Tự Bạch – Tội Ác Cộng Sản VN

Dem-giua-ban-ngay-Vu-Thu-Hien-196x300

Vô đây xemĐêm Giữa Ban Ngày

Tôi tặng cuốn sách này cho :

 Những người con của nước Việt
 đã cống hiến đời mình
 cho một nước Việt Nam độc lập, tự do và dân chủ.
 Hương hồn cha tôi,
 và những người cộng sản
 đã chết bởi tay các đồng chí của họ.
 Mẹ tôi,
 người dạy tôi sống không cúi đầu.
 Vợ tôi,
 người cùng tôi chia sẻ vô vàn khốn khó
 trong những năm tháng đen tối của đời tôi.
 Các bạn tù của tôi, cộng sản cũng như không cộng sản.
 Các thế hệ sau tôi,
 hi vọng họ sẽ không bao giờ phải sống như tôi đã sống,
 dưới bất cứ gông cùm chuyên chế nào.
 Ba mươi năm đã trôi qua kể từ khi ở miền Bắc Việt Nam nổ ra một vụ án lớn, cho đến nay vẫn còn là chuyện khó hiểu đối với nhiều người.

Trong nhân dân, vụ án này có tên nôm na là vụ “xét lại chống Ðảng”. Tên chính thức của nó ít ai được biết, kể cả các đảng viên cộng sản, là “Vụ án Tổ chức chống Ðảng, chống Nhà nước ta, đi theo chủ nghĩa xét lại hiện đại và làm tình báo cho nước ngoài”(1). Ðây là tấn bi kịch lớn nhất trong hàng ngũ những người cộng sản ở Việt Nam, từ nhà cách mạng lão thành suốt đời đấu tranh cho độc lập dân tộc cho tới đứa trẻ vừa lọt lòng mẹ trong nền độc lập đã giành được(2).

Trong vụ án này Ðảng(3) cầm quyền bất chấp luật pháp do chính mình đặt ra đã xuống tay hạ ngục, giam cầm và lưu đầy nhiều năm không xét xử những người có tư tưởng bất đồng. Nằm trong phạm vi trấn áp của vụ án do Ban tổ chức Trung ương Ðảng khởi xướng còn phải kể rất nhiều cán bộ, đảng viên có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp với những người bị bắt. Ngoài ra, một số dân thường cũng bị Ðảng nhân tiện chụp cho cái mũ xét lại hiện đại để xử lý. Tất tật bị nhét chung vào một rọ, bị Ðảng trừng phạt bằng nhiều cách khác nhau, với mức độ khác nhau.

Bị bắt năm 1967, những người tù không có án, còn gọi là tù “xử lý nội bộ”, tới năm 1973 mới lần lượt được thả.

Chưa hết. Sau sáu năm giam cầm họ còn phải chịu đựng những năm lưu đầy biệt xứ và quản thúc tại gia.

Tưởng chừng vụ án đến đấy là kết thúc, nhưng không phải.

Người cuối cùng trong số tù nhân được Ðảng ban cho ân sủng “xử lý nội bộ” mãi tới tận tháng Chín năm 1976 mới được ra khỏi cổng nhà tù.

Người tù ấy là kẻ viết những dòng này.Ðáng ngạc nhiên là sau nhiều năm im lặng đáng sợ, nói theo cách của nguyên tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, những ban lãnh đạo Ðảng kế tiếp nhau tính từ thời tổng bí thư Lê Duẩn trở đi, vẫn khăng khăng khẳng định đảng của họ đúng trong cách xử lý vụ án, rằng những kẻ vi phạm luật pháp (của Ðảng và chỉ của Ðảng mà thôi) xứng đáng chịu những án hình lẽ ra phải nặng hơn những án hình mà Ðảng nhân từ đã ban cho.

Trong chín năm tù tôi chỉ làm được một việc có ích, cho bản thân và cho những người mà tôi thương yêu, là giã từ được ảo ảnh về một chủ nghĩa cộng sản được tô vẽ như là thiên đường dưới thế.

Sự nhìn lại đời mình cũng như sự quan sát số phận của đồng bào trong những nhà tù tôi đi qua đã mang lại cho tôi cái nhìn tỉnh táo không riêng đối với những hành động phi nhân của những vua chúa mới, mà cả một thể chế xã hội trong đó con người dù muốn dù không đều đánh mất mình.

Cuốn sách mà bạn đang cầm trong tay là một phần những quan sát của tôi, một phần những suy nghĩ của tôi, về cái xã hội khó hiểu mà số mệnh đã an bài cho tôi sống trong lòng nó.

Xã hội này là khó hiểu bởi vì, căn cứ những gì tôi biết, nó khởi sinh từ những ý muốn tốt đẹp, bắt đầu bởi những con người lương thiện. Cũng căn cứ những gì tôi biết, tôi dám đoan chắc rằng trước kia, khi mới nhập vào dòng chảy không bao giờ ngưng của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, họ không hề ấp ủ những mưu đồ xấu xa.

Trong sự biến dạng của những người cộng sản, trong sự tha hóa của họ, cái gì là tác nhân – chủ thuyết mà họ theo đã nhào nặn con người họ thành ra như thế hay chính họ tự biến đổi để trở lại nguyên hình, cho đúng với bản thể do trời đất tạo ra, hay là cả hai cái đồng thời, tôi không rõ.

Cuốn sách này chỉ là một chút ánh sáng soi rọi vào một vụ án cụ thể nhưng mang tính đại diện cho một thời kỳ cai trị của Ðảng cộng sản, một mảnh gương con phản ánh một số mặt ít người biết đến của xã hội Việt Nam.

Là cái nhìn từ phía người trong cuộc, mọi hồi ức đều mang tính chủ quan. Nhưng, cũng lại với tư cách hồi ức, nó vẫn là bằng chứng đáng được chú ý, cho dù chỉ là bằng chứng từ một phía. Tôi cố gắng, trong chừng mực có thể, đưa ra bằng chứng của tôi về vụ án nói trên bằng ngòi bút công bằng.

Trong cuốn sách này chỉ có sự thật. Hình thức văn học mà tác giả sử dụng trong cuốn sách chỉ vừa đủ cho bức tranh sự kiện không thành quá tẻ nhạt. Văn học đích thực không có chỗ nơi đây.

Vì mục đích cuốn sách giới hạn trong một vụ án, cho nên nó không thể là cuốn sách nói về chế độ lao tù ở Việt Nam. Ðể nói về nhà tù Việt Nam cần một cuốn sách khác. Mà đó là một đề tài đáng được chú ý, chí ít cũng là một sự quan tâm không thể thiếu đối với số phận đồng loại trong một nửa thế kỷ.

Quá khứ sẽ chẳng có ích cho ai bởi sự hồi tưởng đơn thuần. Quá khứ chỉ có ích khi con người lấy nó làm cái để mà suy ngẫm, rút ra từ trong lòng những sự kiện của nó bài học cho tương lai.

Cuốn sách này không phải là lời lên án một xã hội nay mai sẽ trôi vào quá khứ.

Tôi không dám đặt cho mình mục đích buộc tội. Chỉ vì lịch sử thường có sự lặp lại, cho nên tôi muốn gióng lên hồi chuông cảnh báo.

Tôi cũng không thể đóng vai người buộc tội được bởi trong xã hội mà tôi sống tôi không đơn thuần là nạn nhân. Về mặt nào đó, trong chừng mực nào đó, tôi còn là thủ phạm.

Tôi viết vì tôi không thể không nói lên tiếng nói của mình. Tôi quan niệm kẻ không dám nói “không” trước tội ác là kẻ đồng lõa với tội ác.

Và sau hết, theo cách biểu đạt của nhà văn Nga Prishvine, tôi chỉ là “một cái lá trong hàng triệu cái lá của cây đời, và nói về một cái lá thì cũng là nói về những cái lá khác”. Số phận tôi được nói đến trong cuốn sách này cũng là số phận của nhiều người cùng thế hệ.

Xin hãy coi cuốn sách này là lời sám hối trước đồng bào của cha tôi nay đã không còn. Nó được thực hiện theo lời trăn trối của Người.

Cuốn sách còn là một vòng hoa muộn, một nén hương thêm đặt lên mồ những nạn nhân xấu số của một thời kỳ đen tối, những con người bất hạnh đã không chờ được đến ngày cuộc đời lập lại lẽ công bằng cho họ.

(1) Mãi tới năm 1995 tôi mới được biết tên gọi chính thức của vụ án nhờ bức thư của ông Nguyễn Trung Thành, nguyên vụ trưởng Vụ bảo vệ Ðảng thời kỳ đó, đề ngày 3.2.1995, gửi Bộ Chính trị Ðảng cộng sản Việt Nam, trong đó ông Thành yêu cầu giải oan cho hơn 30 đồng chí bị bắt và bị xử lý. Tính riêng số người bị bắt không thôi đã vượt quá con số do ông Thành đưa ra. Có lẽ ông chỉ nói tới những người là đảng viên.

(2) “Có thể nói, sau những sai lầm, oan trái rộng rãi trong Cải cách ruộng đất và Chỉnh đốn tổ chức (1956), thì đây là vụ án oan sai lớn nhất trong lịch sử Ðảng ta, xét về quy mô, tính chất. Và, có thể nói không ngoa, đây là vụ án oan sai lớn nhất trong hàng ngũ những người yêu nước Việt Nam của thế kỷ XX” (trích thư của ô. Lê Hồng Hà, nguyên Chánh Văn phòng, Vụ trưởng Vụ tổng hợp Bộ Nội vụ, trong thời gian xảy ra vụ án, gửi cho Ban chấp hành Trung ương Ðảng cộng sản Việt Nam khóa VII, đề ngày 18/7/1995, về vụ “nhóm xét lại chống Ðảng”).

(3) Trong các tài liệu chính thức ở Việt Nam từ Ðảng viết hoa được dùng để chỉ Ðảng cộng sản Việt Nam, với ý nghĩa tôn sùng. Trong cuốn sách này nó cũng được viết hoa như vậy cho tiện, cho vắn tắt, chứ không hàm nghĩa đó.

Vô đây đọc toàn tập :
http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237n4nqntn31n343tq83a3q3m3237nvn
___________________

Bài Đọc Thêm
Sau 30 năm tị nạn csVN
Chiến tranh nam bác Mỹ
Ghi Chú : Việt Nam – Trung Cộng
Hiểm Họa Xâm Lăng – Ngô Đình
Quốc Ca – Cờ Vàng, Cờ Đỏ
Ngày Quốc Hận – 30.4.1975
30 câu nói về Cộng Sản
Hồ Chí Minh là tên Diệt Chủng thế kỷ 20
Hòa bình của nấm mồ – TT Thiệu

3 thoughts on “Tự Bạch – Tội Ác Cộng Sản VN

  1. TRUNG CỘNG MUỐN XÓA SỔ VIETNAM trên bản đồ thế giới
    Nguyễn Vĩnh Long Hồ

    SÁCH LƯỢC CỦA MAO TRẠCH ĐÔNG DÙNG NGƯỜI VIỆT GIẾT NGƯỜI VIỆT:

    Ngay từ thời CHIẾN TRANH VIỆT NAM, Mao Trạch Đông ngoài việc tranh giành uy thế lãnh đạo trong khối ĐỆ TAM QTCS với Liên Xô, TC cung cấp, yểm trợ các loại chiến cụ, quân trang, quân dụng to lớn cho CSVN với hình thức bán chịu lên tới con số không lồ 20 tỷ USD (thời giá lúc bấy giờ) và điều động 327.000 QĐNDTQ tới Bắc Việt, chỉ làm nhiệm vụ “giữ nhà” để Hà Nội rảnh tay dồn hết các đơn vị CSBV vào xâm lược MNVN. Ý đồ bẩn thỉu và thâm độc của Mao và bọn Trung Nam Hải đã triệt để lợi dụng sự ngây thơ, khờ dại của Hồ Chí Minh và Đảng CSVN trong quyết tâm “ĐÁNH MỸ ĐẾN NGƯỜI VIỆT NAM CUỐI CÙNG” và “DÙNG NGƯỜI VIỆT GIẾT NGƯỜI VIỆT” (Dỉ Việt chế Việt). Tên Việt Gian Hồ Chí Minh và cái ĐCSVN chết tiệt đã xóa sạch nguyên cả thế hệ thanh thiếu niên Việt Nam yêu nước đã bị HCM triệt để lợi dụng để phục vụ cho tham vọng BÀNH TRƯỚNG BÁ QUYỀN của Trung Cộng.

    Ý đồ của Mao Trạch Đông là muốn Hồ Chí Minh dùng chiến tranh du kích, “TRƯỜNG KỲ KHÁNG CHIẾN” để kéo dài cuộc chiến tranh “NỒI DA XÁO THỊT” cho đến khi Việt Nam kiệt quệ hoàn toàn, chiến tranh càng kéo dài, càng có lợi cho Trung Cộng, từ đó dễ bề thôn tính VN sau nầy để làm ban đạp, bành trướng xuống vùng Đông Nam Á Châu, nuốt cũng Hoàng Sa trước, vói tay xuống quần đảo Trường Sa của VN sau nầy.

    Kết quả thê thảm của cuộc chiến tranh “CỐT NHỤC TƯƠNG TÀN” do HỒ CHÍ MINH VÀ ĐCSVN lãnh đạo gây ra. Ngày 16 tháng 6 năm 1997, Hà Nội tổng kết cuộc chiến tranh kéo dài 30 năm theo đúng ý đồ của Mao & ĐCSTQ và Thông Tấn Xã Nhà nước CSVN công bố như sau:

    • 3.000.000 người VN thiệt mạng ( thực tế, con số nầy trên 4.000.000 người chết).
    • 4.400.000 người VN tàn phế bởi chiến tranh.
    • 2.000.000 người nhiễm chất độc hóa học..
    • 10 năm sau năm 1975, có gần 5.000.000 trẻ em dị dạng vì hậu quả chiến tranh.

    Những con số thương vong to lớn nầy, tự nó đã vạch ra sự thật về sự tuyên truyền khoác lác về kỳ tích chiến thắng ba đế quốc sừng sỏ Nhật, Pháp, Mỹ do HCM & ĐCSVN lãnh đạo.

