

    Chính là thông qua cuộc nói chuyện với Kayson ngày 7.10.89 ở Bắc Kinh mà Đặng Tiểu Bình đã bộc lộ rõ phần nào những tính toán sâu xa của mình đối với Việt Nam:

    “Phân hoá Việt -Lào, Việt – Campuchia, Việt – Xô và phân hoá cả nội bộ Việt Nam. Đặng nói với Kayson rằng: Việt Nam đã có biểu hiện chống Trung Quốc từ khi Hồ Chí Minh còn sống; rằng sau khi thắng Mỹ, Lê Duẩn trở mặt chống Trung Quốc, xâm lược Campuchia, Việt Nam đi theo Liên Xô, đưa quân vào Campuchia, nên mới có chuyện Trung Quốc đánh Việt Nam.

    Lúc đầu Trung Quốc cho là vì Brezhnev xúi giục nên Việt Nam xâm lược Campuchia, nhưng chính là do Việt Nam có ý đồ lập Liên bang Đông Dương, không muốn Lào, Campuchia độc lập. Việt Nam chống Trung Quốc vì Trung Quốc là trở ngại cho việc lập Liên bang Đông Dương…”

    Trong khi không tiếc lời phê phán Lê Duẩn, Đặng đã hết lời ca ngợi Nguyễn Văn Linh. Đặng kể lại khi làm TBT Đảng Cộng sản Trung Quốc, năm 1963, đã tổ chức đưa Nguyễn Văn Linh từ miền Nam sang Hồng Kông để đi Bắc Kinh gặp nhau, khen anh Linh là “người tốt, sáng suốt và có tài”; nhờ Kayson chuyển lời hỏi thăm anh Linh; khuyên Nguyễn Văn Linh nên giải quyết dứt khoát vấn đề Campuchia, nếu làm được việc này thì sẽ khôi phục được uy tín của Việt Nam.

    Cho đây là việc Việt Nam phải làm, vì những gì Việt Nam đang làm là sai lầm; mong muốn bình thường hoá quan hệ với Việt Nam trước khi ông ta nghỉ hưu… Về điều kiện bình thường hoá quan hệ Trung – Việt, Đặng nhấn mạnh Việt Nam phải rút hết quân, rút triệt để, rút thật sự khỏi Campuchia thì sẽ có bình thường hoá quan hệ (tuy lúc đó ta đã kết thúc đợt rút quân cuối cùng khỏi Campuchia từ ngày 26.9.89).

    Theo thông báo của đại sứ Lào tại Trung Quốc, trong 70 phút nói chuyện với Kayson, Đặng nói về Việt Nam và quan hệ Trung – Việt tới 60 phút.

    Ngày 21.10.89 Bộ Chính trị ta đã họp để nhận định về phát biểu của Đặng Tiểu Bình khi tiếp Kayson cuộc họp đã đi đến kết luận là:

    “Trong lúc Trung Quốc đang còn găng với ta, ta cần có thái độ kiên trì và thoả đáng, không cay cú, không chọc tức nhưng cũng không tỏ ra nhún quá. Cần tiếp tục thực hiện đường lối Đại hội VI và Nghị quyết 13 của BCT, cần thấy cả mặt XHCN và mặt bá quyền nước của Trung Quốc. Trong khi cố kéo Trung Quốc, ta cần đồng thời hoạt động trên nhiều hướng; củng cố kết chặt chẽ với Lào; phân hoá Mỹ, phương Tây, ASEAN với Trung Quốc.”

    null
    Vụ Thiên An Môn tác động mạnh đến tư duy của Hà Nội

    Theo phương hướng đó, ngày 6.11.89, anh Thạch đã chuyển qua đại sứ Trung Quốc thông điệp miệng của TBT Nguyễn Văn Linh gửi Đặng Tiểu Bình, ngỏ ý mong sớm có bình thường hoá quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc.

    Ba tuần sau, anh Thạch lại gửi thư cho Tiền Kỳ Tham nhắc lại thông điệp ngày 6/11 và đề nghị phía Việt Nam sẵn sàng gặp lại phía Trung Quốc ở cấp bộ trưởng hoặc thứ trưởng ngoại giao tại Hà Nội hoặc Bắc Kinh trong tháng 12.89. Nhưng Trung Quốc không trả lời thông điệp của TBT ta lẫn thư của anh Thạch.

    Vấn đề Campuchia

    Mãi đến ngày 12.12.89, Đại sứ Trung Quốc mới gặp anh Thạch chuyển thông điệp miệng của Trung Quốc trả lời TBT Nguyễn Văn Linh, vẫn đặt điều kiện cho việc nối lại đàm phán với ta:

    “Đồng chí Đặng Tiểu Bình và các lãnh đạo khác của Trung Quốc chân thành mong muốn sớm bình thường hoá quan hệ Trung – Việt. Vấn đề Campuchia là nguyên nhân chủ yếu làm cho quan hệ hai nước xấu đi đến nay chưa được cải thiện. Việc khôi phục quan hệ hữu nghị giữa hai nước chưa có thể cải thiện nếu bỏ qua vấn đề Campuchia.

    Đồng chí Đặng Tiểu Bình có nêu ra là việc Việt Nam rút quân sạch sẽ, triệt để và việc Campuchia lập Chính phủ Liên hiệp Lâm thời 4 bên do Sihanouk đứng đầu là hai vấn đề hạt nhân thiết thực cần đồng thời giải quyết. Phía Trung Quốc sẵn sàng suy xét đề nghị của Việt Nam về việc mở vòng thương lượng mới ở cấp thứ trưởng nếu Việt Nam chấp nhậnmột cơ chế giám sát quốc tế do LHQ chủ trì có 4 bên Campuchia tham gia để kiểm chứng việc rút quân Việt Nam và lập chính phủ bốn bên do Sihanouk đứng đầu trong thời kỳ quá độ.”

    Ngày 11.11.89, BCT họp bàn và thông qua đề án đấu tranh ngoại giao về vấn đề Campuchia. Trên cơ sở đánh giá tình hình quân sự, chính trị trên chiến trường và xu thế chung trên thế giới, ta chủ trương cần phấn đấu đạt một giải pháp chính trị về vấn đề Campuchia. Để ra 4 phương án về cơ quan quyền lực ở Campuchia trước tổng tuyển cử. Phương án thấp nhất là giữ nguyên bộ máy của hai chính phủ đang tồn tại, lập chính phủ liên hiệp hai bên ở trung ương để tổ chức tổng tuyển cử và thực hiện những điều thoả thuận.

    Ngày 2.12.89, anh Thạch sang bàn với BCT Campuchia, phân tích chiến tranh ở Campuchia là một cuộc nội chiến, Việt Nam không thể đưa quân trở lại (4 ngày sau khi Việt Nam rút quân đợt cuối, lực lượng Son San đã đánh chiếm Thmar Ponk; ngày 22.10.89, Khmer Đỏ đánh chiếm Pailin và uy hiếp thị xã Battambang, theo yêu cầu của Bạn, ta phải đưa lực lượng đặc biệt lên giúp), nói kỹ về tính chất quốc tế của vấn đề Campuchia và xu thế trên thế giới. Bàn với Bạn cần đấu tranh để đạt một giải pháp chính trị để giành giật thắng lợi từng bước. BCT Bạn hoàn toàn nhất trí và thấy cần sử dụng vai trò LHQ như sáng kiến của Ngoại trưởng Úc G. Evans ngày 24.11.89.

    Cuộc họp BCT ta ngày 6.12.89 đã bàn về sáng kiến của Úc và nhất trí về việcsử dụng vai trò LHQ. Sau khi trao đổi, BCT Campuchia hoàn toàn đồng ý với ý kiến của BCT ta. Từ ngày 10-25.1.90, Bạn triệu tập Hội nghị TƯ 10 để bàn đi vào giải pháp chính trị. Ngày 18.1.90, quốc hội Campuchia đã thông qua việc để LHQ tổ chức tổng tuyển cử, uỷ quyền cho Hunxen đàm phán về vấn đề này.

    Việc ta và Bạn Campuchia chấp nhận sử dụng vai trò LHQ và xem xét sáng kiến của Úc để giải quyết vấn đề phân chia quyền lực bị bế tắc ở Hội nghị quốc tế Paris đã thúc đẩy mạnh mẽ các diễn đàn bàn về vấn đề Campuchia: cuộc họp IMC ở Jakarta ngày 26.3.90, các cuộc họp P5, cuộc họp Hun Sen-Sihanouk vòng 6 ở Bangkok ngày 22.2.90

    Từ 26.2 đến 1.3.90 tại thủ đô Indonesia đã họp Hội nghị không chính thức về Campuchia (IMC).

    Dự họp ngoài các bên Campuchia, Việt Nam, Lào và 6 nước ASEAN (như họp JIM), còn có thêm đại diện Tổng Thư ký LHQ, Pháp và Úc. Hội nghị không ra được tuyên bố chung vì Khmer Đỏ dùng quyền phủ quyết.

    Thất bại của Mặt trận Giải phóng Sandino trong cuộc tổng tuyển cử ở Nicaragua ngày 25.2.90 và thất bại của cuộc họp IMC về vấn đề Campuchia ở Jakarta ngày 28.2.90 đã tác động mạnh vào lãnh đạo ta về phương hướng giải quyết vấn đề Campuchia.

    Ngày 8.3.90, cố vấn Lê Đức Thọ cho gọi tôi và anh Đinh Nho Liêm đến nhà riêng ở số 4 Nguyễn Cảnh Chân nói mấy ý kiến về vấn đề Campuchia:

    “Cần có chuyển hướng chiến lược trong đấu tranh về vấn đề Campuchia. Phải giải quyết với Trung Quốc, nếu không thì không giải quyết được vấn đề Campuchia. Không thể gạt Khmer Đỏ. Cần mềm dẻo về vấn đề diệt chủng, có thể nói “không để trở lại chính sách sai lầm trong quá khứ”. Không chấp nhận LHQ tổ chức tổng tuyển cử. Cần nêu phương án lập chính phủ liên hiệp lâm thời hai bên bốn phái để tổ chức tổng tuyển cử ở Campuchia. Phải giải quyết một bước cơ bản vấn đề Campuchia trước Đại hội VII để khai thông những vấn đề khác.”

    Hai hôm sau anh lại nói với Nguyễn Cơ Thạch những ý đó. Sự việc này khiến tôi suy nghĩ: tại sao lại thay đổi phương hướng đối sách trước khi đại hội Đảng họp ? Tại sao lại chỉ nói với anh Thạch sau khi đã nói với chúng tôi?

    Từ ngày 8-20.3.90, Heng Somrin nghỉ ở Hà Nội, có dịp gặp gỡ TBT Nguyễn Văn Linh, Cố vấn Lê Đức Thọ, Cố vấn Phạm Văn Đồng, Lê Đức Anh trao đổi về tình hình Liên Xô Đông Âu, Nicaragua và tất nhiên về tình hình Campuchia. TBT Nguyễn Văn Linh và Lê Đức Anh nói cần phải cảnh giác với LHQ, không thể để LHQ tổ chức tổng tuyển cử ở Campuchia. Từ đấy Bạn Campuchia chuyển sang phương án SNC tổ chức tổng tuyển cử, không tán thành để LHQ tổ chức tổng tuyển cử nữa. Sau này, ngày 11.8.90, khi nhắc lại vấn đề này, Hun Sen than phiền với anh Ngô Điền, Đại sứ ta ở Phnom Penh:

    “Khi anh Heng Somrin đi nghỉ ở Hà nội, đồng chí Nguyễn Văn Linh và đồng chí Lê Đức Anh gặp anh Heng Somrin tỏ lo ngại về việc sử dụng vai trò LHQ. Anh Heng Somrin về nói lại cái này. Tôi có nói là giao cho LHQ có mặt phức tạp nhưng giao cho SNC phức tạp hơn vì nó có hệ thống, người nhiều mà ta còn phải lo đối phó với cả LHQ nữa. Cái này làm tôi rất khó. Quyết định của hai đồng chí TBT làm tôi rất khó. Không nên để có ý kiến khác nhau giữa TBT và Thủ tướng. Tôi phải làm theo ý kiến nhất trí… Việc sử dụng vai trò LHQ hay SNC là bộ phận quan trọng của quyết định chiến lược có đi vào giải pháp chính trị hay không. Dùng SNC rất phức tạp. Campuchia không đủ người và khả năng tham gia các uỷ ban của SNC để đối phó với bọn kia.” Hun Sen còn cho biết ngày 20-21.5.90, khi 3 TBT Việt Nam, Lào, Campuchia gặp nhau tại Hà nội nhân dịp 100 năm ngày sinh Hồ Chủ tịch, bàn việc không để LHQ tổ chức tổng tuyển cử ở Campuchia, TBT Đảng Lào Kayson băn khoăn điều này và nói: “ Ta nhận rồi ta lại thôi. Ta trèo cao rồi, nếu tuột xuống dễ ngã đau”.

    Đến ngày 3.4.90, Trung Quốc đột nhiên lại biểu thị hoan nghênh việc thứ trưởng Đinh Nho Liêm đến Bắc Kinh “kiểm tra sứ quán” và công bố tin Trung Quốc sẽ đàm phán với thứ trưởng ngoại giao Việt Nam về vấn đề Campuchia.

    Lúc này CP 87 đã giải thể. Các thành viên thường trực của CP 87 đều đã được bổ nhiệm đi nhận các trọng trách ở nước ngoài.

    Anh Đặng Nghiêm Hoành đã nhận quyết định đi Đại sứ ở Trung Quốc. Anh Trần Xuân Mận nhận chức Đại sứ ở Angiêri. Anh Nguyễn Phượng Vũ trên đường đi nhận chức Đại sứ ở Philipinnes, đã chết trong tai nạn máy bay trên bầu trời Thái Lan.

    Thay vào đó, Bộ Ngoại Giao đã lập Nhóm ad-hoc về giải pháp Campuchia với nhiệm vụ cụ thể hơn vì vấn đề Campuchia đã đến lúc giải quyết. Nhóm vẫn do tôi phụ trách, có các anh Trần Huy Chương, Lê Công Phụng, Huỳnh Anh Dũng, Nguyễn Can tham gia.

    Nhóm nghiên cứu giải pháp Campuchia chúng tôi nhận định có mấy lý do đã khiến Trung Quốc mềm mỏng hơn trong thái độ đối với Việt Nam về vấn đề Campuchia:

    • Quan hệ Mỹ – Xô đang có chuyển động mạnh. Chỉ trong vòng 6 tháng, từ tháng 12.89 đến tháng 5.90, đã có 2 cuộc gặp cấp cao Xô Mỹ. Trong khi đó quan hệ của Trung Quốc với Mỹ và các nước phương Tây chậm khôi phục sau vụ Thiên An Môn.
    • Giữa Trung Quốc với Mỹ, ASEAN, phương Tây đang nảy sinh những mâu thuẫn mới về vấn đề Campuchia, chủ yếu trong vấn đề đối xử với Khmer Đỏ. Trong các cuộc họp 5 nước thường trực Hội Đồng Bảo An tháng 2 và tháng 3.90, Trung Quốc ở thế bị cô lập đã buộc phải có nhân nhượng và phải chấp nhận vai trò lớn của LHQ.
      null
      LHQ đóng vai trò đem các lãnh đạo Khmer Đỏ ra xét xử
    • Đàm phán Sihanouk – Hunxen có tiến triển. Ngày 9.4.90 Sihanouk có phần nhượng bộ khi đưa ra 9 điểm giải pháp, nhận lập Hội đồng Dân tộc Tối cao (SNC33) gồm số đại diện bằng nhau của hai chính phủ, 6 của Chính phủ Phnom Penh và 6 của “Chính phủ Campuchia Dân chủ” như Hun Sen đề nghị; không đòi giải tán Nhà nước Campuchia (SOC), tuy đòi thực quyền cai quản Campuchia trong thời kỳ quá độ phải là cơ cấu quyền lực của LHQ.

    Ngày 10.4.90, BCT họp bàn phương hướng thúc đẩy giải pháp chính trị vấn đề Campuchia. Đề án đấu tranh sách lược về vấn đề Campuchia do Bộ Ngoại Giao dự thảo: dùng công thức LHQ nói về vấn đề diệt chủng và cho Khmer Đỏ vào chính phủ liên hiệp Campuchia, nhận vai trò Sihanouk. BCT thấy không nên giao cho LHQ tổ chức tổng tuyển cử mà nên trở lại phương án 4 mà BCT thông qua ngày 6.12.89 (lập chính phủ liên hiệp để tổ chức tổng tuyển cử.)

    Đại đa số BCT đồng ý. Các đồng chí Nguyễn Văn Linh, Lê Đức Anh, Đào Duy Tùng, Đồng Sĩ Nguyên còn nhấn vào âm mưu của đế quốc Mỹ sau cuộc khủng hoảng chính trị ở Đông Âu.

    Bảo vệ chủ nghĩa xã hội

    TBT Nguyễn Văn Linh có ý kiến:

    “Việt Nam và Trung Quốc là hai nước XHCN cùng chống âm mưu đế quốc xoá bỏ CNXH, phải cùng chống đế quốc. Trước hết phải phát triển quan hệ giữa 2 nước. Các vấn đề khác giải quyết sau… một Campuchia thân thiện với Trung quốc, thân thiện với Việt Nam là tốt nhất. Trên cơ sở điểm đồng này mà giải quyết vấn đề Campuchia có lợi cho Campuchia… Phương án 4 là tốt. Không để LHQ nhúng tay vào vì LHQ là Mỹ, Thái Lan là Mỹ”.

    Riêng Nguyễn Cơ Thạch nói rõ quan điểm của Bộ Ngoại giao là cần tranh thủ Trung Quốc, song đồng thời phải chuẩn bị có 3 khả năng về thái độ của Trung Quốc.

    khả năng 1: Trung Quốc cùng ta bảo vệ chủ nghĩa xã hội;

    khả năng 2: Trung Quốc cấu kết với Mỹ chống ta như trước;

    null
    Đặng Tiểu Bình ‘bình thường hóa quan hệ’ với VN để tranh thủ Mỹ là chính

    khả năng 3: Trung Quốc vừa bình thường hoá quan hệ với ta, vừa tranh thủ Mỹ, Phương Tây là chính.

