Hàng chục tỷ USD có thể ‘ngầm’ ra khỏi Việt Nam bằng cách nào?

Hình minh họa.

Mới đây, Global Financial Integrity (Liêm chính Tài chính Toàn cầu, gọi tắt là GFI), nhóm nghiên cứu về chuyển tiền qua biên giới có trụ sở tại Washington (Hoa Kỳ) đã công bố báo cáo “Illicit Financial Flows from Developing Countries: 2004-2013” (Dòng chảy tài chính bất hợp pháp từ các nước đang phát triển giai đoạn 2004-2013”. Điều đáng lưu ý là trong số các nước có tên trong danh sách này, có nhắc đến Việt Nam.

Hàng chục tỷ USD ‘ngầm’ ra nước ngoài mỗi năm

Trước hết, có một số ý kiến cho rằng báo cáo của GIF không có độ tin cậy. Tuy nhiên, dù thông tin về danh sách các nước tuồn “tiền đen” ra nước ngoài chỉ xuất hiện trên trang web chính thức của GIF và được tranh luận mạnh mẽ trên các trang mạng xã hội là chính, nhưng nếu tìm hiểu kỹ thì những con số mà GFI đưa ra, theo tôi, không phải là hoàn toàn không có căn cứ để tin tưởng. Thực tế nghiên cứu của GIF được thực hiện dựa trên báo cáo của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) – tổ chức thu thập số liệu uy tín hàng đầu thế giới; và số liệu mà GFI có được về sở hữu, chuyển nhượng hoặc sử dụng tiền trái phép của các nước đang phát triển.

Trong báo cáo này, lượng tiền thất thoát của Việt Nam, hay được tuồn từ Việt Nam ra nước ngoài tính trung bình là 9,29 tỷ USD mỗi năm, tức 92,9 tỷ USD trong một thập kỷ vừa qua (2004-2013). Với con số này, Việt Nam xếp hạng thứ 18 sau một số quốc gia có lượng “tiền đen” bị tuồn ra nước ngoài rất cao như Trung Quốc, Nga, Mexico, Ấn Độ, Malaysia… Tuy với thứ hạng này, Việt Nam không được nhắc đến trong tốp các nước tuồn tiền đen ra nước ngoài nhiều nhất, nhưng nếu nhìn vào chỉ số GDP của Việt Nam thì quả thật đáng lưu tâm. Số tiền bất hợp pháp từ Việt Nam đổ ra nước ngoài chiếm đến hơn 9% GDP – tỷ lệ cao hơn so với các nước lân cận như Thái Lan, Myanmar, Indonesia, Philippines…và nhiều nước khác trên thế giới.

Kinh tế vĩ mô của Việt Nam những năm gần đây phát triển không thật sự thuận lợi, nếu như không muốn nói là khó khăn, chật vật trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng. Số tiền “thất thoát” ra nước ngoài hàng năm lên đến gần chục tỷ USD không phải là con số đáng bị lãng quên hay không cần lưu ý, ngay cả khi có nhiều người hoài nghi về tính chính xác của các con số do GFI đưa ra (dù thiếu cơ sở để hoài nghi).

Thông qua dịch vụ VIP?

Tiền bất hợp pháp ra nước ngoài thực tế bằng nhiều con đường khác nhau, có thể qua con đường kinh doanh, đầu tư, hay chuyển tiền, gửi tiền ở các tổ chức tài chính. Ví dụ như Trung Quốc, quốc gia có dòng tài chính bất hợp pháp ước tính đạt gần 1,4 nghìn tỷ USD trong một thập kỷ, mức lớn nhất đối với các quốc gia đang phát triển.

Trong khi theo luật pháp quy định người dân Trung Quốc chỉ được phép chuyển ra nước ngoài số tiền nhiều nhất 50.000 USD/năm, một số ngân hàng ngầm mời khách hàng dùng dịch vụ “VIP” với giao dịch nhanh và lượng chuyển tiền không giới hạn. Gần đây nhất là hồi tháng 11 vừa qua, truyền thông quốc tế đưa tin cơ quan điều tra đã cáo buộc Tổng giám đốc Công ty kỹ thuật cảng Trung Quốc (một doanh nghiệp nhà nước tại Bắc Kinh) đã chuyển 3 triệu USD tiền có được từ tham nhũng thông qua một ngân hàng ngầm của Trung Quốc đại lục.

Cụ thể, các ngân hàng ngầm có dịch vụ “VIP” sử dụng chiêu bài “hàng rào kiểm toán”. Bản chất của chiêu trò này là chuyển đổi 18 triệu nhân dân tệ trong tài khoản của vị tổng giám đốc nói trên thành khoản ngoại tệ tương đương trong tài khoản ở nước ngoài của ngân hàng ngầm. Về lý thuyết, tiền không được chuyển trực tiếp hay bằng điện tử qua biên giới, khiến cho những giao dịch này hoàn toàn không thể phát hiện được. Đó là lý do tại sao giới chuyên môn gọi đó là chiêu tạo “hàng rào” chống lại các cuộc kiểm toán. Dịch vụ “VIP” này, tất nhiên không chỉ xuất hiện tại Trung Quốc, mà hoàn toàn có thể xuất hiện tại nhiều nước khác trên thế giới.

Hay dựa vào các doanh nghiệp ‘ma’?

Bên cạnh đó, người ta có thể chuyển tiền bất hợp pháp ra nước ngoài thông qua việc mở ra các doanh nghiệp “ma”, trá hình chuyển tiền bất hợp pháp. Nhiều “kẻ ma cô” ở Trung Quốc đã mở dịch vụ ngân hàng ngầm trá hình với vỏ bọc giao dịch trong lĩnh vực thương mại và vận tải với hàng chục công ty, còn bản chất thực là chuyển tiền trái phép. Các công ty kinh doanh “ma” giả các dữ liệu xuất nhập khẩu để che đậy các khoản tiền giao dịch ra nước ngoài. Dù Trung Quốc đã ban hành luật quy định cho phép các công ty chuyển đổi hợp pháp số ngoại tệ trong hạn ngạch 50.000 USD/năm, nhưng thực tế từ năm 2013, cảnh sát Trung Quốc cho biết các băng nhóm lợi dụng chính sách khuyến khích xuất khẩu quốc gia để chuyển trái phép ra nước ngoài gần sáu triệu USD.

Rủi ro và hàm ý chính sách

Tác hại của các dòng tài chính “đen” chảy ra nước ngoài đã được nhiều chuyên gia, các nhà làm chính sách nhắc tới trong suốt những năm gần đây, kèm theo đó là các câu chuyện điển hình mà bất cứ quốc gia nào, kể cả Việt Nam – quốc gia “thất thoát” hàng chục tỷ USD mỗi năm, cũng phải lưu tâm.