    SÁCH LƯỢC CỦA BỌN LÃNH ĐẠO BẮC KINH DIỆT CHỦNG DÂN TỘC VN NGAY TRÊN ĐẤT VIỆT NAM:

    Sách lược diệt chủng dân tộc Việt Nam của Tập Cận Bình và bọn lãnh đạo Bắc Kinh còn ghê ghớm, tàn độc hơn nhiều và sẽ gây hậu quả khủng khiếp cho nhiều thế hệ kế tiếp bằng cách DIỆT CHỦNG trước, ĐỒNG HÓA sau và bước cuối cùng là xóa tên nước Việt Nam trên bản đồ thế giới. Đây là một cuộc xâm lăng thầm lặng, không khói súng, không cần dùng đến quân đội, xe tăng, đại pháo mà bằng cách đầu độc dân VN qua những hóa chất và thực phẩm độc hại.

    Nay, dân Việt Nam chúng ta đang đứng trước một ĐẠI HỌA là hàng hóa do TC sản xuất chứa đầy chất độc hóa học tràn ngập thị trường VN, đang đe dọa hủy diệt sinh lực dân tộc ta, biến nước VN thành thị trường tiêu thụ hàng hóa phế thải do TC sản xuất bị thế giới tẩy chay.

    ĐIỂM MẶT NHỮNG THỰC PHẨM CỰC ĐỘC ĐÃ PHÁT HIỆN ĐƯỢC:

    • Qua kiểm định, cơ quan chức năng đã phát hiện 26 tấn khoai tây có nguồn gốc từ TC có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật cao gấp 16 lần cho phép. Trước đó, ngày 10/6/2013, lực lượng chức năng tỉnh Lâm Đồng đã kiểm tra và phát hiện tại cơ sở kinh doanh của bà Nguyễn thị Nguyệt (phường 12, TP Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng) có 52 tấn khoai tây khả nghi. Theo lời bà Nguyệt khai báo, số khoai tây được bà mua từ Công Ty Vân Linh (Lào Cai), có dư lượng hoạt chất Chlorpyrifos (thuốc bảo vệ thực vật).

    • Thời gian gần đây, chính quyền địa phương đã phát hiện gạo, bún, bánh phở chứa chất cadmium vượt quá tiêu chuẩn ấn định. Số gạo, bún, bánh phở nầy do tỉnh Hồ Nam và 2 nhà máy tại Đông Quan, thành phố Châu Giang, tỉnh Quảng Đông sản xuất. Chất cadmium là một hóa chất độc hại có khả năng gây ung thư tuyến tiền liệt, gây ung thư phổi, gây ảnh hưởng nặng nề lên xương, hệ hô hấp, tăng nguy cơ gây dị dạng thai nhi.

    • Vào tháng 5/2012, cơ quan chức năng phát hiện tai lợn giả, khô mực giả, bánh tráng giả bán trên thị trường. Vài khách hàng mua vài tai lợn, nhưng khi sử dụng thì phát hiện có mùi khó chịu. Qua sự kiểm tra của cơ quan chức năng, tai lợn có mùi lạ, được làm từ gelatin và natri oleate. Hóa chất oleate đã bị cấm sử dụng trong ngành thực phẩm.

    • Gần đây, cũng phát hiện chất phụ gia “HƯƠNG LIỆU THỊT BÒ” có thể biến thịt heo thành thịt bò. Giá bán mỗi gói vào khoảng 130.000 đồng. Để tạo được thịt bò từ 1kg thịt heo, sẽ cần đến 2,5g chất phụ gia nầy. Thịt heo tẩm ướp gia vị nầy trong 30 phút, thịt heo chuyển sang màu nâu sẫm. Hầm khoảng 1 tiếng sẽ được loại thịt bò, ăn cũng khó nhận ra. Ngoài chế biến thịt heo thành thịt bò, còn có công nghệ chế thịt lợn thành thịt cừu. Món thịt chuột sau khi trải qua các công đoạn chặt, tẩm ướp và chiên lên đã trở thành thịt chim bồ câu.

    • Một số thịt vịt giả thịt cừu bị nghi ngờ sử dụng một lượng hóa chất thuốc nhuộm và chất kết dính độc hại. Đồng thời, những đối tượng này còn dùng mỡ cừu nhập cảng từ New Zealand để chế tạo ra hương vị thịt cừu và cho hóa chất làm dai hơn, lâu nhừ hơn trong quá trình nấu lẩu. Thịt cừu giả có chứa một loại lớn kim loại và chất natri nitrat gây ung thư, vượt quá tiêu chuẩn thực phẩm đến 2.000 lần.

    • Ngày 23/8/2012, Cục An toàn Vệ sinh Thực phẩm (Bộ Y Tế) cảnh báo, hiện nay, tại Hokkaido (Nhật Bản) đang bùng phát vụ ngộ độc thực phẩm làm 6 phụ nữ bị chết, trong đó có 1 bé gái 4 tuổi do ăn bắp cải muối nhiễm vi khuẩn E. Coli. Trên thị trường Hà Nội và các tỉnh phía Bắc đang có bán rất nhiều các loại rau, củ quả của TC, ước lượng các mặt hàng nầy chiếm 60-70%.

    • Ngày 15/8/2012, gần đây, một số người tiêu thụ tại VN mua phải loại “cánh gà giả” ở các chợ thực phẩm, mang về luộc mãi không chín, ninh cả tiếng không nhừ. Loại hàng giả nầy được tuồn vào thị trường VN theo con đường tiểu ngạch biên giới Việt-Trung.

    • Các sản phẩm bao bì gồm “mì dưa bắp cải Tongyi”, “mì thịt bò đậu xanh” và “mì sườn heo Jin Mailang”, sau khi tiến hành xét nghiệm 84 mẫu thử nghiệm của 53 hãng thực phẩm. Kết quả cho thấy, lượng huỳnh quang của 36 vỏ bao bì sản phẩm vượt quá giới hạn cho phép, vì một số nhà sản xuất đã sử dụng những loại giấy không được phép dùng trong thực phẩm, thậm chí cả giấy bỏ đi để giảm chi phí.

    • Ngày 24/07/2012, phát hiện trong sữa bò đóng hộp và đóng gói do hãng Hunan Ava Dairy sản xuất có chất gây ung thư aflatoxin. Chất aflatoxin là một chất độc, nếu hàm lượng cao sẽ trực tiếp gây ra ung thư gan. Tập đoàn sửa Yili Industrial Group dành cho trẻ sơ sinh còn có chứa thủy ngân.

    • Một chủ sạp hàng chợ trái cây đầu mối tại thành phố Sài Gòn phát hiện những trái táo được bảo quản bằng sáp nến công nghiệp, có thể bảo quản đến 6 tháng mà trông vẫn còn tươi rất bắt mắt.

    • Ngày 5/7/2012, phát hiện “BIA GIẢ” bằng cách thêm các chất hóa học là axit hydrochloric và formaldehyde vào 13 nhãn hiệu bia giả gồm có hiệu Tsingtao và đã có mặt tại khắp tỉnh, thành phố tại VN. Chất Formaldehyde được sử dụng trong việc khử trùng và ướp xác chết, có thể gây ung thư và quái thai.

    • Một cơ sở chế biến thịt cừu trái phép vừa bị phát hiện ở TC. Công thức ướp vịt với phân bón và các chất phụ gia tạp nham thành sườn cừu New Zealand loại A, khiến dư luận phải “sởn tóc gáy”.

    • Ngày 14/12/2011, Bộ Công An TC cho biết, trong 3 tháng qua, đã phá 128 vụ án liên quan đến scandal làm dầu ăn từ “NƯỚC CỐNG”. Đã có 700 người bị bắt và 60.000 tấn “DẦU NƯỚC CỐNG” bị thu hồi nhưng không tiêu hủy. Sau vụ lợn được bơm hóa chất để cho ra nhiều thịt nạc, dầu nước cống được cho là trọng án xếp hạng thứ hai. Nước thải từ cống rãnh được đun nóng để dầu nhẹ lẫn thức ăn thừa nổi lên, lọc ra chắt riêng bỏ lớp chất nhầy bẩn.. Cơ quan điều tra cho rằng cơ sở nầy đã tiêu thụ hơn 8.000 tấn dầu bẩn, phần lớn dầu bẩn nầy được tuồn qua biên giới, tiêu thụ tại thị trường Việt Nam.

    • Bằng thủ đoạn hết sức tinh vi, một công ty chuyên sản xuất thực phẩm đã biến hàng tấn thịt heo thành khô bò bán ra thị trường. Không biết bao nhiêu người tiêu dùng đã bị lừa, ăn phải thịt heo hóa bò của công ty TNHH sản xuất thương mại thực phẩm Thanh Ly tại số 711 Lê Trọng Tấn (phường Bình Hòa) do bà Nguyễn thị Thanh Ly (SN 1975) quê Quảng Ngãi làm giám đốc.

    NĂM LOẠI THỰC PHẨM HÀNG ĐẦU NHẬP CẢNG TỪ TQ KHÔNG NÊN DÙNG:

    • CÁ RÔ PHI: Hiện nay, 80% nguồn cung cấp cá rô phi khoảng 173 ngàn tấn mỗi năm. Người nuôi cá ở Hoa Lục không cho con cái của họ ăn mà chỉ dùng để bán, vì họ sử dụng những loại hormone tăng trưởng và kháng sinh mạnh để cá có thể sống được trong môi trường “SIÊU BẨN”.

    • CÁ TUYẾT: Khoảng 51% số lượng cá tuyết trong các chợ ở Mỹ có xuất xứ từ TQ, tương đương với khoảng 32 ngàn tấn mỗi năm. Những điều nói về cá rô phi tương tự đối với người nuôi cá tuyết.

    • NƯỚC ÉP TÁO: Khoảng 50% số lượng nước ép táo được bán ở Mỹ có xuất xứ từ TC khoảng 367 triệu gallon, vì bã thuốc trừ sâu vẫn còn trong trái cây, rau và thực phẩm chế biến khi đưa đến nhà máy cung cấp thực phẩm đã từ lâu là một vấn nạn. TQ là nhà máy sản xuất thuốc trừ sâu lớn nhất thế giới.

    • NẤM CHẾ BIẾN SẴN: Nên tránh xa những loại nấm đóng hộp; 34% nấm chế biến sẵn là từ TQ, tức là 62.9 triệu pound (khoảng 28.5 ngàn tấn) mỗi năm.

    • TỎI: Khoảng 31% số tỏi, tức 217.5 triệu pound (khoảng 98.6 ngàn tấn) có xuất xứ từ TQ. Bạn có thể thấy chúng được dán nhãn “sản phẩm hữu cơ”. Để kiếm lời, ai cũng có thể dán nhãn “hữu cơ”.

    Những thông tin trên dựa vào dữ liệu năm 2011, được công bố ngày 08/5/2103 để làm chứng trước ỦY BAN SỰ VỤ QUỐC NGOẠI (House Committee on Foreign Affairs) về nguy cơ tiêu thụ sản phẩm không an toàn của TQ. Thực phẩm nhập cảng từ TQ tăng khoảng 7% mỗi năm.

    TÌNH TRẠNG NGỘ ĐỘC THỰC PHẨM NGHIÊM TRỌNG TẠI VIỆT NAM: (Những trường hợp điển hình)

    [1] GẦN 1.000 CÔNG NHÂN NGỘ ĐỘC THỰC PHẨM: Trưa ngày 3/10 đến sáng 4/10/2013, đã có gần 1.000 công nhân công ty WONDO VINA trụ sở tại xã Long Bình Điền, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang ngộ độc thức ăn phải nhập viện. Bệnh viện Đa Khoa huyện Chợ Gạo, Bệnh viện Đa khoa Tiền Giang và Bệnh viện Đa khoa TP Mỹ Tho đã không còn đủ giường cho bệnh nhân. Các công nhân cho biết, trưa ngày 3/10, công ty nầy cho khoảng 2.700 công nhân ăn cơm trưa với dưa cải, thịt heo luộc và canh cải. Sau đó, nhiều công nhân bị tiêu chảy, nôn ói, một số ngất xỉu.

    [2] 45 NGƯỜI NGỘ ĐỘC DO ĂN BÁNH MÌ: Ngày 03/12/2012, Chi cục An toàn Vệ sinh Thực phẩm phối hợp với Trung tâm Y Tế Dự Phòng đã tới địa điểm bán bánh mì của Công ty Đồng Tiến tại đường Phan Đăng Lưu, phường Hòa Cường, quận Hải Châu lấy mẫu patê, thịt nguội, xốt trứng gà, rau sống để xét ngiệm sau khi có 45 người ngộ độc do ăn bánh mì tại cơ sở nầy.

    [3] TÂY NINH: Gần 30 công nhân Cty TNHH CAN SPORTS VN bị ngộ độc: Ngày 16/11/2012, lúc 17 giờ, khoa Cấp cứu Đa Khoa Tây Ninh đã tiếp nhận gần 30 công nhân thuộc Cty TNHH Can Sports VN, tọa lạc tại Truông Mít, huyện Dương Minh Châu bị ngộ độc thực phẩm, sau khi ăn trưa với tàu hũ dồn thịt, cá biển kho, nấm rơm xào khổ qua.

    [4] BÀ RỊA-VŨNG TÀU: 62 công nhân Cty UY VIỆT bị ngộ độc thực phẩm: Lúc 17 giờ ngày 27/11/2012, đại đa số nữ công nhân của công ty THNN sản xuất giày Uy Việt, phường Rạch Dừa, TP. Vũng Tàu ngộ độc thực phẩm đã được các bác sỹ Bệnh viện Lê Lợi, TP. Vũng Tàu chữa trị. Bữa ăn trưa gồm đậu hũ và nấm.

    [5] 200 CÔNG NHÂN NGỘ ĐỘC THỰC PHẨM: Rạng sáng ngày 17/2/2013, Bệnh viện Quân Đoàn 4 tại thị xã Dĩ An, Bình Dương tiếp nhận 200 công nhân nhập viện trong tình trạng nôn ói, tiêu chảy, đau bụng. Theo bác sĩ, đây là những công nhân làm ca đêm, sau bữa ăn chiều tại bếp ăn tập thể của công ty thì có biểu hiện như trên. Bữa ăn gồm: trứng luộc, rau cải luộc, canh bí xanh, thịt gà kho.

