Lịch Sử Ngày Quân Lực VNCH (19-6)

1 tiec thuong a

LỊCH SỬ NGÀY QUÂN LỰC (19-6)

1.- TÌNH HÌNH SAU CUỘC ĐẢO CHÁNH NGÀY 1-11-1963

Sau khi đảo chánh lật đổ chính phủ Ngô Đình Diệm ngày 1-11-1963, các tướng lãnh trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) thành lập Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng (HĐQNCM) do trung tướng Dương Văn Minh làm chủ tịch và lên nắm chính quyền. Hội Đồng QNCM cử Nguyễn Ngọc Thơ lập chính phủ lâm thời.

Chính phủ nầy chỉ tồn tại trong ba tháng và bị trung tướng Nguyễn Khánh chỉnh lý ngày 30-1-1964. Trung tướng Khánh vẫn giữ trung tướng Dương Văn Minh làm quốc trưởng và Nguyễn Khánh tự đứng ra lập chính phủ ngày 8-2-1964.

Tại Vũng Tàu, ngày 16-8-1964 trung tướng Nguyễn Khánh họp Hội đồng tướng lãnh, mà từ nay được gọi là Hội Đồng Quân Đội Cách Mạng (chứ không phải là Quân Nhân Cách Mạng). Đồng thời trong cuộc họp nầy, Hội đồng QĐCM thông qua một hiến chương mới, về sau thường được gọi là Hiến chương Vũng Tàu, và bầu trung tướng Nguyễn Khánh lên làm chủ tịch VNCH, trung tướng Dương Văn Minh làm cố vấn.

Hiến chương Vũng Tàu ngày 16-8-1964 gồm “Lời nói đầu”, 8 thiên, 62 điều, bị chống đối từ nhiều phía, nhất là trong giới tín đồ Phật giáo và sinh viên học sinh. Nhiều cuộc biểu tình xảy ra tại các tỉnh trên toàn quốc, nhất là tại các thành phố phía bắc miền Trung như Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi…

Tại Sài Gòn, hàng ngàn người biểu tình trước chợ Bến Thành ngày 25-8-1964, kéo đến phủ chủ tịch (dinh Gia Long), đả đảo độc tài, đả đảo Hiến chương Vũng Tàu. Đoàn biểu tình càng lúc càng đông và không chịu giải tán. Cuối cùng trung tướng Nguyễn Khánh xuất hiện, cũng hô to khẩu hiệu: “Đả đảo độc tài quân phiệt”, tuyên bố hủy bỏ Hiến chương Vũng Tàu và từ chức.

Chiều 25-8, HĐQĐCM họp gấp tại bộ Tổng tham mưu. Cuộc họp kéo dài trong nhiều ngày. Ngày 26-8, HĐQĐCM ra tuyên cáo gồm các điểm: thu hồi hiến chương ngày 16-8-1964; sẽ bầu nguyên thủ quốc gia và sẽ ủy cho nguyên thủ quốc gia thực hiện cơ cấu dân chủ; các tướng lãnh sẽ trở về với quân đội; ủy cho chính phủ hiện thời tạm điều hành việc nước. Như thế là Hiến chương Vũng Tàu chính thức bị bãi bỏ ngày 16-8-1964, nhưng hậu chấn vẫn tiếp tục ảnh hưởng đến tình hình.

Ngày 27-8-1964, HĐQĐCM quyết định thành lập Ban Lãnh đạo Lâm thời Quốc gia (LĐLTQG) gồm tam đầu chế là các trung tướng Dương Văn Minh, Nguyễn Khánh và Trần Thiện Khiêm, trong đó Dương Văn Minh làm quốc trưởng, Nguyễn Khánh làm thủ tướng, Trần Thiện Khiêm đứng đầu quân đội. Hội đồng QĐCM cử chính phủ Nguyễn Khánh tiếp tục nhiệm vụ, nhưng phải triệu tập Quốc dân Đại hội trong vòng hai tháng.

Ngày 6-9, HĐQĐCM thông báo thành lập Thượng Hội đồng Quốc gia (THĐQG) để cố vấn cho Ban LĐLTQG. Ngày 7-9, HĐQĐCM bầu trung tướng Dương Văn Minh làm chủ tịch Ban LĐLTQG. Tình hình chính trị vẫn không ngừng xáo trộn, cao điểm là binh biến ngày 13-9-1964 do trung tướng Dương Văn Đức và thiếu tướng Lâm Văn Phát lãnh đạo. Cuộc binh biến không được HĐQĐCM ủng hộ. Ngày 15-9-1964, trung tướng Dương Văn Đức rút quân và tuyên bố không phải là đảo chánh, mà chỉ có cuộc biểu dương lực lượng để cứu vãn uy tín chính phủ và quân đội.

