QUỐC HẬN 30 tháng Tư, TẠI SAO?

Lê Tùng Châu

Đối với đa số người Việt miền Nam quốc gia dưới chính thể Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), ngày 30.04.1975 là một biến cố đau thương nhất, mất mát nhất của đời người, cũng là ngày bi thương nhất của đất nước Việt Nam. Điều này người dân sinh sống dưới chế độ cộng sản miền Bắc lập thời chưa chấp nhận, hoặc bày tỏ quan điểm ngược lại, bởi họ là kẻ chiến thắng với quá nhiều ưu thế sống sau biến cố 1975.

Tuy nhiên kể từ khoảng 10 năm trở lại đây, ít nhất cũng từ 2007 đến nay (2015), trong nước bùng phát ngày càng nhiều phong trào phản kháng, ban đầu chỉ là phản kháng sự nhu nhược đớn hèn của Hà Nội khi Trung cộng ngang ngược xâm lấn lãnh hải Việt Nam, bành trướng trắng trợn thế lực ở biển Đông…, về sau biến thành sự phản kháng một cách dữ dội có ý thức hẳn hòi của giới trí thức tiên phong (dù xuất thân là đã và đang phục vụ cho chế độ cộng sản Hà Nội). Lớp trí thức tiên phong này phản đối chính quyền cộng sản và đặt lại vấn đề về cách thế cai trị điều hành đất nước của đảng cộng sản, điều chưa từng có này thách thức độc quyền cai trị của đảng này và đã làm cho Hà Nội hoảng sợ, lúng túng chỉ biết ra tay đàn áp thô bạo, chẳng những không làm tình hình phản kháng giảm nhẹ đi, ngược lại càng giúp dân chúng Việt Nam 2 miền Nam Bắc nhận chân bộ mặt gớm ghiếc phi nhân của chế độ độc tài cộng sản trong suốt quá trình dài 7, 8 chục năm qua…Từ đó ngày 30.04.1975 dần đã không còn là ngày “quốc hận” của riêng người dân miền Nam nữa.

Những thất bại tiếp nhau như lao dốc của chế độ Hà Nội trong việc điều hành đất nước khiến thực trạng Việt Nam trở nên điêu tàn thương đau trên toàn cõi khi cả nước rơi vào khủng hoảng trầm trọng mọi bình diện từ kinh tế, an sinh, đến giáo dục, đạo đức, luân lý …không lối thoát; bất công ngày càng lớn, người dân Việt 2 miền bị trị bằng bạo lực phi nhân, Tự do, Nhân quyền tối thiểu của mọi tầng lớp công dân đang bị xâm hại man rợ nhất trong sử Việt; nguy cơ xứ sở bị Tàu cộng thôn tính ngày càng lộ rõ.

Quần chúng VN kể cả số đông đảo đảng viên cộng sản đã dần dà nhận ra rằng, Dân Chủ, Nhân Quyền, Công Bằng và Tự Do là những khát vọng chân chính mà chính quyền miền Nam đã theo đuổi trong cuộc chiến chống cộng sản độc tài tàn bạo trước kia, cũng là những giá trị cấp thiết hiện nay nếu muốn tập hợp sức mạnh dân tộc để bảo vệ đất nước trước dã tâm xâm thực của Bắc Kinh, và tái thiết quốc gia thành hùng mạnh, nhân bản, phú cường.
Thực tại tàn nhẫn được nhận ra muộn màng đó đã khiến ngày 30.04.1975 giờ đây thực sự đã là ngày “quốc hận” của cả nước Việt Nam từ Nam chí Bắc.

“Quốc Hận”, đúng hay không?

Tháng 3 năm nay (2015) nhân RFA phỏng vấn nhà văn Dương Thu Hương (DTH), lần đầu tiên người ta được nghe một nữ sĩ miền Bắc, một nhà văn phản kháng nổi tiếng sớm nhất (đầu thập niên 90) đề cập đến 2 chữ “Quốc Hận” với một ý không như thông thường. Theo nhà văn Dương Thu Hương thì phải “xét lại ngôn từ” 2 chữ “Quốc Hận” (1)

Nguyên văn như sau:

Tường An: Tại sao bà cho là phải xét lại chữ «Quốc hận” của những người miền Nam, những người đã thua trong cuộc chiến này, thưa bà ?

Dương Thu Hương: Về mặt những người miền Nam mà gọi là « Quốc hận » thì họ cũng phải nhìn lại. Tại sao ? Tại sao lại là « Quốc hận » Trước khi hận những người khác họ phải hận chính họ . Tại sao cùng một thời điểm, người Mỹ tạo ra những điều kiện để tạo ra chính sách dân chủ của 2 nơi : miền nam Việt Nam và miền Nam Hàn Quốc. Tại sao Hàn Quốc chiến thắng mà Việt Nam chiến bại ? Tại sao cùng một cơ hội lịch sử như thế, người Nam Triều Tiên họ đã chớp lấy cơ hội để biến đất nước của họ thành một xứ sở văn minh phồn thịnh, còn miền Nam thì không ? Cái đó phải xét lại.

Ta hãy xét câu trả lời của DTH tuần tự như sau:

Ý thứ nhất: có vẻ nhà văn đã hiểu nhầm hoặc cố ý nhầm chữ hận trong 2 chữ “Quốc Hận”. Nhà văn nói: “Trước khi hận những người khác, họ phải hận chính họ”. Với “hận những người khác” thì đó đúng là Căm Hận. Hận chính mình tức là “ân hận”, nói cách khác, chữ hận trong 2 chữ “Quốc Hận” biểu tỏ ý “tiếc là đã để xảy ra một việc không mong muốn” chứ không phải hận trong nghĩa hận thù. Ví dụ: đã từ rất lâu, người miền Nam gọi ngày chia đôi đất nước bởi hiệp định Geneve 20 tháng 7 – 1954 là ngày Quốc Hận. Trong tinh thần đó, người miền Nam thua trận gọi ngày 30 tháng Tư là ngày Quốc Hận càng biểu tỏ tinh thần ái quốc, tinh thần tự nhận trách nhiệm đã để mất nước và cách nói đó nhuốm một vẻ đầy nhân bản cao đẹp, hiếu hòa, không thù oán, không căm hận ai cả.

Quả là người quốc gia dù là quan, tướng hay dân đen đều sẵn sàng không căm hận gì ở người cộng sản nếu sau chiến tranh, miền Bắc đừng ra tay một cách thấp hèn “trả thù”, hãm hại, tù đày cựu viên chức, quân nhân miền Nam một cách vô lối, vô lý và vô nghĩa không cần thiết, tôi xin ví dụ việc tàu Việt Nam Thương Tín (2) với hơn 600 người đã ra đi trốn thoát cộng sản thành công vào tháng 5 – 1975 lại tự nguyện quay trở về tháng 10 cùng năm với hơn 1600 người để rồi cả tàu chịu khổ sai trong địa ngục lao tù hàng chục năm…là một dẫn chứng không thể chối cãi.

Ý thứ hai: Để diễn ý về chữ “Hận”, DTH so sánh miền Nam Việt Nam với Nam Hàn, nguyên văn như sau:

“Tại sao cùng một thời điểm, người Mỹ tạo ra những điều kiện để tạo ra chính sách dân chủ của 2 nơi : miền nam Việt Nam và miền Nam Hàn Quốc. Tại sao Hàn Quốc chiến thắng mà Việt Nam chiến bại ? Tại sao cùng một cơ hội lịch sử như thế, người Nam Triều Tiên họ đã chớp lấy cơ hội để biến đất nước của họ thành một xứ sở văn minh phồn thịnh, còn miền Nam thì không ? Cái đó phải xét lại.”