    Lúc đó tôi có cảm giác nhiều uỷ viên BCT không tán thành quan điểm này vì đã có định hướng “cùng Trung Quốc bảo vệ chủ nghĩa xã hội chống đế quốc”.

    Ngày 16.4.90, thực hiện quyết định của Bộ Chính trị theo hướng sớm làm lành với Bắc Kinh, anh Nguyễn Cơ Thạch đi PhnomPenh gặp bốn người chủ chốt trong BCT Campuchia: Heng Somrin, Chea Sim, Hun Sen và Sor Kheng để cố thuyết phục bạn nên tính tới bước sách lược về vấn đề diệt chủng và không gạt Khmer Đỏ.

    Nhưng Bạn Campuchia không đồng ý và tỏ ra muốn giữ đường lối độc lập trong việc giải quyết vấn đề Campuchia, không muốn ta đàm phán với Trung Quốc về các vấn đề nội bộ của Campuchia. Bạn tỏ ra rất găng về vấn đề diệt chủng, nói nếu bỏ ta sẽ không còn vũ khí gì chống lại các luận điệu của đối phương vu cáo “Việt Nam xâm lược Campuchia”, “chính quyền PhnomPenh do Việt Nam dựng lên”. Hơn nữa chính lúc này phương Tây lại đang khơi lên vấn đề lên án diệt chủng.

    Phải nhận rằng ta khuyên bạn Campuchia đi vào “Giải pháp Đỏ” (từ năm 1987), việc ta thuyết phục Bạn chấp nhận vai trò của LHQ (tháng 12.89) rồi lại bảo Bạn bác vai trò của LHQ (tháng 3.90), khuyên Campuchia đi vào phương án 4 (lập chính phủ liên hiệp 2 bên) (tháng 4.90) đã gây nghi ngờ trong lãnh đạo Campuchia đối với Việt Nam. Việc lãnh đạo Campuchia không chấp nhận gợi ý của BCT ta trong cuộc hội đàm ngày 17.4.90 đánh dấu bước ngoặt mới trong quan hệ Việt Nam-Campuchia sau khi Việt Nam rút hết quân khỏi Campuchia.

    Ngày 2.5.90 dưới danh nghĩa “đi kiểm tra sứ quán”, anh Đinh Nho Liêm đến Bắc Kinh để có cuộc “trao đổi ý kiến không chính thức” với Trung Quốc. Lần này đối tác không phải thứ trưởng Lưu Thuật Khanh mà là trợ lý bộ trưởng Từ Đôn Tín. Phụ tá cho anh Liêm là anh Đặng Ngiêm Hoành, lúc này đã là đại sứ Việt Nam ở Trung Quốc từ tháng 2.90. Cuộc đàm phán có vài tiến triển nho nhỏ.

    null
    Campuchia ngày nay đã có tổng tuyển cử đa đảng

    Nội dung cuộc trao đổi ý kiến chủ yếu về vấn đề Campuchia. Ta tỏ ra mềm dẻo hơn, nói có thể trao đổi ý kiến về một giải pháp toàn bộ, nhưng không thể quyết định về các vấn đề nội bộ Campuchia. Từ nhắc lại lời Đặng: Để giải quyết vấn đề Campuchia cần phải thực hiện 3 điểm: một là, Việt Nam thực sự rút quân, rút “sach sẽ, triệt để”, đó là tiền đề cho việc giải quyết vấn đề Campuchia; hai là, sau khi Việt nam rút quân, 4 bên Campuchia cần thực hiện liên hiệp; ba là, chính phủ liên hiệp phải do hoàng thân Sihanouk đứng đầu, Polpot không được mà Hun Sen cũng không được. Nếu những vấn đề trên được giải quyết thì có thể nói là chúng ta đã kết thúc quá khứ, tiếp đó sẽ mở ra tương lai.

    Lần này phía Trung Quốc đi vào những vấn đề thuần tuý nội bộ của Campuchia, đòi ta đàm phán về phạm vi quyền lực của SNC và về việc xử lý quân đội “4 bên” Campuchia. Về vấn đề chính quyền Campuchia trong thời kỳ quá độ (từ khi Việt Nam rút hết quân đến khi tổng tuyển cử), Từ nói Trung Quốc thấy tốt nhất là thành lập một chính phủ liên hiệp 4 bên – gọi là Hội đồng Dân tộc Tối cao cũng được – băng không thì phải chọn phương án giao quyền cho LHQ. Chính quyền thời kỳ quá độ này phải bao gồm cả 4 bên Campuchia (với hàm ý Khmer Đỏ được chính thức coi là một bên tham chính) mới thể hiện được tinh thần hoà giải dân tộc. Nếu các đồng chí thấy nói 4 bên có khó khăn thì nói là các bên Campuchia cũng được. Không gạt một bên nào, không bên nào nắm độc quyền. Trong buổi làm việc với anh Đặng Ngiêm Hoành sáng 4.5.90, Vụ phó Trương Thanh cũng nhắc lại ý này: “Hội đồng này bao gồm đại diện của 2 chính phủ, 4 bên hay các bên Campuchia đều được.”

    Từ nói: “Nếu so sánh giữa phương án chính phủ liên hiệp lâm thời do Trung Quốc đề ra và phương án LHQ quản lý thì chúng tôi vẫn thấy phương án Trung Quốc là tốt hơn”.

    Về vấn đề diệt chủng, Từ nói có ý đe doạ là nếu cứ khẳng định Khmer Đỏ phạm tội thì phía bên kia sẽ nói Việt Nam là xâm lược và Phnom Penh là nguỵ quyền, cho nên, không nên nói đến vấn đề đó nữa.

    Trong đàm phán, phía Trung Quốc để lộ rõ ý đồ muốn SNC thực tế sẽ thay thế chính phủ Phnom Penh; còn quân đội của Bốn bên Campuchia phải tập kết vào những địa điểm được chỉ định rồi giải giáp toàn bộ; ít nhất là lúc đầu giảm quân số tới mức tối đa. Mục đích là tước bỏ thế mạnh cả về chính quyền lẫn về lực lượng vũ trang của Nhà nước Campuchia.

    Cách làm của Trung Quốc đúng là “một mũi tên bắn hai đích”, vừa xoá sạch thành quả cách mạng Campuchi, vừa phân hoá quan hệ Việt Nam-Campuchia.

    …Đáng chú ý là Từ Đôn Tín đã gợi ý là sau khi Việt Nam và Trung Quốc nhất trí được về giải pháp Campuchia thì ba nước Trung Quốc, Việt Nam và Thái Lan sẽ họp lại. Điều này chứng tỏ là Thái Lan giữ một vai trò không nhỏ trong việc cùng Trung Quốc nuôi dưỡng Khmer Đỏ và làm chảy máu Việt Nam bằng vấn đề Campuchia.

    Về bình thường hoá quan hệ hai nước, phía Trung Quốc không mặn mà gì với gợi ý của ta về việc xích lại gần hơn giữa hai nước XHCN để cứu vãn sự nghiệp XHCN chung trên thế giới đang lâm nguy. Trung Quốc chỉ đặt quan hệ với Việt Nam trong khuôn khổ chung sống hoà bình như với các nước láng giềng khác.

    Phần vì tình thế thúc bách đẩy nhanh giải pháp Campuchia, phần vì hài lòng với cuộc gặp ấy, Tiền Kỳ Tham đồng ý đầu tháng 6 sẽ cử Từ Đôn Tín sang Hà nội với danh nghĩa “khách của đại sứ Trung Quốc ở Hà Nội” để tiếp tục trao đổi ý kiến với ta.

    Đây là lần đầu tiên trong 10 năm qua phía Trung Quốc nhận sang Hà Nội đàm phán với ta, trong khi tuyệt đại đa số các đợt đàm phán Việt – Trung đều tiến hành ở Bắc Kinh.

    Đồng thời thái độ này đã được lãnh đạo ta hiểu như một cử chỉ thiện chí đặc biệt của Trung Quốc đối với Việt Nam…

    Tựa của bài tư liệu do BBC đặt, từ Chương 9 ‘ĐẶNG TIỂU BÌNH TIẾP KAYSONE PHOMVIHAN ĐỂ NÓI VỚI VIỆT NAM’ trong cuốn hồi ký của cựu Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam, ông Trần Quang Cơ, người vừa qua đời hôm25/06/2015 ở Hà Nội.

    Đọc thêm bài của TS Đinh Hoàng Thắng‘Khí phách Trần Quang Cơ’.

  12. 80 NĂM, MỘT CUỘC ĐẦU HÀNG

     1Phap noi

    Ngàỷ 3-2- 1930, theo lệnh của Liên sô, Nguyễn ái Quốc, ( Nguyễn tất Thành), tập họp ba nhóm cộng sản tạp nham tại Việt Nam lại tại Hồng Kông để thành lập đảng cộng sản Đông Dương. Sau hai năm lãnh đạo nhóm cộng sản này, Nguyễn ái Quốc bị bắt giam tại nhà tù ở Hồng Kông. Cuối 1932, Nguyễn ái Quốc được trả tự do, nhưng cũng có hai nguồn tin khác biệt. Nguyễn ái Quốc đã chết rục trong tù vì bệnh lao phổi. Nguyễn ai Quốc đã chết trên đường đến Liên Sô?  Tuy chưa ai nắm rõ sự sống chết của Y, nhưng Quốc đã hoàn toàn mất dấu từ đây. Đến năm 1939, một nhân vật có tên Hồ Quang, đảng viên đảng cộng sản Trung cộng, mang cấp bậc thiếu tá trong đội giải phóng quân Trung cộng xuất hiện và trở thành kẻ lãnh đạo đảng cộng sản VN.

    Trước tiên, Hồ Quang xâm nhập vào địa giới Việt Nam vào đầu năm 1941. Lập căn cứ địa hoạt động cho cộng sản tại hang Pắc Pó. Hang động này trước kia nằm trong nội địa Việt Nam, (gần biên giới) nay đả chuyển tên và nằm sâu trong nội địa của Trung cộng. Đây là bước đầu tiên, Hồ Quang, chiếm đât của dân Việt Nam để đem về cho Tàu, hơn là dâng cho Tàu, vì Hồ Quang không phải là người Việt Nam?

    Tháng 8- 1942, Hồ Quang trở về Trung  Hoa để báo cáo công tác nhập địa và lấn đất của Việt Nam cho đảng cộng sản Trung cộng. Y đã bị tầu Tưởng bắt ở Túc Vinh. Vì sợ bị lộ tẩy là thiếu tá tình báo của Trung cộng, kẻ thù không đội trời chung với Tưởng giới Thạch, nên khi bị bắt Hoồ Quang đã khai tên là Hồ chí Minh, ( Minh cũng có nghĩa là Quang) người Việt Nam. Cái tên Hồ chí Minh này theo y cho đến khi chết vào năm 1969. Thành tích của Hồ Quang trong một năm ngồi tù là … chôm  được tập thơ Ngục Trung Nhật Ký của một người Trung Hoa, thuộc phe Quốc dân đảng. Tác gỉa có lẽ vì hiềm khích hay bị nghi ngờ là Hán gian đã bị quốc dân đảng Trung Hoa băt giam. Ông ta còn sống hay đã chết, không ai hay biết. Chỉ biết tập Ngục Trung Nhật Ký của người này có nhiều bài thơ nói lên ý hướng yêu nước và tận trung vời quê hương và dân tộc của tác gia ở vùng Quảng Đông. Theo lịch sử cổ Trung Hoa thì thuộc nước Việt của Việt vương Câu Tiễn, một trong những ông vua có tôi thần là Phạm Lãi, nổi tiếng thời Đông Chu, sau đó bị sát nhập vào Trung hoa thời Tần thủy Hoàng.

    Về tập thơ, bất cứ người nào biết đọc biết viết, có suy nghĩ bình thường, không bị điên loạn, đều có khả năng nhận biết tập thơ này tuyệt đối không phải là của Hồ chí Minh sáng tác. Tuy nhiên, bằng cách nào Hồ chi Minh có được tập thơ thì không ai biêt. Chỉ nghe qua vài chuyện như giả tưởng của nhà nươc cộng sản đưa ra là  “bác” tìm lại được tập thơ này vào năm 1959. Sau đó giao cho Trung Ương đảng cộng sản giữ làm kèn. Từ đây các kèn loa, bỏ quên cả nhân cách, tư cách con người,  phùng mồm lên thổi đó là thơ trong tù của Hồ chí Minh. Tệ hơn, bản văn ăn cắp này còn được một cái nghị định gì đó của nhà nước CHXHCN/VC nâng nó lên hàng tài sản văn hóa của Việt cộng.!(tôi đã viêt trong loạt bài “Tác gỉa ngục Trung Nhật Ký không phải là người Việt Nam”).

    Nhờ nguồn văn hóa này, ngày 2-9-1945, nhân cuộc tổng đình công bãi thị và tuần hành của công chức, sinh viên học sinh Hà Nội, Việt cộng do Hồ chí Minh lãnh đạo đã cướp lấy chính quyền hợp pháp của chính phủ Trần trọng Kim. Sau đó Bảo Đại đã thoái vị. Công quyền lọt vào tay Hồ chí Minh, nhưng trong thực tế mới chỉ có danh nghĩa, chưa có thực lực trên toàn quốc.

    Với mưu đồ chiếm độc quyền lãnh đâo theo lệnh của CS Tàu- Liên sô, Hồ Quang mời quân Pháp trở lại Hà Nội để gạt Tàu Tưởng, trong phe đồng minh, có nhiệm vụ giải giới quân đội Nhật tại Việt Nam, ra khỏi Việt Nam. Sau đó dùng chiêu bài chống thực dân  Pháp mở lại cuộc chiến tranh với Pháp. Cuộc chiến kéo dài trong 9 năm được nuôi dưỡng bằng súng đạn và cơm gạo của Nga-Hoa với cài chết của “khoảng 250,000 dân thường. Số nhân mạng trong binh đoàn của trung cộng và Việt cộng không được công bố , nhưng người ta ước tính không dưới 500,000 người. Về phía Pháp có 172,108 thương vong. Trong đó có 31,176 binh lính thuộc khối đông dương. Về tài sản cũng không được công bố. Tuy nhiên, sự thiệt hại về tài sản của nhân dân và về những nguồn lợi kinh tế của Việt Nam trong suốt thời kỳ chiến tranh và cả những năm tháng sau chiến tranh, cộng với sự thiệt hại về nhân mạng, đã cho thấy cái giá của chiến thắng là qúa đăt. Cái gía ây không đắt, nếu chiến tranh là con đường duy nhất để dẫn đến Độc Lập, Tự Do, Dân Chủ thật sự cho dân tộc” ( GS Lê văn Khoa, bài học chín năm 1945-1954)

    Tuy nhiên, cái giá ấy là qúa đắt, bởi vì chỉ trong vòng mấy năm sau 1945, tất cả các thuộc địa của Pháp ở Phi Châu đều được trao trả Đôc Lập mà chẳng phải đổ máu. Và ngay tại Việt Nam, trong thực tế, cũng đã được trao trả Độc Lập trọn vẹn vào năm 1949. Theo đó, cái gía máu đổ ra là vô cùng đắt và khốn nạn cho dân tộc Việt Nam. Bởi vì từ sau năm 1954, Việt Nam chẳng những không có Độc Lập, không có Tự Do, không có Dân Chủ, không có Hạnh Phúc. Chỉ có “ mưa sa trên màu cờ đỏ” (Trần Dần), có máu chảy loang đồng ruộng. Và chỉ có một nền chính trị bạo tàn trong tay Hồ Quang đang từng bước đưa Việt Nam vào trong vòng nô lệ của Bắc Kinh.

    Và nó còn đắt hơn thế gắp trăm ngàn lần, dưới sự lãnh đạo của viên thiếu tá tàu Hồ chí Minh, đảng cộng sản Việt Nam đã học tập nhuẫn nhuyễn và thực hành đến nơi đến chốn bài viết tâm đắc “địa chủ ác ghê” do Hồ chí Minh chủ xướng. Kết quả, hơn 172,000 người Việt Nam đã bị Hồ Quang và đảng cộng sản Việt Nam đấu tố, và giết hại trong kế sách cướp của giết người Việt Nam cho vừa bụng Tàu, mà chúng gọi là mùa cải cách từ 1953-1956.  Nhân mạng đã thế. Tất cả tài sản của tư nhân, của công cũng như guồng máy công quyền đều thu gọn vào tay đảng cộng sản, giúp Hồ chí Minh hiện thực ý đố thôn tính Việt Nam cho Tàu.

    Hồ chí Minh là ai? Thực sự không còn ai biết rõ ngọn nguồn, lý lịch của y, ngoài những tài liệu đầy nghi vấn. Lý do của sự thiếu chứng minh thực tế là mãi đến năm 1959, sau khi tất cả những thành viên sáng lập đảng cộng sản ĐD tại Hồng Kông đã chết. Bà chị ruột Nguyễn thị Thành và Nguyễn sinh Khiêm đã yên mồ yên mả. Hồ Quang biết chắc không còn một người nào khả dĩ chứng minh Quang không phải là Nguyễn sinh Cung, Y mới dám úp mở, hé lộ bản tin Hồ chí Minh là Nguyễn ái Quốc người làng Kim Liên. ( trước đó thì luôn mồm chối không phải là Nguyễn ái Quốc). Nhắc lại, vào thời điểm này, chỉ còn một người duy nhất là Trịnh đình Cửu có khả năng biết mặt Nguyễn ái Quốc khi còn ở Hồng Kông. Tuy nhiên Cửu bị mắc bệnh …  câm khi còn ở bên Tàu, nên phải giữ im lặng cho đến chết. Bệnh câm của Y có hai lợi thế, như một cái bóng, dù nói hay không nói đểu ngầm ý chứng minh Hồ Quang là Nguyễn ái Quốc. Đó là lý do Củu còn sống để chết già.