Điều này được Chủ tịch GFI, Raymond Baker, khẳng định về bản báo cáo của GFI: “Nghiên cứu này chứng minh rất rõ ràng rằng các dòng tài chính bất hợp pháp là một trong những yếu tố gây thiệt hại lớn nhất cho hầu hết các nền kinh tế phát triển và mới nổi của thế giới”. Tất nhiên thứ hạng càng cao, hay tỷ lệ thất thoát so với GDP càng lớn thì gánh nặng tài chính của quốc gia sẽ càng lớn.

Hãy nhìn vào “quán quân” chuyển tài chính “đen” ra nước ngoài – Trung Quốc. Các đánh giá của hãng Bloomberg cho thấy rằng chính thực trạng chuyển tiền ra nước ngoài bất hợp pháp là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến mức thâm hụt dự trữ ngoại hối của Trung Quốc lớn nhất trong năm 2015.

Tại Việt Nam, trang tin Infonet (tờ báo của Nhà nước, do Bộ Thông tin và Truyền thông quản lý), hồi tháng 11-2015 cũng cho biết vốn đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam trong mấy năm gần đây ngày một gia tăng, nhưng hiệu quả thu được từ dòng vốn này vẫn chưa được kiểm soát triệt để, gây lo ngại rằng nguồn vốn sẽ bị lợi dụng để dòng tiền bất hợp pháp “chảy” ra nước ngoài. Chính Cục Đầu tư nước ngoài cũng thừa nhận rằng việc chấp hành chế độ báo cáo của các doanh nghiệp theo luật định về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài chưa được thực hiện nghiêm túc, ví dụ: thông tin về doanh nghiệp còn thiếu, cơ chế giám sát chưa hiệu quả. Một chuyên gia không tiết lộ tên tuổi cũng phát biểu trên Infonet rằng “Không tránh được những trường hợp lập dự án ảo để chuyển ngoại tệ ra nước ngoài một cách hợp pháp cho nhiều mục đích khác nhau nhằm mục đích lẩn tránh thuế, rửa tiền hoặc không phù hợp với định hướng”.

Trên cả những lo lắng về thất thoát và ảnh hưởng kinh tế, việc dòng tiền bất hợp pháp chảy ra nước ngoài một cách cao ngất tạo ra các lo ngại về tình hình tham nhũng. Dù vừa qua, cả hai thành phố đầu tàu của Việt Nam là Sài Gòn và Hà Nội đều tuyên bố “không tìm thấy tham nhũng”,  hầu hết các cử tri và nhiều người dân vẫn bày tỏ bức xúc về tình trạng tham nhũng đang diễn ra trên thực tế hiện nay, dù chỉ dừng ở hiện tượng và hoài nghi. Thế nên, báo cáo của GFI về số tiền bất hợp pháp của Việt Nam chảy ra nước ngoài cũng là bằng chứng cho thấy tình hình tham nhũng cần được xem xét một cách chính đáng hơn; và các giải pháp ngăn chặn dòng tài chính bất hợp pháp chảy ra nước ngoài là điều bức thiết nếu muốn dân vẫn đặt niềm tin vào nhà nước.

VOA

Tin liên hệ

Blog 84: ‘Không tin không có tham nhũng’

Giả thuyết đầu tiên được đưa ra để trả lời câu hỏi này là ‘tại vì không có tham nhũng, nên không phát hiện được tham nhũng cũng là điều dễ hiểu’

* Blog của Cao Huy Huân là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

 


Cao Huy Huân

Sinh trưởng ở Việt Nam và học tập tại Hoa Kỳ. Là một đại diện cho thế hệ sinh ra và lớn lên sau bước ngoặt lịch sử 1975. Luôn theo dõi sao sát những diễn biến xảy ra trong nước và nêu lên cảm nghĩ của một thế hệ hậu bối thông qua blog dưới một lăng kính trong vắt và đa chiều.

5 thoughts on “Hàng chục tỷ USD có thể ‘ngầm’ ra khỏi Việt Nam bằng cách nào?

  1. Hiến Pháp 26.10.1956 và thực tại chính trị dân chủ miền Nam

    Trước đây, hơn 50 năm, vào đầu năm 1954, Việt Nam đã thực sự đứng trên bờ vực thẳm của một sự phá sản toàn diện. Thật vậy, tin Điện Biên Phủ thất thủ không những gây nên một không khí bi quan tột cùng tại Việt Nam, mà còn kéo theo một cơn lốc chính trị khiếp hải tại nghị trường Ba Lê, khiến chính phủ Laniel bị sụp đổ. Mandes France được quốc hội tín nhiệm lên làm thủ tướng với lời hứa hẹn sẽ giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương trong vòng 30 ngày, nghĩa là phải chấm dứt chiến tranh bằng mọi giá. Còn Hoa Kỳ, dù trước đó, được Pháp khẩn khoản yêu cầu can thiệp, Tổng Thống Eisenhower do dự, không dám quyết định, sợ mất uy tín vì viễn tượng vô cùng mờ mịt cả về quân sự lẫn chính trị tại Việt Nam.

    Trước tình thế hầu như tuyệt vọng đó, Ông Diệm đã chấp nhận mọi thử thách để về nước chấp chánh. Không một quan sát viên quốc tế nào vào thời đó, dù lạc quan nhất đi nữa, dám tin rằng chính phủ Diệm có thể tồn tại hơn 6 tháng. Nhưng như một phép mầu, Ông Diệm đã vượt qua mọi khó khăn nghiệt ngã, cùng những âm mưu thâm độc đang vây hãm, muốn nhận chìm chính phủ của Ông từ trong trứng nước.

    Thật vậy, nhờ một ý chí quật cường, một năng lực vô song, tài lãnh đạo sáng suốt, cùng một cuộc sống đạo đức cá nhân trong sáng, thánh thiện và một thành tích chống Pháp và chống Cộng không tì  vết … đã giúp Ông Diệm thống hợp được ý chí dũng mãnh phi thường của toàn dân trong công cuộc đấu tranh giải phóng đất nước dành độc lập và tự do cho tổ quốc. Chỉ trong một thời gian ngắn, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm đã thực hiện được nhưng thành tưu đáng kể như sau:

    Biến một quân đội lệ thuộc ngoại bang và tình trạng nhiều quận đội trong một quân đội, thành một quân đội quốc gia độc lập và thống nhất, có tổ chức qui củ, có kỷ luật, có tinh thần chiến đấu bảo vệ tổ quốc.