Tình hình tạm thời lắng dịu. Ngày 26-9-1964, Thượng Hội đồng Quốc gia (THĐQG) làm lễ trình diện tại Hội trường Diên Hồng (đường Công Lý, Bến Chương Dương). Hôm sau, THĐQG bầu ông Phan Khắc Sửu làm chủ tịch THĐ. Do áp lực từ nhiều phía, ngày 19-10-1964, ban LĐLTQG đưa ra tuyên bố rằng THĐQG có quyền và có bổn phận thực hiện các cơ cấu quốc gia, chọn quốc trưởng và lập chính phủ trước ngày 27-10-1964.

Thượng HĐQG công bố Hiến chương Lâm thời ngày 20-10-1964, gồm 10 thiên, 49 điều, theo đó Việt Nam là một nước Cộng hòa, lãnh thổ bất khả phân, chủ quyền thuộc về toàn dân. Quyền lập pháp thuộc về Quốc dân Đại hội (QDĐH), do dân bầu. Quốc dân đại hội có quyền tuyển chọn quốc trưởng. Quốc trưởng đứng đầu ngành hành pháp, chỉ định thủ tướng với sự chấp thuận của QDĐH. Quyền tư pháp thuộc về Hội đồng thẩm phán tối cao. Thượng Hội đồng sử dụng quyền của QDĐH cho đến khi QDĐH được thành lập. Lúc đó, THĐ sẽ là thượng viện.

Thượng HĐQG bầu chủ tịch THĐQG là Phan Khắc Sửu làm quốc trưởng VNCH ngày 24-10-1964 và hôm sau 25-10, bầu Nguyễn Xuân Chữ làm quyền chủ tịch THĐQG, thay Phan Khắc Sửu. Ban LĐLTQG liền chính thức chuyển giao quyền hành cho tân quốc trưởng Phan Khắc Sửu ngày 26-10-1964, đồng thời thủ tướng Nguyễn Khánh đệ đơn từ chức.

Ngày 31-10-1964, quốc trưởng Phan Khắc Sửu ban hành sắc lệnh SL.005/QT/SL, bổ nhiệm ông Trần Văn Hương lập nội các. Trần Văn Hương thành lập chính phủ hoàn toàn dân sự ngày 4-11-1964. Tuy đã có Hiến chương Lâm thời (20-10-1964) và chính phủ dân sự, Hội Đồng Quân Đội Cách Mạng được xem như chấm dứt hoạt động, nhưng quyền lực thật sự ngấm ngầm vẫn nằm trong tay các tướng lãnh.

Ngày 24-11-1964, trung tướng Dương Văn Minh được thăng đại tướng. Một ngày sau, trung tướng Nguyễn Khánh cũng vinh thăng đại tướng. Lúc đó, các tướng mới lên chức khác liên kết thành một thế lực quan trọng thường được gọi là các tướng trẻ (báo chí Mỹ gọi là Young Turks). Ngày 18-12-1964, các tướng trẻ áp lực đại tướng Nguyễn Khánh lập Hội đồng Quân lực (HĐQL) để biểu quyết các vấn đề quan trọng, kể cả việc thăng thưởng trong quân đội. Tổng tư lệnh quân đội không còn được toàn quyền. Trong khi đó, đại tướng Nguyễn Khánh cũng muốn lập HĐQL để làm hậu thuẫn cho mình.

Ngày 20-12-1964, HĐQL tuyên bố giải tán THĐQG vì đã gây chia rẽ, lưu nhiệm quốc trưởng Phan Khắc Sửu, tín nhiệm thủ tướng Trần Văn Hương. Tuy nhiên, chính phủ Trần Văn Hương lại bị phản đối, phải cải tổ ngày 18-1-1965, trong đó có 4 tướng lãnh tham gia. Dầu vậy, tình hình vẫn bất ổn. Ngày 27-1-1965, HĐQL quyết định giải tán luôn chính phủ Trần Văn Hương, ủy nhiệm đại tướng Nguyễn Khánh giải quyết cuộc khủng hoảng chính trị, triệu tập ngay Hội đồng Quân dân, lưu nhiệm quốc trưởng Phan Khắc Sửu.

Sau một thời gian thăm dò, ngày 16-2-1965, đại tướng Nguyễn Khánh, thừa ủy nhiệm HĐQL, bổ nhiệm Phan Khắc Sửu làm quốc trưởng và Phan Huy Quát làm thủ tướng. Ba ngày sau khi chính phủ Phan Huy Quát được thành lập, đại tá Phạm Ngọc Thảo và thiếu tướng Lâm Văn Phát cầm đầu cuộc đảo chánh ngày 19-2-1965. Binh biến bị thất bại chẳng những vì không được các tướng trẻ ủng hộ, mà còn bị phía Phật giáo và sinh viên học sinh phản đối. Phạm Ngọc Thảo bỏ trốn.