    Cùng theo mưu đồ phục vụ cho Trung cộng để xin làm nô lệ, năm 1951, Đặng xuân Khu đã nhân danh tổng bí thư đảng CSVN viết lời  kêu gọi đông bào Việt Nam, “bỏ học chữ Quốc Ngữ, học chữ Tàu. Bỏ thuốc tây, uống tuốc Tễ, để được làm chư hầu cho Trung cộng”. Vào năm 1958, đảng CSVN qua Phạm văn Đồng đã chính thức giao Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam cho Trung cộng. Kế đến,  để thực hiện mưu đồ đỏ hóa toàn cõi Đông Dương theo chỉ đạo của Trung cộng, Hồ chí Minh đã mở chiến tranh vào miền nam Việt Nam. Cuộc chiến tranh này có một chính nghĩa rất ngời sáng do tên Lê Duẫn, tổng bí thư của đảng CSVN công bố ” Cuộc chiến này là  ta đánh là đánh cho Trung quốc cho Liên Sô”. “ Chúng tôi kiên cường chiên đấu tất cả vì công việc của Mao chủ Tịch”. Kết quả của cuôc chiến do tên Lê Duẫn và Hồ chí Minh chủ trương “Đánh đến người Việt Nam cuối cùng cũng đánh” ( để rộng đất cho Tàu kéo sang) đã kết thúc vào ngày 30-4-1975. Theo tài liệu lịch sử “kháng chiến chống Mỹ cứu nước”. (1954-1975) của nhà xuất bản chính trị của nhà nước CHXNCH/VC như sau:

    Thiệt hại về nhân mạng của CS miền bắc là: (1) Theo tài liệu Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975) của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia có:

    • 1,1 triệu quân nhân chết; trong số đó có 300.000 quân nhân mất tích (chưa tìm được xác)
    • 600.000 quân nhân bị thương hoặc bị bệnh.
    • Gần 2 triệu thường dân chết; Hơn 2 triệu thường dân mang thương tật suốt đời; do miền bắc bị ném bom và dân công tải đạn.

    Về phía Việt Nam Cộng Hòa, những người đã hy sinh bảo vệ nền Độc Lập và Tự  Do Dân Chủ và toàn vẹn lãnh thổ cho Việt Nam được ghi nhận như sau:

    • từ 250,000 – 316,000 tử trận hoặc mất tích.
    • Khoảng 1.170,000 quân nhân bị thương, nặng và nhẹ.
    • khoảng 2.000,000 dân thường bị chết và mang thương tật. Trong số hy sinh có một Tổng Thống là ông Ngô đình Diệm, rất nhiều trẻ em đi đến trường như vụ Cai Lậy. Và có khoảng 5000 người dân bị Việt cộng chôn sống để chúc thọ, chúc tết cho Hồ chí Minh trong những ngày tháo chạy khỏi Huế vào tết Mậu Thân 1968

    Hoa Kỳ:

    • 58.209 tử trận và chết vì lý do khác
    • Hơn 305.000 bị thương. nặng và nhẹ.
    • 1.948 mất tíchBắc Triều Tiên  *14 phi công chết, 2 cố vấn bị thương?.Trung cộng. 1,446 công binh chết (có lẽ con số rất cao, nhưng không được công bố).
    • Hàn Quốc: 5.099 tử trận 11.232 bị thương. 4 mất tích trong chiến đấu.

    Liên Sô. Khoảng 6000 quân nhân Xô Viết tham gia vao chiến tranh Việt Nam.  Số chết được công bố là 16 người?

    Philippines:  552 tử trận.

    Thái Lan: 351 tử trận. 1358 bị thương.

    Úc Đại Lợi. Khoảng 500 tử trân, bị thương.

    New zeland:  55 tử trận và 212 bị thương

    1. Tất cả những con số trong phần này được ghi lại theo wikipedia)

    Đây là những con số đã không cho chúng ta niềm vui, hãnh diện. Trái lại là những con số còn đời đời xé nát tim gan Việt Nam. Bởi vì, sau ngày tàn chinh chiến 30-4-1975, đảng cộng sản, bên gọi là thắng cuộc, đã không đem lại một chút niềm vui hạnh phúc nào cho dân tộc Việt Nam. Trái lại, chỉ là những bất hạnh vô cùng khủng khiếp đổ ập xuống. Đổ xuống những con đường như đại lộ kinh hoàng, đường số 7, số 10, cửa Tư Hiền, cửa Thuận An, biển Đà Nẵng, Nha Trang…. Nơi nào cũng chất cao xương trắng máu đào người Việt Nam. Và sau đó là:

    – Hơn 200,000 quân cán chính của Việt Nam bị đưa vào các trại giam. Có nhiều người đã bị bắn, giết chết trong các trại giam khủng khiếp này.

    – Có trên 1,000,000 ngưòi rời bỏ Việt Nam trên các chuyến tàu mong manh vượt đại dương để đi tìm tự do trong cái chết. Có hàng trăm ngàn người Việt Nam ra đi và đã bỏ mình trên đường vượt biên, vượt biển.

    -Sau hai vụ cướp cạn đánh tư sản mại bản, cải tạo công thương nghiệp và đổi tiền, dân miền nam coi như là trắng tay. Nhiều người dân phải rời thành phố để đi các vùng gọi là kinh tế mới.

    Tuy thế, tất cả những thiệt hại về nhân mạng và vật chất ấy dù rất lớn, nhưng không thể so sánh với thương tổn tinh thần mà người Việt Nam đã phải gánh chịu ròng rã trong 40 năm qua. Thứ nhất, nền luân lý đạo hạnh của gia đình, của xã hội đã hoàn toàn bị phá sản vì chủ trương của đảng cộng sản ép buộc tuổi thơ học tập theo gương đạo đức trộm cướp, vô đạo bất nhân, bất nghĩa của Hồ Quang (Hồ chi Minh). Trong đó có một điều đáng ghê tởm nhất là  “ phải căm thù và đoạn tuyệt cới bố mẹ” theo gương của Y. Từ tấm gương này, những tội đại ác như giết cha, giết mẹ, giết vợ, giết chồng, giết tình nhân. Cướp của giết người, phá thai đã gây nên khủng hoảng, lo sợ cho cuộc sống của xã hội Việt Nam hôm nay.

    Từ tấm gương này và từ bài học “địa chủ ác ghê”, các đảng viên cộng sản tại Việt Nam tự do tung hoành bá đạo trong việc cướp bóc tài sản của dân chúng, cũng như tham ô hối lộ các công trình kiến trúc, đầu tư để nợ công đè lên đầu lên cổ người Việt Nam, làm cho nhiều thế hệ kế tiếp phải lao đao gánh chịu phần trả nợ.  Để một Sài Gòn, hòn ngọc Viễn Đông, là niềm mơ ước của các nước láng giềng như Singapor, Thái Lan, Đại Hàn, Mã Lai…từ hơn 40 năm trước, nay biến thành nơi đầy dẫy trộm cướp, đầy những đĩ, điếm Hồ chí Minh. Theo thống kê và thực tế đời thường, học sinh, trẻ em mới 13, 14 tuổi đã biết, hay bị dụ hoặc vào việc bán thân để tìm cho mình chút tiện nghi nhỏ bé là cái váy đẹp, cái điện thoại di động! Và cái sản nghiệp lớn nhất mà Hồ chí Minh đã để lại trên đất nước ấy sau 80 năm là sự bạc nhược và tinh thần nô lệ. Tất cả đều cúi đầu đi theo chỉ đạo của Tàu nhằm đưa Việt Nam vào vòng nô lệ cho Trung cộng.

    Chúng bạc nhược đến nỗi, các cái loa rỉ xét thì không ngừng oang oang tuyên truyền lừa đảo nhân dân là, đoàn quân giải phóng bách chiến bách thắng Việt cộng đã đánh gục hai tên thực dân đầu xỏ thế giới là Pháp và Mỹ. Trong thực thế, một tên mang quân hàm thượng tướng, đồng thời còn là phó chủ tịch cái quôc hội của CHXHCN/VC tuyên bố rất ngon lành trước diễn đàn của cái quốc hội chuột ấy như sau: “Ta như thế này. Thì bà con thấy ta đánh với họ được không? Ai tài giỏi thì thử ra đó xem có thắng không” ( thượng tướng Huỳnh ngọc Sơn phó chủ tịch quốc hội) Thử hỏi xem, một kẻ ngu ngốc và bạc nhược như thế mà đeo quân hàm Thượng Tướng và kiêm phó chủ tịch quốc hội thì cái quốc hội ấy là cái gì? Và cái tập thể quân đội kia ra sao? Mà lạ, Y không bị lột lon và đuổi cổ về  nhà đuổi gà, chạy xe ôm kiếm ăn. Trái lại còn sum xoe áo mào ngồi trên cái vị thế ấy mà nuốt tiền thuế và sức lao động của người dân. Nếu một chính phủ, một quân đội có thực lực, có kỷ luật thì không thể không đưa loại hèn tướng này ra trước toà án quân sự vì sự hèn nhát, và làm mất sỹ khí của toàn quân trước quân thù. Tiếc rằng, nó lại là biểu tượng của quan quyền của chế độ CS thời Hồ chí Minh. Phục vụ Tàu để có chức có quyền! Và chuyện tổ cuốc xem ra là tổ… cò!

    Đó là đôi nét về hành trình của cộng sản do Hồ Quang đem vào và được đoàn đảng cộng sẳn Việt cộng tài bồi và áp dụng triệt để tại Việt Nam trong hơn 80 năm qua. Tất cả là một đại họa cho tương lai của Việt Nam. Nay nhân chuyến Quy mã của Nguyễn phú Trọng,  người ta tự hỏi rằng.  Có phải Trọng đem sang Hoa Kỳ một lời thề khác và trái ngược với lời tuyên bố của Duẩn khi Y sang Trung cộng không?  Liệu Trọng có nhân chuyến đi này để hóa giải những lầm lần và dĩ lỡ coi Hoa Kỳ, coi dân tộc Việt Nam như một kẻ thù từ hơn nửa thế kỷ qua hay không?

    Lúc này, người ta nói nhiều về chuyến đi của Nguyễn phú Trọng. Có người cho đó là cái may cho Việt Nam và cũng là cơ may cho đảng CS này. Bởi vì, nếu nhìn từ một góc đen tối nhất. Chẳng có một quan cán cộng nào, dẫu nhờ ảnh hưởng của Trung cộng để có quyền lực, mà lại muốn sang Tàu để tỵ nạn. Trái lại,  đều mắt trước mắt sau, kiếm phương cách sang Mỹ hay sang các nước tây phương khi gặp nạn! Hoăc giả, có những ý kiến trái chiều cho rằng: Những kẻ gian manh một đời, lúc gần chết cũng vẫn lưu manh, giả như là cố gắng làm một chuyện gì đó để tạo ra dấu ấn, để khỏi phải mang xú uế xuống tuyền đài trước khi nhắm mắt? Trọng nằm ở trường hợp nào?

    Thực tế, không ai biết, tương lai sẽ có câu trả lời. Phần tôi, tôi cho rằng: Sau 80 năm sống đời gian trá, mà không thu được kết qủa, lại thấy dao kề vào cổ từ muôn phía, Nguyễn phú Trọng trước khi chết, có thể đã thay mặt toàn đảng, lãnh đạo nhà nước và tất cả các tổ chức trong guồng máy của CS mà làm một cuộc đầu hàng Công Lý? Nếu đúng, thì phải khẳng định ngay rằng: Đây không phải là một cuộc đầu hàng ô nhục, tủi hổ. Trái lại, đây là một cuộc đầu hàng có ý nghĩa, đáng qúy. Bởi vì trong cuộc dầu hàng này có niềm vui, có nụ cười và có lẽ sống.

    Có niềm vui.  Cuộc đổi thay dẫu chưa bắt đầu, nhưng xem ra nó đã có nhiều dấu chỉ có niềm vui. Mặc dù, trước Nguyễn phú Trọng đã có nhiều quan cán cao cấp của nhà nước Cộng sàn tại Việt Nam quy Mã, nhưng tất cả chỉ là những viên chức thuộc phía nhà nước, không ai ở vị thề lãnh đạo đảng, là cơ chế nắm toàn bộ quyền lực và sách lược trong tay. Theo đó, những chuyến đi này mang tính hình thức trao đổi về những hoạt động thường nhật hơn là đưa ra sách lược chung cho đôi bên. Nay kẻ nắm giáo điều, nắm lãnh đạo quy Mã ( không hẳn là quy thuận) là một nước thù địch từ nủa thế kỷ qua, hẳn nhiên, nó phải có một dấu chỉ tích cực hơn. Dấu chỉ ấy là gi? Có phải là đã thể hiện qua những tuyên bố?

    Dĩ nhiên, một phần nhỏ nằm trong những tuyên bố chung. Nhưng phần lớn là nằm trong những thỏa thuận được xác định mà không cần viết thành văn bản đưa ra trình diễn. Đó là những thỏa thuận chủ yếu khả dĩ làm phấn chấn những kẻ cựu thù từ nửa thế kỷ qua. Hơn thế, chính nó tạo nên những niềm vui, những nụ cười rạng rỡ chưa bao giờ có ở trên khuôn mặt cằn cỗi, bệnh hoạn, bạc nhược của Nguyễn phú Trọng.

    Ai cũng biết, người ta không thể có nụ cười tươi và mãn nguyện khi trong lòng chất chứa muôn lo âu, phiền muộn. Lại càng không thể có nụ cười ấy với kẻ cựu thù. Nguyễn  phú Trọng cũng không có ngoại lệ. Hơn thế, Y không phải là mẫu người lo cái lo của dân, vui niềm vui của nhân dân. Trái lại, Y và tập đoàn do Y lãnh đạo chỉ có cái vui khi vùi dập chà đạp nhân dân. Có nụ cười khoái trá, thỏa mãn khi bắt bớ, tù đày người yêu nước, hay cướp được của cải, tài sản của tư, của công một cách nhưng không. Hoặc gỉa,  có niềm vui lớn trước nỗi bất hạnh của nhân dân. Theo đó, dù không nói ra, người ta cũng có thể hiểu được nụ cười của Trọng khi gặp Obama là nụ cười thỏa được ý nguyện của Y đã xin.  Ý nguyện ây là  gi? Liệu có phải là những chuyến tỵ nạn cho Y và cho phe nhóm của Y khi gặp bế tăc với Trung cộng? Điều này cũng có thể xảy ra. Bởi vì gặp “ kẻ thù” thì cười tươi như hoa nở, nhưng khi gặp láng giềng tốt, đồng chí tốt thì mặt lại bị ra như thằng đầy tớ phải đấm! Như thế, dù không muốn đổi thù thành bạn, cũng phải đối!

    Cuộc đầu hàng có lẽ sống. Lẽ sống cho nhiều phía. Với tập đoàn Cộng sản, như tôi đã nói ở trên, từ cuộc đầu hàng này, Mỹ có thể sẽ mở sinh lộ cho nhiều quan chức Việt cộng ra đi khi cần, cũng như không đóng băng một số tài khoản nào đó mà họ đã có từ nhưng không trong lúc cầm quyền. Kế đến, cũng vì cuộc đầu hàng này mà người dân Việt Nam có cơ hội tìm lại được nguồn sống cho dân tộc bằng những cuộc sinh hoạt dân chủ và tự do trong tương lai. Từ đó một nhà Việt Nam mới sẽ được mở ra để kêu gọi mọi người cùng chung sức, ghé vai vào gánh vác. Đặc biệt, về phía Trung cộng, tôi tin rằng dù có nắm được Nguyễn phú Trọng và một số tay sai trong guồng máy hiện nay, việc Trung cộng muốn tràn sang Việt Nam như vụ Nga tràn qua Cremea là không thể thực hiện được nữa. Bởi vì, Trung cộng cũng không thể biết được Trọng đã xin gì, nói gì, hoặc thề ước gì với Mỹ để ông ta có được nét mặt hân hoan, hoàn toàn khác với vẻ mặt đưa đám, nặng lo âu khi gặp quan chức Trung cộng. Điều ấy có phải là: Từ nay, tiếng là cùng đảng nhưng không còn cùng thuyền? Trái lại sẽ đục lỗ cho thuyền cộng chìm xuống?

    Bên cạnh những sự kiện ấy là việc chấm dứt đột ngột sự nghiệp chính trị của Phùng q Thanh? Một tên tham ô, một tên đầy tớ tâm đắc của Tàu vào trước ngày Trọng quy Mã, và thay đổi toàn bộ bộ chỉ huy quân đội tại Hà Nội như cho thấy, Trọng cũng không còn đủ tin và đã dứt khoát là sẽ không xin sang ty nạn tại Hoa Lục. Theo đó, chuyện thay đổi này cũng có nghĩa là lời răn đe trực tiêp cho phe nhóm thờ Tàu như Hoàng trung Hải, Uông chung Lưu, Phạm quang Nghị, Nguyễn thế Thảo, Nguyễn chí Vịnh… nên xếp cho gọn lại để một cánh cửa mới sẽ từ từ mở ra.

    Như thế, nếu đây là cái khởi đầu tốt, thì cũng không phải chỉ bấy nhiêu là đủ. Trái lại, nó cần phải được tiếp tục biểu lộ cuộc khởi đầu ấy trong ý thức trách nhiệm, nghiêm chỉnh, không phải trong gian trá. Từ đó, chuyến đi này rất cần thiết phải được thể hiện một thiện chí mới để làm một cuộc đầu hàng thực sự với dân tộc Việt Nam nữa. Nghĩa là, cộng sản qua Trọng hay qua những kẻ có trách nhiệm trong tương lai phải biết giải mã lý lịch của Hồ chí Minh,  Y là ai? Và làm cuộc cầu hoà thẳng thắn, trực tiếp với người dân Việt Nam bằng cách nhận lấy trách nhiệm của hơn 80 năm qua. Tự hủy bỏ đi những đặc quyền chính trị, đặc quyền xã hội, để cùng với mọi tổ chức, đảng phaí, tôn giáo và ngươi dân Việt Nam phục vụ Tổ Quốc và dân tộc Việt Nam trong tinh thần bình đẳng. Bởi vì:

    Đây mới là cái đích để mọi người nhắm tới. Đây mới là đích điểm của cuộc cầu hoà mà CS cần làm. Cần làm vì nó là công việc của những con người. Cần làm vì nó mang trọn ý nghĩa với dân tộc. Cần làm vì nó sẽ đem lại lẽ sống cho dân tộc. Cách riêng, cần làm vì chỉ có cuộc đầu hàng này mới  đảm bảo cho họ và con cháu họ có được một nơi tỵ nạn vững chắc nhất, an toàn nhất và tốt đẹp nhất để sống. Đó chính là cuộc sống làm người nhân bản ngay trên quê hương Việt Nam. Ở đó, mọi người đều được chung hưởng Tự Do, Hòa Bình, Dân Chủ, Nhân Quyền trong một đất nước Thống Nhất, Độc Lập, toàn vẹn và có kỷ cương. Ngoài ra, cộng sản không còn một lối thoát nào khác để tránh bị diệt vong,

    Bảo Giang

  13. Hồ Chí Minh – Lâm Đức Thụ – Cụ Phan Bội Châu

    zzzzzzzxx1

    Ngày nay, khi nói về Hồ Chí Minh, sách vở và báo chí của đảng cộng sản và nhà nước Việt Nam đều tập trung đánh bóng ông, cả thêu dệt những chuyện không có về ông . Trái lại, những chuyện thật về ông, họ bỏ qua hoặc giấu nhẹm đi vì những chuyện này không có tác dụng đề cao lãnh tụ cộng sản .