    [6] GẦN 400 NGƯỜI NGỘ ĐỘC DO ĂN BÁNH MÌ: Ngày 23/10/2013, Sở Y Tế tỉnh Quảng Trị cho biết đã xác định được nguyên nhân dẫn đến việc 382 người phải nhập viện cấp cứu do ngộ độc thực phẩm, vì ăn bánh mì tại tiệm bánh Quang Trung ở thị trấn Khe Sanh, huyện Hướng Hóa. Các mẫu bánh mì và nhân thịt, chả… xét nghiệm có vi khuẩn thương hàn Samonella.

    [7] GẦN 200 CÔNG NHÂN NGỘ ĐỘC THỰC PHẨM: Ngày 18/10/2013, Khoa Cấp cứu Bệnh viện Q. Thủ Đức (TP. Sài Gòn) tiếp nhận 113 công nhân Cty sản xuất giày da Liên Phát tại phường An Bình, huyện Dĩ An, Bình Dương nhập viện, sau khi dùng cơm tại công ty với các món ăn: thịt bò xào dưa chuột, rau muống xào và canh rau dềnh thì có triệu chứng chóng mặt, đau bụng, đau đầu, nôn ói…

    [8] GẦN 500 DU KHÁCH NGỘ ĐỘC THƯC PHẨM: Ngày 14/6/2011, Bác sỹ Đồng Sĩ Quang, Trưởng phòng Nghiệp vụ Y Tế – Sở Y Tế Lâm Đồng cho biết, nguyên nhân gây ngộ độc thực phẩm cho hàng trăm du khách khi đến Đà Lạt là do vi khuẩn Clotrisdium perfringens, sau khi ăn thực phẩm và nước uống từ nhà hàng Tâm Châu tại huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.

    [9] LÀO CAI: 145 NGƯỜI NGỘ ĐỘC VÌ ĂN CỖ CƯỚI: Ngày 18/11/2013, gia đình ông Giàng Sín ở thôn Sín Pao Chải, xã Thào Chư Phìn, huyện Si Ma Cai có tổ chức cưới cho con gái Út và khoảng 12 giờ sau khi ăn cỗ, có 145 người bị ngộ độc thực phẩm như đau bụng, buồn nôn… phải đưa vào bệnh viện đa khoa huyện Si Ma Cai cứu cấp.

    [10] GẦN 200 CÔNG NHÂN THUỘC Cty TNHH KOTOP VINA NGỘ ĐỘC: Sau khi ăn tối tại công ty, gần 200 công nhân thuộc Cty Kotop Vina tại khu công nghiệp Tam Phước, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã phải nhập viện vì ngộ độc thực phẩm. Các công nhân được đưa đến cấp cứu tại Bệnh viện Đa Khoa Long Thành chữa trị.

    TỔNG KẾT SỐ LIỆU NGỘ ĐỘC THỰC PHẨM TẠI VN:

    • NĂM 2007: Số vụ: 247 / Tổng số người ăn: 56.757 / Số ngộ độc: 7329 / Chết 55.
    • NĂM 2008: Số vụ: 205 / Tổng số người ăn: 41.843 / Số ngộ độc 7829 / Chết 62.
    • NĂM 2009: Số vụ: 152 / Tổng số người ăn: 40.432 / Số ngộ độc: 5212 / Chết 35.
    • NĂM 2010: Số vụ: 175 / Tổng số người ăn: 24.072 / Số ngộ độc: 5664 / Chết 51.
    • NĂM 2011: Số vụ: 148 / Tổng số người ăn: 38915 / Số ngộ độc: 4700 / Chết 27.
    • NĂM 2012: Số vụ: 168 /Tổng số người ăn: 36.604 / Số ngộ độc: 5.541 / Chết 34.

    THẾ GIỚI KÊU GỌI ĐẨY LÙI HÀNG TRUNG CỘNG:

    Vừa qua Liên Minh Châu Âu (EU) vừa tổ chức chiến dịch truyền thông lớn, khuyến cáo người dân không dùng đồ chơi trẻ em TQ để tránh nguy hiểm cho sức khỏe. Các động thái tương tự cũng đang diễn ra tại Mỹ, Nhật, Philippines và cả tại Châu Phi. Tháng 7/ 2013, người dân Philippines sống tại Mỹ cũng kêu gọi chống hàng hóa TQ. Người lãnh đạo phong trào nầy, bà Nicolas – Lewis nói rằng: “Tôi hy vọng chiến dịch tẩy chay hàng TQ sẽ không chỉ giới hạn ở Philippines mà còn lan rộng trên cả thế giới.”

    Theo tờ Philippines Daily Inquirer, trong cuộc biểu tình trước trụ sở ở LHQ tại New York, ông Eric Lachica, đại diện tổ chức người Mỹ gốc Philippines, nhận xét: “Nếu 01 triệu trong số 4 triệu người Philippines ở Mỹ không mua hàng TQ một lần mỗi tháng, chúng ta sẽ gây thiệt hại tài chánh lên đến hàng tỉ USD mỗi năm cho TQ,” ông lập luận rằng. “Nếu mỗi người trong số 200 triệu người Mỹ từ chối mua 20 USD hàng hóa TQ, sự mất cân bằng cán cân thương mại của Mỹ và TQ sẽ được xóa dần.” Một cuộc điều tra trên kênh truyền hình ABS-CBN tiết lộ có 84% lượng người được khảo sát ủng hộ việc những người Philippines tẩy chay hàng TQ.

    Trong khi cả thế giới đều lên tiếng phản đối hàng TQ, thậm chí người dân TQ còn tẩy chay hàng của nước họ thì việc người tiêu dùng Việt Nam tham gia nói “KHÔNG” với các sản phẩm có xuất xứ từ TQ, sẽ góp phần đẩy lùi tình trạng hàng kém chất lượng tràn lan trên thị trường và giúp cho các nhà sản xuất quan tâm hơn đến vấn đề chất lượng sản phẩm để có hoạt động tiêu thụ tốt. Sau những phát hiện hàng độc TQ kém chất lượng và có chứa chất gây ung thư, xu hướng tẩy chay hàng TQ không chỉ riêng ở Mỹ mà người Châu Âu cũng không muốn mua hàng TQ. Tuy nhiên, phong trào tẩy chay hàng hóa TQ ở Mỹ có vẻ rầm rộ hơn, vì mức độ an toàn của các sản phẩm xuất xứ từ TQ đang được báo động trên khắp nước Mỹ

    NHỮNG TRÒ PHÙ PHÉP THỰC PHẨM BẨN TẠI TRUNG CỘNG:

    [1] Tháng 5/2012, Tân Hoa Xã tiết lộ những người bán bắp cải đã tẩm formal để không bị hư hại khi vận chuyển bằng xe tải không có hệ thống lạnh trong mùa hè. Formal rẻ tiền, nhưng gây dị ứng và có nguy cơ gây ung thư rất cao. Năm 2010, nhiều người trồng rau đã nhúng nấm vào thuốc tẩy để có màu trắng đẹp mắt.

    [2] Tháng 5/2013, CATQ phát hiện một mạn lưới buôn lậu thịt quy mô ở Thượng Hải và Giang Tô. Trên 900 người bị bắt giam vì bán thịt chuột cống và chồn làm thịt bò và cừu, thu lợi nhuận 1,6 triệu USD.

    [3] Các nhà phù thủy Tàu đã chế ra những món ăn bị tiêm vào những sản phẩm độc hại, ngâm tẩm bằng những dung dịch đáng ngờ, đôi khi bằng nước tiểu súc vật. Thịt heo được tiêm borax, một chất được dùng làm thuốc trừ sâu hay bột giặt để giả làm thịt bò,
    hay chích nước bẩn vào để làm tăng trọng lượng là những thủ thuật cổ điển.

    [4] Nông dân cũng vận dụng nông hóa để có rau quả đẹp, to hơn. Khoảng 45 hecta dưa hấu đã bị nổ tung như những quả bóng vì hấp thụ quá nhiều chất Forchlofenuron để kích thích tăng trưởng.

    [5] Một nhà phát minh ra loại “siêu lúa” có năng xuất tăng 20% báo động: Thuốc kích thích tăng trưởng tràn lan khắp nơi. Để nuôi lớn một con lợn thịt thông thường phải mất một năm, nhưng ở TQ thì chỉ cần 3 tháng! Gà thì nuôi 28 ngày thay vì 6 tháng. Còn rau quả cũng tương tự. Hậu quả là gây thảm họa cho sức khỏe. Vì vậy, một bé gái mới 3 tuổi đã thấy kinh nguyệt.

    [6] Cuối tháng 12/2013, Trung Cộng tổng kết có 3.330.000 hecta đất nông nghiệp quá ô nhiễm, không thể trồng bất cứ thứ gì. Theo báo “Bưu Điện Hoa Nam”, ít nhất 70% sông hồ tại TQ bị công nghiệp làm ô nhiểm, chủ yếu là các nhà máy hóa chất và dệt nhuộm.

    TQ TUỒN Ồ ẠT HÀNG BẨN, HÀNG ĐỘC SANG VIỆT NAM TIÊU THỤ:

    Nhìn từ biên giới Việt – Trung, điểm tên một số cửa khẩu biên giới có:

    • Cửa khẩu Lào Cai cho phép người dân đi qua cầu Hồ Kiều là sang tỉnh Vân Nam.
    • Cửa khẩu Móng Cái nằm cách Hà Nội 327 km.
    • Cửa khẩu Lạng Sơn cách Hà Nội 171 km.
    • Cửa khẩu Đồng Văn với hệ thống đường sắt từ Hà Nội lên Lạng Sơn.

    [1] Với vị trí địa lý như vậy, việc ngăn chận hàng độc, hàng bẩn xuất xứ từ TQ tuồn vào Việt Nam không phải là chuyện dễ dàng. Trong thời gian gần đây, các cơ quan chức năng liên tục phát hiện, bắt giữ hàng chục vụ vận chuyển “thực phẩm bẩn” và thối trên địa bàn cả nước. Mới đây nhất là vụ bắt giữ hơn 23 tấn chân, đuôi bò thối không rõ nguồn gốc ở Hà Nội, rồi hàng loạt vụ tại TP. Sài Gòn. Nhiều người dân không khỏi rùng mình khi nghĩ, họ có thể là nạn nhân của không ít món thực phẩm bẩn và thối nầy.

    [2] Gia cầm nhập lậu qua biên giới chính là “GÀ THẢI LOẠI” mà người Tàu không ăn. Trong khi người TQ nhập gà từ Việt Nam về ăn thì “gà thải loại” nhập lậu qua đừơng biên giới tràn ngập các chợ và các quán ăn của VN. Thường sau 40 tuần tuổi gà cho trứng ít lại, nếu thấy không còn lời nữa, gà sẽ được thanh lý. Đây chính là “gà thải loại”. Ăn gà loại nầy nguy hiểm đến sức khỏe càng cao, vì gà nuôi công nghiệp sẽ sử dụng thuốc kháng sinh để trị bệnh cho gà và cả thuốc kích thích tăng trưởng nhanh.

    CHỢ TỬ THẦN “KIM BIÊN” NƠI TẬP TRUNG CÁC HÀNG ĐỘC, HÓA CHẤT GIẾT NGƯỜI XUẤT XỨ TỪ TRUNG CỘNG:

    Tại chợ Kim Biên, tọa lạc tại phường 13, Quận 5 TP. Sài Gòn. Khu chợ có khoảng trên 40 địa điểm, sạp kinh doanh hóa chất bày bán công khai, ngang nhiên bán đầy đủ các loại hóa chất giết người mà không hề biết luật pháp nghiêm cấm như thế nào. Theo điều tra, trung bình mỗi điểm kinh doanh này buôn bán sỉ và lẻ trên dưới 50 mặt hàng các loại, bao gồm các loại hóa chất, thực phẩm, hương liệu các loại…đặc biệt có cả loại hóa chất công nghiệp, thực phẩm vô cùng nguy hiểm như acid chẳng hạn. Hằng ngày, người dân từ khắp mọi nơi tấp nập đổ về đây để mua bán các loại hóa chất được bày bán tràn lan. Đặc biệt là các loại ACID được người mua, dùng để thanh toán tình địch…

    [1] Hóa chất Ethephon hay còn gọi là “thúc chín tố” dùng để giữ thịt ôi được tươi. Thương lái tại một số tỉnh, thành phố sử dụng loại hóa chất nầy để bảo quản thịt gia súc, gia cầm sau khi mổ nhằm giữ độ tươi của thịt. Thuốc có bán giá lẽ từ 1.000 – 1.500 đồng/ ống. Khi dùng loại thuốc nầy, thịt vận chuyển từ Thanh Hóa ra Hà Nội vẫn giữ được màu thịt tươi.

    [2] Ở một số cửa hàng ăn uống tại TP. Sài Gòn phát hiện phụ gia trôi nổi nhập từ TQ được sử dụng trong nồi lẩu ngon lành. Đầu bếp không cần ninh xương mà pha chế nước lẩu bằng cách cho gia vị lẩu hòa tan trong nước. Dùng cách nầy vừa nhanh chóng, vừa tiết kiệm được tiền mua xương heo, xương bò, bất chấp sự độc hại của hóa chất nầy. Nhìn bề ngoài, lọ gia vị nầy giống như lọ nước tương, trên nhãn hiệu có hàng chữ “Sa Cha Sauce”

    [3] Hai loại hóa chất được sử dụng để làm chất nổ là Kali Clorat (KClO3) và phốt pho (P). Đây là các loại hóa chất nằm trong danh mục không được buôn bán tự do, người mua phải xuất trình được các giấy tờ liên quan đến mục đích sử dụng. Tuy nhiên, trên thực tế, các loại hóa chất nầy có thể dễ dàng tìm kiếm. Tại cửa hàng Lan Giám, mỗi kg phốt pho được bán với giá 150.000 đồng/ kg. Còn tại cửa hàng Mai giá là 130.000 đồng/ kg.

    [4] Ngoài các hương liệu để pha chế cà phê, chợ tử thần Kim Biên còn cả những hóa chất mang hương liệu thịt heo, thịt bò. Thậm chí thuốc nhuộm màu cho giấy cũng được tư vấn để khách mua về nhuộm cho thịt gà vịt. Khi được hỏi về chất tẩy rửa làm trắng củ quả thì được bà B. giới thiệu một loại bột trắng, nhìn giống như loại bột nước rửa chén, bảo đảm khi rửa vào thì rau, củ, quả sẽ trắng như mới gọt.