Sau khi tạm ổn định tình hình, ngày 20-2-1965, HĐQL quyết định thay thế đại tướng Nguyễn Khánh, và cử trung tướng Trần Văn Minh, tham mưu trưởng Liên quân, lên làm tổng tư lệnh quân lực VNCH. Trong khi đại tướng Dương Văn Minh được đưa đi làm đại sứ Thái Lan từ tháng 12-1964, thì nay đại tướng Nguyễn Khánh được bổ nhiệm đại sứ lưu động và rời Việt Nam ngày 25-2-1965.

Những bất ổn chính trị từ khi chính phủ Ngô Đình Diệm bị sụp đổ cho đến nay đưa đến những hậu quả rất bất lợi cho VNCH. Tuy quân đội Hoa Kỳ gia tăng oanh tạc Bắc Việt, Bắc Việt vẫn tiếp tục xua quân xâm nhập miền Nam, đe dọa VNCH.

2.- NGÀY QUÂN LỰC (19-6)

Ngày 25-5-1965, thủ tướng Phan Huy Quát cải tổ chính phủ, bổ nhiệm một số tổng trưởng mới. Quốc trưởng Phan Khắc Sửu không đồng ý. Vì sự bất đồng giữa thủ tướng và quốc trưởng, xảy ra khủng hoảng nội các. Cuộc khủng hoảng trầm trọng thêm khi tổng hội sinh viên, một số đoàn thể chính trị và các đoàn thể giáo dân Ky-Tô giáo lần lượt yết kiến quốc trưởng Phan Khắc Sửu, phản đối chính phủ Phan Huy Quát. (Nguyễn Trân, Công và tội, những sự thật lịch sử, California: Nxb. Xuân Thu, 1992, tt. 542-544. Nguyễn Trân là hội viên HĐQGLP, có mặt trong cuộc họp nầy.)

Ngày 9-6-1965, thủ tướng Phan Huy Quát họp báo, tường trình về cuộc khủng hoảng chính trị và đề nghị các tướng lãnh đứng ra làm trung gian để giữ thế quân bình cho đến khi có một chính phủ dân cử. Trong cuộc họp tối 11-6-1965, các tướng lãnh áp lực quốc trưởng Phan Khắc Sửu, thủ tướng Phan Huy Quát cùng HĐQGLP giao trả lại quân đội trách nhiệm và quyền lãnh đạo quốc gia mà HĐQL đã ủy thác cho chính phủ dân sự.

Vừa vì bất đồng, vừa vì áp lực của các tướng lãnh, quốc trưởng Phan Khắc Sửu, thủ tướng Phan Huy Quát và chủ tịch Hội đồng Quốc gia Lập pháp Phạm Xuân Chiểu đồng ký bản tuyên cáo ngày 11-6-1965, nguyên văn như sau:

“Sau khi duyệt lại tình trạng ngày càng một khẩn trương của đất nước, sau khi đã xét lại và xác nhận rằng: những cơ cấu và thể chế Quốc Gia hiện tại không còn phù hợp với tình thế, sau khi đã hội ý cùng toàn thể tướng lãnh Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa tại Phủ Thủ Tướng ngày 11/6/1965, chúng tôi, Quốc Trưởng Việt Nam Cộng Hòa, Hội Đồng Quốc Gia Lập Pháp, Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa đồng thanh quyết định long trọng trao trả lại cho Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa trách nhiệm và quyền hành lãnh đạo quốc gia đã được Hội Đồng Quân Lực ủy thác cho chúng tôi chiếu theo Quyết Định số 8 ngày 5/5/1965, Tuyên Cáo số 7 ngày 5/5/1965, Quyết Định số 5 ngày 16/2/1965, Quyết Định số 6 ngày 17/2/1965 và Quyết Định số 4 ngày 16/2/1965.

Yêu cầu toàn thể đồng bào các giới không phân biệt giai tầng địa phương, đảng phái và tôn giáo, ủng hộ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong việc lãnh đạo toàn Quân và toàn Dân đúng theo tinh thần của Cách Mạng 1/11/1963.” (Trích từ Phạm Phong Dinh, “Ý nghĩa Ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa”, tạp chí Thế Giới Mới, Houston, 7-6-2009.)