    Biến tình trạng nhiều quốc gia trong một quốc gia, do nạn giáo phái hung cứ mỗi nhóm một phương thành một quốc gia thống nhất, với một cơ chế chính quyền trung ương vững mạnh, đủ uy lực để huy động mọi tiềm năng quốc gia vào công cuộc phát triển kinh tế, canh tân xã hội và kiến tạo một đất nước dân chủ tiến bộ trong ổn định và thanh bình.

    Thay đổi một cơ chế chính trị mơ hồ bằng một định chế chính trị dân chủ tiến bộ, với một bản hiến pháp, phù hợp với trào lưu chính trị thế giới, vừa đảm bảo được những quyền tự do cơ bản của mọi công dân, nhưng cũng vừa đủ mạnh để duy trì uy quyền quốc gia, nhằm đối phó với cuộc chiến tranh du kích, phá hoại và khuynh đảo do Cộng sản Bắc Việt chủ xướng. Đồng thời, tạo cơ hội để huy động mọi năng lực để tái thiết đất nước và xây dựng kinh tế thoát khỏi tình trạng nghèo đói và lạc hậu của một quốc gia bị đô hộ mới thu hồi độc lập.

    Nhưng trong tất cả thành quả kể trên, Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã coi trọng và rất tự hào về việc ban hành Hiến Pháp 26.10.1956, vì theo Tổng Thống, các quốc gia láng giềng Á Châu, đã mất ít nhất một vài ba năm mới có thể kiện toàn cơ chế căn bản của nền dân chủ của họ, còn chế độ Việt Nam Cộng Hòa chỉ cần một năm đã ban hành được một bản Hiến Pháp dân chủ và tiến bộ, đồng thời đáp ứng được nhu cầu cấp thiết của đất nước về mọi phương diện.

    Hình Thành Hiến Pháp 26.10.1956

    Nếu cuộc Trưng Cầu Dân Ý ngày 23.10.1955 là hệ quả của cuộc cách mạng tự phát do Ủy Ban Cách Mạng Quốc Gai gồm 18 chính đảng và đoàn thể cùng 29 nhân sĩ có uy tin của miền Nam lúc  đó thực hiện (xem Nhị Lang, trang 287-297) thì việc hình thành Bản Hiến Pháp đầu tiên của thể chế Cộng Hòa Việt Nam lại là thành quả một cuộc tranh đấu lâu dài của chính vị nguyên thủ quốc gia thời đó. Điều nầy được chính Ông Diệm xác nhận:

    “Cách đây 22 năm, khi tôi có trách nhiệm quan trọng trong chính quyền, tôi đã đòi hỏi thành lập một Quốc Gia Dân Cử. Nhưng người và hoàn cảnh hồi đó chống lại ý muốn ấy, nên tôi rời bỏ chính quyền.  Ấy vậy, khai nguyên một chế độ dân chủ, chẳng phải vì tình thế, mà cũng là việc tôi hằng chủ trương tranh đấu”. (Niên Giám Quốc Hội Lập Hiến, Sàigon, 1956, tr17).

    Tiếp đến Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã quan tâm rất nhiều đến tie^’n trình dự thảo Hiến Pháp 26.10.1956. Trong thực tế, bản văn pha’p lý căn bản nầy không chỉ là sáng quyền duy nhất của Quốc Hội Lập Hiến thời đó, mà còn có sự tham gia chỉ đạo rất tích cực của Tổng Thống Diệm nữa. Điều nầy đã thể hiện trong thông điệp của Tổng Thống gởi quốc Hội Lập Hiến trong ngày khai mạc 17.4.1956:

    Việt Nam là một nước Cộng Hòa độc lập, thống nhất và bất khả phân.

    Mỗi người công dân được sinh ra, đều được tự do và bình đẳng trước pháp luật. quốc gia phải bảo đảm cho họ những điều kiện đồng đều để họ hành xử quyền lợi của mình và hoàn thành các nhiệm vụ đã được giao phó. Chính phủ có bổn phận giúp đở và bảo vệ gia đình họ, để họ có thể phát phát triển một cuộc sống gia đình thuận hòa. Tất cả các công dân đều có quyền được hưởng một cuộc sống an bình, với mục tiêu duy nhứt là được làm việc với đồng lương xứng đáng để có thể tạo nên một sản nghiệp và nhờ đó có thể đảm bảo cho mình một cuộc sống đầy nhân phẩm và tự do, bảo đảm cho mình những quyền tự do dân chủ, và tạo cho mình cơ hội được phát triển đầy đủ bản chất riêng mình. Vì phúc lợi chung và vì ne^`n Cộng Hòa, chống lại những kẻ phá hoại nền tảng của cuộc sống cộng đồng và của Hiến Pháp.

    Chủ quyền quốc gia thuộc vê Quốc Dân.

    Quốc Hội Dân Cử được giao phó nhiệm vụ lập pháp.

    Tổng Thống của nên Cộng Hòa được bầu ra bằng một cuộc phổ thông đầu phiếu, trực tiếp và kín, sẽ được ủy thác trách nhiệm hành pháp.

    Tòa án phải được hoàn toàn ddộc lập để có thể đóng góp thiết thực vào việc bảo vệ được chế độ cộng hòa, trật tự, tự do và nền dân chủ.

    Một Viện Bảo Hiến cũng phải được thành lập để có thể giải quyết những tranh chấp có lien quan đến các luật lệ hiến định.

    Các lựu lượng kinh tế phải lien kết với nhau để hành xử quyền hành của họ bằng cách thiết lập nên một Hội Đồng Kinh Tế Quốc Gia (Ibid).

    Thực tại chính trị Việt Nam

    Như mọi người đều biết, Hiến Pháp tự nó chỉ là một văn kiện pháp lý, không thể mang lại tự do dân chủ cho người dân, nếu chính quyền không thực tâm thi hành những điều khoản đã được long trọng công bố trong đó. Điều nầy thể hiện rõ nét trong thực tại chính trị tại các quốc gia cộng sản. Thực vậy, các quốc gia cộng sản cũng có những bản hiến pháp rất tiến bộ, qui định rất rõ rệt những quyền tự do căn bản của mọi công dân. Nhưng trong thực tế, đó là những chế độ độc tài toàn trị, chính quyền đã thâu tóm mọi quyền hành và những điều khoản căn bản mà Hiến Pháp đã dành cho người dân đều bị chính quyền chà đạp một cách thô bạo.