    [5] Một sản phẩm nhuộm màu gia cầm gà, vịt cho vàng da, một gói màu công nghiệp có dạng viên nhỏ như đầu ngón tay, màu đỏ sậm, chỉ cần vài viên này pha với 10 lít nước là có thể nhuộm hàng trăm con gà vàng ươm.

    [6] Một chủ cửa hàng nói về cách chế biến các loại cà phê, nước chanh, ca cao, nước trái cây. Anh thích mùi cà phê Moka thì mua hương cà phê Moka, thích mùi cà phê Pháp thì mua hương cà phê Pháp. Với 300.000 đồng/ kg đến 1 triệu đồng/ kg có thể pha chế hàng ngàn ly cà phê thơm ngon có vị giống như hương vị của các hãng cà phê danh tiếng trên thế giới.

    [7] Hãi hùng là khi đọc tới hàng chữ trên can nhựa hóa chất là “hương thịt bò”, “hương thịt heo” thì bà chủ vô tư trả lời: “Đối với thịt heo, thịt bò bệnh hoặc chết phải ướp hóa chất NaHSO3 dù còn tươi hay đã có mùi hôi, tẩm thêm một ít chất nầy thì thịt vẫn có mùi thịt bò, thịt heo như mới. Các loại nầy giá khoảng 300.000 đồng/ kg. Ngoài ra, bà còn cho biết thêm, còn cả các mặt hàng như hương liệu tôm, cua để nấu bún riêu. Chỉ cần một muỗng nhỏ thôi, nồi lẩu 10 lít sẽ ngọt lịm, thêm mấy khúc xương, vài miếng thịt làm màu thì mùi lẩu ai ăn cũng khen ngon.

    [8] Chợ Kim Biên còn còn có cả những hương liệu dùng để sản xuất xì dầu, nước mắm bằng nước lã. Người làm bún, muốn làm bún trắng thì dùng Acid Oxalic. Còn người muốn giữ hoa quả tươi lâu để di chuyển đường xa thì dùng Carbendazim.

    [9] Tại bến Phú Định, P.16, Q.8 có nhiều cơ sở kinh doanh dừa tươi, dừa khô bán sỉ, bán lẻ. Cảnh hàng trăm trái dừa tươi vừa gọt vỏ màu nâu xám, nhưng chỉ sau vài phút ngâm trong thùng hóa chất pha sẵn đã trở nên trắng tinh. Chị Tiên, chủ vựa dừa cho biết, chỉ cần ra chợ Kim Biên, ghé vào bất cứ tiệm hóa chất nào hỏi mua chất tẩy trắng dừa cũng có, giá dao động từ khoảng 125.000/ kg. Mỗi thùng nước khoảng 20 lít pha với 6 muỗng bột rồi ngâm dừa vào, chờ thấm nước hết, thế là xong.”

    [10] Đến sạp hóa chất T.H ở chợ Kim Biên hỏi mua loại bột chế biến mì Quảng sao cho dẻo, lưu trử lâu thì sẽ được giới thiệu một bịch bột có nhãn mác là sản phẩm thay thế hàn the, được sử dụng chế biến chả giò, bún, mì Quãng với giá 145.000 đồng/ bịch. Nếu muốn mua loại tốt thì lấy loại 10 kg, chia nhỏ mỗi bịch 1 kg, có thể dùng cho 100 kg gạo, bảo đảm cọng mì dai, để lâu bao nhiêu cũng được.

    [11] Một khách hàng tên Hiền, đến từ Quận Thủ Đức (TP. Sài Gòn), cho biết anh thường mua hóa chất về ủ trái cây còn xanh cho mau chín. Anh nói: “Hóa chất, phụ gia thực phẩm từ hương liệu, nước cốt cà phê, chất tạo bọt, tạo dẻo, tạo mùi…gì cũng có.

    [12] Kiểm tra cụ thể 54 doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh, có đến 31 đơn vị vi phạm. Trong đó, vi phạm phổ biến nhất về quy định “nhãn hàng hóa” ghi không đủ nội dung bắt buộc, hàng nhập khẩu không có nhãn phụ tiếng Việt với 13 đơn vị vi phạm. Ngoài ra, các vi phạm như không đủ điều kiện kinh doanh hàng lậu, không niêm yết giá…Kết quả kiểm tra hơn 41 tấn hàng và 14.423 đơn vị sản phẩm cho thấy, phần lớn hàng hóa đều có XUẤT XỨ TỪ TQ. Quản lý thị trường cũng phát hiện 1,3 tấn hóa chất nhập lậu (lubsofter, sapamine, acid oxalic H2C204) xuất xứ từ TQ tại một công ty ở Quận 5.

    Tại Việt Nam hiện nay, người dân nhìn bất cứ nơi nào, thức ăn, thức uống toàn là hàng độc. Từ mớ rau, con cá, con cua đồng cho đến miếng thịt heo, thịt bò…có thể đã được con buôn tẩm chất độc hóa học để bảo quản. Mới đây, thêm các loại trái cây như táo, nho, lê, gừng, khoai tây… vịt, gà thải loại, thịt heo, bò thối, dầu tái chế từ cống rãnh, men rượu độc, tới cá tầm nhập lậu từ Trung Cộng. Nhưng, có 3 loại chất hóa học khủng khiếp và tàn độc nhất gây kinh hoàng cho dân Việt Nam có xuất xứ từ Trung Cộng và ảnh hưởng rất tai hại của thuốc lá:

    [1] GẠO NGÂM HÓA CHẤT: Chỉ cần ngâm 15-20kg chung với 1 muỗng canh nhỏ loại bột này, rồi đem hấp khoảng 1 tiếng, gạo sẽ nở bung ra cho lượng cơm nhiều gấp đôi so với cách nấu bình thường. Hơn nữa, loại bột nầy còn có tác dụng làm cơm chín rất nhanh. Chị T. (35 tuổi) thâm niên bán cơm dĩa hè trên 5 năm cho người lao động nghèo như phu khuân vác, xích lô, bán vé số dạo hoặc các công tư chức loại cơm hàng cháo chợ. Chị ta thản nhiên nói: “Dân trong nghề bán cơm vỉa hè gọi bột nầy là “BỘT NỞ”, hạt gạo ngâm với hóa chất nầy, rồi đem hấp giúp gạo chín mau, nở nhanh to ra gấp 2,3 lần mà chẳng cần công sức gì cả. Vì vậy, một ngày ước tính bán 40 kg gạo, nhưng kỳ thực chỉ bỏ tiền mua 15-20 kg gạo thôi bởi gạo ngâm với “bột nở” rồi đem hấp lên cho ra cơm nở gấp 2, 3 lần, nhưng không vì thế cơm ăn không dẻo, bị sống sượng…” Đây quả là cơn ác mộng đối với dân lao động nghèo sống ở TP Sài Gòn.

    [2] MA TÚY NHÂN TẠO: Loại ma túy nầy vượt xa cả cocaine, ecstasy, dân chơi nghiện ngập gọi là Ice hoặc Crystal, nhưng giá rất mềm, đó là loại ma túy nhân tạo do TC chế tạo, đã được bày bán công khai tại Hà Nội và Sài Gòn làm cho thanh thiếu niên điên loạn, ngây ngất mà nó còn tác dụng kích thích tình dục.

    Viện Project 2049 Institude của Mỹ đã phát hành một bản phúc trình 48 trang có liên quan tới “VŨ KHÍ HÓA HỌC” (Biological Warfare) là ma túy nhân tạo do TC sản xuất nhằm làm tê liệt ý chí đấu tranh của các dân tộc chống đối “CHỦ NGHĨA ĐẠI HÁN” trong đó có Việt Nam và Philippines…

    [3] MEN RƯỢU ĐỘC: Trước đây, gạo hoặc nếp được nấu thành cơm đem trộn men vào rồi đem ủ. Phải mất 8 kg gạo nấu thành cơm rồi đem ủ men và phải chờ mất 5 – 7 ngày mới lấy được gần 8 lít đế, tốn rất nhiều công sức mà lời lãi chẳng được bao nhiêu. Bây giờ thì khác, nấu bằng men độc TQ, chiết xuất trực tiếp từ gạo, không cần trải qua giai đoạn nấu thành cơm, tiết kiệm được tiền mua than củi đốt. Chỉ cần đổ nước vào gạo cho ướt đều rồi trộn men vào. Ủ xong đậy lại để đó 3 ngày sau, gạo nở ra thành một khối cơm tha hồ mà nở. Sau đó, bỏ gạo vào nồi, quậy nước vào, rồi chưng cất sẽ có được lượng rượu (độc) nhiều vô kể. Vốn 1, lời gấp 9,10 lần so với trước đây, thấy mà ham! Tính đi, 1 lạng men chưa tới giá 10.000 đồng, đem bỏ mối cho các quán nhậu 15.000 đồng/ lít. Muốn cho rượu trong vắt, bằng cách cho thuốc rầy Mytox vào.

    Cô giáo Lợi (giáo viên nghỉ hưu), hiện đang sống ở Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam tâm sự: “Tôi vẫn biết là nấu rượu bằng men TQ rất nguy hại vì nó mất vệ sinh vì giá rất rẻ, dễ nấu, nhưng cũng rất là độc. Gần đây, người ta ngộ độc rất nhiều, chắc chắn là do loại rượu nầy, rồi thêm “rượu đứng” là dân nghiện rượu nặng, chừng 2 tiếng là lên cơn nghiện một lần, phải tạt vào quán cốc bên đường, bỏ ra 2.000 đồng mua một ly, nốc cạn rồi đi tiếp. Nếu không có rượu thì mắt mờ, phều nước bọt, tay chân run rẩy như người bị động kinh, còn chuyện đánh nhau chết người do rượu cũng không kể xiết…”

    Một bác sĩ tại bệnh viện Vĩnh Đức, Điện Bàn ở Quảng Nam, cho biết: “Phần lớn những năm gần đây, các bệnh nhân về “GAN” như xơ gan, ung thư gan đều ở độ tuổi trung niên đều là đàn ông. Từ 10 năm trở lại đây, bệnh nầy xuất hiện rất cao,” ông nói tiếp. “Không có gì nguy hại bằng rượu cất bằng men TQ, cái chết của loại rượu độc nầy là cái CHẾT CHẬM MÀ CHẮC, nó không chết liền như những thứ bệnh khác, nó từ từ biến cơ thể người nghiện rượu nầy thành một ổ bệnh, vô phương cứu chữa.”

    Một người tên Huỳnh, chuyên buôn men rượu từ Hoa Lục về VN, cho biết: “Mỗi tháng, tôi bỏ mối chừng “10 TẤN” men các loại, từ men rượu nếp đến men rượu gạo cho 2 tỉnh Quảng Bình & Quảng Trị, trong đó men rượu gạo chiếm 85%,” Huỳnh nói. “Cứ một tấn men sản xuất chừng 100 tấn hèm và 30 tấn rượu. Như vậy, riêng khu vực miền Trung từ Quảng Bình vào Quảng Ngải có 300 tấn rượu. Hiện có 9 người hành nghề như tôi. Ước tính có khoảng 2.700.000 lít rượu độc tiêu thụ tại miền Trung mỗi tháng, hơn cả số lượng bia.” Huỳnh còn cho biết thêm: “Tỉ lệ men rượu TQ tuồn vào trong miền Nam, cụ thể là TP. Sài Gòn, số lượng men của họ tiêu thụ, ước tính gấp 3 lần miền Trung. Sài Gòn bây giờ là một cái quán nhậu vĩ đại của Việt Nam…”

    [4] THUỐC LÁ: Theo thống kê của PTT Nguyễn Thiện Nhân đưa ra ngày 24/5/2012 tại Hà Nội: Dân VN có 40.000 người chết vì thuốc lá mỗi năm. Không còn chiến tranh mà hàng năm chúng ta mất hơn 4 SƯ ĐOÀN…theo lời của PGS-TS Lương Ngọc Khuê, nói: “VN nằm trong nhóm các nước hút thuốc lá nhiều nhất thế giới. Việc bán thuốc lá diễn ra khắp nơi, nguyên nhân vì dân mình quá nghèo, nên dân chúng bán thuốc lá lẻ tràn lan khắp nước, nhức nhối là hiện tượng TRẺ EM HÚT THUỐC LÁ.

    Kết quả cuộc điều nghiên công bố trên tạp san của “Hiệp hội Y sĩ Hoa Kỳ” thì 73% tổng số đàn ông VN đều nghiện thuốc lá, là quốc gia có tỷ số cao nhất thế giới. Mỗi người đốt trung bình khoảng 150 bao thuốc lá, cả nước tiêu thụ khoảng 3 tỷ bao thuốc lá trong một năm.

    Theo BS Nguyễn Thượng Trí trong thời gian làm công tác thiện nguyện, nói: “Ai cũng biết rằng hút thuốc lá có hại cho sức khỏe và có thể bị ung thư phổi và bệnh tim mạch là nguyên nhân đưa đến chết yểu,” ông kết luận. “Các chứng bệnh do việc hút thuốc lá gây ra cũng sẽ dẫn đến hậu quả tai hại là sức khỏe của lực lượng nhân công lao động sẽ bị hao mòn. Và trong khi các gia đình còn đang phải cố gắng kiếm tiền để sống thì việc bỏ tiền ra mua thuốc lá là điều không thể chấp nhận được…”

    KẾT LUẬN:

    Xin đồng bào trong và ngoài nước đừng quên rằng, đây là thủ đoạn tàn độc và bẩn thỉu của bọn Rợ Đại Hán cùng với sự đồng lõa của bọn Thái thú Hà Nội tiếp tay, thực hiện âm mưu làm LIỆT KHÁNG TINH THẦN ĐẤU TRANH CỦA DÂN TỘC, đặc biệt nhắm vào tuổi trẻ yêu nước. Hãy đề cao cảnh giác trước chiến lược xâm lược tinh vi của bọn Rợ Đại Hán, làm cạn kiệt sinh lực của dân tộc ta trước, diệt chủng là bước tiếp theo và bước cuối cùng là XÓA TÊN NƯỚC VIỆT NAM TRÊN BẢN ĐỒ THẾ GIỚI giống như dân tộc Tây Tạng và Tân Cương.