Ở đây, một lần nữa, nhà văn đã nhầm, nhưng ta có thể hiểu được cái nhầm lẫn của một nhà văn khi bàn đến địa hạt chính trị. Bà đã không thấy rằng người Mỹ không hề tạo ra “chính sách dân chủ” cho cả bên Nam Hàn lẫn Nam Việt Nam.
Để tránh phải biện luận, dẫn chứng dông dài về những ràng buộc trong tương quan lực lượng tư bản – cộng sản toàn cầu vào bối cảnh lúc ấy…không phù hợp với bài này, ở đây tôi chỉ nhắc lại vắn tắt rằng, sau khi Đại Hàn bị chia đôi bởi tạm ước Bàn Môn Điếm năm 1953 ở vỹ tuyến 38 và Việt Nam bị chia đôi năm 1954 ở vỹ tuyến 17, người Mỹ đã kết tình đồng minh với 2 quốc gia này (Nam Việt Nam và Nam Hàn) lẫn các nước châu Á khác: thành lập SEATO còn gọi là Liên phòng Đông Nam Á vào tháng 9/ 1954 để dựng một tường ngăn làn sóng đỏ ở châu Á. Chính sách gùn ghè để gìn giữ tương quan lực lượng tư bản – cộng sản của Mỹ là xuyên suốt ở châu Á cho tới khi cộng sản Đông Âu hoàn toàn sụp đổ 1990-1991.
Trong bối cảnh chiến tranh lạnh với khối cộng sản thế giới (trước 1991), nội việc bao biện kinh tế và quân sự cho những nơi mà quân đội Hoa Kỳ đồn trú (như ở Nam VN và Nam Hàn chẳng hạn) đã là một thách thức lớn cho Hành Pháp Mỹ trước sự kiểm soát chi li chặt chẽ ngân sách do Quốc Hội Mỹ duyệt chi…còn đâu chỗ cho việc tạo ra “chính sách dân chủ” như nhà văn DTH nói.
Việc tạo dựng một chế độ chính trị dân chủ, công bằng…là phải do người chính quốc tự ý thực gầy dựng và thực hiện lấy, hồi đó (bối cảnh 20 năm chiến tranh VN 1954 – 1975) cũng như bây giờ và mãi tới mai sau này nữa…cũng mãi mãi là vậy chứ không thể khác, không thể VN có thể chế dân chủ do ai khác bên ngoài tạo cho, hay ta cứ thụ động trông chờ từ nơi ai ai ở đâu đâu đến đây mà ban phát cho ta cả!!!

Vì thế, nếu DTH hiểu 2 chữ “Quốc Hận” theo nghĩa “họ phải hận chính họ” thì không có gì là phải xét lại ở đây cả và tôi hoàn toàn đồng tình với nhà văn rằng, chúng tôi, những người quốc gia ở miền Nam rất tự trách mình đã để mất nước vào tay 1 bọn người man rợ (3)

Niềm Quốc Hận kéo dài

Tháng Tư đen năm 2015 này, nhân phát ngôn của nữ sĩ DTH, làm tôi nhớ tới một “công trình” (đã phổ biến hồi 2010) có tựa: “Bí Ẩn 30.4.1975?” do Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy & Linh Mục Cao văn Luận ra công khảo cứu (4). Đại ý công trình ấy “khám phá” ra mưu sâu của thế lực Do Thái trong chính trường Mỹ đã tác động để lèo lái chính sách của Mỹ khiến Mỹ bỏ rơi đồng minh VNCH và do đó đã xảy ra thảm họa 30.4.1975 cho Việt Nam.
Về “công trình” này, cho dù nội dung có diễn bày đúng sự thực 100% đi nữa, chúng ta có chấp nhận rằng vì sự thể ấy đã khiến xảy ra thảm họa 30.4.1975 hay không?
Trong tinh thần “Quốc Hận” – Tự Trách đã trình bày ở trên, xin nói ngay rằng KHÔNG.

Dù tôi là người rất đề cao chính phủ quốc gia ở miền Nam về mọi mặt, nhưng cũng không thể không thừa nhận rằng, đệ nhị cộng hòa với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã ít vị quốc, nhiều vị kỷ trong những giờ phút gay cấn của lịch sử ảnh hưởng trực diện tới sinh mệnh quốc gia, là lúc cần phải vứt bỏ cái riêng tư nhất (chính trị tiểu thể) để lo cho đại cục đang lâm nguy (chính trị đại thể).
Lý do gì dẫn đến việc Tổng Thống Thiệu tự ý quyết định (không bàn bạc chu đáo với các tướng lãnh và Quốc Hội) triệt thoái khỏi Pleiku-Kontum từ giữa tháng 3/ 1975 (5) một cách vô lý để từ đó mở đầu một sự rã ngũ dây chuyền? Cách lý giải duy nhất cho hành vi phi chính trị, lẫn phi quân sự đó chỉ có thể là sự ích kỷ, nhỏ nhen một cách mù quáng và là một sai lầm tày trời của TT Thiệu và hành pháp đệ nhị cộng hòa.

TT Thiệu xuất thân từ quân nhân, leo vào cương vị Tổng Thống từ một bối cảnh tranh giành quyền lực sau đảo chánh 1/11/1963, ông không sao thoát ra khỏi bầu khí chính trị nhỏ nhen u ám đó trong suốt thời gian đứng đầu chính phủ quốc gia đối đầu với cộng sản. Vẫn chấp nhận bầu cử Tổng Thống ĐỘC DIỄN 1971. Lập đảng Dân Chủ (vào 1973), ép các thành phần quân cán chính dưới quyền phải gia nhập đảng Dân Chủ của mình để củng cố quyền bính với tham vọng tiếp tục độc tài quyền chính khi hết nhiệm kỳ Tổng Thống vào 1975, trong khi VNCH là một quốc gia tự do dân chủ với Tam Quyền phân lập rành mạch do hiến định (Hiến Pháp 117 điều năm 1967) rằng Tổng Thống Chế của VNCH chỉ chấp nhận 1 Tổng Thống được tại vị tối đa 2 nhiệm kỳ! Não trạng bám cứng không chịu “nhả” quyền hành như thế (tương tự ở Nam Hàn cùng thời gian) đã tác động rất lớn đến tâm trí TT Thiệu trong biến cố tháng 4/1975. Ông đã hành động vì sinh mệnh chính trị của chính ông hơn là nhận ra nguy cơ thảm họa kinh hoàng cho quân và dân miền Nam nếu rơi vào tay cộng sản.

* * *

Lịch sử đã trôi đi những 4 chục năm dài, đủ cho chúng ta nhìn nhận chín chắn vấn đề, và nhờ lợi thế đó, tôi có cách nhìn khác về ngày Quốc Hận 30 tháng Tư, nghĩa là, nó không quá quan yếu như chúng ta đã từng cảm nhận bi thương về nó đến thế. Hôm nay nhìn lại nhà Việt Nam chìm đắm trong vô vọng tơi bời, tôi cũng vẫn không hoàn toàn đổ lỗi cho ông Thiệu hay 1 thiểu số nhân sự nắm trọng trách trong chính phủ VNCH. Bởi việc nước là việc của toàn dân.