    Từ ý nghĩ đó, người viết muốn tìm hiểu một cách khách quan vô tư về thực tại chính trị Việt Nam trong việc thực thi văn kiện văn kiện pháp lý căn bản của chế độ. Đồng thời, cũng xin minh xác ở đây, trong bài nầy sẽ không đề cập đến nội dung của Hiến Pháp 26.10.1956, vì luật sư Hà Như Chi, dân biểu của Quốc Hội Lập Hiến và cũng là thành viên trong Ủy Ban soạn thảo Hiến Pháp, đã trình bày khá đầy đủ trong quyển Kỷ Yếu Ghi Ơn Tổng Thống Ngô Đình Diệm, xuất bản tại California, 2005, dưới nhan đề Quốc Hội Lập Hiến và Hiến Pháp Đệ Nhất Cộng Hòa, tr 31-44.

    Tổng Thống Ngô Đình Diệm độc tài?

    Phần lớn những chính trị gia đối lập với chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa Việt Nam, mà người viết được tiếp xúc, đều cho là Tổng Thống Ngộ Đình Diệm là một người độc tài, không chấp nhận đối lập, không biết liên kết với đảng phái quốc gia để tạo thành những liên minh chính trị có qui mộ lớn để động viên sự ủng hộ của toàn dân, nhằm chống cộng sản hữu hiệu, như Bs Nguyễn tôn Hoan, một lãnh tụ Đảng Đại Việt, hệ phái Miến nam đã phê bình Ông Diệm:

    Ông Diệm lúc đầu là một nhà cách mạng thật sự và đạo đức, tôi đã cộng tác với Ông trong những thời gian đầu của thập nên 1950. Nhưng đến khi Ông Diệm về nước cầm quyền 1954, Ông càng ngày càng tỏ ra độc tài không còn muốn nghe lời ai nữa, Ông không muốn chia xẽ quyền hành với các đảng phái quốc gia khác. Tôi không đồng ý với quan niệm đó và đã rời Việt Nam để sống lưu vong. (Bs Nguyễn Tôn Hoàn trả lời phỏng vấn của tác giả, tại San Jose, tháng 7, 1986).

    Trước đó nhiều năm, khi còn giảng sư Lịch sử Chính Trị Việt Nam Hiện Đại, tại Viện Đại Học Đalat, tôi có nhiều dịp tiếp xúc với ông Võ Văn Hải, bí thư của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, và từ năm 1967-1975, ông cũng là giáo sư thỉnh giảng tại cơ sở giáo dục nầy. Khi tôi hỏi về thái độ của Tổng Thống Ngộ đình Diệm đối với các chính khách đối lập, ông Hải tiết lộ:

    Tổng Thống Ngô Đình Diệm cho rằng phần lớn các chính khách Việt Nam không có một kiến thức chính trị thực tiển và không hiểu thực tại chính trị, kinh tế và xã hội của quốc gia chậm tiến mới thu hồi độc lập như Việt Nam, Việt Nam lúc ấy phải đối đầu với hậu quả của cuộc chiến tranh khốc liệt suốt 9 năm, trong đó mọi hạ tầng cơ sở bị tiêu hủy hoàn toàn, cầu cống, đường sá, hệ thống viễn thông … toàn bộ bị phá sập, cắt đứt. hệ thống ngân hàng sụp đỗ toàn diện vì không ai tin tưởng nữa. Từ đó kinh tế quốc gia đi vào ngỏ cụt đầy tăm tối … Chính trị thì vô cùng hỗn loạn, các giáo phái hùng cứ mỗi người một phương. Ngay tại đô thành Sàigon, lực lượng công an cảnh sát do Bình Xuyên nắm giữ, nhiệm vụ chính của họ không phải bảo vệ an ninh trậ tự cho dân chúng, mà để duy trì và củng cố mức thu nhập tài chánh cho các sòng bạc (Casino), các ổ điếm và các trung tâm hút thuốc phiện của Bảy Viễn. Quân đội do các sĩ quan Pháp nắm giữ, lúc nào cũng sẳn sàng thách thức quyền lực chính phủ, để bảo vệ quyền lợi của thực dân và tài phiệt Pháp. Thêm vào đó, đất nước bị chia đôi, chính quyền phải định cư cho gần 1 triệu đồng bào di cư từ miền Bắc vào Nam. Mặc dù, theo hiệp định Genève, cuộc chiến đã kết thúc và cộng sản tập kết ra Bắc, nhưng thực tế họ đã gài người ở lại để chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh du kích, phá hoại và khuynh đảo mới. Thực dân Pháp, dù tuyên bố trao trả chủ quyền cho Việt Nam, nhưng trong thực tế vẫn còn có nhiều ý đồ đen tối để duy trì đặc quyền, đặc lợi của giới tài phiệt Pháp tại đây … đất nước vừa mới thu hồi độc lập, dân chúng còn bỡ ngỡ trước quan niệm tự do dân chủ, dân chúng còn ngheo đói, không đủ ăn đủ mặc. Nếu đem áp dụng những quan niệm dân chủ lý tưởng của Tây Phương chắc chắn sẽ đưa đến hỗn loạn.

    Trong hoàn cảnh đó, mà Bs Nguyễn Tôn Hoàn và Ks Phan Khắc Sửu .. đòi phải áp dụng chế độ Dân Chủ Đại Nghị của Đệ Tam Cộng Hòa Pháp Quốc, để đem hứng khởi lại cho người dân và cổ vũ cho mọi chính đảng tham gia vào mặt trận chính trị quốc gia nhằm đối đầu với cộng sản và thực dân …

    Theo Ông Diệm, các cụ không theo dõi những biến chuyển chính trị trên thế giới, đặc biệt các quốc gia Á Phi, sau khi thu hồi độc lập, họ cần phải có một chính quyền mạnh để có thể thực hiện các cuộc canh tân khẩn cấp về chính trị và kinh tế, để có thể bắt kịp đà tiến hóa của thế giới sau nhiều năm bị kèm hảm trong sự chậm tiến dưới chế độ thực dân đô hộ.  Và ngay quan niệm Dân Chủ Đại Nghị của Đệ Tam Cộng hòa Pháp Quốc, đã lỗi thời ngay cả ở nước Pháp, một quốc gia có truyền thống dân chủ lâu đời nhất thế giới nầy, vì nó gây nên quá nhiều bất ổn chính trị, có khi  trong một tháng mà phải thay đổi chính phủ đến 2 lần, có khi chính phủ tồn tại có 3 ngày là sụp đỗ … thử hỏi, một người có chút công tâm, một chút nhận thức về thực tế chính trị đất nước và chiều hướng phát triển kinh tế chính trị tại các quốc gia Á Phi, sau thế chiến thứ 2 … có thể chấp nhận quan điểm dân chủ của cụ Hoàn, cụ Sửu … không?

    Ông Diệm khẳng định, vì quyền lợi tối thượng của quốc dân và tổ quốc, Ông không thể chấp nhận quan điểm nầy.