    Sự thật về Hồ Chí Minh chỉ được phơi bày trung thục, đầy đủ, khi chế độ công sản Hà Nội sụp đổ, báo chí, xuất bản trả lại cho tư nhân và quyền tự do thông tin, tự do ngôn luận được tôn trọng .

    Hôm nay, sau khi đọc qua bản thảo quyển “ Hồ Chí Minh tìm đường cứu nước ” do Ông Vy Thanh biên soạn, nhà Sự Thật Thật ở Californie, Huê kỳ, xuất bản, chúng tôi ghi lại 2 chuyện quan trọng về Hồ Chí Minh mà tài liệu chánh thức của Hà Nội không hề nhắc tới .

    Chuyện thứ nhứt là vụ Hồ Chí Minh âm mưu với Lâm Đức Thụ bán Cụ Phan Bội Châu cho Pháp để lấy tiền .

    Vụ thứ hai là 2 bức thư do Hồ chí Minh viết từ nhà tù Hồng Không bằng chữ hán gởi cho Lâm Đức Thụ van xin Lâm Đức Thụ tìm cách giải cứu ông sớm ra khởi tù .

    Vụ Hồ Chí Minh bán Phan Bội Châu cho Pháp đã có nhiều người nói qua . Nay chúng tôi nhắc lại với vài nhận xét riêng, tưởng không thừa lắm .

    Vụ khám phá 2 bức thư thủ bút của Hồ Chí Minh sẽ giúp xác nhận tác giả “ Ngục Trung Nhựt kỳ ”, chấm dứt một vụ “ cướp tác quyền ” – cộng sản là phải “ cướp ” – trong văn học từ hơn nửa thế kỷ nay .

    Hồ Chí Minh âm mưu với Lâm Đức Thụ bán Cụ Phan Bội Châu cho Pháp

    Tác giả “ Hồ Chí Minh tại Trung quốc ”, Văn Nghệ, Californie, Huê kỳ, 1999, Ông Tưởng Vỉnh Kính nhận xét về Hồ Chí Minh :

    “ Hồ Chí Minh tiến hành các hoạt động xâm nhập, phân hóa, và trừ khử những người không cùng chí hướng với ông ta . Mà Phan Bội Châu là một nhà cách mạng dân tộc không cộng sản, lãnh tụ Quang Phục Hội, không cùng chí hướng với Hồ Chí Minh . Vậy Hồ Chí Minh có trừ khử Phan Bội Châu đúng là việc làm tâm huyết theo chủ trương của ông ” .

    Kể lại âm mưu của Hồ chí Minh cấu kết với Lâm Đức Thụ đưa Cụ Phan Bội Châu vào tô giới Pháp để bị Pháp bắt dẩn độ về Việt nam, Tưởng Vỉnh Kính trích dẩn Cụ Hoàng văn Chí trong quyển “ Từ Thực dân đến Cộng sản ” (From colonialism to communism,1964, Chân Trời Mới, Sài gòn, 1966) :

    “Giữa lúc phong trào Quang Phục Hội đang gặp khó khăn, nhưng chưa tan rã hẵn, thì Cụ Phan Bội Châu bị ông Nguyễn Ái Quốc lập mưu bán cho Pháp lấy 10 vạn đồng, hồi ấy một con trâu trị giá 5 đồng . Cụ Phan vốn biết ông Nguyễn Ái Quốc là Cộng sản, nhưng Cụ cho rằng Cộng sản cũng nhiệt tình yêu nước như Quốc gia, nên cụ quý trọng và hoàn toàn tín nhiệm ông Nguyễn . Cụ theo lời Nguyễn Ái Quốc đến một địa điểm ở Thượng Hải, mà Cụ không biết là thuộc tô giới Pháp . Cụ bị cảnh sát Pháp bắt và đưa về Việt Nam để xử tội . Giới cách mạng Việt nam ở Trung quốc đều biết rõ việc này, và một người đồ đệ của ông Nguyễn Ái Quốc đã thuật lại với chúng tôi rằng, sau vụ này ông Nguyễn Ái Quốc đã giải thích hành động của ông như sau: Cụ Phan đã già lẫn, không còn ích lợi cho cách mạng; việc Pháp bắt Cụ và xử án Cụ tất nhiên sẽ gây phong trào phản đối trong quốc nội, rất có lợi cho tinh thần cách mạng; sau hết, tiền nhận được của Pháp sẽ dùng để đưa thêm thanh niên trong nước xuất ngoại.

    Việc này, ông Nguyễn Ái Quốc đồng mưu với Lâm Đức Thụ (tên thật là Nguyễn Công Viễn), một thời là đại diện cho Cụ Phan ở Hồng-Kông, và sau theo Cộng sản . Hai người chia đôi tiền nhận được của Pháp “ (trg 38 – 39) .

    Lời tường thuật của Cụ Hoàng văn Chí rất đáng tin là thật vì Cụ tham gia kháng chiến chống thực dân giành độc lập cho Việt nam từ 1946 tới 1954 ở Miền Bắc . Trong thời gian theo kháng chiến, Cụ là thư ký của Phạm văn Đồng nên khi Cụ nói “ Một người đồ đệ của Nguyễn Ái Quốc đã thuật lại với chúng tôi rằng …thì đó không ai khác hơn là Thủ tướng Phạm văn Đồng ” .

    Về vụ Cụ Phan Bội Châu bị Tây bắt, Mai văn Bộ trong “ Con đường vạn dặm của Hồ Chí Minh ”(Trẻ, Tp Hồ chí Minh, 2007), nhận xét “ Chúng tôi không chép lại bức thư thứ ba của Cụ Phan Bội Châu gởi Lâm Đức Thụ vì tên này làm chỉ điểm cho mật thám Pháp, chắc hẳn có can dự trong việc Pháp bắt cụ Phan (trg 423) .

    Hồ Chí Minh liên hệ vô cùng mật thiết với Lâm Đức Thụ chắc chắn ông không tránh khỏi can dự vào vụ bán Cụ Phan Bội Châu . Lập luận của Mai văn Bộ nhằm bênh vực Hồ Chí Minh nhưng thật ra lại hàm ý tố cáo Hồ Chí Minh cũng là kẻ đồng phạm .

    Hồ Chí Minh liên hệ mật thiết và xưng em với Lâm Đức Thụ cũng dễ hiểu bởi Lâm Đức Thụ vốn là một gương mặt quan trọng nổi cợm trong các Tổ chức tiền thân công sản hoạt động cách mạng việt nam lúc bấy giờ . Tên thật là Nguyễn Công Viễn, Lâm Đức Thụ là thành viên của Tâm Tâm Xã ra đời ở Quảng châu năm 1923 với 7 người đầu tiên như Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu, Nguyễn Giản Khanh, Đặng Xuân Hồng, Trần Quốc Húy, Lê Cầu và Nguyễn Công Viển (Dương Trung Quốc, Việt nam những sự kiện lịch sử 1919-1945, Giáo Dục, Hà nội, 2002, trg 52) .

    Vĩnh Sinh trong “ Việt nam và Nhật bản, Giao lưu văn hóa ” (Văn Nghệ, Tp Hồ chí Minh, 2001, trg 242) thuật lại là Kỳ Ngoại Hầu Cường Để qui cho Lâm Đức Thụ là kẻ chủ mưu . Vậy trong vụ bán Cụ Phan Bội Châu, Hồ Chí Minh chỉ là kẻ tòng phạm?

    Theo “ Phan Bội Châu niên biểu ”, Nguyễn Khắc Ngữ chú thích, Sài gòn, 1973, trang 209-210, Cụ Phan Bội Châu và Cụ Nguyễn Hải Thần tới yết kiến Tưởng Giới Thạch và Lý Tế Thâm nhơn Trường Hoàng Phố vừa thành lập . Hai vị chỉ huy Hoàng Phố rất vui lòng nhận lời yêu cầu của 2 Cụ gởi thanh niên Việt nam tới học nên Cụ Phan Bội Châu, sau đó, thảo luận với các đồng chí trong Quang Phục Hội giải tán Hội để cải tổ thành Việt nam Quốc dân đảng cho gần với Trung hoa Quốc dân đảng . Cụ liền biên soạn Chương trình và Đảng cương cho Việt nam Quốc dân đảng .

    Sau 3 tháng, Chương trình và Đảng cương in xong, Nguyễn Ái Quốc từ Mạc-tư-khoa tới Quảng châu và nhiều lần nhắc Cụ thay đổi …

    Nguyễn Ái Quốc nhắc Cụ Phan Bội Châu thay đổi bỏ Quang Phục Hội, chắc nhắc bằng thư vì ông tới Quảng châu ngày 11/11/1924 (Biên niên tiểu sử, tập I, Hà nội, 1993, trg 206), hoặc nhờ những người quen biết cả hai bên như các Cụ Hồ Tùng Mậu hay Hồ Học Lãm chuyển thư.

    Và Cụ Phan Bội Châu chắc phải biết Lý Thụy, Tống văn Sơ chính là Nguyễn Tất Thành, nghĩa là Nguyễn Ái Quốc từ ngày 14/02/1925 .

    Khi tới Quảng châu, Hồ Chí Minh thành lập Chi bộ Việt nam của Hội Liên hiệp các Dân tộc bị áp bức và gởi thư mời Cụ Phan Bội Châu tham dự lễ ra mắt. Tháng 6/1925, Cụ nhận được thư mời đi Quảng châu. Trong thư gởi cho Nguyễn Ái Quốc trước kia, Cụ đã có ý muốn đi Quảng châu gặp Nguyễn Ái Quốc để thảo luận tình hình chánh trị Việt Nam và nhứt là nghe ý kiến của Nguyễn Ái Quốc. Cụ tỏ ra rất quí Nguyễn Ái Quốc, hoàn toàn không có ý đề phòng kẻ gian, theo cách ứng sử lương thiện của nhà nho . Nên Cụ không ngần ngại đi Quảng châu thì lúc sắp lên tàu, Cụ bị một nhóm người tập kích và dẩn vào tô giới pháp để cụ bị Pháp bắt, đưa về Hải phòng và giải về Hà nội.

    Lý Thụy là bí thư Hội Liên hiệp các Dân tộc bị áp bức và Chủ tịch Chi bộ Việt nam . Có thể hiểu Hồ Chí Minh lập hội này chỉ để có điều kiện mời Cụ Phan Bội Châu, đưa cụ vào bẩy cho Pháp bắt .

    Sau khi cụ Phan bị Pháp bắt giải về Việt nam, Hồ Chí Minh bèn tóm thâu hết nhân sự, tài sản và tổ chức Việt nam Quốc Dân Đảng của Cụ Phan tại Trung quốc ! Và sau đó, Hồ Chí Minh thành lập Việt nam Thanh Niên Đồng Chí Hội !

    Cũng theo Hoàng văn Chí, nhân vụ bán cụ Phan Bội Châu thành công, Lý Thụy và Lâm Đức Thụ tiếp tục hợp tác làm ăn . Thanh nìên từ Việt nam bí mật qua học trường Hoàng Phố, lúc về, ai không chịu theo Thanh niên Đồng chí hội, Hồ Chí Minh thông báo tên tuổi cho Lâm Đức Thụ ở Hồng Kông để Thụ báo tin cho mật thám Pháp đón bắt . Hai người lại chia nhau tiền thưởng của Pháp .

    Nhưng chỉ trong một thời gian, hai “ lái thanh niên ”- tiếng chỉ Lý Thụy và Lâm Đức Thụ- không còn người để bán nữa vì, ở Việt nam, thấy đưa thanh niên đi mà không thấy trở về nên ngưng không gởi đi học Hoàng Phố nữa . Một số thanh niên học xong không chịu gia nhập Thanh niên Đồng chí hội, chọn ở lại theo Trung hoa Quốc dân đảng hoặc gia nhập quân đội Tưởng Giới thạch vì được tin những người về trước đây bị Lý Thụy chỉ điểm cho Pháp bắt .

    Chuyện Hồ Chí Minh cấu kết với Lâm Đức Thụ bán cho Pháp những thanh niên Việt Nam yêu nước để lấy tiền, không chỉ riêng Cụ Hoàng văn Chí viết lại, mà những đảng viên kỳ cựu của Việt nam Quốc dân đảng, lúc di cư vào Nam, cũng thường kể lại .

    Hết tiền không thể sống ở Hồng Kông được nữa, Lâm Đức Thụ xin Pháp trợ cấp và về Nam vang, sau cùng về quê quán Thái bình . Kịp lúc Việt Minh nổi lên, Thụ hoảng sợ, bèn bí mật gặp Hồ chí Minh vừa lên làm Chủ tịch nước Việt nam Dân chủ Cộng hòa . Dĩ nhiên, Hồ Chí Minh hứa bảo vệ cho Thụ, bảo Thụ hảy về sống yên ổn ở làng quê và căn dặn Thụ tuyệt đối không được tiết lộ những hoạt động của hai người ở Hồng Kông trước đây .

    Vâng lời Hồ Chí Minh, Lâm Đức Thụ về Kiến xương sống yên ổn được vài năm . Tới 1950, khi quân đội Pháp kiểm soát tới Huyện thì cán bộ cộng sản Việt Minh bắt Lâm Đức Thụ bỏ vào rọ đem thả trôi sông cho mò tôm .

    Hồ chí Minh xử lý như vậy rất đúng vì nếu không, Lâm Đức Thụ sẽ chạy theo Pháp, với tư cách nhơn chứng, sẽ tố cáo những hành động cực kỳ bỉ ổi của Hồ chí Minh . Vừa để chạy tội cho chính mình . Kẻ nói trước có lẽ phải !

    Vậy mà trong “ Hồ Chí Minh Toàn Tập ” và “ Hồ Chí Minh Biên Niên Tiểu Sử ”, 10 tập, không có một chữ nào về Phan Bội Châu trong 2 năm 1924-1925, và sự liên lạc giữa cụ Phan và Nguyễn Ái Quốc ! Cả trong 2 tập hồi ký « Những mẫu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch ” và “ Vừa đi đường vừa hể chuyện ”, Hồ Chí Minh không có một chữ về Cụ Phan Bội Châu, bậc tiền bối cách mạng ái quốc, cũng không nhắc lại sự hợp tác với Lâm Đức Thụ và nhứt là viết thư van xin Lâm Đức Thụ tìm cách cứu thoát khỏi nhà tù . Hơn nữa, đối với Lâm Đức Thụ, chẳng những là “ đồng chí ” (vì sau khi Hồ Chí Minh rời Quảng Châu tháng 4/1927, Đồng Chí Hội được giao lại cho Hồ Tùng Mậu, rồi Lâm Đức Thụ .Thụ triệu tập đại hội đại biểu toàn quốc Đồng Chí Hội ở Hương Cảng từ ngày 1-19/5/1929 . Có 17 đại biểu đã đến tham dự đại hội : 4 từ Tổng bộ , 2 từ Xiêm , số còn lại đều từ Việt nam … Đến năm 1930 , Đồng Chí Hội mới được đổi tên thành đảng CSVN), mà còn là bạn với nhau từ thuở nhỏ, hai gia đình giáo hảo với nhau nhiều đời và Lâm Đức Thụ cùng vợ, Bà Lương Huệ Quần, giới thiệu Bà Tăng Tuyết Minh cho Hồ Chí Minh, tổ chức đám cưới cho 2 người (Tăng Tuyết Minh, Hoàng Tranh, sử gia, Viện phó Viện Khoa học Xã hội Quảng Tây, Diễn Đàn, 9-2001, Paris, trg 17-20).

    Đúng là người cộng sản chỉ có mục tiêu . Tình cảm, ơn nghĩa, lẽ phải, …là những biểu hiện ủy mỵ tiểu tư sản như “ Giáo lý của người cách mạng ” dạy (Serge Netchaïev) .

    Sau ngày 30/6/1925, Cụ Phan Bội Châu bị mật thám Pháp bắt ở Thượng Hài, các đồng chí của Việt nam Quốc dân đảng của Cụ ở Trung quốc đều rất phẫn nộ trước việc cấu kết hèn hạ giữa Lý Thụy và Lâm Đức Thụ bán đứng Cụ Phan cho Pháp, cùng tẩy chay Lý Thụy làm cho Lý Thụy không thể hoạt động được nữa, phải lên tiếng thanh minh .

    Về phần Cụ Phan Bội Châu, trong Phan Bội Châu Niên biểu, thấy Cụ không hề nhắc một chữ đến Lâm Đức Thụ, và cũng không hề biết là Lâm Đức Thụ và Lý Thụy cấu kết để bán Cụ cho mật thám Pháp. Cụ quá lương thiện !

    Nhận xét về Hồ Chí Minh, Tưởng Vĩnh Kính viết:

    “ Mỗi một hành động của ông Hồ Chí Minh đều nhằm phục vụ ý đồ của chính ông ; và thường thì ông nắm phần chủ động trong mọi tình huống . Ông có một nguyên tắc cơ bản, bất cứ điều gì thích hợp với nhu cầu của ông, ông sẽ không ngần ngại lợi dụng mọi cơ hội để kết hợp và tranh thủ ; bất cứ cái gì làm trở ngại cho sự phát triển thực lực của bản thân ông, ông sẽ dùng mọi cách để bài trừ hoặc tiêu diệt .