Ngày 14-6-1965, HĐQL họp tại Sài Gòn, đồng thanh chấp nhận đứng ra lãnh trọng trách điều khiển quốc gia một lần nữa, thành lập một ủy ban lãnh đạo của quân lực mệnh danh là Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia (UBLĐQG). Ủy ban LĐQG thay mặt toàn thể quân lực VNCH điều khiển quốc gia, có nhiệm vụ thiết lập thể chế và các cơ cấu quốc gia cùng thành lập một nội các chiến tranh. Sau đây là nguyên văn bản quyết định ngày 14-6-1965 của Hội đồng tướng lãnh:

“- Sau khi nghiên cứu Bản Tuyên Cáo Chung của Quốc Trưởng, Hội Đồng Quốc Gia Lập Pháp và Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa ngày 11/6/1965 trao trả trách nhiệm và quyền hành lãnh đạo Quốc Gia cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

– Chiếu biên bản Đại Hội Đồng các Tướng Lãnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa ngày 12/6/1965. Các Tướng Lãnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, Tư Lệnh các vùng chiến thuật và quân binh chủng đã quyết định:

Quyết Định:

Điều 1. Thành lập một ủy ban lãnh đạo của Quân Lực mệnh danh là Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia.

Điều 2. Thành phần của Ủy Ban nói trên gồm có: một Chủ Tịch, một Tổng Thơ Ký, một Ủy Viên phụ trách điều khiển Hành Pháp, Tổng Trưởng Quốc Phòng, Tổng Tham Mưu Trưởng, các Tư Lệnh Vùng Chiến Thuật, Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô.

Điều 3. Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia thay mặt toàn thể Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa điều khiển Quốc Gia.

Điều 4. Hoàn toàn tín nhiệm và chỉ định:

A. Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia: Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu.

B. Tổng Thư Ký: Trung Tướng Phạm Xuân Chiểu.

C. Ủy Viên phụ trách điều khiển Hành Pháp: Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ.

Điều 5. Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia có nhiệm vụ thiết lập thể chế và các cơ cấu Quốc Gia cùng thành lập một Nội Các Chiến Tranh.” (Trích từ Phạm Phong Dinh, “Ý nghĩa Ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa”, tạp chí Thế Giới Mới, Houston, 7-6-2009.)

Sau khi tuyên bố nhận lãnh trách nhiệm đứng ra điều khiển đất nước, các tướng lãnh đề cử: trung tướng Nguyễn Văn Thiệu giữ chức chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia (UBLĐQG), nhiệm vụ và quyền hành quốc trưởng; trung tướng Phạm Xuân Chiểu làm tổng thư ký UBLĐQG; thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ là ủy viên phụ trách điều khiển hành pháp, nhiệm vụ và quyền hành thủ tướng.

Ngày 19-6-1965, HĐQL quyết định giải tán Hội đồng Quốc gia Lập pháp (quyết định số 4/ QLVNCH), ban hành Ước pháp Tạm thời gồm 7 thiên, 25 điều,và thiết lập các tổ chức: Đại hội đồng Quân lực, UBLĐQG, UBHPTƯ, Hội đồng An ninh Quốc gia, Hội đồng Kinh tế và Xã hội, Thượng Hội đồng thẩm phán (quyết định số 5/QLVNCH). Chủ tịch UBLĐQG Nguyễn Văn Thiệu liền ký sắc lệnh 001/a/CT/LĐQG thành lập nội các chiến tranh, gọi là Ủy ban Hành pháp Trung ương (UBHPTƯ).

Đại hội đồng Quân lực gồm tất cả các tướng lãnh trong quân đội VNCH. Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia gồm trung tướng Nguyễn Văn Thiệu (chủ tịch), trung tướng Phạm Xuân Chiểu (tổng thư ký), thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ (ủy viên hành pháp), tổng trưởng Quốc phòng, tổng tham mưu trưởng, bốn tư lịnh bốn Vùng chiến thuật và tư lịnh Biệt khu thủ đô. Uỷ ban hành pháp Trung ương do trung tướng Nguyễn Văn Thiệu bổ nhiệm bằng sắc lệnh số 001/a/CT/LĐQG ngày 19-6, ngoài chủ tịch là thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ còn có 5 tổng uỷ viên, 10 uỷ viên và 2 thứ uỷ.

Khác với những lần đảo chánh hay chỉnh lý trước đây, lần nầy do tranh chấp giữa các chính khách dân sự và với sự thỏa thuận của phía chính phủ dân sự, các tướng lãnh ra nắm chính quyền. Từ đây, ngày 19-6 được xem là ngày kỷ niệm Quân lực VNCH nắm chính quyền, và thường được gọi là NGÀY QUÂN LỰC. (Trích Việt sử đại cương tập 6.)

TRẦN GIA PHỤNG
(phungtrangia@yahoo.com)

One thought on “Lịch Sử Ngày Quân Lực VNCH (19-6)

  1. NGÀY QUÂN LỰC Việt Nam Cộng Hòa – 19.6

    Chinh Nhân

    zz-zz-xxx99

    Ngày Quân Lực 19.6.1966 Sài Gòn -Việt Nam.

    Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa được chính thức khai sinh vào những ngày tháng cuối năm 1954, sau ngày 20.7.1954 tức là ngày Hiệp Định Genève được ký kết giữa Pháp và cộng sản Việt Nam. Mỗi Quân Binh Chủng lần lượt nhận lại quyền chỉ huy (chủ quyền) từ tay người Pháp, cho mãi tới ngày 26.10.1955 các Quân Binh Chủng mới chính thức được chỉ huy hoàn toàn bởi các Sĩ Quan Việt Nam, đồng thời các Cơ Sở Hành Chánh, Cảnh Sát, Công An và các Cơ Quan Tư Pháp cũng được trao trả lại chủ quyền cho người Việt Nam cùng ngày, cho nên ngày 26.10.1955 được coi như ngày người Việt Nam giành lại chủ quyền từ tay người Pháp, sở dĩ như vậy cho nên ngày 26.10 hàng năm thời Ðệ Nhất Cộng Hòa chọn là ngày Quốc Khánh cũng có người ngày nay còn cho đó là ngày độc lập của người Quốc Gia hay ngày Quân Lực.

    Cũng từ ngày 26.10.1955 Bộ Tham Mưu hỗn hợp Việt Pháp được cải tổ và cải danh thành Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Công Hòa, các Bộ Tư Lệnh Quân Khu được cải danh thành Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn vào đầu năm 1956, các đơn vị Sư Ðoàn Khinh Chiến,  Dã Chiến cũng dần dà được canh tân thành các Sư Ðoàn Bộ Binh vào đầu năm 1958, các Lữ Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến, Liên Ðoàn Nhảy Dù cũng theo đà canh tân Quân Ðội được bành trướng thành các Sư Ðoàn Tổng Trừ Bị vào cuối năm 1965, các Ðại Ðội Biệt Ðộng Quân được thành lập thành Tiểu Ðoàn rồi Liên Ðoàn rồi Sư Ðoàn vào đầu năm 1975, các đơn vị Thiết Giáp cấp Chi Ðoàn, Thiết Ðoàn được canh tân, hiện đại hóa bằng những thiết giáp tân tiến và tăng trưởng thành các Thiết Ðoàn, Trung Ðoàn Thiết Giáp, các Chiến Hạm Hải Quân cũ kỹ do quân đội Pháp để lại được thay thế bằng những chiến hạm tân tiến hiện thời ào ạt nhận thêm chiến hạm mới các phòng Hải Quân bên cạnh Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn được thành lập thành các Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng, các Ðơn Vị Không Quân từ những khu trục cơ cánh quạt được thay thế bằng những phản lực cơ siêu âm rồi các Phi Ðoàn, Sư Ðoàn Không Quân ra đời, các Binh Chủng, Nha Sở Công được trang bị hiện đại hơn và tăng cường quân số cho phù hợp với nhu cầu của chiến trường và nhu cầu của các đơn vị không tác chiến. Chính vì vậy mà một vị Tướng lãnh tên tuổi ngoại quốc (chúng ta thường có tinh thần vọng ngoại) đã phải tuyên bố xác nhận rằng: Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa là một Quân Lực tinh nhuệ và hùng hậu đứng vào hàng thứ năm trên thế giới.

    Cũng từ năm đó, năm 1960 là năm mà Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bắt đầu chao đảo theo tham vọng của một số các cấp chỉ huy, Quân Lực đó bị lợi dụng bởi tham vọng cá nhân, có khi còn bị lèo lái theo tướng số, bói toán và tử vi nữa.

    Năm 1963 cơn bão loạn chính trị được khơi dậy bằng những cuộc xuống đường của học sinh, sinh viên, Phật Giáo và còn một điều quyết định là theo dấu chỉ của đèn xanh Quốc Tế.

    Trung Tướng Dương Văn Minh số đông các Tướng Lãnh và một số Sĩ Quan trung cấp đang nắm quyền chỉ huy các đơn vị chung quanh Thủ Ðô Sài Gòn đã lật đổ Chính Phủ Dân Cử ngày 1.11.1963. Kết quả là hai anh em Tổng Thống Ngô Ðình Diệm đã bị thảm sát trên thiết vận xa M-113 ngay trong lòng Ðô Thành Sài Gòn-Chợ Lớn.