Sau 1975, việc của toàn dân Việt Nam -không bắc hay nam nữa- là nhận ra mặt thật của tập đoàn Duẩn Thọ, nói rộng hơn là của cả tập đoàn chóp bu cộng sản ba đình. Biến cố 1975 là thảm họa nhưng đồng thời cũng là cơ hội, cơ hội phân định Chân – Ngụy, Chính – Tà. Mọi thứ đã lộ ra hết, chả có mặt trận giải phóng gì cả – MTGPMN bị vắt chanh bỏ vỏ và bị giải tán, rồi phải bỏ chạy hết, sau 1975. Chả có giải phóng giải phéo gì cả, chả có tư bản độc ác nào giẫy chết cả, chả có thiên đường cộng sản nào mà đua theo cả, chả có chủ nghĩa nào mà tung hô cả, chả có tổ quốc, giang sơn gì sất dưới mồm mép cộng sản cả…tất cả chỉ là rặt 1 điều quá rõ không còn gì rõ hơn: Cộng Sản Là Trá Bịp và Phi Nghĩa. Thế nhưng toàn dân Việt 2 miền gần như im lặng chấp nhận.
Nói “gần như” là vì sau 1975 chỉ ở miền Nam, tuy có nhiều tổ chức, hội đoàn cũng như cá nhân dẫu khác danh xưng, khác hình thức tổ chức nhưng hoặc trước hoặc sau đã cùng đồng lòng phản kháng ách độc tài cộng sản với hình thức “kháng chiến phục quốc” và rồi hầu hết bị bắt, xử tử hoặc cầm tù trên dưới 20 năm (6)
Đáng chú ý ở hải ngoại có nhóm ông Trần Văn Bá, Lê Quốc Tuý… lập Mặt Trận Thống Nhất Các Lực Lượng Yêu Nước Giải Phóng Việt Nam (1975-1976) sau chuyến về nước bị bắt rồi bị xử tử (1984) / ông Hoàng cơ Minh (7) với Mặt Trận (MT) Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam (1983-1984) nhưng chỉ tự thổi phồng tổ chức của mình lên nhằm quyên tiền của đồng bào rồi lập công ty …bán phở bò, sau khi ông Hoàng cơ Minh tử nạn trong rừng U Bon Thái Lan 1987, MT không tan rã mà dần thoát xác thành đảng Việt Tân và cũng chỉ là 1 tổ chức nhìn bề ngoài là chính trị nhưng bên trong biến tướng rối rắm như một thứ công ty kinh doanh thậm chí thỏa hiệp với cộng sản để về nước hợp tác kinh doanh mưu lợi (8)
Trong khi quê hương khổ nạn vẫn ngày một hao mòn xác xơ dưới trò chơi dại dột man rợ của một tập thể nhỏ vô nhân, độc ác, vô học nắm quyền.
Như vậy bộ mặt thực của lòng dân Việt có phải chăng là đã quá đớn hèn cam chịu ách thống trị của cộng sản?

Và mặt thật đó kéo dài đến 16 năm -là đến mốc cộng sản thế giới bị sụp đổ 1991. Rồi kéo thêm 1 quãng thời gian phần tư thế kỷ nữa, tức là tính đến nay cả thảy là 40 năm ròng rã sau 1975 Việt tộc không tìm ra phương cách tiêu diệt chế độ máu cộng sản Ba đình. Quá dài các bạn ạ!!!

Trong chừng ấy năm, dân ta đã làm gì? không thể kể ra cho đủ trong phạm vi 1 bài viết ở đây được, nhưng tôi tin ai cũng biết -trừ người đui, điếc hay mất trí-, đó là, lỗi của người Việt hôm nay vẫn chẳng khác nào lỗi của ông Thiệu trong quá khứ: vẫn manh mún, riêng tư, nhỏ nhen, lại tự hiềm khích nói xấu nhau…
Mà lại sợ sệt Việt cộng, buồn hơn là có lắm người đua theo, chạy theo nịnh hót bọn Việt cộng để kiếm 1 miếng ăn, 1 cuộc sống yên thân. Đó mới là yếu tố chính dẫn đến thảm họa cho dân Việt, chứ không thể là do Do Thái, hay do Việt cộng Ba đình, hay không chỉ do chính phủ của Tổng Thống Thiệu ích kỷ vô trách nhiệm để mất nước vào tay Việt cộng.

Để củng cố cho nhận định của tôi, xin mời bạn làm một so sánh: dân Đông Âu, cũng bị rên siết dưới gót sắt máu bolchevik của Staline đấy, nhưng thử hỏi, họ chịu sự nô lệ cho ách cộng sản quốc tế ấy trong bao năm? chỉ 20 năm hoặc hơn. Từ khi (1988) Lech Walesa khai hỏa cho sự sụp đổ của cộng sản Ba Lan vào 1989, cho tới khi Nga cộng và chư hầu cộng sản đông Âu hoàn toàn bị khai tử, chỉ vẻn vẹn 2 năm. Trong 2 năm quyết liệt đó, cả thế giới cộng sản mấy chục năm dày công dựng nên trên họng súng bạo tàn đã sụp đổ tan tành.
Công trạng chính thuộc về quần chúng chứ không phải 1 ai cả, dĩ nhiên ở đây có vai trò của một vài cá nhân khởi động, nhưng cách mạng thành công là do mạch ngầm của ý thức quần chúng: họ không thể chịu thêm sự nô lệ và cai trị bạo tàn được nữa. Nếu không có ý thức quần chúng này, các cá nhân khởi màn tiên phong của những xứ đông Âu kia có lẽ cũng sẽ chỉ là những Hòa Thượng Thích Quảng Độ, Linh Mục Nguyễn Văn Lý, anh Trần Huỳnh Duy Thức, Ls Lê Công Định, Ls Lê Quốc Quân, chị Tạ Phong Tần, anh Điếu Cày Nguyễn văn Hải v.v… của VN mà thôi, nghĩa là họ sẽ bị bọn tà quyền cai trị hãm hại, bắt bớ, tù đày.

Tóm lại, thảm họa hiện nay của 90 triệu dân Việt bị trị tàn khốc bởi 1 nhúm có mười mấy tay vô học ở Ba đình, trách nhiệm thuộc về toàn dân Việt. Người Việt trong và ngoài nước nếu còn tự trọng, còn nặng trách nhiệm với xứ sở là nơi đã sinh mình ra, nuôi mình khôn lớn, hãy đừng quên tự hỏi lại mình, trước khi vội tìm 1 chỗ hợp lí để đổ lỗi, rồi quên đi hoặc phủi bỏ tội lỗi của chính mình!

Sài Gòn 40 ngày trước ngày Quốc Hận 2015
Lê Tùng Châu


1: Nhà văn Dương Thu Hương: 40 năm, nhìn lại về ngôn từ – by Tường An, thông tín viên RFA 2015-03-11
2: Chuyện tàu Việt Nam Thương Tín
3: Câu nói nổi tiếng của nữ sĩ Dương Thu Hương: “30 tháng Tư 1975, nền văn minh đã thua chế độ man rợ
4: Bí Ẩn 30.4.1975?
5: Ai ra lệnh rút quân khỏi Pleiku-Kontum 1975? by Đào Văn
6: xin tham khảo thêm ở bài “Ý thức chiến đấu của đoàn người tiền phong” by Phạm Văn Thành
7: xin tham khảo thêm ở bài NIÊN BIỂU MẶT TRẬN QUỐC GIA THỐNG NHẤT GIẢI PHÓNG VIỆT NAM – VIỆT NAM CANH TÂN CÁCH MẠNG ĐẢNG by Đỗ Thông Minh

http://pham-v-thanh.blogspot.no/2015/03/quoc-han-30-thang-tu-tai-sao.html
8: VIỆT TÂN Chiếc Bóng Dài 30 Năm by Phạm Văn Thành

___________________

Bài Đọc Thêm
Sau 30 năm tị nạn csVN
Chiến tranh nam bác Mỹ
Ghi Chú : Việt Nam – Trung Cộng
Hiểm Họa Xâm Lăng – Ngô Đình
Quốc Ca – Cờ Vàng, Cờ Đỏ
Ngày Quốc Hận – 30.4.1975
30 câu nói về Cộng Sản
Hồ Chí Minh là tên Diệt Chủng thế kỷ 20
Hòa bình của nấm mồ – TT Thiệu

5 thoughts on “QUỐC HẬN 30 tháng Tư, TẠI SAO?