    Ông tuyệt đối cần ngoại viện, nhưng không muốn cho cá nhân hoặc đảng phái nào khác nhận ngoại viện .

    Ông cũng cần tranh thủ quần chúng, nhưng không muốn cá nhân hoặc đảng phái nào khác tranh thủ quần chúng .

    Ông lớn mạnh không phải từ những hô hào về chủ nghĩa cộng sản . Ông đã dùng rất nhiều tên giả, lấy chủ nghĩa dân tộc để ngụy trang, lợi dụng tất cả những cơ hội có lợi để bảo tồn và phát triển lực lượng của bản thân ông.

    Bởi vậy, mỗi hành động của ông đều cho thấy ông là một người theo cơ hội chủ nghĩa, chỉ biết lấy sự sinh tồn, lợi hại của bản thân mình làm mục tiêu chính ”.

    Nhận xét của Tưởng Vĩnh Kính xác nhận thêm tại sao trong kháng chiến Việt Nam, Hồ Chì Minh chủ trương giết tất cả những người yêu nước không cộng sản. Cả những người cộng sản trí thức và lưong thiện.

    Thế mà Hồ Chí Minh vẫn bị Mao-Lê Duẫn hạ bệ sát ván từ 1963 . Nhưng Hồ vẫn chịu phép ép mình dưới áp lực của Lê Duẩn để được yên thân, làm vua Miền Bắc xã hội chủ nghĩa, an hưởng tuổi già, chết mồ cao, mã đẹp, đảng sùng bái. Nói Hồ Chí Minh đi làm cách mạng yêu nước không đúng. Trên báo Thanh niên số ngày 20/12/1926, phát hành tại Quảng châu, Hồ Chí Minh viết “ Cái danh từ Tổ quốc là do các chánh trị gia đặt ra để đè đầu nhơn dân, để buộc những người vô sản phải cầm vũ khí bảo vệ tài sản của địa chủ và quyền lợi của giai cấp tư sản . Thực ra, chẳng có Tổ quốc, cũng chẳng có biên giới ” .

    Tóm lại, khi tìm hiểu con người thật của Hồ Chí Minh “ tìm đường cứu nước ”, người ta sẽ thấy, không riêng gì cộng sản, mà bất cứ một thế lực nào mạnh, cả thổ phỉ, miển có thể ban cho Hồ chí Minh quyền lực lớn thi ông chạy theo phục vụ . Vì hoài bảo của ông là làm vua, làm quan để phục hận cho cha và bản thân lúc trẻ .

    Tác giả Ngục Trung Nhựt ký

    Trong “ Hồ Chí Minh tìm đường cứu nước ” (sđd, trang 193-199 ), tác giả Vy Thanh có công sưu tầm được 2 bức thư thủ bút bằng chữ Hán của Lý Thụy-Tống Văn Sơ, tức Hồ Chí Minh, viết từ nhà tù Hồng-Kông năm 1931 gởi Lâm Đức Thụ, xưng em với Lâm Đức Thụ, “ em Lý Thụy-Tống Văn Sơ cầu khẩn anh Lâm Đức Thụ tìm mọi cách giúp cho em ra khỏi trại giam ”. Anh Lâm Đức Thụ có nhận lời giúp đỡ em Lý Thụy-Tống Văn Sơ . Thụ nhờ luật sư người Anh, ông Frank Loseby, can thiệp và em Lý Thụy của ông quả nhiên được thả sau đó .

    Hồ Chí Minh sợ bi Nhà đương cuộc Anh tại Hương Cảng vì kết tội không được nên trục xuất ông ra khỏi biên cảnh để ông phải lên tàu làm công . Mà một khi đã lên tàu, thì nếu không sa vào tay của Việt Nam Quốc Dân Đảng phản động, thì cũng phải vào tay bọn đế quốc. Đàng nào thì cũng chỉ có chết mà thôi (Lời của Hồ chí Minh, Tưởng Vĩnh Kính, sđd, trg 123) .

    Hai bức thư do chính tay Lý Thụy – Tống văn Sơ, tức Nguyễn Sinh Côn, Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh viết từ nhà tù là tài liệu để so sánh với bút tự của trang Ngục Trung Nhật ký sẽ giúp ta khám phá ra đâu là sự thật vế tác giả tập thơ tù .

    Cẩn thận, chúng tôi đem hỏi một Giáo sư dạy văn chương Hán Nôm ở Đại học Văn khoa Sài gòn trước 1975 những bức thư này có phải do một người viết hay không? Ông trả lời “Tôi không biết môn giảo tự nhưng tôi nghĩ một người chỉ biết qua dạng tự cũng có thể nói ngay những bức thư này hoàn toàn không phải do một người viết” .

    Chúng tôi đem hỏi thêm một vị Phật tử tỵ nạn ở Thụy Điển. Sau khi đối chiếu bản thủ bút trang bìa Ngục Trung Nhật Ký với các bức thư của Hồ chí Minh, cũng quả quyết hoàn toàn không phài của một người viết, tức không phải của Hồ chí Minh .

    Xin mời bạn đọc so sánh các bản thủ bút dưới đây : 1 trang Ngục Trung Nhật ký của Hồ Chí Minh và 2 bức thư của Lý Thụy – Tống văn Sơ cũng chính là Hồ Chí Minh để xem có phải tất cả đều do Hồ Chí Minh viết hay không ? Nhận xét của bạn đọc sẽ trả lời ai là tác giả Ngục Trung Nhật ký ? Có phải Hồ Chí Minh không ?

    1 – Thủ bút trang cuối của Ngục Trung Nhật Ký, trích “ Mai Văn Bộ , Con đường vạn dặm của Hồ Chí Minh ”, Trẻ, Tp Hồ Chí Minh, 2007 , trang 283 :
    Nowy obraz

    2 – Trích 2 bức thư của Lý Thụy-Tống văn Sơ trong Vy Thanh (sđd, trang 193-196), gởi Lâm Đức Thụ ;

    Nowy obraz (1)

    Hồ Chí Minh vốn chuyên nghề chỉ điểm (có ăn lương), cho Nga, cho Tàu cộng, cấu kết chặt chẽ với Lâm Đức Thụ, một việt gian tay sai của Tây, để bán những người yêu nước – ông hoàn toàn không phải một chánh khách – nên con người của ông là một bóng đen dày mịt lại được phủ thêm nhiều lớp tuyên truyền gian dối của cộng sản . Quyển biên khảo “Hồ chí Minh tìm đường cứu nước? ” của Vy Thanh cũng chỉ có thể đem lại vài tia sáng lóe lên ném vào bóng đen ấy chớ vẫn chưa đủ đánh tan bớng đen để một Hồ Chí Minh thiệt hiện nguyên hình . Nhưng phải nhìn nhận công trình biên khảo của tác giả Vy Thanh rất quí, một đóng góp rất giá trị giúp ngưòi đọc nhìn lại một giai đoạn lịch sử đất nước với cái nhìn của Sự thật Thật .

    Nowy obraz

    Rất tiếc đọc xong quyển sách, ngưòi đọc cố gắng nhớ lại sự việc tác giả ghi lại trong sách để thấy “ Hồ Chí Minh tìm đướng cứu nước ”, lại không thấy mà chỉ thấy “ Hồ chí Minh tìm đường bán nước ” .

    Vậy ngày nay đảng cộng sản Hà Nội dạy đảng viên “ Sống, làm việc và học tập theo gương Hồ Chí Minh ” là tìm đường bán nước thì có gì sai quấy đâu .

    (Paris, cuối Hè 2015)

    © Nguyễn văn Trần

    © Đàn Chim Việt

  14. Thủ bút của Hồ Chí Minh xin chỉ thị của Stalin về Cải Cách Ruộng Đất

    Một Góc Trời

    0zzzzab2277

    HCM và đảng Cộng Sản luôn luôn hô hoán là họ thực hiện cuộc kháng chiến “thần thánh” chống Pháp 1946-1954 để giành độc lập cho VN. Nhưng thử hỏi điều này có đúng hay không, khi vào năm 1952 tức là chỉ 6 năm sau ngày toàn quốc kháng chiến 19/12/1946, và 2 năm trước ngày chiến thắng Điện Biên Phủ, thì HCM đã gửi thư xin chỉ thị của Stalin về Cải Cách Ruộng Đất. Thế là thế nào?
    Bức thư thứ 1

    zzzzzzzx

    Tạm dịch:
    Đồng chí Stalin thân mến:

    Xin gửi ngài chương trình cải cách ruộng đất của Đảng lao động Việt Nam. Chương trình hành động được lập bởi chính tôi dưới sự giúp đỡ của đồng chí Lưu Shao Shi, Văn Sha San. Đề nghị ngài xem xét và cho chỉ dẫn.
    Gửi lời chào cộng sản.

    Hồ Chí Minh, 31/10/1952

    Bức thư thứ 2

    zzzzzzzzzx2
    Tạm dịch:
    Đồng chí Stalin kính mến

    Tôi đã bắt đầu soạn thảo đề án cải cách ruộng đất của Đảng Lao Động Việt Nam, và sẽ giới thiệu với đồng chí trong thời gian tới.
    Tôi gửi tới đồng chí một số yêu cầu, và hi vọng sẽ nhận được chỉ thị của đồng chí về những vấn đề này.

    1. Cử một hoặc 2 đồng chí Liên Xô tới Việt Nam để làm quen và tìm hiểu thực trạng ở đó. Nếu như các đồng chí đó biết tiếng Pháp đủ để có thể giao tiếp với nhiều người. Từ Bắc Kinh tới chỗ chúng tôi đi đường mất khoảng 10 ngày.2. Chúng tôi muốn gửi tới Liên Xô 50-100 du học sinh, với trình độ văn hóa lớp 9 ở Việt Nam, trong số họ có người là Đảng viên và cũng có người chưa phải là Đảng viên, độ tuổi của họ từ 17-22. Đồng chí nhất trí về vấn đề này chứ.3. Chúng tôi muốn nhận từ phía các đồng chí 10 tấn thuốc kí ninh ( thuốc sốt rét-thanhnam) cho quân đội và dân thường, có nghĩa rằng 5 tấn trong nửa năm4. Chúng tôi cần những loại vũ khí sau:

    (a) Pháo cao xạ 37 li cho 4 trung đoàn, tất cả là 144 khẩu và 10 cơ số đạn cho mỗi khẩu pháo.

    (b) Pháo trận địa 76,2 li cho 2 trung đoàn, tất cả là 72 khẩu và 10 cơ số đạn cho mỗi khẩu

    (c) 200 khẩu súng phòng không 12,7 li và 10 cơ số đạn cho mỗi khẩu
    Sau khi nhận chỉ thị của đồng chí về những vấn đề trên, tôi dự định vào ngày mùng 8 hoặc là mùng 9 tháng 11 sẽ rời khỏi Moscow.

    Gửi tới đồng chí lời chào cộng sản và lời chúc túc đẹp nhất
    Hồ Chí Minh

    30-10-1952
    đã kí
    Nguồn: Cục lưu trữ quốc gia Nga:

    http://www.rusarchives.ru/evants/exh…tnam1/22.shtml
    (http://tudovis.com/vis_forums/reply.php?topic_id=9219&post_id=57841&quote=1)

    nguồn

  15. Từ toàn quốc kháng chiến tới Điện Biên Phủ

    Tình hình sau thế chiến

    Ngày 9-3-1945 Nhật đảo chính pháp tại Đông Dương, Đại sứ Nhật yết kiến nhà vua và tuyên bố trao trả độc lập cho Việt Nam . Bảo Đại bèn tuyên bố độc lập ngày 10-3-1945 và gia nhập khối Đại Đông Á, nhà vua ra tuyên ngôn độc lập ngày 11-3-1945. Ông mời Giáo sư Trần Trọng Kim làm Thủ Tướng thành lập nội các ngày 7-4-1945, lấy bài Tiếng Gọi Thanh Niên của Lưu Hữu Phước làm quốc ca, lấy cờ vàng quẻ ly gồm hai vạch liền và một gạch gẫy ở giữa làm quốc kỳ.

    Chính phủ Trần Trọng Kim

    Chính phủ Trần Trọng Kim

    Ngày 15-8-1945 Nhật đầu hàng Đồng minh, Thủ Tướng Trần Trọng Kim xin từ chức ngày 7-8 vì bất lực, chính phủ không có quân đội. Khi ấy tình hình trong nước rất xáo xộn, Việt Minh tổng khởi nghĩa cướp chính quyền 19-8, ngày 22-8 họ gửi điện văn vào Huế yêu cầu Bảo Đại thoái vị, họ đã cướp được chính quyền. Các vị triều thần như Thủ Tướng, Tổng Lý Ngự Tiền Văn Phòng cũng khuyên nhà vua thoái vị, vì quá sợ hãi Việt Minh đang bành trướng mạnh lại có vũ trang. Tháng 6 năm 1945 Hồ chí Minh đã được Mỹ thả dù xuống chiến khu cung cấp cho VM nhiều súng đủ các loại để chống Nhật. Chính phủ Trần Trọng Kim không có quân đội nên dù muốn chống lại phong trào cũng khó. Ngày 25-8-1945, nhà vua đọc bản tuyên ngôn thoái vị trước cửa Ngọ môn lâu

    Ngày 2-9 Hồ chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập.

    De Gaulle quyết định tái chiếm Đông dương để đòi lại chủ quyền những nhà máy, đồn điền, cửa hàng, mỏ than… mà Pháp cho là của họ. Tháng 9-1945 Thực dân thành lập Quân đoàn viễn chinh để tái chiếm Đông Dương, họ gặp sự kháng cự mạnh của người Việt và cường độ chiến tranh ngày một gia tăng có thể chia làm 3 giai đoạn (1)

    -Chuẩn bị tái chiếm (1945-1946) – Theo dõi tình hình, móc nối Pháp kiều và những thành phần thân Pháp.

    -Tái chiếm (1946-1949) – Pháp trở lại Đông Dương sau khi Nhật đầu hàng , đưa quân chiếm lại toàn cõi Đông Dương
    -Chiến tranh khốc liệt- (1949-1954) Sau khi chiếm trọn vẹn nước Tầu, Trung Cộng huấn luyện và viện trợ cho Việt Minh nhiều vũ khí, đạn dược khiến tình thế ngày càng bất lợi cho Pháp, họ yếu thế và sa lầy.
    Hội nghị Postdam tháng 7-1945 quyết định giao cho quân đội Trung Hoa giải giới Nhật phía trên vĩ tuyến 16, phía dưới thuộc quân Anh

    Diễn tiến quân sự

    Pháp theo chân quân Anh giải giới Nhật, tới Tân Sơn Nhất với 300 người lính đầu tiên ngày 11-9, sau họ đưa thêm nhiều quân sang chiếm các tỉnh dưới vĩ tuyến 16. Từ giữa tháng 10-1945 tới đầu tháng 2-1946 quân Pháp đã bình định được miền nam, chiếm lại được Vĩnh Long, Cần Thơ, Tây Ninh, Nha Trang, Ban Mê Thuột, Long Xuyên, Châu Đốc, Cà Mâu….

    Trong thời gian này họ đã đưa vào 50,000 quân tham chiến, 7,425 xe cộ đủ loại , 21,000 tấn quân nhu, tổng kết Pháp có 630 người chết và mất tích, 1,037 người bị thương (2)

    Đầu năm 1946, Pháp bắt đầu thương thuyết với chính phủ Tưởng Giới Thạch tại Trùng Khánh để được thay thế quân Tầu giải giới Nhật. Sau đó thương thuyết với Việt Minh

    Đầu tháng 3-1946 Tướng Leclerc cho đổ bộ lên Hải Phòng , ngày 5-3 quân Pháp và Tầu đã chạm súng nhưng sau đó hai bên đã dàn xếp. Việt Minh ký với Pháp Hiệp định sơ bộ thuận cho Pháp vào BV. Họ mượn tay Pháp để đuổi Tầu về nước (3) và củng cố nội bộ, tiêu diệt các đảng phái quốc gia không CS. Theo tờ tường trình của Tướng Leclerc gửi chính phủ Pháp ngày 27-3-1946 thì tính tới cuối năm, VM đã thủ tiêu, giết hại tổng cộng khoảng 50,000 người

    Ngày 18-3 Leclerc đưa quân từ Hải phòng lên Hà nội, ngày 27-3 Leclerc thảo tờ trình Chính phủ cho biết 6 tháng qua (9/1945 – 2/1946) có 600 lính Pháp bị giết, 1,000 bị thương. Từ giữa 1945 Việt Minh được Mỹ thả dù cho nhiều súng đạn để chống Nhật. Tháng 9 sau khi đầu hàng, nhiều người Nhật giúp súng đạn và huấn luyện VM chống lại Pháp vì họ cũng là da vàng. Quốc dân đảng Trung hoa không ưa Pháp và bán súng cho VM nên họ cũng thành lập được một lực lượng vũ trang đáng kể.

    Theo nhận xét của Henri Navarre, cựu Tư lệnh Đông dương cuộc chiến này bị đối lập tại Pháp chống lại cho là cuộc chiến ô nhục, nhơ bẩn mà chính phủ không dám đặt tên cho nó. Những đợt tiếp viện, tăng quân yếu kém được thực hiện lén lút (4)

    Theo tường trình của Leclerc VM được giúp đỡ nhiều, trước đó họ cũng đã được người Trung hoa và các phái bộ Mỹ giúp về quân sự, chính trị. Họ tuyên truyền mạnh và cả hăm dọa nên số người theo rất đông

    Từ đầu tháng 4, quân Pháp lần lượt thay thế quân Tầu tại miền Bắc phía trên vĩ tuyến 16. Từ tháng 4 tới tháng 6-1946 Pháp thương thuyết với VM để giải quyết tình hình bằng ngoại giao, chính trị. Hội nghị Đà Lạt ngày 17-4 không có kết quả, Hồ chí Minh cùng Tướng Salan sang Pháp theo lời mời của chính phủ Pháp từ 22-6 tới 27-7-1946. Ngày 6-7 khai mạc Hội nghị Fontainebleau , hai bên căng thẳng, phái đoàn VN bỏ ra về phản đối Pháp không thực lòng

    Hồ Chí Minh ở lại ký bản tạm ước với Bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại để hoãn binh. Tình hình căng thẳng giữa Việt Minh và Pháp, nhân vụ nổ súng giữa các đơn vị VM và Pháp tại Hải phòng ngày 20-11-1946, thực dân chiếm luôn thành phố này hôm 23-11.