    Nhưng bất hạnh cho cá nhân Tổng Thống Ngô Đình Diệm và có thể cho toàn thể miền Nam không ngừng ở đó. Ngày 27.1.1960, Cộng sản lợi dụng dịp Tết Nguyên Đán, bất ngờ tấn công vào Trảng Sụp, thuộc tỉnh Tây Ninh, gần biên giới Việt Miên, với quân số cấp trung đoàn. Điều nầy chứng tỏ mức độ xâm nhập, phá hoại và khuynh đảo của cộng sản Bắc Việt đã đến độ nguy hiểm cho sự tồn vong của Việt Nam Cộng Hòa.

    Trong chính tình hình đó, thật là khó hiểu và đầy mĩa mai, tháng 4 năm 1960, 18 chính kách tên tuổi của miền Nam họp tại khách sạn Caravelle, đưa ra một kiến nghị đòi Tổng Thống Diệm mở rộng chính phủ, thực thi những quyền tự do căn bản trong Hiến Pháp như quyền tự do báo chí, tự do hội họp … thật là đầy bí ẩn, khi đát nước đang ở trong tình trạng khẩn trương của chiến tranh, các cụ lại đi đòi hỏi thực thi những điều tự do quá lý tưởng và không thực tế nầy. Đến nỗi, một nhà bình luận người Anh có nhiều kinh nghiệm về Việt Nam, Ducanson đã nhận xét mà người viết có thể tóm lược như sau:

    “Nếu bản kiến nghị nầy được đưa ra trong điều kiện chính trị ổn định của một miền Nam không bị cộng sản Hà Nội đe dọa tiêu diệt, thì đó là yêu sách đáng được cứu xét nghiêm chỉnh. Điều đáng tiếc nhất, là khi cộng quân đã tấn công cấp trung đoàn và các vụ sát hại các viên chức chính phủ hầu như xảy ra hằng ngày, thì đó là những yêu sách nếu không muốn bảo là ngớ ngẩn, thì ít ra cũng bắt nguồn từ sự thiếu khôn ngoan.” (Ducanson, Denis J. Government and Revolution in Vietnam, 1968).

    Dù vậy, nhưng biến cố nầy sau khi được nhà báo thiên tả như Jean Lacouture viết những bài tường thuật trên báo Le Monde tại Paris đã kết án chính quyền của Tổng Thống Ngô Đình Diệm là độc tài, không thực thi nghiêm chỉnh Hiến Pháp và không được sự ủng hộ của đa số chính khách đối lập trong việc theo đuổi chính sách chỉ đạo cuộc chiến tranh chống Cộng tại Việt Nam. Điều nầy đã làm xấu đi hình ảnh của Tổng Thống Ngô Đình Diệm tại chính trường Hoa Thịnh Đốn.

    Tiếp đến, một biến cố quân sự khác, đó là cuộc đảo chánh 11-11-1960 do Trung Tá Vương Văn Đông chủ xướng. Ông Đông là một sĩ quan thân Pháp, bất mãn với chính quyền Ông Diệm, kết hợp với một số sĩ quan gốc Bắc cũng bất mãn như ông, vì cho rằng Tổng Thống Ngô Đình Diệm kỳ thị địa phương, chỉ thích sử dụng người miền Trung (Đại Tá Phạm Văn Liễu đàm luận với tác giả tại California, 7-1986). Do đó, các sĩ quan nầy chủ động một cuộc đảo chánh quân sự một cách vội vã và thiếu tổ chức, chứ không có một hậu thuẩn chính trị nào đáng kể. Về phương diện chính trị, ông Đông có liên lạc với luật sư Hoàng Cơ Thụy, một người có họ hàng với ông, như là người phụ trách bộ phận chính trị của cuộc đảo chánh, nhưng ông Thụy không có liên lạc hay nối kết hoặc được sự ủng hộ của một chính đảng nào. (xem Vương Văn Đông, Binh Biến 11-11-1960, Phụ Nữ Diễn Đàn, Virginia, số 106 tháng 11/1992, tr 41-42). Chỉ khi Đại Tá Nguyễn Chánh Thi, người tham gia đảo chánh vào giờ chót, cho mời nhà văn Nguyễn Tường Tam, kỷ sư Phan Khắc Sửu, vì không nắm vững tình thế lúc đó, nên các cụ ủng hộ cuộc đảo chánh vào giờ chót, và sau này, các cụ đã gặp khá nhiều hệ lụy phiền phức với chính quyền.  Trong khi luật sư Thụy, vì được CIA móc nối và khuyến khích thực hiện cuộc binh biến nầy từ trước, nên sau khi sự việc bất thành, CIA đã đưa vị luật sư nầy rời khỏi Việt Nam một cách an toàn.

    Rồi ngày 20.12.1960, Cộng sản Bắc Việt chính thức khai sinh Mặt Trân Giải Phóng Miền Nam để phát động cuộc xâm lăng võ lực thôn tính Miền Nam.

    Ba sự kiện trên đây, đối với người viết, xảy ra hoàn toàn riêng rẽ, không có một liên hệ hỗ tương, nhân quả hay luận lý nào với nhau. Nhưng đối với dư luận, nhất là tại Hoa Kỳ, họ cho rằng ba biến cố nầy đã có một liên hệ nhân quả mật thiết, nghĩa là chính quyền Diệm độc tài, đàn áp đối lập, hạn chế những quyền tự do căn bản …, xa rời quần chúng, khiến đa số chán ghét chế dộ Diệm nên đã có những thành phần trí thức bất mãn như nhóm Caravelle đòi hỏi cải cách chính trị, nhóm sĩ quan nhảy dù thực hiện đảo chánh quân sự và sau khi những nỗ lực nầy thất bại, những thành phần đối lập nầy, không còn phương cách nào khác hơn, đã phải nối kết lại với nhau dựng nên Mặt Trân Giải Phóng Miền Nam, hoàn toàn độc lập với Hà Nội, xử dụng võ lực để chống lại chính phủ Miền Nam. Điều thiếu may mắn nữa cho Ông Diệm và cũng cho Miền Nam, là quan điểm nầy lại được  một chuyên gia rất có uy tín về Việt nam là G. Kahin, giáo sư của Địa Học nổi tiếng Cornell và cũng là cố vấn của Tổng Thống Kennedy về Việt Nam sau nầy nhiệt tình ủng hộ. (xem Kahin George, Intervention, 1986). Từ những nguyên nhân sau xa đó, uy tín của Tổng Thống Ngô Đình Diệm trong chính giới Hoa Kỳ ngày càng giảm sút nghiêm trọng, đến nổi, cuối năm 1961, những nhà làm chính sách tại tòa Bạch Ốc đã có lúc nghĩ đến việc ám sát Tổng Thống Ngô Đình diệm, nhằm thay đổi cơ chế lãnh đạo của Miền Nam.