  1.  zleductho -hanthu

    Giết giết nữa bàn tay không phút nghỉ
    Cho ruộng đồng lúa tốt thuế mau xong
    Cho đảng bền lâu cùng rập bước chung lòng
    Thờ Mao chủ tịch, thờ Xit Ta Lin bất diệt .
    (Tố Hữu)

    Dương Thu Hương  nói :

    Tại sao cùng một thời điểm, người Mỹ tạo ra những điều kiện để tạo ra chính sách dân chủ của 2 nơi : miền nam Việt Nam và miền Nam Hàn Quốc. Tại sao Hàn Quốc chiến thắng mà Việt Nam chiến bại ? Tại sao cùng một cơ hội lịch sử như thế, người Nam Triều Tiên họ đã chớp lấy cơ hội để biến đất nước của họ thành một xứ sở văn minh phồn thịnh, còn miền Nam thì không ? Cái đó phải xét lại.

    *** – ***

    Hoàng Đức Nhã   nói :

    Người Mỹ đã không thực sự giúp VNCH trên phương diện quân sự, không làm đúng theo điều khoản ” thay thế một cây súng này bằng một cây súng khác”, nếu quân Bắc Việt tiếp tục xâm lăng, cũng như đã không giúp về mặt kinh tế, thành ra chúng ta không còn có khả năng chiến đấu, trong lúc quân Bắc Việt thì được sự hỗ trợ hùng hậu của Trung Quốc và Nga Sô.

    Lúc đó, Hoa Kỳ dùng hiệp định Paris để đạt được mục tiêu chủ yếu là đem quân của họ về và lấy lại hết tù bình. Thật sự thì quân của họ đã bắt đầu rút đi từ năm 1970 và đến năm 73, khi ký hiệp định thì họ không còn quân lính chiến đấu trên lãnh thổ VNCH nữa.

    Cũng như trong các hiệp định, có những điều khoản Hoa Kỳ cam kết cái này, cam kết cái kia, nhưng vì họ không đưa ra Quốc hội phê chuẩn, cho nên hiệp định đó không có ràng buộc nhân dân Hoa Kỳ, do Quốc hội đại diện, để thực thi các lời hứa. Cái đó cũng do tình hình chính trị nội bộ của Hoa Kỳ, đặc biệt là vụ scandal Watergate, và quan trọng hơn hết là lúc đó đảng Dân Chủ, đang nắm cả lưỡng viện Quốc hội, quyết tâm chấm dứt mọi sự can thiệp của Hoa Kỳ, nhất là ở Việt Nam.

    Tôi lấy ví dụ hồi chiến tranh Triều Tiên, lúc đó có một thỏa ước do Quốc hội phê chuẩn đàng hoàng, nên sau này Hoa Kỳ vẫn tiếp tục giúp đở Đại Hàn, nhưng riêng đối với VNCH thì không có điều khoản đó.

    *** – ***
    (Nguyên văn bài của DT Hương)

    Nhà văn Dương Thu Hương : 40 năm, nhìn lại về ngôn từ

    n
    Nhà văn Dương Thu Hương tại văn phòng RSF
    Tường An, thông tín viên RFA
    Trong hồi ức 40 năm, đài Á Châu Tự Do hỏi chuyện nhà văn Dương Thu Hương về quan điểm của bà về những vấn đề liên quan đến cuộc chiến Bắc-Nam cũng như những hệ luỵ của nó.
    Tường An: Thưa bà, cách đây đã lâu, trong một bài viết, bà có nói ngày 30/4, vào đến miền Nam bà đã ngồi trên vỉa hè và khóc. Nhân đây bà có thể giải thích về những giọt nước mắt ngày 30/4, 40 năm về trước không ạ ?
    Dương Thu Hương: Vào miền Nam tôi khóc vì sao? Là bởi vì tôi hiểu đạo quân chiến thắng ở miền Bắc phụ thuộc vào một chế độ man rợ. Rất nhiều dân tộc văn minh bị tiêu diệt bởi một chế độ man rợ hơn, bởi vì họ hung hăng hơn, vì họ có thể văn minh hơn vì văn hoá nhưng họ kém về phương diện tổ chức quân sự.
    Sau này tôi mới hiểu tôi cũng ngây thơ tôi khóc thế thôi. 30/4 tôi còn khóc vì một lý do khác nữa là vì chúng tôi bị lừa. Chúng tôi đi không nghĩ ngày về, nhưng mà  chúng tôi tưởng chiến thắng quân ngoại xâm nhưng thực sự hoàn toàn là không phải. Và tất cả tuổi trẻ của chúng tôi đã bị tiêu huỷ đi. Và vì vậy mà tôi khóc, trong những giọt nước mắt của tôi có cái phần chung cho dân tộc và có phần riêng của chúng tôi, của những người bạn tôi đã chết và của bản thân tôi đã hy sinh tuổi xuân một cách vô ích.»
    Tường An: Thưa bà, cuộc chiến dài 21 năm mà miền Bắc gọi là «Chống Mỹ cứu nước» đã chấm dứt vào ngày  30/4, bà có nhận xét gì về cái ngày mà Việt Nam ngưng tiếng súng, ngày mà đại tướng Văn Tiến Dũng gọi là «thiên anh hùng ca vĩ đại của chiến tranh nhân Việt Nam trong thế kỷ XX » ạ?
    Tại sao cùng một thời điểm, người Mỹ tạo ra những điều kiện để tạo ra chính sách dân chủ của 2 nơi : miền nam Việt Nam và miền Nam Hàn Quốc. Tại sao Hàn Quốc chiến thắng mà Việt Nam chiến bại?
    –  Bà Dương Thu Hương
    Dương Thu Hương: Đối với tôi ngày 30/4 có 2 phía : phía những người Việt ở miền nam thì gọi là ngày «Quốc hận», phía những người Việt ở miền Bắc thì gọi là «ngày Giải phóng của dân tộc» thì tất cả 2 cái đó thì tôi cho là cần phải xét lại ngôn từ , bởi vì ngôn từ nó cũng bấp bênh và nó cũng chao đảo với thời gian, nói tuỳ theo quan niệm con người , tuỳ theo cách nhìn con người để mà thay đổi.
    Về phía những người miền Bắc tưởng rằng đó là một sự sung sướng, một chiến công lừng lẫy, một thắng lợi vô tiền khoáng hậu trong lịch sử. Bây giờ nhìn lại tôi thấy nó chỉ là một ánh đèn loé lên trên một chặng đường, mà cái chặng đường ấy phía sau khi ánh đèn ấy loé lên  thì nó đã dần dần trôi vào bóng tối. Thắng lợi ngày 30/4 là một thứ mà người ta gọi là « illusion » tức là một ảo ảnh. Bởi vì sau cái ảo ảnh ấy thì có những thực tại chồm đến và người Cộng sản ngập trong những cái thực tại ấy.
    Sự thất bại liên tục của họ trên tất cả những chính trường, trên ngoại giao cũng như là đối nội.
    Tường An: Bà có thể giải thích tại sao từ một chiến thắng mà người Cộng sản gọi là «cuộc kháng chiến thần thánh » họ lại trở nên thất bại sau này như bà nhận định ?
    Dương Thu Hương: Cái sự chiến thắng đó đem cho họ một lòng kiêu hãnh quá độ. Cho nên cái chiến thắng ấy là mở màn cho tất cả những thất bại sau này. Và bây giờ, mặc dù họ còn giữ được chính quyền nhưng cái thất bại thì rõ ràng không ai có thể chối cãi được là họ đã trở thành một bộ phận nô lệ của triều đình Cộng sản phương Bắc và cái sự bán nước của họ dù diễn ra trong bóng tối, nhưng nhân dân và tất cả nh người có lương tâm đều đoán được một cách chính xác.
    Chiến thắng 30/4 khiến cho những người Cộng sản có món mồi bở béo giống như ông Nguyễn văn Trấn viết trong cuốn «Viết cho Mẹ và Quốc hộ » – tôi cho ông Nguyễn văn Trấn là một người rất chính trực – ông ấy nói : nhà của người ta lấy, vợ của người ta ngủ v.v… và tức là một sự chiếm đoạt về mặt tài sản đối với tất cả những người mà đã chiến bại.
    Họ đã thực hiện phương sách của Mao Trạch Đông, tức là «Toạ sơn quan hổ đấu» tức là để chọ người Việt đánh nhau với người Mỹ, một cuộc chiến tranh sức tàn lực kiệt để mà dễ biến thành một thứ thuộc địa nghìn năm Bắc thuộc lần thứ hai.
    Tường An: Tại sao bà cho là phải xét lại chữ «Quốc hận” của những người miền Nam, những người đã thua trong cuộc chiến này,  thưa bà ?
    Dương Thu Hương: Về mặt những người miền Nam mà gọi là « Quốc hận » thì họ cũng phải nhìn lại. Tại sao ? Tại sao lại là « Quốc hận » Trước khi hận những người khác họ phải hận chính họ . Tại sao cùng một thời điểm, người Mỹ tạo ra những điều kiện để tạo ra chính sách dân chủ của 2 nơi : miền nam Việt Nam và miền Nam Hàn Quốc. Tại sao Hàn Quốc chiến thắng mà Việt Nam chiến bại ?  Tại sao cùng một cơ hội lịch sử như thế, người Nam Triều Tiên họ đã chớp lấy cơ hội để biến đất nước của họ thành một xứ sở văn minh phồn thịnh, còn miền Nam thì không ? Cái đó phải xét lại.
    Tường An: Từ khi sang Pháp năm 2006 cho đến nay, có vẽ như bà ít tiếp xúc với cộng đồng người Việt hải ngoại, phe chống Cộng cũng như phe thân Cộng, chắc là phải có lý do nào đó có phải không ạ?
    Tóm lại, tôi thấy cần phải chống Cộng, nhưng trước hết cần phải soi lại bản thân mình. Thế còn người Cộng sản nhìn lại ngày 30/4 như  một điều hãnh diện thì tôi đó là sự ngu ngốc.
    – Bà Dương Thu Hương
    Dương Thu Hương: Bây giờ nhìn lại những phong trào chống Cộng của người Việt hải ngoại, ta thấy cái gì ? Trừ những vụ treo đầu dê bán thịt chó như Hoàng Cơ Minh ra, rất nhiều chính khách khác chỉ chờ cơ hội để về Việt Nam thương thuyết với Cộng sản để chia ghế. Những nhà chống Cộng ở đây tôi biết thì hoàn toàn là một thứ trò du hí để thoả mãn cái lòng tự tôn của họ. Bởi vì sống ở nước ngoài họ không có một gương mặt hãnh diện, một vị trí xứng đáng cho nên là họ nêu chiêu bài chống Cộng, nhưng lúc nào cũng ngóng chờ Cộng sản chìa tay ra để trở về chia ghế. Và có những ông Cộng sản chưa cần mời đã vội vàng đến sứ quán làm lành trước . Vì sao . vì họ thấy đấu tranh mệt mỏi quá, hàng Cộng sản đi kiếm được một chút vui thú trong cuối đời. Cho nên bây giờ muốn chiến thắng Cộng sản thì trước tiên phải chiến thắng chính bản thân mình.
    Bây giờ rất nhiều Việt kiều ở nước ngoài chửi Cộng sản nhưng về trong nước lại vui thú, cho làm ăn, cho kiếm tiền, cho chơi gái rẻ. Cho nên cái tinh thần chống Cộng của tôi cũng giống như cái đuôi con chó, vẫy lên rồi vẫy xuống theo cái lợi ích của họ.»
    Tường An: Từ sự phân tích những tiêu cực của  phe Cộng sản cũng như phe chống Cộng, bà có kết luận gì về cuộc đấu tranh trên chiến trường mới này ạ ?
    Dương Thu Hương: Tóm lại, tôi thấy cần phải chống Cộng, nhưng trước hết cần phải soi lại bản thân mình. Thế còn người Cộng sản nhìn lại ngày 30/4 như  một điều hãnh diện thì tôi đó là sự ngu ngốc . Bởi vì bây giờ, cái đứa ngu nhất thì cũng hiểu là họ đang bán nước và sẽ còn bán nước một cách trầm trọng hơn. Và nếu không có một sự kiện nào có thể thay đổi được vận mệnh quốc gia thì chắc chắn 1000 năm Bắc thuộc lần thứ hai sẽ diễn ra. Không phải với một đoàn quân phương Bắc kéo sang nữa mà là một sự khống chế toàn bộ về mặt chính trị và kinh tế bắt đầu từ đảng Cộng sản Trung quốc đối với đảng Cộng sản Việt Nam và sau đó là hai nhà nước cùng một hệ thống mà tôi gọi là một thứ phong kiến trá hình.
    Tường An: Xin cám ơn bà đã dành thì giờ cho đài Á Châu Tự Do.