    Hơn một tháng say mê trên chiến thắng (Cách Mạng) Chính Phủ của Ðốc Phủ Sứ Nguyễn Ngọc Thơ (Phó Tổng Thống của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, người đã đánh lừa Ba Cụt hứa nếu về đầu hàng Chính Phủ sẽ được khoan hồng nhưng khi Ba Cụt về đầu hàng lại cho một toán quân phục kích bắt sống Ba Cụt rồi đem xử tử) ra đời. Nhưng thay vì mở rộng cho các đảng phái tham gia tham chính thì Chính Phủ của Thủ Tướng Nguyễn Ngọc Thơ lại là một Chính Phủ bè phái chia rẽ rõ rệt, nhất là sự hiện diện của nhóm sĩ quan Ðại Việt như Ðại Tá Ðỗ Kiến Nhiễu Ðổng Lý Văn Phòng Quốc Trưởng Dương Văn Minh, Ðại Tá Nhan Minh Trang Chánh Võ Phòng Thủ Tướng Nguyễn Ngọc Thơ, Ðại Tá Nguyễn Văn Quang Giám Ðốc Nha An Ninh Quân Ðội, Ðại Tá Dương Hiếu Nghĩa Chỉ Huy Trường Thiết Giáp Binh, Ðại Tá Huỳnh Văn Tồn Tỉnh Trưởng Gia Ðịnh, nhóm này chủ trương lật đổ Chính Phủ của Thủ Tướng Nguyễn Ngọc Thơ và một lãnh tụ Ðại Việt là Bác Sĩ Nguyễn Tôn Hoàn đang sống lưu vong bên Pháp về lập chính phủ.

    Nhưng âm mưu của đảng phái chính trị chưa kịp thi hành, thì bị Trung Tướng Trần Thiện Khiêm Tư Lệnh Quân Ðoàn III phối hợp cùng Trung Tướng Nguyễn Khánh Tư Lệnh Quân Ðoàn I, Ðại Tá Nguyễn Chánh Thi Tư Lệnh Phó Quân Ðoàn I dùng ưu thế trong Quân Ðội dập tắt, trong phiên họp ngày 12.12.1963 tại Sài Gòn quyết định ngày 31.1.1964 lật đổ Chính Phủ của Thủ Tướng Nguyễn Ngọc Thơ, quan trọng hơn nữa là trong phiên họp này quyết định bắt giam tất cả các Tướng Lãnh chủ mưu cuộc đảo chánh Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và chụp cho nhóm này cái mũ là chủ trương Trung Lập, (cho đến ngày hôm nay cũng chưa có bằng cớ xác thực các Tướng lãnh này có phải là trung lập hay không, bây giờ là lúc chúng ta cần tìm hiểu sự thật, xấu tốt cũng là việc đã qua), kỳ lạ nhất là vẫn giữ Ðại Tướng Dương Văn Minh người cầm đầu cuộc đảo chánh ở lại làm Tổng Thống, rồi đến Tam Ðầu Chế (bù nhìn). Tướng Nguyễn Khánh thao túng sân khấu chính trị làm cho Quân Ðội hoang mang, Dân Chúng hoài nghi tất cả tuồng diễn trên sân khấu cải lương chính trị tại Sài Gòn lúc bấy giờ.

    Tướng Khánh làm nhiều trò rất ngoạn mục như hiến chương Vũng Tàu, Tam Ðầu Chế (Nguyễn Khánh, Dương Văn Minh, Phan Khắc Sửu) phong cho Thầy Giáo Trần Văn Hương làm Thủ Tướng ‘’thật sự như vậy vì không có ai bầu cử’’ và một Thượng Hội Ðồng Quốc Gia làm cố vấn (bù nhìn) cho Chính Phủ, vì Thượng Hội Ðồng Quốc Gia không chịu làm bù nhìn cho nên Tướng Nguyễn Khánh bắt giam các giới chức trong Thượng Hội Ðồng này gồm có Nhà Cách Mạng Nguyễn Văn Lực (thân phụ của Phi Công Nguyễn Văn Cử).

    Ngày 13.9.1964 Đảng Ðại Việt đảo chánh, do Ðại Tá Huỳnh Văn Tồn Tư Lệnh Sư Ðoàn 7 Bộ Binh và Trung Tướng Dương Văn Ðức Tư Lệnh Quân Ðoàn IV (bên ngoài ai cũng tưởng đây là cuộc đảo chánh do Tướng Ðức chủ mưu, nhưng không phải như vậy mà sự thật chủ mưu cuộc đảo chánh này là do nhóm sĩ quan Ðại Việt. Tướng Dương Văn Ðức thuần túy là một Quân Nhân, ông cương trực thẳng thắn nên dễ bị lợi dụng) Tướng Nguyễn Văn Thiệu lúc đó đang làm Tham Mưu Trưởng Liên Quân tại Bộ Tổng Tham Mưu, ‘’xin lưu ý Tham Mưu Trưởng chớ không phải Tổng Tham Mưu Trưởng’’ không có quân trong tay nên phải cầu cứu với Thiếu Tướng Nguyễn Chánh Thi Tư Lệnh Sư Ðoàn 1 Bộ Binh về Sài Gòn để phản công. Tướng Thi nhờ vào uy tín và sự quen biết với các vị Tư Lệnh hai Binh Chủng Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến cũng như Quân Chủng Không Quân nên ông đã chỉ huy phản công để dập đảo chánh thành công rất dễ dàng.