    Trong thời gian đó, chỉ có chính quyền Úc có một cái nhìn sâu sắc và thực tiển hơn về vấn đề xây dựng dân chủ và đường lối chính trị cứng rắn của Tổng Thống Ngô Đình Diệm trong chủ trương theo đuổi cuộc chiến tranh chống Cộng, Ngoại Trưởng R. G. Casey của Úc đã nhận xét:

    “Hai sự việc cần được mọi người ghi nhớ khi muốn chỉ trích chính quyền Việt Nam . Thứ nhứt, Việt Nam đang ở tuyến đầu của cuộc chiến tranh lạnh. Chính phủ quốc gia đó, không thể để một khe hở nào cho đối phương khai thác. Một kẻ hở nào cũng sẽ cựuc kỳ nguy hiểm, không những cho Việt nam mà còn cho cả tự do của Đông Nam A` Châu nữa. Thứ hai, sự thực hiện dân chủ trên bình diện quốc gia là một quan niệm hoàn toàn mới mẻ tại Việt Nam và cần phải có thời gian để phát triển các định chế, các truyền thống, các tập tục hầu thực hiện các quyền dân chủ theo đường hướng xây dựng và có trách nhiệm”. (Richard Lindhelm, Vietnam, the First five years Ann Arbor, Michigan, 1959, tr 344).

    Quan Niệm Dân Chủ Việt Nam và Hoa Kỳ

    Sai Lầm của Mỹ

    Điều khá khôi hài, khi quan niệm dân chủ của Tổng Thống Ngô Đình Diệm và của Tổng Thống Kennedy đều bắt đầu bằng hai chữ T. Đó là Dân Chủ Thành và Tín của Ông Diệm trong khi Dân Chủ của Kennedy là dân chủ thực tiển. Thật vậy, Tổng Thống Ngô Đình Diệm luôn luôn chủ trương rằng đời sống dân chủ nói cho cùng … chính là việc đem áp dụng các giá trị thành và tín vào cuộc sống hằng ngày một cách thật hoàn hảo. Trong khi đó, các giới chức của chính quyền Hoa Kỳ chủ trương dân chủ thực tiển, nghĩa là dân chủ phải thực tế, từ ngữ tự do dân chủ, chủ quyền quốc gia và công pháp quốc tế, chỉ một ý nghĩa vô cùng tương đối và tùy tiện, nhắm pphuc5 vụ cho quyền lợi của Hoa Kỳ thời đó đã khẳng định rằng, vì quyền lợi của nước Mỹ, không những họ có quyền mà còn có trách nhiệm để thay đổi cơ chế lãnh đạo Miền Nam lúc bấy giờ. Cũng như ngày nay, Hoa Kỳ chỉ đặt nhân quyền, tự do tôn giáo … với chính quyền Hà Nội, khi người Mỹ còn muốn mặc cả về những điều kiện kinh tế và thương mại cho giới tư bản Mỹ, nhưng khi những yêu sách nầy của Mỹ được Hà Nội thỏa mãn, thì những vấn đề nhân quyền … của Việt Nam chắc chắn sẽ không còn được chính quyền Hoa Kỳ đề cập đến nữa. Đó là những thực tại chính trị khá phủ phàng nhưng rất thực tế của nước Mỹ và cũng là nan đề trong việc thực thi dân chủ tại Miền Nam của Tổng Thống Ngô Đình Diệm mà người viết sẽ trình bày một cách chi tiết trong phần dưới đây.

    Bối Cảnh Lịch Sử Chính Trị, ‘Chia để Trị’

    Tổng Thống Ngộ đình Diệm thường tâm sự với các cộng sự viên thân tín:

    Người Mỹ không có khả năng phân biệt được thế nào là uy quyền quốc gia và chủ quyền dân tộc với lối cai trị độc tài … Vì truyền thống xã hội Việt Nam, bối cảnh chính trị và lịch sử của đất nước, đòi buộc các nhà lãnh đạo Việt Namphai3 chú trọng đến việc nâng cao chủ quyền quốc gia (Ngô Đình Luyện đàm luận với tác giả tại Ba Lê, tháng 9,1986).

    Thật vậy, xuyên qua lịch sử Việt Nam, quốc gia nầy đã bị người Trung Hoa cai trị gần một ngàn năm và hơn 80 năm bị người Pháp đô hộ. Những người thống trị ngoại bang nầy đã áp dụng một chính sách chia để trị nhằm chia rẽ Việt Nam và kiềm hảm quần chúng trong cảnh thất học, nghèo đói và chậm tiến. Cũng theo Tổng Thống Ngô đình Diệm, chính sách nầy đã để lại những hậu quả vô cùng nghiêm trọng cho xã hội Việt Nam trên nhiều bình diện khác nhau:

    Trước hết là tình trạng phân hóa. Điều nầy thể hiện khá rõ rệt trong lịch sử đất nước chúng ta. Sauk hi Ngô Quyền dành độc lập cho tổ quốc và chấm dứt thời kỳ lệ thuộc vào phương Bắc, đất nước chúng ta đã phải trãi qua thời kỳ Thập Nhị sứ quân. Và đến thế kỷ thứ 15, dân tộc nầy phải sống trong cảnh Nam Bắc Phân Tranh gần 100 năm. Dưới thời Pháp đô hộ, chính quyền thức dân đã chia Việt Nam thành 3 miền khác nhau: Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ và được đặt dưới những chế độ chính trị khác nhau:

    Thật vậy, trên nguyên tắc, Bắc Kỳ và Trung Kỳ được đặt dưới chế độ Bảo Hộ (Protectorate), nhưng trong thực tế, cách thức cai trị ở Bắc kỳ và Trung Kỳ cũng khác nhau. Ở Bắc Kỳ, người Pháp đòi buộc Triều Đình Huế ủy quyền cho một viên chức Pháp gọi là Thống Sứ để đại diện Hoàng Đế Việt Nam điều hành công việc hành chánh tại miền đất nầy. Trong khi Trung Kỳ thuộc thẩm quyền của các Vua Triều Nguyễn, cai trị dân chúng dưới sự chỉ đạo của Khâm Sứ Pháp tại Huế. Còn Nam Kỳ được đặt dưới chế độ thuộc đia (colony) hoàn toàn do người Pháp cai trị. Người dân sống từ vùng nầy sang vùng khác; ví dụ như Bắc Kỳ vào Nam Kỳ, phải xin giấy thông hành (passport) giống như người từ quốc gia  sang quốc gia khác vậy. Rồi vào thập niên 1950, người Pháp đặt Cao Nguyên Trung Phần dưới một thể chế cai trị đặc biệt được mênh danh là Hoàng Triều Cương Thổ. Và tiếp theo, người Pháp cũng cắt một số tỉnh miền Dông và miền Tây Nam Kỳ đặt dưới quyền cai trị riêng của hai giáo phái Cao Đài và Hòa Hảo.