    nguon

  2. Hoàng Đức Nhã : « Đừng ảo tưởng vào yểm trợ của Mỹ »

    Tôi lấy ví dụ hồi chiến tranh Triều Tiên, lúc đó có một thỏa ước do Quốc hội phê chuẩn đàng hoàng, nên sau này Hoa Kỳ vẫn tiếp tục giúp đở Đại Hàn, nhưng riêng đối với VNCH thì không có điều khoản đó.

    (“Đây là nguyên nhân Nam Hàn khác với Nam Việt” mà bà Thu Hương so sánh.)

    Phát Thứ hai, ngày 27 tháng tư năm 2015
    Hoàng Đức Nhã : « Đừng ảo tưởng vào yểm trợ của Mỹ »

    Ngoại trưởng Mỹ John Kerry hội đàm với bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Pham Bình Minh ngày 16/12/2013 tại Hà Nội.REUTERS/Brian Snyder

    Trong vài ngày nữa là đến kỷ niệm đúng 40 năm ngày kết thúc chiến tranh Việt Nam, 30/04/1975. Cuộc chiến đã kết với việc miền Nam lọt vào tay Cộng sản, một phần do Hoa Kỳ lúc đó đã hoàn toàn bỏ rơi đồng minh Việt Nam Cộng Hòa. Đúng 20 năm sau đó, hai kẻ thù củ Hà Nội và Washington bình thường hóa bang giao và bây giờ, Việt Nam có vẻ muốn dựa vào Mỹ nhiều hơn để đối phó với mối đe dọa Trung Quốc.

    Nhưng Hà Nội đừng nên quá ảo tưởng vào sự yểm trợ của Hoa Kỳ, mà phải lo tự phát triển tiềm lực kinh tế và quân sự để có thể bảo vệ được chủ quyền lãnh thổ. Đó là ý kiến của ông Hoàng Đức Nhã, nguyên là bí thư của tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và Tổng trưởng Dân vận và Chiêu hồi của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Năm nay 73 tuổi, ông Hoàng Đức Nhã hiện sống tại thành phố Chicago, Hoa Kỳ. 

    Ông Hoàng Đức Nhã24/04/2015  Nghe

    RFI : Xin kính chào ông Hoàng Đức Nhã. Thưa ông, với tư cách là một cựu quan chức chính phủ VNCH, mỗi năm khi đến ngày 30/04 thì tâm trạng của ông như thế nào, nhất là năm nay kỷ niệm đúng 40 năm sự kiện này?

    Ông Hoàng Đức Nhã : Mỗi năm đến ngày này và trong thời gian những ngày trước 30/04, lúc nào tâm trí tôi cũng quay về quê hương. Thứ nhất là sống lại cái cảnh mà đáng lý ra mình không mất nước nếu hiệp định ( Paris ) được thi hành nghiêm chỉnh và đồng minh không bội ước. Thứ nhì, 40 năm qua, nhìn lại cái thực trạng đất nước mình và tình trạng mà dân Việt Nam mình phải đối đầu, tôi thấy tương lai còn nhiều nguy hiểm, chưa tốt đẹp như thật sự mình mong muốn đối với một quốc gia đã được hòa bình trong 40 năm qua.

    RFI :Thưa ông Hoàng Đức Nhã, ông có nhắc đến hiệp định Paris 27/01/1973, gọi là hiệp định hòa bình nhưng thực tế là sau hiệp định này, chiến tranh vẫn tiếp diễn cho đến 30/04//75, với việc miền Nam rơi vào tay Cộng sản. Nếu hiệp định này được thi hành nghiêm chỉnh thì lịch sử đã được viết khác ?