    Cuộc chiến tranh VN kéo dài trên 30 năm, Hồ Chí Minh và ĐCSVN đã hy sinh cả thế hệ thanh thiếu niên VN trên 4.000.000 người để phục vụ quyền lợi của Đệ Tam CSQT Nga – Tàu. Ngày nay, tập đoàn lãnh đạo ĐCSVN tiếp tục đi theo lối mòn HCM vạch ra là tiếp tục hy sinh dân VN vì quyền lợi của bọn Bắc Kinh bằng cách mở cửa biên giới Việt – Trung để hàng độc của Hoa Lục ồ ạt tuồn vào đất nước Việt Nam từ thành thị tới nông thôn, luồn lách khắp các hang cùng ngõ hẻm để đầu độc nhân dân. Đây là cuộc xâm lược thầm lặng không khói thuốc súng, chỉ có khói thuốc lá và mùi hèm rượu độc tràn lan khắp nước. Số nạn nhân bị đầu độc lên đến con số khủng khiếp:

    [1] 8.000.000 người Việt Nam bị viêm gan B, C và ung thư gan, đang thu ngắn khoảng cách từ giường bệnh ra nghĩa địa.
    [2] 40.000 người chết vì thuốc lá mỗi năm.
    [3] Số người ngộ độc thực phẩm không hề giảm hàng năm.

    Nếu chế độ CỘNG SẢN ĐỘC TÀI, ĐẢNG TRỊ còn tiếp tục ngự trị trên quê hương của chúng ta ngày nào, thì âm mưu bẩn thỉu của bọn lãnh đạo Bắc Kinh muốn xóa sổ nước Việt Nam trên bản đồ thế giới, chắc chắn ngày đó sẽ không còn xa…

    Xin hãy đọc và tiếp tay phổ biến rộng rãi bài viết nầy. Xin đa tạ!
    NGUYỄN VĨNH LONG HỒ
    http://trinhngoctoan.wordpress.com/

  2. Hoài niệm và phản tỉnh về ngày 30 tháng 4 năm 1975 để giải ảo ngụy sử, hoà giải dân tộc và xây dựng đất nước.

    Hiểm hoạ Bắc thuộc và bất lực của chính quyền trước những khát vọng của toàn dân về toàn vẹn lãnh thổ, xây dựng dân chủ, phát triển kinh tế, nâng cao công bình và tôn trọng nhân quyền.

    Đại Thắng Mùa Xuân là đỉnh cao chói lọi trong trang sử đấu tranh của ĐCSVN, nhưng Ted Gunderson (1928 – 2011), nhân viên của FBI tại Los Angeles và Wahsington DC tiết lộ là sau chiến dịch Operation Linebacker của Hoa Kỳ, Bắc Việt tuyên bố đầu hàng đầu hàng vô điều kiện. Ngũ giác Đài nhận điện tín này nhưng CIA buộc ép nhẹm nguồn tin và thuyên chuyển tất cả các nhân viên có trách nhiệm ra khỏi nhiệm sở. Dĩ nhiên, Việt Nam không hề kiểm chứng nguồn tin này.
    ___________

    Đỗ Kim Thêm
    06-05-2015

    Tóm lược: Ngày 30 tháng 4 năm 1975 là ngày toàn thắng của ĐCSVN và là ngày đại bại của toàn dân tộc Việt Nam. Chúng ta có các lý do chính đáng để không tham gia mừng lễ kỷ niệm chiến thắng, nhưng cần giúp đỡ nhau để có ý thức phản tỉnh về ý nghĩa tưởng niệm, hoà giải và trách nhiệm đối với những hậu quả của ngày này.

    Hiện tình Việt Nam là đang bị nguy cơ hơn bao giờ hết; vì về mặt nội trị có quá nhiều bất ổn mà vẹn toàn lãnh thổ, tham nhũng và nợ công là chính; về mặt đối ngoại có quá nhiều tổn thương, vì lãnh đạo đặt quyền lợi Trung Quốc và quyền lợi riêng lên trên quyền lợi của dân tộc là chính. Hoa Kỳ sẽ không là một lá chắn an toàn cho Việt Nam vì Hoa Kỳ không có phép lạ để biến đổi nội tình và ngoại cảnh cho Việt Nam. Hoa Kỳ cũng đủ thông minh để không bao giờ chống Trung Quốc thay cho Việt Nam.

    Mọi vấn đề hiện nay của Việt Nam có thể sẽ được giải quyết được một phần nào khi có sức mạnh dân tộc mà sự hiểu biết của toàn dân, đồng thuận chính trị, và quyết tâm chuyển hướng là chính và đường lối thực tiễn là thay đổi hiến pháp dân chủ, nâng cao đạo đức và giáo dục, tăng trưởng kinh tế, tôn trọng trí thức và pháp luật, thực thi nhân quyền và dân quyền và bảo vệ thiên nhiên.

    Ngày 30 tháng 4 năm 2015 đánh dấu một ngày khởi đầu cho trang sử Việt, mà một thế hệ hậu chiến trưởng thành và sẽ đảm nhận trách nhiệm chính trị cho đất nước. Thế hệ hậu chiến không cần có một lý tưởng cầu toàn để canh tân đất nước hay các biện pháp xé rào để cứu Đảng, mà cần nhất là có một ý thức bừng tỉnh về sự tồn vong của dân tộc.

    ***

    Ký ức thay ngụy sử?

    Ngày 30 tháng 4 năm 2015 đánh dấu một ngày quan trọng trong lịch sử của Việt Nam, vì là ngày kỷ niệm 40 năm chiến tranh kết thúc. Hiện nay, các thế hệ tham chiến hầu như đã lần lượt ra đi hay đang quên đi những hậu quả của chiến cuộc. Thời gian dài này cũng đủ để làm một thế hệ hậu chiến trưởng thành mà không vướng bận với ký ức thuộc về lịch sử.

    Tuy thế, có một sự khác biệt giữa ký ức và lịch sử. Ký ức là một điều kiện thiết yếu tự tại và có một giá trị đặc biệt cho lịch sử. Ký ức riêng tư tạo nên bản sắc cá nhân và ký ức tập thể tạo nên bản sắc xã hội. Cả hai đặc thù văn hoá này nếu kết hợp nhau được sẽ làm thành một lịch sử chung cho dân tộc. Để phác thảo lịch sử, sử gia cần có ký ức văn hoá, một sự thật của lịch sử và đây là một trong những điều kiện khách quan làm khởi điểm cho chính sử.

    Nhưng trong hiện tại vấn đề soi sáng lịch sử ít được quan tâm, bởi vì chúng ta đang có những nhu cầu bức thiết, đó là hiểm hoạ Bắc thuộc và bất lực của chính quyền trước những khát vọng của toàn dân về toàn vẹn lãnh thổ, xây dựng dân chủ, phát triển kinh tế, nâng cao công bình và tôn trọng nhân quyền.

    Nhìn lại sau 40 năm dài thì thực tế cho thấy dù là ký ức của các chứng nhân lịch sử đang nhạt nhoà và bản sắc của đất nước đang tàn phai, nhưng người Việt vẫn còn bị ám ảnh bởi những chiến tuyến trong quá khứ, đề cao thành quả chiến thắng mãi làm cho việc hoà giải giữa người Việt còn khó khăn và những giá trị phổ quát trong xu thế thời đại như tự do, dân chủ, nhân quyền và trọng pháp lại chưa áp dụng. Lý do chính là người Việt đã không có và sẽ không thể chia sẻ một quá khứ chung của lịch sử cận đại.

    Nếu chúng ta muốn xây dựng một chính sử Việt Nam cho hôm nay và mai sau, thì giải ảo ngụy sử là một nhu cầu tất yếu. Vậy vấn đề là liệu có nên khơi động lại ký ức cá nhân hay tập thể hoàn toàn độc lập với mọi dị biệt và đối kháng với ngụy sử để làm cơ sở được không?

    Thế hệ tham chiến và quá khứ

    Thế hệ tham chiến nghĩ gì về quá khứ và để làm gì trong hiện tình? Chiến tranh Việt Nam nằm trong bối cảnh quốc tế của Chiến tranh Lạnh và lại là một thí dụ điển hình trong khu vực về Chiến tranh Ủy nhiệm. Không riêng Việt Nam mà hầu như nhiều quốc gia đều hình thành bằng bạo lực. Trong cả một thời kỳ dài, tranh đấu bằng bạo lực là một phương tiện hiển nhiên, nó tạo nên một loại văn hoá chung và trở thành một sự thực khách quan của lịch sử. Chiến thắng ngày 30 tháng 4 năm 1975 là một bạo lực cách mạng để thống nhất đất nước và là một sản phẩm của lịch sử.

    Công việc chọn lọc quá khứ để giải ảo lịch sử cũng có nghĩa là làm sống lại quá khứ, một phần hay toàn bộ ký ức của cá nhân hay tập thể. Phủ nhận hay quên đi quá khứ, cả hai nỗ lực này là bất khả. Không ai muốn quên lãng quá khứ oai hùng, vì mục đích kéo dài hạnh phúc đã hết là để làm quên đi thực tế bất hạnh. Quên lãng quá khứ thương đau thì không thể dễ dàng vì là một ám ảnh còn vang động trong hồn như một loại bịnh tâm thần kinh niên không trị được. Khép lại quá khứ và cảm nhận nó trong mối quan hệ với hiện tại và tương lai, cả hai việc đòi hỏi chúng ta có một ý thức phản tỉnh mà không bị dồn ép cực đoan bằng một ý thức hệ đã lỗi thời hay xí xoá dễ dãi bằng những thành tựu kinh tế nay đang sa sút.

    Để trả lời các vấn đề này, thế hệ tham chiến lập luận là ký ức của các chứng nhân lịch sử sẽ mai một và ký ức của tập thể chỉ có tính địa phương. Đoàn kết dân tộc là một vấn đề trọng đại của lịch sử đất nước, chúng ta hãy để cho sử gia làm việc, vì họ có khả năng gạn đục khơi trong các tồn đọng cuả quá khứ để trình bày khách quan hơn và có tác động hữu hiệu hơn. Bất hạnh cho chúng ta là sử Việt bị ngụy tạo quá nhiều, nên không thể lý giải và thuyết phục các sự thật lịch sử cận đại.

    Ngụy tạo chính sử

    Có một sự khác biệt giữa quan điểm về lịch sử của người phương Tây và Việt Nam. Khi người Mỹ nói đó là chuyện lịch sử, mọi người cùng yên tâm nghĩ là toàn bộ vấn đề xảy ra được ghi chép cẩn thận và nghiên cứu nghiêm túc (That is history; it is totally a record). Khi người Việt nói đó là chuyện lịch sử, chúng ta phải dè dặt hơn, vì đó là một biến cố quan trọng đã xảy ra (It is a most importat thing); sự kiện còn ngờ vực, đúng sai hay hay dở còn cần xét lạ, vì tùy theo thời điểm và quan điểm chính trị. Đây không phải là một khám phá mới lạ, vì đã có vô số các bằng chứng về các sai lầm trong sử Việt, mà những ví dụ chính cho thấy các tầm mức tác hại nghiêm trọng của vấn đề ngụy tạo.

    Thứ nhất, theo sử thì Đảng Cộng Sản Việt Nam (ĐCSVN) giải tán ngày 11 tháng 11 năm 1945, nhưng thực tế thì Đảng tiếp tục hoạt động trong bí mật, sau đó lại công khai cho đến ngày hôm nay. Không có sử gia nào bỏ công cải chính sự kiện này của ĐCSVN và Đảng Lao Động, dù là hình thức.

    Thứ hai, vai trò của ĐCSVN trong việc giành độc lập. Thực ra, Việt Nam chưa độc lập vào ngày 2 tháng 9 năm 1945 khi Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn, vì Đảng không cướp được chính quyền từ tay Nhật và Pháp, mà của chính phủ Trần Trọng Kim vào ngày 19 tháng 8 năm 1945 và về sau gọi đó là Cách mạng tháng Tám.

    Việt Nam thâu hồi chủ quyền độc lập ngày 8 tháng 3 năm 1949 theo Hiệp Định Elysée. Điểm đặc biệt của Hiệp định là Việt Nam thống nhất và độc lập nằm trong Liên Hiệp Pháp. Sau đó, ngày 23 tháng 4 năm 1949 Quốc Hội Nam Kỳ đã giải tán chế độ Nam Kỳ tự trị và sát nhập Nam Phần vào lãnh thổ Việt Nam. Do đó, Việt Nam đã được thống nhất năm 1949 về ngoại giao và chính trị.

    Không ai bỏ công phân biệt ý nghĩa cao cả của công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc do ngoại xâm và phương cách bất chánh để cướp chính quyền trong nội chính. Xác minh thời điểm chính xác cho sự độc lập cũng bị quên lãng.

    Thứ ba, cuộc đời của Hồ Chí Minh là một chuyện dài không đoạn kết. Bao nhiêu sách vở khác nhau viết về xuất xứ, hành tung, khả năng, quá trình hoạt động và tư cách đạo đức của ông. Mỗi lúc lại có một khám phá mới làm cho sự thật về cuộc đời của ông càng huyền bí hơn.

    Nhu cầu tuyên truyền chính trị nhất thời là lời giải thích quen thuộc. Các nhà nghiên cứu đã (phải) suy tôn ông lên làm thần thánh, rồi một thời gian sau, vì lý do chính trị khác, lại hạ bệ. Nhiều tác phẩm viết về ông, nhưng ông không có một chỗ đứng vững chắc trong lịch sử. Vì ông là một nạn nhân của lịch sử quái ác nên các vấn đề tiểu sử, công nghiệp, đời tư của ông còn cần phải tiếp tục soi sáng.

    Thứ tư, đấu tranh quân sự có phải là một giải pháp tối ưu duy nhất hay kết hợp với các giải pháp nghị trường và ngoại giao cũng là điều kiện khả thi?

    Trước trào lưu đấu tranh giành độc lập tại các nước Á Phi đang dâng cao nên Pháp đã ý thức vấn đề này. Từ năm 1947 Pháp đã quyết định không tái lập chế độ thuộc địa và tôn trọng nguyện vọng độc lập của nhân dân Việt Nam bằng cách đăng ký Việt Nam là một quốc gia độc lập nằm trong Liên Hiệp Pháp tại Liên Hiệp Quốc. Đó là một thắng lợi ngoại giao và pháp lý mà Đảng Cộng Sản đã phủ nhận và về sau giải thích là Pháp đem quân trở lại Việt Nam để tái lập chế độ thuộc địa.