    Áp dụng biện pháp cai trị đó, người Pháp nhằm mục đích tạo tình trạng phân hóa giữa người Việt và làm ung thối tiềm năng đấu tranh dành độc lập của dân tộc. Theo ông Ngô Đình Luyện, khi về nước cầm quyền, Ông Diệm đã phải đối dầu với tình trang chia rẽ trầm trọng. Do đó, chính phủ không còn cách nào khác hơn là tập trung quyền hành để thống nhất uy quyền quốc gia, nhằm xây dựng độc lập cho dân tộc, phát triển kinh tế, cải tạo xã hội và ngăn cản âm mưu khuynh đảo của cộng sản.

    Ngoài ra, để dễ dàng duy trì chế độ thực dân, người Pháp đã kiềm chế dân tộc Việt Nam trong cảnh thất học. Họ đã hạn chế việc xuất bản sách báo và kiểm soát gắt gao việc mở trường dạy học. Trong thực tế, chính quyền thực dân chỉ mở một số ít các trường học nhằm đào tạo một số công chức cấp thấp để phục vụ cho guống máy cai trị của họ tại Đông dương. Chủ ý của họ là tạo nên một giới thư ali5 thụ động, thiếu trách nhiệm, chỉ biết vâng lệnh và không biết tự tìm cách giải quyết các vấn đề. Do đó, khi thu hồi độc lập, chính quyền trung ương đã phải giải quyết tất cả mọi vấn đề trên toàn quốc. Theo ông Ngộ Đình Luyện, trong nội các của Ông Diệm năm 1955, chỉ có 2 đến 3 tổng trưởng là dám nhận lãnh trách nhiệm để điều hành các công việc thuộc phạm vi quyền hạn của họ. Còn những người còn lại, vì sợ trách nhiệm hoặc không đủ hiểu biết chuyên môn để giải quyết các vấn đề khó khăn; do đó, đã tìm mọi cách để tránh né và chuyển gánh nặng hành chánh của họ lên vai Tổng Thống Diệm. Chính vì tình trạng nầy, vào những năm sau cùng của chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa, Tổng Thống Diệm đã phải gởi hang núi hồ sơ cho ông Ngô đình Nhu, người cố vấn thân tín nhất của Tổng Thống để giải quyết. Đó là lý do giải thích tại sao hằng ngày Tổng Thống Diệm đã phải làm việc hết sức cực nhọc từ 5 giờ sáng đến nửa khuya và đôi khi đến 1 hy 2 giờ sáng ngày hôm sau.

    Như điều tai hại cho Tổng Thống Diệm, là những người cộng sự viên thiếu tinh thần trách nhiệm nầy, thường bí mật phàn nàn với cố vấn Mỹ, là Tổng Thống Diệm không biết ủy quyền cho các thuộc cấp, muốn tập trung tất cả quyền hành vào trong tay mình, cho nên đã tạo nên nhiều sai lầm nghiêm trọng. (Theo Ngô Đình Luyện, đàm luận với tác giả). Chính vì vậy, mà Hilsman, Thứ Trưởng Ngoại Giao, Đặc Trách Viễn Đông Sự Vụ, khi quan sát tình hình Việt Nam vào đầu năm 1963, đã kết luận:

    Dù có biện hộ hay né` tránh thế nào đi nữa, vấn đề cuối cùng vẫn là nơi Ông Diệm. (Xem Hilsman, To Move A Nation, tr 460).

    Phương Cách Thực Thi Dân Chủ

    Đối với Tổng Thống Diệm, dân chủ kiểu Mỹ là một sản phẩm xa xỉ hoàn toàn không thích hợp với một quốc gia chậm tiến như Việt Nam . Cũng theo Ông, xã hội Việt Nam, đa số dân chúng hơn 80% sống ở thôn quê, còn đói nghèo, thất học, không có an ninh, luôn bị du kích Cộng sản đe dọa; thì những tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do bầu cử chẳng có ý nghĩa gì cả đối với họ. Điều mà dân chúng ở nông thôn mong muốn là một chính quyền mạnh mẽ, đủ để bảo đảm an ninh cho họ chống lại sự khủng bố của Việt Cộng. Hằng đếm, du kích Cộng sản dùng sung hăm dọa để thu thóc gạo, cưởng bách con em họ phải tham gia hang ngũ cán binh Việt Cộng. Ngoài ra, dân quê cần chính quyền tạo cho họ một đời sống đủ ăn, đủ mặc chống lại sự bóc lột của chủ đất, và của một thiểu số có thế lực và giàu có. Rồi từ đó, họ có đủ phương tiện gởi con em họ đến trường học, hấp thụ được một nền giáo dục căn bản, đủ kiến thức chính trị cần thiết. Lúc đó, người dân quê sẽ biết xử dụng quyền tự do căn bản của họ, để thực sự tham gia các cuộc bầu cử và ứng cử nhằm ngăn chận những người địa chủ và một thiểu số giàu có, lợi dụng sự nghèo đói và thất học của họ đã khai thác và bóc lột họ.

    Lý thuyết của Tổng Thống Diệm đã được áp dụng vào thực tế qua những chương trình sau đây:

    Chương trình cải cách ruộng đất, được mệnh danh là chương Trình Người Cày Có Ruộng trong đó chính phủ mua đất của các địa chủ phát cho người nghèo.

    Chương Trình Dinh Điề, chính phủ đã thực hiện một công cuộc di dân từ các làng xã dân cư đông đúc và nghèo khổ; ở đó dân không đủ đất để cày hoặc đất đai quá cằn cổi, đến những vùng đất đai trù phú hơn ở Cao Nguyên để khẩn hoang lập nghiệp. Trong thời gian đầu, chính phủ giúp cho dân chúng đầy đủ các vật dụng để xây cất nhà cửa, các nông cụ canh tác. Đồng thời, chính phủ cũng cung cấp đầy đủ lương thực và quần áo để sống trong vòng 6 tháng đầu tiên để chờ đợi mùa màng sinh hoa lợi.

    Chương trình Khu Trù Mật, chính phủ đã chọn một số địa điểm ở thôn quê, để xây dựng các cơ sở với những tiện nghi của thành phố như lập nhà máy điện, đào gieng61 nước được trang bị máy bom tối tân, xây bệnh viện, trường học .. để dân chúng nông thôn hưởng thụ những tiện ích của đời sống văn minh.