    Ông Hoàng Đức Nhã, cựu Tổng trưởng Dân vận và Chiêu hồi chính phủ Việt Nam Cộng Hòa

    Ông Hoàng Đức Nhã : Rất đúng. Trước khi mình ký hiệp định, vào năm 1972, vào mùa Xuân và mùa Hè, khi quân Bắc Việt mở ba trận tấn công, cố chiếm lấy miền Nam, trận Quảng Trị, Thừa Thiên, ở trên cao nguyên và ở dưới Xuân Lộc. Nhưng quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã đánh bại. Lúc đó quân đội Mỹ trợ giúp quân lực VNCH bằng những phi vụ và các vấn đề về tiếp vận, chứ không có lính tham gia, hoàn toàn chỉ có lính VNCH.

    Lúc đó, chính quyền CS Bắc Việt nghĩ rằng, ngày nào mà VNCH có thời gian thì sẽ củng cố không chỉ khả năng quân sự mà cả khả năng kinh tế. Đó là điều họ sợ nhất, vì lúc đó mình đã có chương trình phát triển rất mạnh, không chỉ về mặt xã hội, mà cả kinh tế và an sinh cho nông dân.

    Người nông dân biết rằng sống dưới chế độ tự do rồi một ngày sẽ có tương lai rất sáng lạng. Nếu chúng ta có thêm một năm nữa sau tháng 04/75, thì chúng ta sẽ bắt đầu xuất cảng gạo. Lúc đó nông thôn rất phồn thịnh, vì chương trình cải cách điền địa, phát triển nông thôn bắt đầu thành công. Ngoài ra, vào giữa năm 1974, VNCH có dầu lửa ở ngoài khơi. Những yếu tố đó sẽ giúp miền Nam sống qua được, mặc dù cũng còn cần đến viện trợ của Mỹ.

    Người Mỹ đã không thực sự giúp VNCH trên phương diện quân sự, không làm đúng theo điều khoản ” thay thế một cây súng này bằng một cây súng khác”, nếu quân Bắc Việt tiếp tục xâm lăng, cũng như đã không giúp về mặt kinh tế, thành ra chúng ta không còn có khả năng chiến đấu, trong lúc quân Bắc Việt thì được sự hỗ trợ hùng hậu của Trung Quốc và Nga Sô.

    Lúc đó, Hoa Kỳ dùng hiệp định Paris để đạt được mục tiêu chủ yếu là đem quân của họ về và lấy lại hết tù bình. Thật sự thì quân của họ đã bắt đầu rút đi từ năm 1970 và đến năm 73, khi ký hiệp định thì họ không còn quân lính chiến đấu trên lãnh thổ VNCH nữa.

    Cũng như trong các hiệp định, có những điều khoản Hoa Kỳ cam kết cái này, cam kết cái kia, nhưng vì họ không đưa ra Quốc hội phên chuẩn, cho nên hiệp định đó không có ràng buộc nhân dân Hoa Kỳ, do Quốc hội đại diện, để thực thi các lời hứa. Cái đó cũng do tình hình chính trị nội bộ của Hoa Kỳ, đặc biệt là vụ scandal Watergate, và quan trọng hơn hết là lúc đó đảng Dân Chủ, đang nắm cả lưỡng viện Quốc hội, quyết tâm chấm dứt mọi sự can thiệp của Hoa Kỳ, nhất là ở Việt Nam.

    Tôi lấy ví dụ hồi chiến tranh Triều Tiên, lúc đó có một thỏa ước do Quốc hội phê chuẩn đàng hoàng, nên sau này Hoa Kỳ vẫn tiếp tục giúp đở Đại Hàn, nhưng riêng đối với VNCH thì không có điều khoản đó.

    RFI :Lịch sử đôi khi có những điều trớ trêu. Miền Bắc Việt Nam trước đây chiến đấu chống Hoa Kỳ, nhưng bây giờ gần như là coi nhau như đồng minh, trong bối cảnh Việt Nam đang phải đối phó với mối đe dọa xâm lăng từ Trung Quốc. Trở ngược lại lịch sử, khi nghe tin Hà Nội và Washington bình thường hóa bang giao ( năm 1995 ), cảm nghĩ lúc đó của ông như thế nào ?

    Ông Hoàng Đức Nhã : Người làm chính trị phải biết đối đầu với thực tế. Dĩ nhiên cảm xúc của con người thì lúc nào cũng có. Mình có thể chống, nhưng trong cương vị lãnh đạo thì mình phải biết thực trạng nó như thế nào và phải đối phó như thế nào. Không thể nào cực đoan nói rằng ông phải làm như thế này, ông phải làm như thế kia.

    Thành thử, khi thấy Hoa Kỳ bắt đầu nói chuyện với Hà Nội về bãi bỏ cấm vận, rồi tiến tới tái lập bang giao, mình là VNCH bị Hoa Kỳ bội ước thì thấy điều đó là hoàn toàn phi lý, đâm sau lưng người đồng minh trước đây.

    Nhưng chính trị của Hoa Kỳ không có tình cảm gì cả. Họ nói họ không có kẻ thù vĩnh cửu, cũng như bạn vĩnh cửu, mà chỉ có quyền lợi vĩnh cửu của họ. Họ nghĩ rằng tái lập bang giao ( với Hà Nội ) thì thứ nhất, họ sẽ bành trướng ảnh hưởng của họ trên phương diện chính trị, thứ hai là khai thác sự hợp tác mới về kinh tế và thương mại.

    RFI :Ngày 30/04 đã cho thấy là khi cần, Hoa Kỳ có thể sẳn sàng bỏ rơi đồng minh Việt Nam Cộng Hòa, để cho miền Nam rơi vào tay Cộng sản. Nhìn từ góc độ lịch sử đó, thì theo ông hiện nay, Việt Nam có nên hoàn toàn đặt tin tưởng vào Hoa Kỳ, trong việc tìm kiếm yểm trợ chống âm mưu xâm chiếm của Trung Quốc ?

    Ông Hoàng Đức Nhã : Những người lãnh đạo Việt Nam hiện nay chắc là có nghiên cứu về vấn đề, nhưng nhiều khi họ tin tưởng vào người Hoa Kỳ. Cá nhân tôi, từ lúc còn làm trong chính phủ, và sau đó sang Mỹ có những nhiệm vụ nghiên cứu các vấn đề một cách chiến lược, tôi vẫn nói rằng Hoa Kỳ chỉ có những quyền lợi, mà họ gọi là quyền lợi vĩnh cửu. Nếu bảo vệ quyền lợi đó mà cần phải bỏ một người bạn mới hay người bạn cũ, thì họ cũng vẫn làm như thường. Lúc đó họ sẽ giải thích rằng : « Quyền lợi của chúng tôi không cho phép chúng tôi đi con đường đó nữa ».

    Vì vậy, nếu chính quyền Việt Nam bây giờ cứ tiếp tục tin rằng Hoa Kỳ sẽ hợp tác qua những hành động mấy năm nay như hợp tác về mặt quân sự, văn hóa, đủ thứ hết, tưởng rằng Hoa Kỳ sẽ giúp Việt Nam chống lại việc Trung Quốc bành trướng ảnh hưởng ở vùng Biển Đông, thì đó là một ảo tưởng và một ngày nào đó sự thật sẽ rất là đau cho Việt Nam.

    RFI : Phải chăng cái giải pháp tối ưu cho Việt Nam là phải làm sao cho lợi ích của Hoa Kỳ và Việt Nam tương hợp với nhau để mà dù muốn, dù không, hai bên buộc phải bắt tay với nhau để chống âm mưu bá quyền của Trung Quốc ?