    Do đó, khi nhân danh giành lại độc lập dân tộc, họ chiến đấu vũ trang chống Pháp, nhưng bằng cách độc quyền yêu nước và độc quyền lãnh đạo quốc gia. Trái lại, các nước châu Á khác đã chủ trương đấu tranh ôn hòa, không bạo động và không liên kết với Cộng sản Quốc tế, mà thành công của Ấn Độ (1947) là một thí dụ, dù bối cảnh phức tạp hơn Việt Nam nhiều.

    Thứ năm, ĐCSVN sử dụng chiêu bài đấu tranh chống Pháp và chống Mỹ như một chiến thuật để đạt mục tiêu chiến lược là cướp chính quyền. Họ đã chống đối bất cứ giải pháp chính trị và ngoại giao nào không cho họ độc quyền đấu tranh và lãnh đạo quốc gia, mà Hiệp định Genève và Paris là hai cơ hội lịch sử.

    Dù Hiệp định Genève chỉ là để định ranh giới ngưng bắn và không áp đặt những giải pháp chính trị, nhưng thống nhất Nam Bắc thuộc quyền dân tộc tự quyết, một cơ hội mới về tổng tuyển cử mở ra và sẽ do hai miền ấn định. Lãnh đạo cả hai miền đã không đủ nỗ lực để thực thi biện pháp tổng tuyển cử, một cơ hội không tốn xương máu. Đó là một quan điểm sai lầm của cả hai và trở thành một bất hạnh cho dân tộc hiếu hoà.

    Hiệp định Paris là một hiệp ước ngoại giao và có tác dụng chính trị, nhưng là một cơ hội khác mở ra nếu các bên đồng ý “thực hiện từng bước bằng phương pháp hoà bình trên căn bản thương nghị và thỏa thuận giữa Miền Bắc và Miền Nam, không bên nào cưỡng ép bên nào, không bên nào thôn tính bên nào.” (Điều 15).

    Phát động chiến dịch Hồ Chí Minh để thôn tính miền Nam không phải là phương pháp hòa bình như đã ký kết. Vi phạm Hiệp định Paris lại là một thành tích tự hào về sự phản bội của chính mình và chấp nhận hy sinh xương máu của thế hệ thanh niên cuối cùng của miền Bắc.

    Thứ sáu, Đại Thắng Mùa Xuân là đỉnh cao chói lọi trong trang sử đấu tranh của ĐCSVN, nhưng Ted Gunderson (1928 – 2011), nhân viên của FBI tại Los Angeles và Wahsington DC tiết lộ là sau chiến dịch Operation Linebacker của Hoa Kỳ, Bắc Việt tuyên bố đầu hàng đầu hàng vô điều kiện. Ngũ giác Đài nhận điện tín này nhưng CIA buộc ép nhẹm nguồn tin và thuyên chuyển tất cả các nhân viên có trách nhiệm ra khỏi nhiệm sở. Dĩ nhiên, Việt Nam không hề kiểm chứng nguồn tin này.

    Tóm lại, các vấn đề quan trọng trong chính sử cận đại như ý nghiã đích thực của chiến tranh, kết hợp các phương tiện khả thi để giải quyết xung đột, những hy sinh và thành tích cần được giải ảo trong một phương cách mới hơn, khi mà có vô số các nguồn tài liệu được liên tục giải mật. Quan trọng nhất là chúng ta phải có can đảm nhìn vào sư thật của lịch sử trong một nhãn quan mới.

    Cho dù ngày nay ngụy sử đã không thể phản ảnh được toàn bộ quá khứ và chính sử cũng không hẳn là mất đi hết trong những gì còn sót lại nơi lòng người, nhưng điều may mắn hơn cho chúng ta là lịch sử vẫn còn được truyền tụng, mà ký ức cá nhân và tập thể cần hồi tưởng là thí dụ điển hình.

    Những người Việt đang ở vào lớp tuổi bốn mươi hay trẻ hơn không có ký ức về chiến cuộc, vì họ chưa sinh ra. Dĩ nhiên, họ có quyền đặt câu hỏi vì sao Việt Nam chưa thể canh tân đất nước và hưởng độc lập dân tộc và họ phải gánh chịu một di sản tồi tệ như ngày hôm nay. Khi ngụy sử không thuyết phục được họ, thì ký ức của các bậc cha ông còn sống sót sẽ đóng vai trò gì?

    Ký ức chiến cuộc nhạt nhoà

    Tình yêu về dĩ vãng vốn bẩm sinh trong tâm hồn người Việt; họ thích ôm ấp kỷ niệm trong mơ hồ và không muốn dùng ngôn ngữ để diễn đạt những cảm xúc trân qúy. Ký ức là nhớ lại; một người không có trí nhớ là một người không còn bản sắc riêng. Nhưng ngược lại với ký ức là quên lãng; ai phải dồn ép quá khứ, thường là người không bình thường và hoặc sẽ mang bịnh ức chế. Một người trưởng thành không có ký ức sẽ mãi là một trẻ con.

    Ký ức tập thể theo Maurice Halbwach quan trọng hơn. Nó vượt qua khuôn khổ kinh nghiệm sống của một cá nhân, hằn sâu, tiêm nhiễm vào một tầng lớp xã hội, một thế hệ trong một giai đoạn của dân tộc và tạo thành bản sắc chung. Một dân tộc không có ký ức lịch sử cũng là một dân tộc chưa trưởng thành.

    Khi xưa, Tản Đà có than thở “Dân hai lăm triệu, ai người lớn?, Nước bốn nghìn măm vẫn trẻ con.” Lời thơ ai oán được truyền tụng như một lời cảnh tỉnh về tình trạng dân trí trong thời Pháp thuộc. Trong chiến tranh, Trịnh Công Sơn cũng đã nhắc nhiều đến thân phận đất nước, nhưng thê thiết nhất là “Ôi, đất nước u mê ngàn năm“. Điều ngạc nhiên là cả hai danh tài này sống trong hai thế hệ cách biệt nhau, nhưng lại cùng một tâm trạng, dù không hề quan tâm đến chính sử và ký ức.

    Nhưng làm sống lại ký ức không dễ, vì có một cái gì đó thiếu bình thường mà có quá nhiều thí dụ làm cho chúng ta ngạc nhiên.

    Thứ nhất, nhân ngày 30 tháng 4 mà nhân dân thủ đô Hà Nội kéo băng và biểu ngữ với nội dung “Hân Hoan Chào Mừng Ngày Giải Phóng Thủ Đô”. Vô ý hay là trớ trêu trong một ký ức nhạt nhoà? Không ai biết.

    Thứ hai, ngược lại, nhân ngày này mà một số người Việt hải ngoại cũng có tổ chức“Ngày Diễn Hành Cho Tự Do”. Vì là buổi diễn hành nên ít có thuyết trình về ý nghĩa trọng đại về một ngày lịch sử của đất nước để người tham dự cảm thấy có trách nhiệm hơn đối với những hậu quả của ngày này. Vì tự do hoài niệm mà đôi khi cũng có nhiều nơi còn có kết hợp với lễ Lao Động với dạ tiệc và khiêu vũ thâu đêm là chính. Đó là sáng kiến giải trí cuối tuần kéo dài trong hoàn cảnh mới, nên không đem lại một âm vang tưởng niệm nào trong đau buồn, nhớ những nguời nằm xuống và người trốn chạy.

    Thứ ba là chuyện không có quyền công khai tưởng niệm những người nằm xuống trong chiến tranh biên giới Trung – Việt. Khơi động ký ức lại cần có ý kiến chỉ đạo? Hồi sinh ký ức càng thêm chua chát khi lãnh đạo hân hoan đón tiếp lãnh đạo bạn để cùng “Thành Kính Tưởng Niệm Các Liệt sĩ Trung Quốc Hy Sinh Vì Chính Nghĩa”trong Tiết Thanh Minh, một việc làm đúng theo chính sách đề ra.

    Còn nhớ về Ngày Hoàng Sa và Trường Sa lại càng khó hơn, cụ thể nhất là vụ thảm sát Gạc Ma. Trước đây binh sĩ không được phép chống trả với Trung Quốc nên đem lại một cái chết tập thể; chính quyền luôn che dấu sự thật và nay lại không cho phép tưởng niệm và ghi công và không nêu tên kẻ thù, đó là một hành vi xoá bỏ ký ức có định hướng.

    Những người chiến đấu còn sống không được tri ân, đãi ngộ và chỉ còn âm thầm xót thương cho đời nhau. Họ cũng bất hạnh giống như các cựu chiến binh Mỹ, làm điều vô ích cho kẻ vô ơn và cuối cùng lại chứng kiến trớ trêu của lịch sử mà đó lại là định mệnh của mình.

    Thứ tư là chuyện những người di tản buồn lại càng buồn hơn, khi phải nhớ tới những thuyền nhân qua cơn phong ba bảo táp, chưa hưởng được tự do và cuối cùng phải yên nghỉ nơi đảo vắng xứ người. Trùng tu mộ phần đã khó, sơn tặng cho họ một lá cờ trên mộ phần và lập đài tưởng niệm trên các đảo cũng bị nhà nước CSVN tìm cách áp lực ngoại giao nên không được phép. Thân nhân cũng đành khép lại quá khứ theo chính sách.

    Thứ năm là vấn đề gọi tên ký ức. Thảm sát hay chiến thắng Mậu Thân? Định danh ký ức cũng cần thảo luận như gọi tên cho cuộc chiến. “Chống Mỹ xâm lược“ mà hơn 5000 ngàn thường dân Việt và vài ân nhân người Đức phải chết oan uổng, thì không thể nào gọi là thắng lợi huy hoàng và có thể giải thích thuần lý.

    Những hung thủ còn sống sót cũng không đủ can đảm đính chánh về cáo giác của các nhân chứng trong “Giải Khăn Sô Cho Huế“. Dù tai họ còn nghe và mắt họ còn thấy phản ứng của nạn nhân khác còn sống, nhưng khác với Hitler đã tự xử, hung thủ yên tâm hơn để nghiên cứu về Huế học, mà họ quên đi đối tượng nghiên cứu khẩn thiết nhất của Huế học là làm sáng tỏ việc tàn sát. Tên tuổi và hành vi của họ vẫn bị ràng buộc với lương tâm và lịch sử.

    Chúng ta là có vô số ký ức cá nhân có giá trị lịch sử: Giải Khăn Sô Cho Huế, Muà Hè Đỏ Lửa, Dấu Binh Lửa, Đường Đi Không Đến, Xương Trắng Trường Sơn, Thiên Đường Mù, Nổi Buồn Chiến Tranh và Đèn Cù là những thi dụ chính. Vì là tự truyện cá nhân nên có sự đãi lọc nhất định theo ý nghĩ cảm nhận và tùy theo cái gọi làlieux de mémoire của tác giả (các địa điểm liên hệ tới biến cố xãy ra để trở thành ký ức, một khái niệm của Pierre Nora). Thực ra, nhân chứng lưu giữ ký ức, họ chỉ là một người sống trong những biến cố kinh hoàng trong lịch sử, mà họ không hiểu tại sao, không lường đoán được hậu quả và giải thích các tầm mức phức tạp của diễn biến.

    Do đó, chúng ta cần có sử gia, vì ký ức cần khách quan hoá theo phương pháp sử học, một tiến trình đến sau và có chọn lọc. Sử gia đối thoại với nhân chứng, vì nhân chứng biết rõ hơn các biến cố. Họ diễn dịch, sưu tầm và biên tập theo một hệ thống nhất định thành một loại đề tài chung.

    Dù ký ức về chiến cuộc nhạt nhoà, nhân chứng lần lượt ra đi, quá ít sử gia chân chính, nhưng lịch sử không thể nguy tạo ký ức. Chính ký ức làm nên lịch sử. Ký ức không phải là vấn đề riêng của sử gia. Lịch sử không thuộc về sử gia, mà cho tất cả những người có liên quan và có tinh thần trách nhiệm. Những người đứng ra tổ chức các lễ tưởng niệm với các phương tiện truyền thông hiện đại cũng là một thí dụ.

    Các buổi lễ truy điệu, báo chí, sách vở sẽ làm sống lại các ký ức tập thể. Những hình thức nghi lễ “hoành tráng“ của phe thắng cuộc không mang nhiều ý nghĩa đích thực để tìm ra bản chất của tưởng niệm. Những đề tài thảo luận nghiêm chỉnh về ý nghĩa của tưởng niệm là quan trọng hơn.

    Nhờ thế, chúng ta viết lại lịch sử bằng cách khám phá những sự dị biệt trong ký ức với tinh thần trách nhiệm. Ký ức dị biệt của cá nhân là một phương tiện thông đạt dùng trong sinh hoạt hằng ngày khi thảo luận về những biến cố lịch sử. Ngược lại, ký ức tập thể là một sản phẩm xã hội, đẩy mạnh cho việc hình thành một bản sắc văn hoá dân tộc. Nhưng biết tìm đâu bản sắc văn hoá truyền thống của dân tộc Việt?

    Bản sắc dân tộc tàn phai

    Dù là gọi là đất nước hay dân tộc cũng chỉ là một. Dân tộc là một ngôi nhà chung chứa đựng một linh hồn chung. Hồn thiêng này có hai phần: phần một nằm trong quá khứ, là một di sản thuộc toàn dân và ký ức lịch sử là một thành phần. Phần hai nằm trong hiện tại. Đó là tinh thần đồng thuận, cùng ước mơ chung sống để phát triển và lưu truyền giá trị của một di sản không thể phân chia. Khái niệm dân tộc này của Ernest Renan không phải là chủ nghiã dân tộc đã bị lạm dụng quá nhiều trong quá khứ.

    Bản sắc văn hóa dân tộc gồm các đặc tính được duy trì trong quá trình của lịch sử và được kết tinh thành những biểu tượng để phân biệt với các dân tộc khác. Nó tạo thành những chuẩn mực giá trị cho xã hội và thể hiện tâm lý dân tộc mà các ký ức văn hoá là thí dụ.

    Ký ức văn hoá theo Jan Assman gồm có việc sử dụng chính sử, tự truyện, hình ảnh và nghi lễ đặc biệt cho một xã hội trong một thời kỳ; mọi sự vun bồi này sẽ tạo nên một hình ảnh chung cho bản sắc dân tộc. Nhờ thế mà chúng ta có thể hiểu được giá trị truyền thống.