    Leclerc từ chức Tư lệnh từ tháng 7-1946 nhưng vì tình hình căng thẳng, chính phủ Pháp cử ông sang Đông Dương điều tra ngày 18-12 nhưng đã quá trễ, hôm sau ngày 19-12-1946 chiến tranh toàn quốc bùng nổ khi VM tấn công quân Pháp tại Hà nội. Tình hình hai bên đã quá căng thẳng từ nhiều ngày trước.

    Quân Pháp tại phía trên vĩ tuyến 16 có hơn một sư đoàn không đủ để bình định hết miền Bắc mà chỉ đủ giữ các thành phố. Trong mấy tháng đầu năm 1947 Pháp giải tỏa quốc lộ 5 nối Hà Nội Hải Phòng.

    Chiếm Phủ lý 6-1-1947. Từ Đà Nẵng tiến ra Huế giải tỏa đơn vị Pháp bị vây tại đây, chiếm Quảng Trị ngày 18-2, chiếm Đồng Hới đầu tháng 3. Chiếm nhanh chóng mỏ than Hòn Gay. Chiếm các miền Thái thuộc Sơn La Lai Châu.

    Đầu tháng 4-1947 tân Cao ủy Bollaert vận động thương thuyết với VM nhưng bất thành và chuyển sang tiếp xúc với Bảo Đại lập chính phủ Quốc gia chống Cộng Sản từ tháng 9-1947. Cựu hoàng ở Hồng kông hướng các hoạt động chính trị về quốc nội.

    Tháng 10-1947 Pháp mở cuộc tổng tấn công qui mô lên miền rừng núi Việt Bắc để tiêu diệt chủ lực quân VM tại đây. Họ huy động 20 tiểu đoàn bộ binh và nhẩy dù có chiến xa yểm trợ. Trung Tướng Salan chỉ huy tổng quát chiến dịch: cánh thứ nhất từ Hà nội chiếm Sơn Tây, Hưng Hóa, Phủ Đoan Hùng, cánh thứ hai dọc theo quốc lộ 4 chiếm Thất Khê, Đông Khê. Giữa hai gọng kìm này là những cánh quân nhẩy dù chiếm Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang ngày 13-10-1947, trong cuộc nhẩy dù xuống Bắc Cạn, Pháp đã bắt hụt Hồ chí Minh. Ngoài ra còn những nỗ lực phụ chiếm Tây Bắc Việt Bắc, chiếm Phong Thổ, Chapa. Cuộc hành quân không tiêu diệt được chủ lực quân VM vì họ né tránh để bảo toàn lực lượng. Sau đó Pháp rút về đồng bằng chỉ để lại quân tại vùng Đông Bắc Việt Bắc tại khu tam giác Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn.

    Sang năm 1948, Pháp mở rộng vùng chiếm đóng tại Quảng Yên, Kiến An, Hà Đông, Ninh Bình, chiếm đóng Sơn Tây và Việt Trì. Phía VM mở rộng hoạt động du kích, quấy phá đồn bót, phục kích công voa.

    Pháp kiểm soát được Nam việt nhưng vùng Đồng Tháp Mười, U Minh Thượng, U Minh Hạ, Tây bắc Thủ Đầu Một… vẫn thuộc VM. Ngày 1-3- 1948 VM phục kích tiêu diệt đoàn công voa Pháp, tiêu diệt 70 xe gần La Ngà trên Quốc lộ 20. Các tỉnh Quảng Nam , Quảng Ngãi và Bình Định ở trong tay VM vì Pháp không đủ quân số để chiếm toàn thể lãnh thổ
    Sang năm 1949 tháng 7 và tháng 8 Pháp mở các cuộc hành quân chiếm Bắc Ninh, Vĩnh Yên, Phúc Yên; tháng 9 chiếm Phát Diệm và Bùi Chu.

    Năm 1950 tình hình biến chuyển mau lẹ, gió đã đổi chiều khi Trung Cộng chiếm trọn vẹn nước Tầu. VM được họ tiếp tế vũ khí đạn dược ồ ạt và huấn luyện tại biên giới. Trung Cộng giúp VM thành lập hai sư đoàn đầu tiên 304, 308 bằng kết hợp các trung đoàn chủ lực tại BV và Trung Việt. VM đã đủ mạnh và bước sang giai đoạn cầm cự , tháng 9-1950 họ mở chiến dịch chiến dịch Lê Hồng Phong vào vùng Tam Đảo, uy hiếp Lào Kay, và mở chiến dịch Hoàng văn Thụ chiếm Đông Khê trên quốc lộ 4 khiến Cao Bằng bị cô lập.

    Trước tình hình biến chuyển, chính phủ Pháp cử Tướng Revers, Tổng tham mưu trưởng quân đội Pháp sang Đông Dương nghiên cứu tình hình. Revers đề nghị với chính phủ cho rút khỏi Cao Bằng và được chấp thuận, đáng lẽ thực hiện sớm cuối năm 1949 nhưng vì để trễ tới cuối năm 1950 nên đã bị thảm bại.

    Tháng 10-1950 VM đánh thắng trận lớn đầu tiên mà họ gọi là chiến thắng Cao Bắc Lạng. Tại trận này quân Pháp rút bỏ Cao Bằng bị chận đánh tan nát

    Giữa tháng 10-1950 Pháp bỏ Lào Kay rút về Lai châu, bỏ Hòa bình.

    Hạ tuần tháng 12-1950 Chính phủ Pháp cử Đại tướng De Lattre de Tassigny sang giữ chức Cao ủy kiêm Tổng Tư lệnh quân đội viễn chinh. Ngay từ giai đoạn này quân số VM đông hơn Pháp tại miền Bắc Pháp có khoảng 23 tiểu đoàn, VM có khoảng 70 tiểu đoàn, miền Trung Pháp 14, VM 18…Tháng 3-1951 De Lattre về Pháp xin tăng viện và được chấp thuận 11tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn thiết giáp, 4 tiểu đoàn pháo binh, 2 tiểu đoàn công binh, 1 tiểu đoàn truyền tin (5)

    De Lattre là người có quyết định táo bạo tại trận Vĩnh Yên khi cho lệnh ném bom napalm ngay giữa mặt trận, ông quyết định nhanh chóng đã thắng lớn trong trận này. Đầu năm 1952 De Lattre về Pháp chết vì bệnh ung thư.

    Tháng 1-1951 VM đã thành lập được 5 sư đoàn bộ binh (304, 308, 312, 316, 320) và một sư đoàn pháo binh (351), họ có 81 tiểu đoàn bộ binh 12 tiểu đoàn pháo binh, 8 tiểu đoàn công binh.

    Các trận đánh quan trọng và các chiến dịch lớn gồm:

    Trận Cao Bắc Lạng

    Từ giữa và cuối 1949, Trung Cộng thắng thế tại Hoa lục, tình hình biến chuyển, chính phủ Pháp cử Tướng Revers sang Đông dương nghiên cứu tình hình, ông đề nghị rút bỏ Cao bằng . Nếu thực hiện cuối 1949 thì thuận lợi nhưng vì để tới gần cuối 1950 mới cho rút nên đã thảm bại. Trận đánh kéo dài từ từ 29-9 tới 7-10-1950, toàn bộ quân Pháp triệt thoái gồm 7,000 người. Đại tá Charton chỉ huy đạo quân rút khỏi Cao Bằng về Đông Khê. Đại tá Lepage chỉ huy một lực lượng khoảng 5 tiểu đoàn để tái chiếm Đông Khê. Cả hai cánh quân bị một lực lượng lớn của VM khoảng 30 tiểu đoàn chận đánh tan nát.

    Tổng cộng Pháp mất hai liên đoàn phải bỏ Lạng Sơn. Trận đánh rung động cả nước Pháp, thiệt hại trên 7,000 người vừa bị giết vừa mất tích, mất 13 khẩu đại bác 105 ly, 125 súng cối, gần 500 xe cộ, 3 chi đội thiết giáp, 940 đại liên, 1,200 trung liên và trên 800 súng trường . Số vũ khí này VM có thể trang bị cho 5 trung đoàn bộ binh (6)

    Trận Vĩnh Yên từ 13-1-1951 tới 17-1-1951

    Sau trận thảm bại Cao Bắc Lạng, ngày 7-12-1950 chính phủ Pháp hốt hoảng cử Tướng De Lattre De Tassigny sang Đông Dương vào lúc này người Pháp đang mât tinh thần. Ông vừa làm Cao ủy vừa giữ chức Tư lệnh quân viễn chinh, lần đầu tiên một Tướng lãnh chỉ huy cả dân sự và quân sự. De Lattre tới Đông Dương ngày 17-12-1950 để cứu vãn tình thế và cũng để rửa hận cho trận thảm bại nhục nhã Cao -Bắc- Lạng cách đây hai tháng.

    Tân Tư lệnh dám quyết định những việc mà các Tư lệnh trước không ai dám làm như tập trung xử dụng những người dân sự Pháp để đảm nhiệm canh phòng thay thế cho người lính để ra trận (7)

    Sau trận đại thắng Cao Bằng mới đây, Việt Minh thừa thắng sông lên đem binh về “lấy nốt Thăng Long”. Ngày 10-1-1951 Võ Nguyên Giáp đưa hai sư đoàn 308, 312 chuẩn bị một cuộc tấn công lớn tại Vĩnh Yên gần Hà Nội và Châu thổ Bắc Việt. Việt Minh giải truyền đơn ní “Bác Hồ về Hà Nội ăn Tết”, tình báo Pháp đã biết VM tập trung quân ở đâu và mục tiêu chọn vào ngày nào.

    Lần đầu tiên trong chiến tranh Đông Dương Pháp được đánh một trận diện địa chuẩn bị trước. Võ Nguyên Giáp được cố vấn Tầu dậy cho lối đánh biển người, đẩy thanh niên vào tử địa. Trận đánh diễn ra tại một vùng đồi trọc chiều ngang 12 km, dọc 10 km, phía Bắc tỉnh lỵ Vĩnh Yên. VM tập trung quân tại vùng núi Tam Đảo, lực lượng VM gồm 2 sư đoàn 308, 312; Pháp gồm hai liên đoàn: liên đoàn bắc phi của Đại tá Edon, liên đoàn 3 của Đại tá Vanuxem đóng tại các đồn phía Tây để ngăn chận VM.

    Ngày 13-1 Giáp cho tấn công chia cắt hai liên đoàn Pháp, Võ Nguyên Giáp gần hoàn thành lời hứa, Hà Nội mất tinh thần, bao chí Paris đăng tin Hà Nội sắp mất.

    De Lattre bèn đích thân chỉ huy trận đánh. Ngày 14-1-1951 ông bay tới Vĩnh Yên, cho trưng dụng tất cả máy bay chở quân trừ bị từ miền nam VN ra Bắc, và cho tiếp tế từ Hà nội, từ miền Bắc. De Lattre lệnh cho hai lữ đoàn chiếm các ngọn đồi phía bắc Vĩnh Yên. Ngày 16-1 lúc 15 giờ Pháp chiếm lại đồi 101, 210, lúc 17 giờ sư đoàn 308 tập trung tấn công mạnh, lần đầu tiên quân Pháp đối diện với trận đánh biển người.

    VM xung phong hết lớp này đến lớp khác cùng với yểm trợ của súng cối, hai bên đã trộn trấu. De Lattre có một quyết định thật táo bạo, ông huy động hàng trăm máy bay oanh tạc cơ và vận tải ném bom napalm, đây là trận oanh tạc lớn nhất trong chiến tranh Đông Dương, lửa cháy ngút trời giết hại đối phương và hy sinh cả binh sĩ của Pháp.

    Với lối đánh táo bạo, dũng mãnh, De Lattre đánh cho Võ Nguyên Giáp và các cố vấn Tầu tả tơi, VM bị thiệt hại nặng, 6,000 bị giết, bị thương 8,000, 500 bị bắt làm tù binh, Pháp tổn thất một nửa.

    VM trộn trấu tưởng là Pháp sẽ không dám pháo hay oanh tạc nhưng không ngờ De Lattre táo bạo, thí quân cả hai bên. De Lattre tung vào trận địa các đơn vị trừ bị trưa 17-1 và cho ném bom napalm đã đẩu lui những đợt tấn công cuối cùng của VM.

    De Lattre đã cứu được Vĩnh yên và Hà Nội, ông cho tổ chức duyệt binh để trấn an dân chúng. Sau đó Pháp củng cố phòng thủ chờ VM. De Lattre gấp rút cải tổ quân đội và thành lập nhiều liên đoàn lưu động tại BV để phòng thủ chống VM. (8)

    Võ Nguyện Giáp thất bại nặng ở Vĩnh Yên, ngày 23-1 ông ta nhận sai lầm, cũng lên án các chiến binh thiếu can đảm, hèn nhát và ca ngợi dân công đã mang tới mặt trận 5,000 tấn thực phẩm, súng đạn (9)

    Trận Mạo khê.

    Tháng 3-1951 Tướng Giáp cho mở trận tấn công định chiếm vùng núi Đông triều ở Tây Bắc Hải Phòng. Pháp có ba căn cứ bảo vệ khu quân sự Mạo Khê: Một đồn trên đồi mỏ Mạo Khê, một đơn vị chiên xa đóng tại khu phố Mạo Khê, một đại đội đóng tại nhà thờ Mạo Khê, tổng cộng 400 người.

    Phía VM gồm sư đoàn 308, 312, 316, đêm 23-3 VM tấn công hạ 7 đồn dọc theo tỉnh lộ 18. Đêm 26-3 De Lattre tiên đoán VM sẽ tấn công đồn Mạo Khê, ông huy động gửi 3 tiểu đoàn tới, cho hải đoàn xung phong vào sông Bạch đằng yểm trợ hải pháo. Một giờ khuya 27-3 VM pháo kích, tấn công đồn mỏ Mạo Khê, sau nhiều đợt tấn công nhưng binh sĩ trong đồn chống cự và đẩy lui các đợt xung phong.

    Mười giờ sáng VM tấn công đồn và cả khu nhà thờ Mạo khê, quân Pháp có máy bay và hải quân yểm trợ nhưng VM rất đông, một máy bay Hellcat bị bắn hạ. Tối 27-3, VM mở cuộc tấn công chót vào đồn và khu phố Mạo khê, phá hủy ba chiến xa Pháp. Sáu giờ sáng VM rút lui và không chiếm được mục tiêu.

    VM có 500 người bị giết, Pháp khoảng 200, đây là trận thứ hai của VM đánh vào đồng bằng, De Lattre coi đây là chiến thắng quan trọng.

    De Lattre sang Đông dương từ đầu năm 1951 tới nay được gần nửa năm đã phải đương đầu với hai trận lớn của VM. Sau trận thảm bại Cao Bắc Lạng, quân Pháp mất tinh thần nhưng De Lattre với chiến thuật táo bạo, dũng mãnh đã chuyển bại thành thắng nâng cao tinh thần chiến đấu quân sĩ. Ông cho lập phòng tuyến bảo vệ châu thổ BV, chuyển bớt các đơn vị đóng đồn không cần thiết thành những đơn vị lưu động.

    Trận Bờ sông Đáy. (10)

    Trận qui mô được Tướng Giáp chuẩn bị chu đáo phía VM đưa vào ba sư đoàn 304, 308 và 320, Pháp cũng huy động lực lượng lớn gồm: 3 liên đoàn lưu động, một liên đoàn thiết giáp, hai tiểu đoàn nhẩy dù, 3 hải đoàn, 4 tiểu đoàn pháo, 30 chiến đấu cơ. Một trận đánh kéo dài 26 ngày trên một chiến tuyến dài 80km gồm nhiều giai doạn. Sư đoàn 308 đánh Ninh Bình, sư đoàn 304 đánh Phủ lý, sư đoàn 320 đánh vào giáo khu Phát Diệm phía nam Ninh Bình.

    Gồm có 4 trận:

    1- Ninh Bình (29-5 tới 30-5)
    2- Yên Cư Hạ (4-6 tới 18-6)
    3- Phát Diệm (8-6 tới 9-6)
    4- Đông bắc Phủ lý (20-6 tới 23-6)

    Tại trận Ninh bình VM để lại 350 xác chết , 153 súng trường, 40 tiểu liên, 12 trung liên, 2 đại liên, 9 súng cối. Phía người Pháp chết và bị thương 1,000 người, nhiều đại bác bị phá hủy, các tầu chiến bị hư hại, con trai De Lattre tử trận tại đây.

    Trận Yên Cư Hạ từ 4-6 tới 18-6-1951, đây là một đồn kiên cố, xây bằng bê tông, có hàng rào kẽm gai. Tại trận này VM chết 200 người, hai đại đội Pháp giữ đồn chỉ còn vài chục người sống sót.

    Trận Phát Diệm từ 8-6 tới 9-6. Sư đoàn 320 vào giáo khu Phát Diệm, uy hiếp tinh thần, phô trương lực lượng.

    Trận Đông Bắc Phủ lý từ 20-6 tới 23-6. Trận phản công qui mô của Pháp vào vùng Phủ lý, Ninh bình, VM bị thiệt hại rất nhiều.

    Qua các trận đánh thấy VM chưa thể thắng ở đồng bằng nhưng địch đã mạnh hơn trước. Hai bên tổn thất nặng. Pháp huy động nhanh các lực lượng tiếp viện hải, không quân.

    Trận Hòa Bình

    Tháng 9-1951, De Lattre chuẩn bị đánh Thanh Hóa nhưng đoàn tầu chở quân gặp bão nên phải quay về. De Lattre đổi ý cho đánh chiếm Hòa Bình, ông huy động 15 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn nhẩy dù, 2 liên đoàn thiết giáp, 7 tiểu đoàn pháo binh, 2 tiểu đoàn công binh, 2 hải đoàn xung phong . Cuộc hành quân Hòa Bình ngày 9-11-1951 gồm 3 lực lượng và chiếm tỉnh dễ dàng. VM huy động các sư đoàn 304, 308, 312 tới mặt trận.