    Ông Hoàng Đức Nhã : Việt Nam phải biết thực thi cái mà tôi gọi là chính trị đa dạng, không chỉ riêng trong vấn đề lãnh hải, hay vấn đề chủ quyền những quần đảo nhỏ nào đó, mà Việt Nam đang có chủ quyền thực sự hay đang đòi chủ quyền. Vấn đề đối với Việt Nam là phải có một giải pháp toàn bộ về quan hệ kinh tế và thương mại với Trung Quốc, giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, và từ đó tạo ra cho mình một cái thế thương thuyết. Thế thương thuyết này cần phải dựa trên sức mạnh. Về kinh tế thì chúng ta chưa đủ sức mạnh để đối lại sức mạnh kinh tế của Trung Quốc. Sức mạnh thứ nhì là sức mạnh quân sự, đặc biệt là hải quân? thì Việt Nam chưa có.

    Khi mình thương thuyết với hai căn bản chưa vững đó, thì mình phải đi con đường rất là cẩn thận. Một mặt là dùng các giải pháp quốc tế như Liên hiệp quốc hay Tòa án quốc tế. Mặt khác tiếp cận song phương với Trung Quốc. Theo tôi? cái giải pháp gọi là đa phương, nhiều quốc gia nhảy vào giúp, sẽ không đi đến đâu. Nói thì hay lắm, nhưng trên thực tế không giải quyết gì,  vì Hoa Kỳ đâu có quyền lợi gì, họ đâu có quan tâm đến chuyện đảo này hay mỏm đá  kia trong vùng « lưỡi bò ». Họ cũng đã tuyên bố là không ủng hộ bất cứ phe nào trong tranh chấp ( chủ quyền Biển Đông ). Thành thử nghĩ rằng Hoa Kỳ sẽ giúp chúng ta để chống Trung Quốc là một ảo tưởng.

    RFI : Tức là Việt Nam không thể dựa hẳn bên này để chống bên kia, mà phải có một giải pháp trung dung, đứng giữa hai cường quốc nhưng vẫn bảo vệ được chủ quyền ?

    Ông Hoàng Đức Nhã : Rất đúng. Giải pháp trung dung thì người Việt Nam từ xưa giờ vẫn không đi đến hai cực đoan. Trên phương diện quân sự thì khả năng bảo vệ vùng ven biển và lãnh hải thì Việt Nam chưa có. Tàu bè thì chưa có nhiều. Nếu có bỏ hết tiền bạc vào để tăng cường hải quân thì ít nhất cũng phải 10 năm mới có được nhiều chiếc tàu có khả năng chống lại Trung Quốc. Đó là thực trạng thứ nhất. Thực trạng thứ nhì, trên phương diện kinh tế thì Việt Nam bầy giờ vẫn còn tùy thuộc về hợp tác và giao thương với Trung Quốc.

    Nhìn vào hai điểm này thì ta phải hiểu là nếu lấy giải pháp nào mà đặt hai quốc gia ở cái thế đụng độ nhau, thì chỉ có dân là chịu thiệt hại thôi. Ngay cả Philipines là đồng minh của Hoa Kỳ, có hiệp ước bảo vệ Philippines, mà vẫn không giải quyết được chuyện bãi đá Scarborough bị Trung Quốc chiếm cách đây 2 năm. Là đồng minh của Hoa Kỳ, có hiệp ước an ninh, mà Hoa Kỳ cũng không nhảy vào giúp Philippines giành lại Scarborough.

    RFI : Nhưng đối với Việt Nam thì có thêm một vấn đề, đó là quan hệ giữa Việt Nam với Trung Quốc không phải là mối quan hệ bình thường giữa hai quốc gia, mà là quan hệ giữa hai quốc gia với hạt nhân là hai đảng Cộng sản cầm quyền. Phải chăng quan hệ đó khiến Việt Nam khó đi đến một con đường ngoại giao độc lập, đứng giữa hai cường quốc, nhưng vẫn bảo vệ được vị thế, chủ quyền của mình ?

    Ông Hoàng Đức Nhã : Đó là một điểm quan trọng. Thật sự đúng là ở hai nước, Đảng là người cầm quyền, chính phủ chỉ là cơ quan để thi hành chính sách của Đảng. Có điều đảng Cộng sản Việt Nam và Trung Quốc, tuy đều có ý thức hệ Cộng sản, nhưng chỉ lo đến vấn đề quyền lợi của họ, quyền lợi kinh tế, quyền lợi quân sự.

    Bao nhiêu người đã viết, mà cũng chưa chắc là đúng, rằng vùng Biển Đông có rất nhiều dầu khí, nhưng biết đâu sau này khi đến đó khoan dầu, thì mới thấy chỉ có vài ba cái giếng, không đủ để khai thác thương mại. Nhưng Trung Quốc dùng lý do đó để nói rằng chúng tôi giành tài nguyên này để một ngày nào đó chúng tôi sẽ khai thác. Như vậy, tuy là đều có ý thức hệ Cộng sản, nhưng họ có giúp gì nhau đâu, chỉ vì quyền lợi của họ thôi.

    RFI : Như ông có nói ở trên, thì về mặt quân sự và kinh tế, Việt Nam chưa có đủ tiềm lực để đối đầu với Trung Quốc. Vậy thì trong bối cảnh hiện nay, 40 năm sau khi chiến tranh kết thúc, vì sao chúng ta chưa phát triển được những nội lực đó, nhất là chúng ta có một cộng đồng người Việt ở nước ngoài rất đông đảo, với những tiềm lực có thể giúp đất nước phát triển mạnh hơn?

    Ông Hoàng Đức Nhã : Lý do rất đơn giản. Thứ nhất, ở trong nước chưa có dân chủ tự do, nên người dân không có cơ hội để thi hành ý kiến của họ để phát triển hay làm ăn. Cái gì cũng phải theo guồng máy của chính quyền. Cộng thêm chế độ con ông cháu cha, nên người dân thường đâu có thể nhảy vào được.

    Thứ nhì, về phương diện phát triển kinh tế của Việt Nam, theo tôi, họ không nhắm vào việc tạo khả năng kinh tế, khả năng sản xuất, mà chỉ nhắm vào những dịch vụ mà yếu tố quyết định là giá nhân công rẻ. Làm như thế thì về lâu về dài sẽ không tạo ra sức mạnh kinh tế.

    Cách đây 20 năm, Trung Quốc cũng bắt đầu như thế, nhưng họ đưa ra những chính sách, đưa người dân đi học, cho tự do làm ăn. Từ đó phát triển từ việc chỉ làm hàng rẻ tiền : quần áo, giày dép, đi đến sản xuất hàng điện tử và nhiều thứ khác.

    Việt Nam cũng phải làm giống vậy, phải mở rộng ra, có như thế người Việt Nam ở hải ngoại mới thấy rằng họ có thể đóng góp được, chứ không phải là về đầu tư, rồi sau đó một thời gian bị giựt, với lý do này, lý do nọ.

    RFI : Hòa giải dân tộc là cụm từ nhiều người hay nhắc đến. Nhưng theo ông thì vì sao cho tới nay chúng ta vẫn chưa thật sự có hòa giải dân tộc để người Việt trong và ngoài nước đoàn kết một lòng, phát triển đất nước và bảo vệ đất nước ?

    Ông Hoàng Đức Nhã : Điều đó rất dễ hiểu là tại vì chế độ ở Việt Nam bây giờ vẫn là chế độ Cộng sản, độc quyền, độc đảng, mà độc quyền độc đảng thì làm sao có dân chủ được ? Khi hòa giải mà không có căn bản dân chủ thì hòa giải cái gì bây giờ ? Đó chỉ là hòa giải một chiều thôi. Mà hòa giải một chiều thì làm sao gọi là hòa giải được ? Đó là thống trị thì đúng hơn!

    RFI : Chính quyền trong nước thì vẫn trách người Việt hải ngoại là vẫn mang tâm lý thù hằn, không chịu hòa giải với người phía bên kia, vẫn còn giữ ảo tưởng của quá khứ, … Nếu gặp những người nói như thế, thì ông sẽ trả lời như thế nào ?