    Ngày 19.2.1965 Thiếu Tướng Lâm Văn Phát và Ðại Tá Phạm Ngọc Thảo lại làm thêm màn bi kịch đảo chánh trên sân khấu Sài Gòn, nhưng cũng lại bị Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi Tư Lệnh Quân Ðoàn I phối hợp cùng Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ Tư Lệnh Không Quân dẹp tan, thêm một bi kịch là nhân dịp này Tướng Nguyễn Chánh Thi với danh nghĩa là Tư Lệnh Quân Ðoàn Giải Phóng Thủ Ðô đã yêu cầu Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu giải nhiệm Tướng Nguyễn Khánh, chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa được giao cho Trung Tướng Trần Văn Minh và ép buộc Tướng Nguyễn Khánh phải xuất ngoại trị bệnh. (căn bệnh này lại lây sang Tướng Nguyễn Chánh Thi thời gian ngắn sau đó).

    Ngày 25.2.1965 Tướng Nguyễn Khánh lên đường lưu vong sau hơn một năm khuấy động, trước khi bước chân lên máy bay ông cầm một nắm đất và tuyên bố ‘’Tôi đem theo đất nước Việt Nam với tôi và tôi còn trẻ tôi sẽ trở lại Đất Nước khi có cơ hội’’ (Nguyễn Chánh Thi. Việt Nam Một Trời Tâm Sự, trang 297).

    Cùng ngày 25.2.1965 Thủ Tướng Phan Huy Quát thành lập Chánh Phủ, nhưng lại bị khối Công Giáo biểu tình chống đối nên Chánh Phủ Phan Huy Quát phải giải tán sau gần bốn tháng cầm quyền đầy rối loạn, đồng thời Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu cũng nhận thấy ngôi vị của mình không có thực quyền nên đã cùng Thủ Tướng Quát thỏa thuận là nên trao quyền hành điều khiển Quốc Gia lại cho Quân Ðội, phía dân sự lúc đó cũng nhận thấy rằng, các yếu nhân dân sự không ai có thể điều khiển Quốc Gia được, mà phải cần một nhân vật Quân Ðội có thế lực và hậu thuẫn của Quân Ðội mới có thể ổn định tình hình được. Cho nên sau khi thỏa thuận hai bên Dân Sự và Quân Ðội đồng ý ngày 19.6.1965 được chọn lựa là ngày tốt, sự thực các Chính Phủ dân sự không còn lối thoát, họ không do dân bầu mà do sự chỉ định, khi lên hay xuống cũng do chỉ định mà thôi cho nên ho bất lực, không có thực quyền vì:

    Trước đó hai tuần tức ngày 6.6.1965 Hội Ðồng Quân Lực đã nhóm họp khẩn cấp, cuộc họp này hoàn toàn do các Tướng lãnh Việt Nam chủ động và kết quả là đã bầu được một cơ cấu sẵn sàng nhận lãnh trách nhiệm điều khiển Quốc Gia với Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu Tham Mưu Trưởng Liên Quân làm Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia (Quốc Trưởng) Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ Tư Lệnh Không Quân làm Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương (Thủ Tướng) và cùng lúc đó các Tỉnh Trưởng, Quận Trưởng được lần lượt thay thế bằng các Quân Nhân (không có kinh nghiệm về hành chánh và cai quản) và lấy tên là Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Tỉnh hay Quận…Vì những lý do này Chính quyền Trung Ương lấy ngày 19 tháng 6 là ngày Quân Lực.

    Hiện nay tại hải ngoại các Cựu Quân Nhân chúng ta phải giữ ngày này là giềng mối để nắm tay nhau, công kích ngày Quân Lực là mục đích tiếp tay cho kẻ thù chung của Dân Tộc, gây chia rẽ trong hàng ngũ Quân Nhân. Cũng như công kích bản Quốc Ca của chúng ta là mục đích gây chia rẽ trong hàng ngũ Quốc Gia, gây xáo trộn trong cuộc sống đầy ưu phiền nghi kỵ, cả hai tình huống quan trọng này, một bên chống một bên thuận là cả Cộng Ðồng Việt Nam tỵ nạn cộng sản phải tan nát rồi, bây giờ không phải là lúc bàn đến, nếu chúng ta suy nghĩ chín chắn thì chúng ta phải đón nhận như trong gia phả vậy, hay dở cũng là của Tiền Nhân để lại, phải chấp nhận để làm bài học quý giá sau này, tốt hay xấu thì cũng là tấm gương soi để noi theo hay sửa chữa, con cháu chúng ta cần học hỏi trong cả bài học tốt cũng như bài học dở, từ cổ chí kim không có một Quốc Gia nào, hay một vị Nguyên Thủ nào hoàn hảo cả, sự thực lúc nào cũng là sự thực.