    Đầu tháng 12 VM gây áp lực quanh Hòa Bình qua trận Tu Vũ, Xóm Phèo, họ chiếm được đồn nhưng bị thiệt hại nặng, VM phục kích đoàn tầu trên sông và bộ binh Pháp trên đường số 6, tại trận Xóm Phèo VM thiệt hại nhiều.

    Salan thay thế De Lattre cho rút khỏi Hòa Bình, giữ Hòa Bình bất lợi vì địch có cao xạ bắn chính xác những máy bay hạ cánh, phục kích đoàn tầu. Binh lính hay bị sốt rét, chiến trường rừng núi không thích hợp với Pháp. Ngày 22-2-1952 bắt đầu rút để lo bảo vệ đồng bằng, tới 24-2 cuộc triệt thoái coi như chấm dứt.

    De Lattre chuyển bại thành thắng, lên tinh thần quyết tâm đánh Hòa Bình nhưng tại rừng núi nhiều bệnh tật, Pháp thua VM tại rừng núi nhưng thắng tại đồng bằng. Lên rừng mất ưu thế không quân, binh sĩ không chịu nổi khí hậu rừng núi. Hòa Bình là một thất bại cho Pháp

    Trận Miền Thái từ 11-10-1952 tới 1-12-1952. Xứ Thái gồm Sơn La, Lai Châu. Lực lượng VM tấn công xứ Thái gồm các sư đoàn 308, 312, 316, sư đoàn pháo 351 và các đơn vị công binh. Ngày 17-10 sư đoàn 308 đánh đồn Nghĩa lộ trong đó có 700 quân Pháp, VM pháo dữ dội rồi xung phong chiếm đồn bắt nhiều tù binh. Các đồn ở miền này bị đánh, chiếm, VM làm tan rã hệ thống phòng thủ dọc sông Hồng.

    Hành quân Lorraine .

    Pháp mở cuộc hành quân Lorraine ngày 29-10-1952 nhằm tấn công các tuyến giao thông, cơ sở VM tại Việt Bắc. Trung Tướng Salan lên làm Tư lệnh thay thế De Lattre, ông giao cho Tướng Linares (Tư Lệnh BV) chỉ huy và điều động chiến dịch gồm 4 liên đoàn lưu động, 3 liên đoàn nhẩy dù, 2 tiểu đoàn bộ binh, 2 liên đoàn thiết giáp, 2 hải đoàn xung phong, 2 tiểu đoàn pháo, tổng cộng 30,000 người.

    Pháp tảo thanh một vùng rộng lớn giữa sông Hồng và sông Đáy. Bộ chỉ huy đóng tại Việt Trì. Ngày 9-11 các tiểu đoàn nhẩy dù xuống bao vây Phủ Đoan, thị trấn bỏ ngỏ, Pháp chiếm được một kho quân nhu lớn. Ngày 14-11 tới Phủ Yên Bình cách Phủ Đoan 60 km về hướng Bắc không gặp kháng cự, không gặp người dân nào. Pháp mệt mỏi phải rút, VM cho 2 trung đoàn về đối phó. Ngày 17-11 Pháp lọt ổ phục kích VM dài 4km tại thung lũng Chấn Mương từ sáng tới 4 giờ chiều, Pháp nhờ không quân yểm trợ mới thoát ra khỏi, Pháp thiệt hại gần một tiểu đoàn

    Pháo Lũy Nasan.

    Trong khi ấy, Salan cho lập pháo lũy Nasan, ông chủ trương lập những cứ điểm mạnh dựa trên các sân bay hơn là mở những cuộc hành quân phiêu lưu.

    Nasan là một thung lũng dài 2km, ngang 1km, xung quanh có 24 ngọn đồi. Một vị trí chiến lược quan trọng giữa các đường tiến quân tại miền Thái, các ngọn đồi ngăn chận đường tiến quân VM, mục đích của chiến lũy.

    1- Để đón các toán quân Pháp rút từ các đồn bị cô lập ở Tây Bắc và Đông Nam
    2- Ngăn chận VM tiến về Lai Châu
    3- Tiêu diệt chủ lực quân VM nếu họ tấn công

    Mặt trận Pháp bị chia làm hai, một ở Nasan và một ở Lai Châu. Pháo lũy Nasan thiết lập đầu tháng 11-1952, được tăng cường ngày 1-11 khi các đơn vị Thái được đưa về đây, một liên đoàn lưu động VN được chở tới bằng máy bay. Ngày 21-11 có ba tiểu đoàn nhẩy dù các pháo đội được đưa tới. Cuối tháng 11-1952 pháo lũy Nasan gồm tổng cộng 10 tiểu đoàn trong đó có lính nhẩy dù, bộ binh, các tiểu đoàn Thái. Ngoài ra còn một tiểu đoàn công binh, một tiểu đoàn pháo binh với 5 pháo đội, 2 chi đoàn thiết giáp, di chuyển khó khăn, bị hạn chế nên chỉ có 10 quân xa tiếp tế, tải thương. Đại tá nhẩy dù Gilles được giao chỉ huy mặt trận này.

    VM tấn công đêm 23-11-1952 nhưng bị đẩy lui, đêm 30 rạng 1-12 VM thật sự tấn công lớn nhưng thất bại. Đêm 1 rạng 2-12 VM mở cuộc tấn công quyết liệt suốt đêm, họ chiếm được hai điểm tựa 21bis và 22 bảo vệ sân bay. Pháo binh Pháp bắn liên tục, trận đánh kéo dài tới hôm sau. Pháp cho nhẩy dù xuống đỉnh đồi mới giải tỏa được , VM bỏ lại hơn 600 xác chết và tịch thu được nhiều súng, trận này VM bị thiệt hại nặng, sau đó VM chỉ pháo kích chứ không đánh. Tổng kết mặt trận Nasan Pháp cho biết VM bị mất 5,000 người. Trận miền Thái chấm dứt, Pháp giữ được Lai Châu, Nasan. Người Pháp cho rằng việc thiết lập pháo lũy Nasan là tốt và sau đó họ thiết lập thêm pháo lũy tại cánh đồng Chum, tại Séno, và cuối cùng tại Điện Biên Phủ đưa tới thất bại.

    Điện Biên Phủ.

    Tháng 5-1953, chính phủ Pháp cử Đại Tướng Henri Navarre sang làm Tư lệnh Đông Dương thay Trung tướng Salan để cứu vãn tình hình quân sự tại đây. Ông cho lập một chiến lũy, một căn cứ lớn tại ĐBP.

    Theo Navarre (11) mục đích cho đóng quân tại đây để ngăn chận VM tiến đánh Thượng Lào và tạo mặt trận lớn để địch không đánh châu thổ BV. ĐBP là một khu lòng chảo có núi đồi bao quanh, là một cánh đồng dài 12 km rộng 9 km. Những đỉnh núi cao cách phi trường từ 10 tới 12 km, sẽ thiết lập đồn lũy quanh đó. Khoảng cách này ngoài tầm pháo của địch.

    Chiến lũy ĐBP được xây dựng theo kiểu pháo lũy Nasan năm trước, Pháp tin tưởng cũng sẽ chống lại VM hữu hiệu và gây thiệt hại nặng cho đối phương. Navarre cho lập chiến lũy ngoài những mục tiêu kể trên còn để dụ VM lại giết một mẻ lớn làm suy yếu đối phương vì họ nay đã đông, mạnh hơn trước (12). ĐBP cách châu thổ BV 200 km, cách biên giới Tầu 300 km, cách Hà Nội 300 km.

    Ngày 13-3-1954 trận đánh khởi đầu, Pháp có 12 tiểu đoàn, trong khi chiến trận diễn ra, Pháp cho nhẩy dù thêm 5 tiểu đoàn, tổng cộng toàn bộ vào khoảng 15,000 người. Phía VM tổng cộng có 5 sư đoàn chính qui vào khoảng 50,000 người, chưa kể 25,000 dân công tiếp tế . VM có 600 xe vận tải chở đạn dược tiếp liệu từ Trung Cộng sang ĐBP.

    ĐBP chia làm ba khu, phía Bắc gồm hai căn cứ tại hai ngọn đồi, khu Trung ương gồm 5 trung tâm kháng cự và khu Isabelle ở phía Nam .

    Hai tiền đồn phía bắc bị thất thủ vào ngày 13 và 14-3 sau một ngày giao chiến, hỏa lực địch quá mạnh, sau ngày 26-3 chỉ tiếp tế được bằng thả dù, số phận ĐBP đã được định đoạt. Tổng thống Eisenhower và các cố vấn đã nghiên cứu kế hoạch cứu nguy ĐBP bằng oanh tạc ồ ạt, Tòa Bạch ốc đã thảo luận, dự định trong suốt tháng 4-1954 nhưng kế hoạch bất thành.

    Trận đánh kéo dài từ ngày 13-3 tới ngày 7-5 thì ĐBP thất thủ, 11 ngàn quân Pháp bị bắt làm tù binh, trên 2,000 bị giết chưa kể trên 2,000 mất tích, VM thiệt hại khoảng 10,000 người.

    Pháp thảm bại vì lực lượng địch đông gấp 4 lần, hỏa lực phòng không và pháo binh của VM do Trung Cộng cung cấp rất mạnh. Ngoài ra không quân Pháp thiếu khả năng yểm trợ cho một trận đánh quá lớn. Navarre chưa có kinh nghiệm về Đông Dương đã sai lầm cho lựa chọn trận đánh tại một địa điểm xa xôi chỉ tiếp tế được bằng máy bay mà thực ra không quân Pháp quá yếu, toàn chiến trường Đông Dương họ chỉ có chưa tới 200 máy bay.

    ĐBP là trận đánh lớn nhất và quan trọng nhất trong cuộc chiến Đông Dương lần thứ nhất đồng thời cũng là một trong những trận đánh quan trọng trên thế giới.

    Tình hình chính trị

    Việt Minh tổng khởi nghĩa cướp chính quyền 19-8. Ngày 25-8-1945, vua Bảo Đại thoái vị, ông được Hồ chí Minh mời làm cố vấn. Tháng 9-1946 ông được đưa qua Trùng Khánh để tiếp xúc với Tưởng Giới Thạch, sau đó Cựu hoàng bỏ trốn qua Hồng Kông.

    Khi đã chiếm được được các thành phố tại Trung châu Bắc Việt, Trung Việt, các tỉnh cao nguyên, Nam Bộ. Pháp bằt đầu chiêu dụ dân chúng, đón tiếp người hồi cư, trả lương cho công chức. Dân tản cư kéo về ngày một đông hơn, dân quê có, dân tỉnh hồi cư cũng có, họ không tin tưởng vào cuộc kháng chiến gian khổ và đẫm máu của Việt Minh.

    Người Pháp tính tới việc dùng chiến tranh tâm lý, chính trị để tranh thủ nhân tâm, họ cần một người ôn hòa, thân Pháp, được toàn quốc biết tới, giúp họ để chiêu dụ người dân. Cựu hoàng Bảo Đại là người đủ điều kiện và có thẩm quyền nhất, ông đã là vua, được nhân dân kính trọng, có tinh thần quốc gia và công nhận quyền lợi của người Pháp. Họ nghĩ tới cựu hoàng Bảo Đại và tìm cách mời ông về nước. Báo Thời sự ở Hà Nội đưa ý kiến thỉnh cựu hoàng hồi hương lãnh đạo phong trào Quốc gia chống Cộng và dành độc lập.

    Nhiều cuộc biểu tình khá lớn để ủng hộ và yêu cầu cựu hoàng về nước cứu vãn thời cuộc như tại Huế ngày 12-8-1947, ở Hà nội ngày 1-9-1947 và cả Sài Gòn (13). Ngài đã là vua nay đứng đầu nước là lẽ tự nhiên , năm 1945 Ngài thoái vị để tránh đổ máu để bây giờ đất nước bị chiến tranh tàn phá.

    Giải pháp Bảo Đại được nêu ra từ đầu 1947 nhưng hai năm sau mới thực hiện được.

    Nhiều nhà cách mạng lưu vong taị Hồng Kông đề nghị cựu hoàng về gánh vác việc quốc gia, người Pháp cũng liên lạc với ông đề nghị tương tự nhưng ông vẫn dè dặt. Bảo Đại tuyên bố với phái đoàn quốc nội ra mời Ngài về nước, ông nói tôi vì hạnh phúc của dân mà thoái vị, nay nếu nhân dân lại muốn tôi giúp nước và điều đình với Pháp tôi sẽ sẵn sàng nhận để đòi hỏi độc lập thống nhất cho Việt Nam.

    Ngày 6-12-1947 Bảo Đại nhận lời mời của Cao uỷ Bollaert và gặp ông tại vịnh Hạ Long để trao đổi nhận xét tình thế rồi lại về Hương Cảng. Ngày 19-12-1947 một phái đoàn gồm ông Nguyễn Văn Xuân, Trần Văn Hữu sang Hương Cảng thúc dục Cựu hoàng về lãnh trọng trách, ông chấp nhận và nói còn phải sang Âu châu vận động.

    Kế hoạch thành tựu, ngày mồng 5-6-1948 trên một chiến hạm tại vịnh Hạ Long, Bollaert nhân danh chính phủ Pháp long trọng tuyên bố nước Việt Nam độc lập trong Liên hiệp Pháp. Cựu hoàng Bảo Đại xác nhận chính thức việc điều đình với Pháp trên căn bản đó và công nhận một chính phủ lâm thời do Thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân điều khiển. (14)
    Trong giai đoạn đầu chính phủ Quốc gia chưa có quyền, chỉ có tính cách tượng trưng, lo giúp dân hồi cư, mở trạm cứu thương, trường học, đáng kể là lập toà án, các đoàn cảnh vệ, trường Võ bị Huế, nơi huấn luyện sĩ quan Quốc Gia Việt Nam đầu tiên.

    Ngày 8-3-1949 tại điện Elysée, Cựu hoàng và Tổng thống Pháp Vincent Aurilole trao đổi văn thư thừa nhận Việt Nam Độc Lập trong Liên Hiệp Pháp. Ngày 14-6-1949 Quốc Trưởng Bảo Đại hiệu triệu quốc dân tại toà Đô sảnh Sài Gòn sau khi miền Nam sáp nhập vào lãnh thổ Quốc gia, Cựu Hoàng kêu gọi nhân dân hãy đồng tâm nhất trí. Người dân cho rằng Pháp trả được phần nào hay phần nấy, nay Ngài đã về y như nhà có nóc.

    Chính phủ Bảo Đại chấp chính từ tháng 7-1949 đến đầu năm 1950, kế đó là các chính phủ Nguyễn Phan Long 1950, Trần Văn Hữu 1950-1951. Chế độ không có hiến pháp mà chỉ có hai đạo dụ ngày 1-7-1949 về tổ chức công quyền. Quốc trưởng có quyền lập pháp, ban hành đạo dụ, Thủ tướng được ủy nhiệm do Quốc trưởng bổ nhiệm.

    Từ 1947, cách đây hai năm, sau khi Pháp mở rộng các khu vực chiếm đóng tại các thành phố miền Bắc và Trung bộ, người dân trong vùng Việt Minh đã trở về các thành phố ngày một đông. Cửa hàng cửa hiệu đã đầy hàng hóa nhập cảng, Pháp tạo không khí sinh hoạt ổn định và lấy lòng dân. Nay Cựu hoàng về nước trị vì đã gây được niềm tin tưởng nơi người dân y như nhà có nóc mà núp, có cột mà dựa. Từ đấy dân chúng hồi cư tấp nập về thành thị, trong tháng 7-1949 mỗi ngày có vài nghìn người, riêng ngày 30-10 tại Bắc Ninh, Hà Nội, Hà Đông, Sơn Tây số người trở về lên tới 35,000 người. Quân Pháp lan tràn kiểm soát vùng duyên hải đông dân như Bùi Chu, Phát Diệm ngày 16-10-1949. Công chức kéo về rất nhiều, chính giới Pháp Việt đã cho giải pháp Bảo Đại đem lại thắng lợi trước cảnh hồi cư đông đúc tại nhiều tỉnh miền Bắc, người dân bỏ già Hồ về với Cựu hoàng.

    Diện tích vùng thuộc Pháp tại Trung châu tăng lên gấp ba, số ruộng cầy cấy tăng lên nhiều. Gạo xuất cảng từ 59,000 tấn năm 1945 tăng lên 379,000 tấn năm 1950, nhân công dồi dào, an ninh bảo đảm hơn, các ngành sản xuất than đá, vải sợi, xi măng, đường… đều tiến bộ. Trị giá nhập cảng năm 1946 là 16 tỷ đồng quan Pháp đến năm 1949 tăng lên 73 tỷ đồng. Hàng hoá tràn ngập các cửa tiệm, chợ búa, các ngành sản xuất cũng tiến hẳn lên, lương bổng công tư chức khá cao. Cựu hoàng về nước đem theo nhiều thuận lợi, vùng chiếm đóng nay là vùng Quốc Gia mở rộng dễ dàng, Việt Minh chỉ đột kích, khủng bố chưa có trận đánh lớn. (15)

    Từ 1949, chính phủ Quốc Gia Việt Nam đã được một số khá đông các nước công nhận và đã bắt đầu bước vào chính trường ngoại giao, đã được gia nhập trên 30 cơ quan quốc tế với tư cách hội viên: Ủy hội kinh tế Viễn đông Ecafe, Tổ chức Y tế quốc tế, Lao động quốc tế, Lương nông Quốc tế, Văn hóa Quốc tế Unesco… Hoa kỳ đã đặt Phái bộ viện trợ quân sự từ ngày 6-3-1950, viện trợ thương mại từ tháng 7-1950, đã ký kết hiệp ước tương trợ Việt Mỹ.

    Quân đội Quốc gia được thành lập và phát triển nhanh, năm 1950 mới có 5 tiểu đoàn, năm 1951 tăng lên 26 tiểu đoàn, năm 1953 lên 6 sư đoàn gồm 167,000 binh sĩ và 3,500 sĩ quan, lương bổng do chính phủ trả tượng trưng một ít còn lại do Mỹ đài thọ. Cấp chỉ huy được đào tạo tại các trường võ bị, trường Võ bị Liên quân Đà Lạt khai giảng 5-11-1950, trường Quân y thành lập 7-8-1950, trường Không quân thành lập 24-6-1951, trường Hải quân từ 1-1-1952. Các tổ chức quân sự khác cũng được thành lập như Toà án quân sự ngày 22-11-1951, Bộ Tổng Tham Mưu ngày 12-4-1952. Nhiều luật lệ quân sự được ban hành : Qui chế Quân đội Dụ số 1 ngày 30-1-1051, Bộ Quân luật Dụ số 8 ngày 14-4-51, Chế độ Quân dịch Dụ số 29 ngày 29-6-53.