    Ông Hoàng Đức Nhã : Tôi sẽ trả lời như thế này : Cái chuyện đó là dĩ nhiên. Người Việt Nam Cộng Hòa chúng tôi lúc trước đã chiến đấu để bảo vệ quyền tự do và tạo điều kiện ấm no cho dân chúng. Bây giờ tôi thấy chính quyền không thực hiện được ( những điều đó ) sau 40 năm không có chiến tranh, vẫn không có dân chủ và vẫn không tạo những điều kiện tốt về xã hội, về y tế cho dân, thì dĩ nhiên tôi đâu chấp nhận được cái chuyện mấy ông nói về hòa giải dân tộc. Nếu muốn nói chuyện với những cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại, thì phải tạo những điều kiện tối thiểu cho những cộng đồng đó thấy rằng chính quyền Việt Nam bây giờ đã có những biện pháp cụ thể, tạo những điều kiện để hai bên cùng nói chuyện. Nhưng theo tôi thì hiện chưa có những điều kiện đó và như vậy là khó có thể hòa giải dân tộc.

    RFI :Xin cám ơn ông Hoàng Đức Nhã.
    nguon

  3. Dân biểu Alan Lowenthal đệ trình nghị quyết tưởng niệm 30/4

    Vào ngày 28 tháng 4, Dân Biểu Liên Bang Alan Lowenthal đã đệ trình Quốc Hội Hoa Kỳ một nghị quyết, nhằm đánh dấu 40 năm Tháng Tư Đen và sự kiện lịch sử ngày Sài Gòn thất thủ.

    Nghị quyết này của Quốc Hội Hoa Kỳ cũng nhằm vinh danh sự thành công và đóng góp vào đất nước Hoa Kỳ của toàn thể người Mỹ gốc Việt trong 40 năm qua, cũng như tưởng niệm đến tất cả các chiến sĩ Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng Hòa và đồng minh đã anh dũng chiến đấu, hy sinh tại chiến trường Việt Nam, cùng vô số những người dân đã chết trên con đường tìm tự do.

    Bản thông cáo báo chí từ văn phòng Dân biểu Lowenthal ghi rằng: Ngày 30 tháng 4, 1975, Sài Gòn, thủ đô Việt Nam Cộng Hòa đã bị quân Cộng sản Bắc Việt cưỡng chiếm.  Biến cố lịch sử này cùng với những sự kiện xảy ra trong tháng 4- 1975 được gọi là Tháng Tư Đen, được cộng đồng người Mỹ gốc Việt tưởng niệm hàng năm.  Sau biến cố đau thương đó, hàng triệu người Việt đã phải bỏ nước ra đi trên hành trình tìm tự do.  Rất nhiều người trong số đó đã định cư tại Hoa Kỳ, tạo nên một cộng đồng lớn mạnh với nhiều đóng góp vào trong xã hội và đất nước Hoa Kỳ.

    Dân biểu Lowenthal cho biết: “Vào ngày 30 tháng 4, chúng ta sẽ cùng nhau tưởng niệm đến một trong những giây phút lịch sử quan trọng nhất đối với cộng đồng người Mỹ gốc Việt, đó là 40 năm ngày Sài Gòn thất thủ và Việt Nam Cộng Hòa bị cưỡng chiếm hoàn toàn.

    Tưởng niệm Tháng Tư Đen hàng năm là dịp để nhớ lại những hy sinh to lớn của người Việt tỵ nạn Cộng sản, sự cố gắng vương lên và những thành tựu đáng kể của cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ.  Nghị quyết của Quốc Hội này nhằm chính thức công nhận biến cố lịch sử quan trọng của ngày Sài Gòn thất thủ và sự ảnh hưởng đối với hàng triệu người dân Hoa Kỳ.  Chúng ta không nể nào quên được sự hy sinh của những người đã bỏ mình để tranh đấu cho tự do, dân chủ, và nhân quyền tại Việt Nam.”

    Nghị quyết này được Dân Biểu Alan Lowenthal đệ trình với sự đồng bảo trợ của các Dân Biểu Julia Brownley (CA-26), Tony Cardenas (CA-29), Judy Chu (CA-27), Gerry Connolly (VA-11), Susan Davis (CA-53), Mark DeSaulnier (CA-11), Zoe Lofgren (CA-19), Jim McDermott (WA-7), Scott Peters (CA-52), Loretta Sanchez (CA-46), và Mark Takano (CA-41).

    Dân Biểu Liên Bang Alan Lowenthal đại diện cho Địa Hạt 47-CA bao gồm các thành phố và khu vực như Westminster, Garden Grove, Buena Park, Anaheim, Midway City, Stanton, Long Beach, Lakewood, Signal Hill, Avalon, Los Alamitos, Rossmoor, và Cypress.

    (Thanh Lan)

    http://phuongdongtimes.com/tin-tuc/tin-hoa-ky/dan-bieu-alan-lowenthal-de-trinh-nghi-quyet-tuong-niem-304/

  4. CÂU CHUYỆN THUYỀN NHÂN VƯỢT BIỂN VIỆT NAM

    Bài đọc liên quan: 

    Chuyến Tàu Hải Hồng do chính quyền cộng sản Việt Nam mua sắm từ một tàu cũ của Panama, và tổ chức thu tiền người Việt gốc Hoa để được ra đi tỵ nạn cộng sản vào tháng 11 năm 1978 và bị Indonesia và Malaysia từ chối, nó bị neo ngoài biển Đông 2 năm – Ảnh Corbis
    Ngày 30/4 năm nay trên báo đảng có 1 bài báo nói láo một cách trơ trẽn về việc công an cứu người vượt biển và trả lại vàng cho dân. Mặc dù mồm lãnh đạo cộng sản vẫn kêu gọi hòa hợp hòa giải.
    Tôi là một trong những người là nạn nhân của vụ mất của vì 8 lần đi vượt biển không thành từ năm 1976 đến mãi khi là sinh viên y khoa năm thứ tư, giấc mộng vượt biển không ngày nào không ám ảnh trong tâm trí tôi.

    Ngay cả khi là sinh viên Y khoa ở Sài Gòn, chúng tôi vẫn tìm hài cốt lính Mỹ để cất trong tủ ký túc xá, chờ ngày đi vượt biên, để làm vật thế chấp, để được định cư nước thứ 3 sau khi đi đường bộ, hoặc đường biển đến một quốc gia Đông Nam Á, nên tôi hiểu rất rõ vụ này. Câu chuyện đã hơn 30 năm, nhưng như mới hôm qua.

    Không ai thời vượt biển mà quên vụ án ông Mười Vân – tức Nguyễn Hữu Giộc giám đốc công an tỉnh Đồng Nai – vào năm 1978 đến 1979 tỉnh Đồng Nai được đảng cầm quyền giao nhiệm vụ mua sắm phương tiện, tổ chức vượt biển để kiếm tài chính cho đảng. Nhưng ông Mười Vân có thò tay bòn rút chỉ vài ngàn lượng vàng chia nhau cho nhóm trong số 2.500kg vàng thu được của dân. Nên cuối cùng ông Mười Vân bị tội xử tử hình.
    Cũng không ai có thể quên vụ Biến cố tàu Hải Hồng do chính nhà nước cộng sản Việt Nam mua lại tàu của Panama, tổ chức cho người đi vượt biển bị các chính quyền Indonesia, Malaysia từ chối cho dân vượt biển được vào đảo của họ để tạm cư. Vì họ cho rằng chính quyền cộng sản Việt Nam đẩy dân mình ra đi vừa kiếm tiền của dân, vừa bắt các quốc gia khác phải nuôi. Trong biến cố này, mỗi người ra đi phải đóng cho chính quyền cộng sản Việt Nam 16 lượng vàng để được ra đi 2500 người trên chiếc tàu Hải Hồng.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s