    Năm 1965 cũng chính là năm mà cộng sản Việt Nam nhận định rằng:

    Sau gần hai năm lật đổ Tổng Thống Ngô Ðình Diệm các Tướng lãnh đã lo tranh giành quyền lực không chú ý gì đến quyền lợi của Quốc Gia Dân Tộc, không còn rãnh tay chú ý đến nhiệm vụ chính của Quân Ðội là hành quân bảo vệ dân, tiểu trừ cộng sản nữa. Nắm cơ hội này bọn chỉ huy tại Bắc Bộ Phủ đã gởi các sư đoàn chính quy ào ạt Nam Tiến với mục đích là thôn tính trọn miền Nam. Nên Tổng Thống Hoa Kỳ L. Johnson đã quyết định đổ bộ các đại đơn vị Hoa Kỳ vào tham chiến kịp thời, nếu không, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa với vũ khí lúc đó còn thô sơ (Garant, carbine và đại liên 30) khó có thể ngăn cản sự tấn công của đạo quân được trang bị tối tân hơn (AK-47, B-40, B-41 và hỏa tiễn điều khiển địa-địa cũng như địa-không). Tuy vậy, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa cũng phản tỉnh sau hai năm mơ màng nên lệnh Tổng Ðộng Viên được ban bố. Thiếu Tướng Bùi Ðình Ðạm cấp thời được bổ nhiệm làm Giám Ðốc Nha Ðộng Viên Bộ Quốc Phòng để thi hành lệnh Tổng Ðộng Viên trước tình thế khẩn trương của Ðất Nước.

    Năm 1966 là năm đầu tiên lấy ngày 19.6 là ngày QUÂN LỰC. Một cuộc diễn binh rất quy mô trên Ðường Trần Hưng Ðạo Ðô Thành Sài Gòn-Chợ Lớn, dưới đất các Ðoàn Quân Anh Hùng lần lượt đi qua Khán Ðài, trên trời các phi cơ đủ loại biểu diễn ngoạn mục mang lại niềm tin ở sức mạnh của Quân Ðội cho dân chúng, nhất là sau một năm tình hình chính trị ổn định dân chúng lại càng an lòng hơn.

    Ngày 19.6.1975 không một nơi nào trên trái đất này tổ chức ngày Quân Lực cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa nhưng chắc chắn nó được âm thầm tưởng nhớ trong trí trong tâm của các Quân Nhân còn đang bàng hoàng trước cơn đại nạn của Ðất Nước, để rồi người may mắn phiêu bạt khắp Năm Châu, người kém may mắn đang trong các lao tù cộng sản, người kiên cường bất khuất đang hiên ngang chiến đấu trong lòng đất mẹ Việt Nam. Nhưng dù ở phương trời nào hoàn cảnh nào các Quân Nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa lúc nào cũng một lòng son sắt quyết tâm sẽ Tổ Chức ngày Quân Lực rạng rỡ trên Quê Hương Việt Nam Mến Yêu.

    Trên một phần tư thế kỷ, biết bao nhiêu đau thương chồng chất, biết bao nhiêu khổ ải cực hình, biết bao nhiêu tan vỡ tận cùng mang theo những chia lìa ngăn cách để lại cho chúng ta những khắc khoải mong chờ ngày Quang Phục Quê Hương, mục tiêu hợp quần những người Cựu Quân Nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa chưa nắm trọn trong tay vì chúng ta còn lấn cấn trong những thủ đoạn ma mãnh mưu cầu lợi ích riêng tư cho một đơn vị cho một nhóm mà chưa nhận diện được những lợi ích chung cho Cộng Ðồng cho xứ sở.

    Xin Hồn Thiêng Dân Tộc xin tinh anh của giòng giống Việt Nam dẫn dắt Con cháu Lạc Hồng biết tương nhượng nhau, xích lại gần nhau và biết cùng nhau nhìn về Quê Hương bên kia bờ đại dương với niềm tin mãnh liệt trong ý chí sắt đá QUYẾT TÂM GIẢI CỨU VIỆT NAM, Mẹ Việt Nam Ơi! Chúng con vẫn còn đây.
    nguồn

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s