    Chúng ta có thói quen ca ngợi bản sắc dân tộc và đơn giản hoá vấn đề, nhưng kỳ thực, bản sắc cá nhân phức tạp, vì dựa vào hoàn cảnh và điều kiện xã hội địa phương, thuộc về một thế hệ nhất định, một tôn giáo, một đoàn thể nghề nghiệp và trình độ giáo dục nào đó. Bản sắc thay đổi liên tục trong suốt cuộc đời qua những biến cố của riêng mình.

    Mô tả về bản sắc đất nước càng khó hơn vì theo dòng lịch sử, có quá nhiều biến chuyển sẽ thay thế cho các ký ức cũ phai mờ, tạo thành những bản sắc mới. Tùy theo thời điểm hay địa điểm mà bản sắc đất nước có thể tiến hay thoái hoá. Các thay đổi về giá trị qua từng thế hệ kết hợp nhau trong liên tục và tái tạo.

    Trong một thời kỳ dài đấu tranh, Đảng đã bao nhiêu lần nói là “thống nhất đất nước ta sẽ xây dựng lại ngàn lần tươi đẹp hơn”. Nhưng chiến thắng năm 1975 cho phép Đảng có lý do tự phong một bản sắc mới là “trung tâm phẩm giá của loài người và lương tâm của thời đại”. Bản sắc cường điệu này không thuộc truyền thống chân thành của dân tộc. Đảng đã không thể trau dồi bản sắc, và chiến thắng không đem lại tự do và cơm áo cho toàn thể dân chúng trong thời bình.

    Dù thành tựu đổi mới kinh tế có đem lại cho sung túc cho một thiểu số, nhưng Đảng không thể nâng cao bản sắc văn hoá vì giáo dục xuống cấp, đạo đức suy đồi, thờ ơ của dân chúng và gương xấu của chính quyền là trở lực. Tìm lại bản sắc dân tộc đã đánh mất là điều không thể thực hiện được trước mắt, vì thành tựu của các biện pháp cải cách giáo dục và nâng cao đạo đức không thể là kết quả dễ được tìm thấy trong một sớm một chiều.

    Đã đến lúc đất nước cần có bản sắc mới như là một vai trò kết nối, một khái niệm và một thành tố để xây dựng lịch sử. Nhưng làm sao nối kết những ký ức văn hoá dị biệt trong bối cảnh hiện nay. Thực ra, không ai có đủ viễn kiến để tiên đoán chuyện lý thuyết.

    Nhưng sử gia không còn đi tìm những giá trị biểu tượng xa xưa, vì các biến động mới có những giá trị làm cho lịch sử độc đáo hơn. Họ dùng ngày 30 tháng 4 năm 1975 làm một phương tiện nhằm tạo ra huyền thoại chính trị duy nhất cho khởi điểm mới về ký ức lịch sử cận đại. Với 40 năm trôi qua, thời gian lắng đọng để họ cùng tìm hiểu về ý nghĩa của ngày 30 tháng 4. Do đó, giải ảo về nội dung ngày này cần được đặt ra.

    Phản tỉnh về ý nghĩa của ngày 30 tháng 4 năm 1975

    Ngày 30 tháng 4 năm 2015 là một ngày để chúng ta nhớ về ngày 30 tháng 4 năm 1975 và tìm hiểu những gì mà dân tộc đã sống trong 40 năm qua. Bằng kinh nghiệm sống với chế độ, với các sử liệu mới, lý trí khách quan và tự do phê phán giúp cho chúng ta nhận ra sự thật. Sự thật sẽ giải phóng cho chúng ta.

    Ngày 30 tháng 4 năm 1975 là biểu tượng khởi đầu cho một tiến trình tương phản phức tạp. Giá trị biểu tượng của ngày này là một nghịch lý bi đát. Chiến tranh kết thúc giải phóng cho tất cả mọi người trong mọi hoàn cảnh, nhưng không phải chỉ là vinh quang mà còn là tủi nhục; ngày miền Nam thoát khỏi chiến tranh cũng là ngày mà miền Bắc hiểu rõ hơn thế nào là giải phóng và hy sinh cho chính nghĩa. Cả nước vừa được giải phóng lại vừa bị hủy diệt trong một hoàn cảnh mới, không phải chỉ là thiệt hại vật chất mà còn là tinh thần, một vấn đề bản sắc.

    Dĩ nhiên, chúng ta phải chấp nhận những gì đã xảy ra vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, vì không thể thay đổi được, dù còn bị ảnh hưởng hậu quả cho đến hiện nay. Chúng ta không thể tách rời ngày 30 tháng 4 năm 1975 với ngày 3 tháng 2 năm 1930, ngày thành lập ĐCSVN, đó là một nguyên nhân khởi đầu mọi thay đổi trong các trang sử Việt.

    Với ý thức phản tỉnh chúng ta có thể nói cho nhau hôm nay về ý nghĩa đích thực của ngày 30 tháng 4 là đây là một ngày toàn thắng trong tiến trình cướp chính quyền của ĐCSVN và là một ngày đại bại của toàn dân tộc Việt. Vì sao?

    Vì nhìn lại quá khứ của công cuộc tiến nhanh tiến mạnh lên XHCN chúng ta chỉ thấy một bóng tối kinh hoàng. Đó là các biện pháp truất hữu ruộng đất, ngăn sông cấm chợ, đánh tư sản mại bản, bài trừ văn hoá đồi trụy, thanh niên xung phong, kinh tế mới và học tập cải tạo. Theo sau là thảm kịch thuyền nhân, chiến tranh Tây Nam và phiá Bắc. Cuối cùng là kinh tế kiệt quệ để rồi ĐCSVN phải chịu có biện pháp xé rào và đối mới để nuôi dưỡng chế độ.

    Với một cơ hội mới và tiềm năng cao để tái thiết hậu chiến và hàn gắn vết thương chiến tranh, nhưng đến năm 2015 mà Việt Nam còn tụt hậu thua Lào về canh tân công nghiệp, trình độ phát triển dân chủ kém hơn Campuchia, cạnh tranh kinh tế suy yếu hơn Hàn quốc, phát minh khoa học thua xa Thái Lan, năng lực lao động thấp nhất trong khu vực, nhưng tình trạng vi phạm nhân quyền và bất công xã hội lại là trầm trọng nhất.

    Vì nhìn về tương lai chúng ta càng lo sợ hơn vì không biết đất nước và con người sẽ đi về đâu. Chủ nghĩa tư bản thân tộc tạo ra một xã hội thị trường hỗn loạn trong một nhà nước sơ khai là nguyên nhân, mà tham nhũng lên ngôi thượng đỉnh, đạo đức suy sụp tận đáy, giáo dục băng hoại và môi sinh cạn kiệt là hậu qủa. Trong khi hiểm hoạ Bắc thuộc là hiện thực, thì bất ổn cá nhân, bất trắc kinh tế và bất công xã hội vẫn còn kéo dài.

    Tóm lại, chúng ta có các lý do chính đáng để không hân hoan tham gia mừng lễ kỷ niệm chiến thắng, nhưng cần giúp đỡ nhau để có ý thức phản tỉnh về ý nghĩa tưởng niệm, hoà giải và tỉnh thức trong ngày 30 tháng 4. Nhờ thế, chúng ta sẽ thấy có trách nhiệm hơn đối với những hậu quả của ngày này trong tương lai.

    Ngày tưởng niệm

    Hồi tưởng thuộc về một phần trong đời sống tâm linh của chúng ta. Ai đã sống trong ngày 30 tháng 4 với đầy đủ ý thức và nhận xét, thì cũng tự hỏi là ngày này mình làm gì và ở đâu và sự ràng buộc của mình trong biến cố này.

    Ngày 30 tháng 4 là một ngày để chúng ta tưởng niệm về tất cả những người quá cố của hai miền, những người đã tin là mình chiến đấu cho chính nghĩa của đất nước. Chúng ta không thể quên họ và cầu mong họ siêu thoát. Đau đớn nhất là các chiến sĩ giải phóng quân; bây giờ họ không còn cơ hội để nhận ra rằng họ đã bị phản bội; tất cả công lao của họ là vô ích và vô nghĩa; cái chết của họ chỉ là phục vụ cho các mục tiêu cướp chính quyền của giới lãnh đạo vô nhân đạo.

    Chúng ta sống trong gọng kềm của lịch sử dân tộc và là nạn nhân phải hy sinh cho quyền lợi của giới lãnh đạo. Cả một dân tộc không ai có tội cá nhân; không ai có tội với lịch sử. Có tội ít hay nhiều chỉ có thể quy kết cho tập thể lãnh đạo, vì họ thiếu trí tuệ và thiếu bản lãnh; họ chỉ phục vụ cho ngoại bang, chủ nghĩa phi dân tộc và không tìm cách tiết kiệm máu xương.

    Chúng ta cũng hoài niệm về những nổi đau khổ của thân nhân còn sống; đặc biệt là nữ giới, đau khổ vì sự mất mát về tất cả những gì không thể giữ được từ vật chất cho đến tinh thần. Đó là đau khổ qua bị thương tổn và tật nguyền, đau khổ vì buộc phải chịu mất tài sàn, mất người thân yêu, mất nhân phẩm, cảm xúc bị tổn thương, cưỡng bức lao động, bất công nghiêm trọng và tra tấn dã man, đói khổ, giam cầm và trốn chạy.

    Ngày hoà giải

    Ngày 30 tháng 4 là ngày mà chúng ta không những tưởng niệm cho những người nằm xuống mà còn muốn hòa giải giữa người Việt còn sống với nhau. Chúng ta tìm kiếm hòa giải, nhưng không thể hòa giải với những người đã nằm xuống và những người không còn ký ức. Số phận chung của dân tộc liên kết chúng ta với nhau thành một định mệnh chung trong ước muốn chung sống trong hòa bình và thịnh vượng.

    Trong đời sống hằng ngày, người Việt chỉ muốn sống an vui trong hiện tại và không muốn nhớ những chuyện vô nhân đạo trong quá khứ. Chúng ta chấp nhận và chịu đựng sự khắc nghiệt do số phận an bài, đó là chuyện tinh thần được đặt ra bên cạnh các nhiệm vụ khác.

    Nhưng ngày 30 tháng 4 là một vết rạch hằn sâu trong lịch sử cho toàn thể, nên có một nghịch lý xảy ra, người Việt có tinh thần hồi tưởng và sẽ luôn hồi tưởng khi có cơ hội. Bốn mươi năm sau khi kết thúc chiến tranh, dân Việt vẫn còn bị phân chia. Chúng ta cảm thấy chưa thuộc về nhau bởi vì chúng ta đã sống và nghĩ không cùng trong một nhận thức về quan điểm đấu tranh. Đó là một gánh nặng trong lịch sử mà chúng ta vẫn còn bị mang ít nhiều tổn thương.

    Làm sao chúng ta có thể xoá bỏ vết hằn khôn nguôi nếu không có hoà giải? Thực ra, kinh nghiệm quốc tế cho thấy hoà giải không chỉ là tha thứ của nạn nhân về sai trái của thủ phạm, mà còn là một đồng thuận giá trị về chính trị. Đầu hàng là một thay đổi thái độ của phe thua cuộc trước phe thắng cuộc, một quyết định hợp lý của lý trí của phe thua cuộc và cần được thể chế chính trị của phe thắng cuộc bảo vệ. Vai trò luật pháp là điều kiện thể chế tiên quyết để bảo vệ họ. Khuôn khổ cho hoà giải là bình đẳng trước pháp luật, thực thi dân chủ, tôn trọng nhân quyền và dân quyền của phe thắng cuộc. Sự đồng tình của cả hai phe sẽ đem lại ý nghiã chung sống. Đó là một khuôn khổ xây dựng lại mối quan hệ và niềm tin cho xã hội và tạo lập một cộng đồng cho tương lai.

    Dầu bối cảnh tranh chấp khác nhau, các nước Nam Phi, Nam Tư củ, Bắc Ái Nhĩ Lan, Sierra Leone, El Salvador, Guatemala và Rwanda đã tìm ra một căn bản đồng thuận cho tiến trình hoà giải, mà đạo đức là mục tiêu và luật pháp là phương tiện. Vì say men chiến thắng mà kinh nghiệm hoà giải chính trị hậu xung đột không là vấn đề quan trọng để Việt Nam quan tâm học tập, cải tạo tập trung là trường hợp minh chứng ngược lại.

    Sau ngày Đổi Mới, Việt Nam khởi đầu tiến trình hoà giải chính trị bằng Nghị Quyết để nhằm thu hút tài năng trí tuệ và đóng góp tài chánh. Nghị Quyết không đề ra sư tương thuận của phe thua cuộc; khuôn khổ pháp luật làm nền tảng và tinh thần đạo đức dân tộc làm nội dung cho hoà giải cũng không có. Việt Nam chỉ đo thành tựu Nghị Quyết bằng lượng kiều hối, du lịch và giao lưu văn nghệ trong ngoài. Hoà giải loại này không đem lại một niềm tin chung hướng về tương lai.

    Trong nỗ lực hoà giải có một thử thách chung cho hai phía. Sẵn lòng hòa giải phải phát sinh từ trong nội tâm và do ngoại cảnh, không phải là vấn đề mà phe thắng cuộc đòi hỏi nơi phe thua cuộc theo tinh thần Nghị Quyết, nhưng là tự nội tâm của mỗi phe đòi hỏi nơi chính mình, đó là khởi điểm quan trọng nhất.

    Cụ thể là liệu phe thắng cuộc có thể thực sự tự đặt mình trong hoàn cảnh của phe thua cuộc đựợc không hay phe thua cuộc có tin tưởng vào thành tâm hoà giải của phe thắng cuộc được không? Liệu Nghị Quyết một chiều có phải là một cơ sở ràng buộc nhau không? Cả hai phải nhận ra những gánh nặng của nhau, xem có chịu đựng nhau không và có quên quá khứ được không?