    Tổ chức Tư pháp và các Toà án Việt nam do Dụ số 4 ngày 18-10-1949, Qui chế các thẩm phán, do các Sắc lệnh ngày 1-12-1950, Toà án Hành chánh được thiết lập từ 5-1-1950.

    Hành chánh địa phương: Các Hội đồng đô thành, thành phố và thị xã được tổ chức từ 1952.

    Các tổ chức chuyên môn hành chánh như Viện thống kê ngày 10-12-1949, Việt Nam thống tấn xã ngày 22-1-1951, Quốc gia kiến ốc cục 15-6-1951, Sổ số kiến thiết Quốc gia 16-8-1951, Sở Du lịch Quốc gia 5-6-1951, Công ty hàng không 30-10-1951, Trường Quốc Gia Hành chánh 7-4-1952.

    Giáo dục văn hoá: Trường Đại Học Văn Khoa, Sở Bảo tồn cổ tích ngày 4-1-1950, Trường Cao đẳng sư phạm 16-1-1950.
    Kinh tế xã hội. Bộ Luật Lao động ban hành ngày 10-7-1952, Bộ luật cải cách điền địa ngày 4-6-53.

    Qui chế nghiệp đoàn 16-11-1952; Qui chế Công chức Quốc gia Dụ số 9 ngày 14-7-1950; Qui chế các Hiệp hội Dụ số 10 ngày 6-8-1950; Qui chế Thể thao thanh niên Sắc lệnh 53 ngày 17-6-1950; Qui chế Hàng hải Dụ số 6 ngày 19-4-1951; Bộ luật thuế trực thu, gián thu Dụ số 4 ngày 13-4-1953….

    Từ tháng 7-1949 đến tháng 7-1954 Quốc gia Việt Nam đã có 8 chính phủ và 5 vị Thủ tướng .

    Chính phủ Bảo Đại Từ 1-7-1949 đến 22-1-1950, hơn 6 tháng

    Chính phủ Nguyễn Phan Long từ 22-1-1950 đến 6-5-1950, hơn 3 tháng

    Chính phủ Trần Văn Hữu từ 6-5-1950 đến 21-2-1951, 9 tháng rưỡi.

    Chính phủ Trần Văn Hữu từ 21-2-1951 tới 7-3-1952, 12 tháng rưỡi.

    Chính phủ Trần Văn Hữu 7-3-1952 tới 25-6-1952, 3 tháng18 ngày

    Chính phủ Nguyễn Văn Tâm từ 25-6-1952 tới 8-1-1953, 6 tháng rưỡi

    Chính phủ Nguyễn Văn Tâm từ 8-1-1953 tới 11-1-1954, 12 tháng 3 ngày

    Chính phủ Bửu Lộc từ 11-1-1954 tới 7-7-1954, gần 6 tháng. (16)

    Chính phủ Ngô Đình Diệm chấp chính từ ngày song thất 7-7-1954 đúng hai tháng sau ngày Điện Biên Phủ thất thủ, hai tuần trước Hiệp định Genève ký kết ngày 20-7, sau đó chính phủ Quốc gia rút vào Nam

    Nhận xét và kết luận.

    Việt minh cướp chính quyền năm 1945 và tiêu diệt các đảng phái thành phần yêu nước không Cộng Sản. Ngay từ đầu họ đã gây đổ máu giữa lòng dân tộc trong khi cần đoàn kết để đánh thắng thực dân.

    Tướng Navarre , cựu Tư lệnh Đông Dương đã nhận xét về VM như sau : VM hoạt động mạnh tại Bắc phần, họ chờ Nhật thua trận để cướp chính quyền. Họ khéo léo được Mỹ giúp đỡ và dựa vào chính phủ lâm thời Pháp. Họ lấy cảm tình Mỹ, giả vờ là phong trào Quốc gia chống Nhật, chống thực dân. VM lấy lòng chính phủ Pháp mới (chính phủ thân đồng minh), họ lừa gạt chỗ này, bịp bợm chỗ nọ. Họ chống Nhật cho có hình thức để lấy lòng Mỹ (17)

    Thật vậy VM tuyên truyền mạnh nên phong trào phát triển nhanh, đồng thời với tuyên truyền họ cũng kết hợp bạo lực cách mạng để ép buộc người ta theo. Như đã nói trên, cuộc tổng nổi dậy của VM cũng đã khiến mấy vạn người phải bị giết oan uổng trong đó có tình nghi, đảng phái Quốc gia không CS, những người thân Pháp. Phong trào VM không phải chỉ gồm toàn là người yêu nước như Tây phương nghĩ mà trong đó nhiều người theo VM vì sợ bị hãm hại.

    Trước ngày Trung Cộng chiếm trọn nước Tầu tháng 10-1949, VM còn yếu. Súng đạn của họ một phần do Mỹ giúp để chống Nhật, phần do quân Nhật khi đầu hàng trao lại, họ mua súng lậu của Tầu, nhưng VM cũng đã tổ chức thành nhiều đơn vị cấp tiểu đoàn và trung đoàn. Giai đoạn này họ tránh đụng chạm với Pháp và kiểm soát được vùng thôn quê.

    Người Pháp mặc dù kiểm soát được nhiều thành phố,tỉnh lỵ nhưng thiếu quân số nên không bình định được hết các vùng của VM tại miền Bắc. Khi Mao Trạch Đông đại thắng tại chiến trường Hoa lục thì gió đã đổi chiều với thực dân Pháp. Việt Minh được Tầu giúp vũ khí, huấn luyện tại biên giới đã trở thành một lực lượng quân sự chính qui mạnh đủ khả năng tấn công đồng bằng Bắc bộ. Trận thắng lớn của VM tại Cao Bắc Lạng cuối năm 1951 mở đầu cho thất bại của thực dân Pháp tại Đông Dương.

    De Lattre, Tư lệnh Đông dương từ cuối 1950 đã đánh bại được VM nhiều trận trong năm 1951 khiến quân Pháp lên tinh thần. Sang năm 1952 Tướng Salan lên thay De Lattre, VM ngày càng mạnh hơn, quân lưu động ngày một đông hơn Pháp. Giữa năm 1953, Tướng Navarre được cử sang thay Salan khi tình thế ngày càng bất lợi. Pháp quá mệt mỏi vì cuộc chiến sa lầy, trong khi VM được Trung cộng viện trợ quân sự ngày càng dồi dào, quân Pháp tại Đông dương không được tăng viện nhiều, đa số chi phí dựa vào viện trợ Mỹ.

    Điện Biên Phủ thất thủ ngày 7-5-1954 sau gần hai tháng cầm cự. Một phần vì sai lầm của Navarre , phần vì Không quân Pháp quá yếu. Toàn chiến trường Đông dương họ chỉ có khoảng 200 máy bay trong khi thập niên 60, 70 tại miền nam VN, không quân Mỹ có nhiều ngàn máy bay, chưa kể không quân VNCH. Hội nghị Genève tiếp theo ngay sau ĐBP đưa tới chia đôi đất nước ngày 20-7-1954.

    Trong thời kháng chiến này người dân vùng thôn quê, thượng du vô cùng gian khổ, ban ngày quân Pháp hành quân bắn phá, cướp bóc hãm hiếp. Ban đêm VM về thu thuế, bắt bớ, thủ tiêu tình nghi phản động. Nhiều người trốn lên tỉnh để thoát khỏi cảnh một cổ hai chòng.

    Giaỉ pháp Bảo Đại mang lại nhiều thành quả tốt đẹp, người dân từ các vùng lửa đạn đã trốn về thành, họ không tin tưởng cuộc kháng chiến đầy máu lửa của VM. Quốc trưởng Bảo Đại đã xây dựng được nền móng cho chính phủ Quốc gia Việt Nam , tiền thân của Việt Nam Cộng Hòa sau này. Người Pháp ngoan cố theo đuổi chính sách thuộc địa lỗi thời không những bị người bản xứ chống đối mà cả Hoa Kỳ và chính phủ Tưởng Giới Thạch đều không muốn Pháp trở lại Đông Dương. Đối với người Việt quốc gia, quân Pháp là đồng minh chống lại VM Cộng Sản, người Quốc gia tuy hợp tác với Pháp nhưng chỉ chờ thắng được VM để đòi Pháp trao trả độc lập. Thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta năm 1945 nhưng họ cũng chiến đấu chống Cộng Sản bảo vệ chúng ta, xương máu của 75,500 chiến sĩ quân đội Liên hiệp Pháp đã giữ được một nửa nước VN tự do.

    Cuộc chiến đẫm máu tám năm khói lửa do VM khởi xướng cuối năm 1946, chấm dứt giữa năm 1954 đã khiến khoảng 300,000 thanh niên tử trận, 500,000 bị thương, thường dân có 150,000 người thiệt mạng. Quân đội Liên hiệp Pháp có 75,500 người tử trận, Quân đội QGVN có 419,000 người gồm cả chết, bị thương và bị bắt (18). Miền Bắc đã trở thành bãi chiến trường, nhiều thành phố, tỉnh lỵ trung du, đồng bằng bị tàn phá.

    Mấy năm sau miền nam cũng biến thành bãi chiến trường tàn khốc trong một cuộc chiến khác dài và đẫm máu hơn.

    Trọng Đạt

    © Đàn Chim Việt

    (trích trong Điện Biên Phủ, Kế Hoạch Cứu Nguy, Nguyên Nhân Thất Thủ, in 2014)

    ————————————————————–

    Chú thích

    (1) Quân Sử 4, Quân lực VNCH Trong Giai Đoạn Thành Hình, Bộ TTM VNCH trang 11, 12
    (2) Sách kể trên trang 95, 96
    (3) Henri Navarre, Agonie de l’Indochine trang 15 nói chúng ta công nhận VN là một nước độc lập, có Quốc hội, Quân đội, Tài chính nằm trong Liên hiệp Pháp, đổi lại chúng ta được thay 200,000 quân Tầu bằng 15,000 quân Pháp phía trên vĩ tuyến 16
    (4) Sách kể trên trang 17
    (5) Quân sử 4 trang 46, 47, 48
    (6) Quân sử 4 trang 124, Street Without Joy trang 32, 33
    Trong bài Bataille de la RC4 (wikipedia) , Việt minh có 670 người bị giết, bị thương, Pháp 2,000 ngưòi tử thương, 3,000 bị bắt làm tù binh
    (7) Street Without Joy trang 36
    (8) Quân sử 125-128, Street Without Joy trang 37- 40
    (9) Street Without Joy trang 40
    (10) Quân sử 4 trang 133-144
    (11) Henri Navarre, Agonie de l’Indochine , trang 188-200
    (12) Bernard Fall, Hell In A Very Small Place , Preface trang ix
    (13) Đoàn Thêm, Những Ngày Chưa Quên, Quyển thượng, 1939-1954, trang 144
    (14) Sách kể trên trang 158, 160, 161
    (15) Sách kể trên, trang 173,174
    (16) Sách kể trên trang 206-210
    (17) Henri Navarre, Agonie de l’Indochine trang 13
    (18) Wikipedia, Yahoo.fr: Guerre d’Indochine

  16. Ai là Hồ?

    Không phải về sau này nghi vấn thật giả về Hồ Chí Minh mới xuất hiện. Bài viết sau đây của tác giả Neal Stanford được đăng tải từ năm 1954, đã đưa ra một số giả thuyết về nhân vật này. Danlambao gửi đến các bạn đọc trong thôn bản dịch của anh Trần Quốc Việt.  
    Neal Stanford * Trần Quốc Việt (Danlambao) dịch – Không chỉ là sự suy đoán vu vơ, tức những tin đồn nhà lãnh đạo phiến loạn Đông Dương, Hồ Chí Minh, đã chết. Những người giữ những chức vụ trách nhiệm và thạo tin ở Washington nghĩ có thể nhà lãnh đạo Việt Minh tài giỏi được đào tạo ở Mạc Tư Khoa này đã bị thay thế bởi một người khác giống hệt ông thay cho ông tại những vùng xa xôi mù sương ở Đông Dương.
    Nhiều sự việc xảy ra dường như củng cố giả thuyết như thế – mặc dù người ta đồng ý chúng hầu như không chứng minh được giả thuyết ấy. Thật ra một lý do mà phái thuộc quan điểm chính thức ở Washington muốn người Đông Dương phiến loạn này được mời đến Geneva khi cuộc hội đàm ở đấy đến lúc phải bàn về Đông Dương là thật sự để xem Hồ có phải là Hồ. Họ không nói ông ta không phải là Hồ. Nhưng họ không chắc chắn ông ta là Hồ.
    Trước tiên, người ta công nhận Hồ Chí Minh là quyền lực và lực lượng trên toàn cõi Đông Dương-ngay cả trong những vùng những người phiến loạn không chiếm đóng. Ông là người đầu tiên tổ chức phong trào độc lập dân tộc sau Đệ Nhất Thế Chiến và nhiều người Đông Dương vẫn coi ông là nhà lãnh đạo chống thực dân. Ông trở thành điểm quy tụ cho tất cả tinh thần chống Pháp nhờ lòng tận tụy phi thường của ông với công cuộc phá tan ách cai trị của người Pháp.
    (Nếu có cuộc trưng cầu dân ý ở Đông Dương vào ngày hôm nay) thì Washington sẽ không thích nhưng chẳng ngạc nhiên khi Hồ Chí Minh giành được sự ủng hộ của đa số nhân dân. Đối với nhiều người Đông Dương ông chống thực dân hơn thân cộng – thật ra chính vì những người bản xứ ý thức về thực dân hơn tỉnh thức trước cộng sản cho nên họ coi Hồ là nhà lãnh đạo quốc gia thay vì là nhà cách mạng cộng sản. Cho nên chính vì Hồ có tiếng tăm và uy tín lớn đến mức những người phiến loạn thấy cần thiết phải tạo ra một Hồ khác nếu Hồ thật biến mất. Cộng sản cần một Hồ, người thật hay, rất có thể, người giả, như một biểu tượng, vừa để đứng đầu phong trào của họ và là điểm quy tụ cho những người Đông Dương.
    Thứ hai, Hồ Chí Minh, trong thời gian dài, đã không xuất hiện cả trên tin tức và trên ảnh tin tức. Có những tin đồn ông đang ở Bắc Kinh, ông trở lại Mạc Tư Khoa, ông đang ẩn náu tại Vân Nam. Ông không biến mất khỏi tin tức, nhưng ông tan biến vào miền quê Châu Á xa xôi và suốt trong nhiều tháng trời chỉ còn là một cái tên. Rồi mùa xuân hay mùa đông vừa qua này Hồ – hay người nào đấy Việt Minh gọi là Hồ – xuất hiện ở Bắc Kỳ và nhân danh chế độ phiến loạn bắt đầu ra những tuyên bố và ra mặt nhiều lần. Sự biến mất của nhà lãnh đạo Việt Minh, sự vắng mặt lâu của ông, và sự xuất hiện trở lại bất ngờ của ông, tự chúng sẽ không chứng minh được giả thuyết rằng đây là Hồ giả người mà đã trở lại như là biểu tượng chống thực dân Pháp và nhà lãnh đạo cộng sản đầy mưu mẹo. Nhưng người ta còn nhận thấy những điều khác.
    Điều thú vị và có thể quan trọng là những hình mới đây của Hồ – những hình chụp ông kể từ khi ông xuất hiện trở lại – không giống hệt lắm những hình chụp trước khi ông biến mất. Nghiên cứu những hình hiện nay và vừa qua cho thấy những sự khác nhau về diện mạo mà sẽ thật khó giải thích khi chỉ mới có nhiều tháng trôi qua. Ít nhất dưới mắt của những người đã quen biết Hồ trong quá khứ và bây giờ xem xét những hình hiện nay của ông, họ cũng có sự hoài nghi thật sự là người đã biến mất chính là người xuất hiện trở lại trên báo chí và hình ảnh. Về Hồ mới này là ai – nếu đúng là một Hồ mới – ta chỉ có thể suy đoán. Có thể biết đâu là anh hay em của Hồ – nhưng không có tài liệu nào nói ông có anh hay em rất giống ông. Có thể biết đâu là một người giả có vẻ mặt khá giống với người thật để đánh lừa hầu hết mọi người và như thế duy trì huyền thoại Hồ Chí Minh.
    Đã có sự gia tăng bạo lực và khủng bố trong vùng Việt Minh chiếm đóng mà chứng tỏ Tướng Võ Nguyên Giáp đã trở thành quyền lực thực sự trong những người phiến loạn. Ông và các đồng nghiệp của ông đàn áp đối lập, ngay cả khuyết điểm nhỏ nhặt nhất, một cách tàn bạo mà chứng tỏ một chế độ quân phiệt mà về mức độ nào đấy không hợp với tính cách của Hồ Chí Minh.
    Cho đến bây giờ không viên chức Mỹ nào có bằng chứng nhà lãnh đạo phiến loạn, Hồ, không phải là Hồ, hay bằng chứng ông hoặc đã chết, bị thủ tiêu, hay bị thay thế. Nhưng họ thật sự tin họ có đủ chứng cứ gián tiếp để nêu lên một nghi ngờ hợp lý về lý lịch của Hồ hiện nay. Có lẽ nếu có thể đồng ý rằng Hồ Chí Minh tham gia vào cuộc hội đàm Geneva với tư cách đại biểu của Việt Minh thì người ta có thể kiểm tra xem có đúng Hồ hiện nay là Hồ thật. Còn bây giờ ta chỉ có thể nói có sự hoài nghi-mơ hồ, không chắc chắn – những vẫn là sự hoài nghi về lý lịch của ông.
    Washington, 28/4/1954.
    Nguồn:
    Báo The Christian Science Monitor số ra ngày 28 tháng Tư năm 1954, trang 18. Tựa đề nguyên tác “Who is Ho?”

    Trần Quốc Việt

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s