    Cả hai phe làm gì trong tiến trình này? Chủ yếu là phe thắng cuộc cần có ý thức hơn để tìm lại nguyện vọng trung thực của phe thua cuộc; thay vì diễn binh mừng chiến thắng chỉ khơi động lại lòng thù nghịch, phe thắng cuộc nên can đảm hơn là đem tàu ngầm hiện đại ra biển Đông để bày tỏ quyết tâm trước Trung Quốc, phô trương này sẽ gây tác động hoà giải dân tộc cao hơn. Thay vì ngăn cản tưởng niệm, nên thành tâm bày tỏ thương tiếc những người của hai phiá đã hy sinh bằng cách xây một tượng đài chung, một hình thức tỉnh ngộ về sự lầm lạc chung của cả dân tộc trong cả một giai đoạn lịch sử. Họ nên đãi ngộ người đóng góp còn sống, một hình thức xoa dịu thương đau xã hội; nỗ lực hoà giải với người đối kháng và trực tiếp đối thoại trong tinh thần dân chủ là thực tế hơn, vì không phải ai có quan điểm đối lập chính trị với chính quyền cũng đều là những phần tử suy thoái đạo đức và phản động.

    Phe thua cuộc cũng cần có nhận định nghiêm chỉnh hơn về ý nghĩa cao cả của tha thứ. Tha thứ là tìm hiểu và mến yêu người sai phạm. Hiểu nhau là vì đã tìm thấy lại nhau trong một quá khứ chung lầm lạc. Yêu mến nhau là vì cùng có một số phận và ý chí chung sống để xây dựng tương lai đất nước.Thực tế ngược lại. Một số không nhỏ của phe thua cuộc tự nguyện tìm đến phe thắng cuộc vì những bả lợi danh cuối đời, những lạc thú do những chênh lệch giá cả tại quê nhà, ngay cả những hạnh phúc thoáng qua như tiếng còi hụ đưa đón. Đó là một sự sĩ nhục mà một số trong phe thua cuộc tự tạo ra, vì trong khi cho đến ngày hôm nay, vẫn còn có rất nhiều người khả kính, can trường và liêm chính trong chiến bại.

    Tương lai của hoà giải không ai biết được, nhưng khởi động một trào lưu nhận thức mới về tinh thần hoả giải là khẩn thiết, vì các thế hệ tham chiến sẽ lần lượt ra đi và các thế hệ nối tiếp sẽ không đủ quan tâm để giải quyết.

    Ngày tỉnh thức

    Ngày 30 tháng 4 năm 2015 bắt đầu một chương mới trong lịch sử Việt Nam và một thế hệ mới đang trưởng thành. Giới trẻ không có các ký ức dị biệt và không chịu trách nhiệm về những gì đã xảy ra trong quá khứ, nhưng họ đang và sẽ có trách nhiệm đối với những gì sẽ trở thành lịch sử. Họ sẽ đóng một vai trò chính về số phận của con người, đất nước và dân tộc trong khoảng thời gian bốn mươi năm tới. Nhưng ngày 30 tháng 4 năm 1975 lại có ý nghĩa tỉnh thức vì ký ức cá nhân kéo dài chỉ trong bốn mươi năm. Nếu ký ức phai nhạt thì những gì quan trọng khác còn lại cũng không còn ý nghĩa. Thế hệ tham chiến cần giúp cho giới trẻ hậu chiến tìm hiểu về sự thật của lịch sử, không thiên vị theo ý thức hệ, trốn chạy trách nhiệm và nhân danh đạo đức. Đâu là giá trị tỉnh thức trong ngày 30 tháng 4?

    Chúng ta cần can đảm để nói cho thế hệ hôm nay biết là hiện tình Việt Nam là đang bị nguy cơ hơn bao giờ hết; vì về mặt nội trị có quá nhiều bất ổn mà vẹn toàn lãnh thổ, tham nhũng và nợ công là chính; về mặt đối ngoại có quá nhiều tổn thương, vì lãnh đạo đặt quyền lợi Trung Quốc và quyền lợi riêng lên trên quyền lợi của dân tộc là chính; nay lại hy vọng là Hoa Kỳ đoái thương dân Việt. Nhưng thực tế, Hoa Kỳ sẽ không có phép lạ nào để biến đổi nội tình Việt Nam hôm nay và sẽ không là một lá chắn an toàn cho Việt Nam mai sau. Mỹ đủ thông minh để không bao giờ chống Trung Quốc cho đến xương máu của người Mỹ cuối cùng thay cho Việt Nam, như miền Bắc Việt Nam đã hãnh diện chống Mỹ thay cho Trung Quốc trong quá khứ.

    Do đó, giới trẻ nên tỉnh thức để tránh lầm lạc của bậc cha ông. Đó là do khuấy động các ý thức hệ đối nghịch, hận thù lầm lạc và gian dối lẫn nhau mà Việt Nam đã có chiến tranh. Do bất tài, bất xứng và bội tình mà thế hệ cha ông đã không để lại được một non sông gấm vóc cho con cháu thừa hưởng; “Gia tài của mẹ, mộtnuớc Việt buồn“, nếu nói theo nhạc của Trịnh Công Sơn.

    Từ tỉnh thức này mà giới trẻ sẽ lưu truyền các ký ức lịch sử và không để bị lôi cuốn vào những hận thù và chống đối nhau, mà cố gắng liên tục học hỏi để tìm cách chung sống với nhau trong tình hiếu hoà và nhất là sẽ có ý thức trách nhiệm nhiều hơn cho tương lai đất nước.

    Thế hệ hậu chiến và tương lai

    Ngày 30 tháng 4 năm 2015 đánh dấu một ngày khởi đầu cho thế hệ hậu chiến trưởng thành. Họ có trách nhiệm chính trị cho đất nước trong thời kỳ mới. Nhưng họ phải nghĩ gì và làm gì để canh tân đất nước và tìm lại độc lập cho dân tộc?

    Nghĩ gì? Thách thức vô cùng to lớn khi thế hệ hậu chiến cần có nhiều ý thức và kinh nghiệm hơn để đảm nhiệm trọng trách này. Đó là vấn đề còn mở rộng để tranh luận, nhưng họ có bốn khó khăn chính.

    Một là, họ không kế thừa một phương sách khả thi nào. Đảng đã không thể lý giải được cơ chế Kinh tế Thị trường và Nhà nước Pháp quyền theo định hướng XHCH là gì. Đảng cũng tự nhận là đã theo một đường lối không có cho đất nước. Vì nhận hư thành thực cho nên Đảng cũng không thể hoàn thiện đường lối này cho đến cuối thế kỷ XXI. Nhưng Đảng sẽ vượt qua các chống đối bằng cách dùng bạo lực đàn áp để duy trì chế độ, một bất hạnh cho toàn dân.

    Hai là, họ không thể phát huy các kinh nghiệm cuả bậc cha ông. Các kinh nghiệm của Cách Mạng Tháng Tám và Đại Thắng Mùa Xuân không còn phù hợp với trào lưu đấu tranh bất bạo động cho Việt Nam, mà đó là một giải pháp tương ứng khả thi. Thành quả cuả Cách Mạng Đông Âu, Đông Đức, Miến Điện và Muà Xuân Á Rập là những bài học mới thích hợp hơn, nhưng họ chưa thể huy động được dân chúng vì thái độ vô cảm chính trị của đa số.

    Ba là, họ không thể hy vọng là được Đảng chuyển giao quyền lực cho dù họ có khả năng và tâm huyết, vì thân tộc của lãnh đạo còn vây quanh. Trong một xã hội thị trường đang thay đổi hỗn loạn, họ không thể tiên đoán được là đổi mới chính trị sẽ hình thành như thế nào. Tất cả đều tuỳ thuộc vào một số quan niệm về tương lai, những cách đánh giá khác nhau về ý nghĩa của xu hướng hiện nay và về các chuẩn mực để giải quyết các khác biệt, thí dụ như vi phạm nhân quyền và tự do báo chí.

    Bốn là điều kiện ý thức về truyền thống lịch sử và chuyển hoá chính trị. Từ thắng lợi của việc cướp chính quyền mà Đảng tự hào về thành tích làm nên “Ý nghĩa Lịch sử” cho dân tộc. Nhưng ý nghĩa lịch sử này không phải là những gì đã được Đảng tuyên bố, mà giới trẻ cần khám phá lại. Nhu cầu giải ảo ngụy sử và niềm tin về tương lai dân chủ cần đến các điều kiện trí thức. Đó là kiến thức và ý thức về chính sử và dân chủ, để từ đó làm cơ sở cho tinh thần xây dựng. Kiến thức là khởi điểm cho ý thức và có kiến thức thì mới có ý thức để xây dựng một ý chí chung sống.

    Tuy nhiên, thực tế bi quan hơn, vì sử học và kinh tế chính trị học không còn thu hút giới trẻ, một môn mà người học không muốn học và người dạy không muốn dạy. Sự tụt hậu là do một hệ thống giáo dục gian dối và ngụy sử làm mất niềm tin về giá trị cuả toàn xã hội qua nhiều thế hệ.

    Ý thức về lịch sử và dân chủ do đào tạo mà ra, có tính thuần lý vì do lý trí hướng dẫn và được đãi lọc qua thời gian. Học chính sử giúp giới trẻ lý luận và phán đoán về sự thật của lịch sử. Ý thức về lịch sử sẽ tạo nên một thái độ chung đối với lịch sử, một khả năng để giải ảo, một loại trách nhiệm cá nhân đối với xã hội và có tình cảm dân tộc.

    Do đó, hy vọng còn lại là giới trẻ sẽ phát huy tinh thần tìm hiểu và mến yêu lịch sử và giá trị của dân chủ. Sự thật lịch sử sẽ là bước khởi đầu và giới trẻ phải tìm kiếm sự thật giữa dòng lịch sử. Giới trẻ có thể so sánh lịch sử tương lai như một dòng sông, nhưng các dòng nước sẽ luôn biến đổi mà họ đang khởi đầu bơi lội và cũng không biết đi về đâu, như một câu nói quen thuộc là “Người ta không thể tắm hai lần trong cùng một dòng sông“. Nhưng có ý thức lịch sử và dám dấn thân làm lại lịch sử cho dân tộc là một hy vọng khởi đầu.

    Làm gì? Giới trẻ cần thảo luận để nhận ra điều kiện đem lại hoà bình và thịnh vượng cho đất nước. Mọi vấn đề hiện nay có thể sẽ được giải quyết được một phần nào khi có sức mạnh dân tộc mà sự hiểu biết của toàn dân, đồng thuận chính trị, và quyết tâm chuyển hướng là chính và đường lối thực tiễn là thay đổi hiến pháp dân chủ, nâng cao đạo đức và giáo dục, tăng trưởng kinh tế, tôn trọng trí thức và pháp luật, thực thi nhân quyền và dân quyền và bảo vệ thiên nhiên. Nhưng sự hợp tác về một chính sách ngoại giao Trung-Việt ổn định và tương kính là khả thi, khi Việt Nam đủ khả năng chứng tỏ là một người bạn đối tác đích thực bình đẳng và không phải chỉ bằng ngôn ngữ bóng bẩy như hiện nay. Với nỗ lực của nhiều thế hệ, chúng ta hy vọng là Việt Nam sẽ đạt được một phần nào những mục tiêu này.

    Việt Nam sẽ đi về đâu? Không ai biết rõ, nhưng chắc một điều là đất nước dù năng động đến đâu đi nữa, thì Đảng cũng sẽ không còn phép lạ khi Đảng không tự chuyển hoá. Thế hệ hậu chiến không cần có một lý tưởng cầu toàn để canh tân đất nước, một ảo tưởng trí thức để thăng hoa bản sắc văn hoá hay các biện pháp xé rào để cứu Đảng, mà cần nhất là có một ý thức bừng tỉnh về sự tồn vong của dân tộc.

    ____

    Bài liên quan:

    Chủ nghĩa cộng sản trên thế giới tiêu diệt
    Tháng Tư mãi là nỗi buồn !
    Luật Pháp Và Hoà Giải Chính Trị – Các Kinh Nghiệm Quốc Tế
    Sự thịnh vượng của đất nuớc: Lý thuyết của Adam Smith và thực tế tại Việt Nam

    https://anhbasam.wordpress.com/2015/04/07/3675-hoai-niem-va-phan-tinh-ve-ngay-30-thang-4-nam-1975-de-giai-ao-nguy-su-hoa-giai-dan-toc-va-xay-dung-dat-nuoc/

  3. Đáng lẽ ra các phản ứng này nên được kềm lại
    * * *
    trước số phận tăm tối của số lượng lớn những người Việt bị chuyển giao. Đối với họ, hành trình tử nạn thực sự chỉ mới bắt đầu với chiến thắng của cộng sản.

    – Khoảng từ 200.000 tới 400.000 người đã bị chết chìm trong khi chạy trốn khỏi đất nước của họ trên những chiếc thuyền đánh cá và thuyền chắp vá tạm bợ, theo Cao ủy LHQ về người tị nạn.
    – Khoảng 65.000 người đã bị hành quyết.
    – Một triệu người bị đẩy vào các trại tập trung, ở đó, 165.000 người bị tra tấn hay bị bỏ đói đến chết.
    – Trong số những người bị giết gồm có 30.000 người trong danh sách tình báo viên của CIA bị sót lại tại tòa đại sứ, theo tường trình của National Review.

    https://haiz00.wordpress.com/2015/04/02/30-4-1975-ngay-giai-phong/

    Bài Đọc Quan Tâm

    30.4.1975 – Ngày Tự Thú của csVN
    30.4.1975 – Ngày Hận Thù của csVN
    Việt Nam Cộng Hòa – Sau 30 Năm Tị Nạn csVN tại Hải Ngoại
    Việt Nam Cộng Sản – Sau 30 năm Thống Trị Vietnam
    Cộng Sản Việt Nam – Thanh Trừng Nội Bộ
    Đảng CSVN – Bí mật bán Nước cho Trung Cộng
    Ghi Chú : Việt Nam – Trung Cộng – Đồng Hóa
    Sách lược : Diệt chủng dân tộc Việt của Trung Cộng
    Tài Liệu : Hủy hoại trí tuệ và Đất Nước
    Trung Quốc : Nắm 137 lô đất Chiến Lược tại Đà Nẵng
    Trung Quốc : Chủ Mưu xây dựng Formosa Thải Độc Diệt Chủng VN
    Liên Hiệp Quốc : Bác bỏ “đường lưỡi bò” Trung Quốc
    Nguyên nhân – Thất thủ Điện Biên Phủ
    Tháng Tư Đen – Bí Mật Vĩ Đại
    Danh sách : Trên 300 Cộng Sản VN có vài trăm triệu USD
    Hàng chục tỷ USD – Tẩu thoát “Ngầm” ra khỏi Việt Nam
    Chỉ thị 45 – CSVN kêu gọi Người Việt hải ngoại xóa bỏ Hận Thù

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s