    Chương trình Ấp Chiến Lược. Đây là chương trình rất quan trọng nằm trong sách lược của quốc gia nhằm chống lại cuộc chiến tranh khuynh đảo do chính quyền Hà Nội chủ xướng.

    Qua chương trình nầy, chính quyền địa phương đã thực hiện một cuộc thanh lọc để loại trừ những thành phần cộng sản nằm vùng ra khỏi dân chúng. Sau đó, chính quyen62 đoàn ngũ hóa dân chúng thành những tổ chức chiến đấu để chống lại sự khủng bố của cộng sản. (…)

    Về phương diện kinh tế, mỗi ấp đã trở thành một đơn vị phát triển kinh tế tự túc. Thật vậy, lúc đầu với một máy sản xuất gạch ngói có tính cách tiểu công nghệ do chính phủ giúp đở, với lối làm việc vầnn công và đổi công, chẳng bao lâu trong ấp, tất cả các nhà tranh được thay thế bằng các nhà gạch với mái ngói khang trang với vườn cây ăn trái tốt tươi và xinh đẹp.

    Về phương diện chính trị, mỗi ấp tự bầu lên một ban trị sự để điều hành mọi công việc trong ấp. đây là phương cách hữu hiệu và thực tiễn để người dân quê có thể tiếp tục xử dụng những quyền tự do dân chủ căn bản để bầu người đại diện của mình vào cơ cấu hành chánh xã ấp.

    Theo Tổng Thống Diệm, đây là cách thực hiện dân chủ hiệu quả nhất của một quốc gia chậm tiến đang phải đối phó với cuộc chiến tranh phá hoại và khủng bố do Cộng sản điều động từ bên ngoài. Nói một cách khác, đây là cách phát triển dân chủ từ hạ tầng cơ sở đến thượng tầng kiến trúc của quốc Gia. Chỉ trong cơ cấu nầy, người dân quê cô thế và thất học mới thật sự được thụ hưởng những quyên tự do căn bản của con người. Cũng theo Tổng Thống Diệm, phương cách chính trị phù hợp với truyền thống dân chủ ngàn xưa của dân tộc Việt. Đó là người dân được quyến quyết định mọi việc trong làng, phép vua thua lệ làng. Và thượng tầng, vẫn được duy trì được uy quyền tối thượng của quốc Gia.

    Tổng Thống Diệm cũng thường nói với cộng sự viên thân tín như sau:

    Nếu đem áp dụng một cách cứng ngắt kiểu dân chủ Mỹ vào Việt Nam, không những không đem lại lợi ích cho Quốc Gia, mà còn tạo thêm cho một thiểu số giàu có bóc lột những người dân nghèo thất học, giúp phương tiện cho những chính trị gia cơ hội, xu thời và những thành phần thân Cộng ở các thành phố dùng các phương tiện truyền thông để chỉ trích chính phủ, gây thêm rối loạn trong một quốc gia cần sự ổn định, để theo đuổi cuộc chiến tranh sống còn chống lại âm mưu khuynh đảo của Cộng sản. (Võ Văn Hải, đàm luận với tác giả, tại Đalat, 1973)

    – Trong khi đó, những nhân vật  trí thức cấp tiến của Bộ Ngoại Giao Mỹ, Harriman, Hilsman, đã không hiểu được bản chất của cuộc chiến tranh Việt Nam nên đã có những nhận định và chính sách sai lầm khi theo đuổi cuộc chiến tranh chống Cộng. Sau nầy, Tổng Thống Nixon đã phân tích điều đó trong tác phẩm No More Vietnam của ông. Ông cho rằng các chuyên gia của chính quyền Kennedy thời đó đã lầm lẫn cho rằng cuộc chiến tranh Việt Nam là một cuộc chiến tranh cách mạng. Trong khi đó, thực tế, đó là cuộc chiến tranh du kích, phá hoại, khủng bố, đột nhập từ bên ngoài do Cộng sản Hà Nội điều động.

    Chính vì vậy, những chuyên gia nầy luôn luôn đòi hỏi phải mở rộng tự do báo chí, tự do hội họp và lập các đoàn thể, tạo điều kiện cho các chính trị gia đối lập tham gia vào nội các để có thêm hậu thuẩn trong quần chúng. (xem Nixon, op.cit., 1982).

    Đây là những điề kiện mà theo Tướng Taylor của Mỹ nhận xét, ngay chính nước Mỹ cũng không thể áp dụng được trong thời chiến tranh như Thế Chiến Thứ Hai chẳng hạn. Và ngày nay, sau khi cuộc chiến tranh Việt Nam chấm dứt, thực tế càng cho thấy một cách rõ ràng hơn của các cố vấn chính trị của Tổng Thống Kennedy. Thật vậy, Miền Nam đã mất, không phải vì Cộng sản thành công trong việc kêu gọi dân chúng nổi dậy lật đổ chính quyền như sách lược khuynh đảo trong chiến tranh cách mạng do cộng sản chủ xướng. Nhưng thực tế, Miền Nam đã sụp đổ vì Cộng sản đã xử dụng thiết giáp, chiến xa, đại pháo và quân đội chính quy tiến vào Dinh Độc Lập, nghĩa là những phương tiện của một cuộc chiến tranh qui ước đột nhập từ ngoài vào, phối hợp với những hoạt động du kích phá hoại từ bên trong.

    Chính vì thế, Tổng Thống Diệm đã than thở:

    Chúng ta có một người bạn quí giúp đở tiền bạc nhưng không hiểu chi cả về chuyện Việt nam.

    (Nguyễn Văn Châu, 1989, tr.228)

    Trong khi đó, ông Nhu cũng thường tâm sự với cộng sự viên thân cận của ông như sau:

    Mỹ có thói quen bắt buộc các đồng minh phải rập khuôn như họ … nhưng ở Mỹ khác, ở Á Châu nầy khác … Trong một quốc gia hòa bình thì lại hoàn toàn khác với một quốc gia đang có chiến tranh. Tổng Thống kennedy khuyến cáo Việt Nam cải tổ cơ chế dân chủ có nghĩa là phỏng theo phong cách sinh hoạt chính trị xã hội Mỹ . .. Ông cha chúng tôi đã có nhiều kinh nghiệm chia rẽ, nạn kỳ thị và phe phái … Nếu ở Việt Nam áp dụng dân chủ như Mỹ thì chỉ đi đến tình trạng hổn loạn. Mà Việt Nam thì không thể chấp nhận được tình trạng hổn loạn giữa lúc đang có chiến tranh. (Bs trần Kim Tuyến, đàm luận với tác giả, Cambridge, tháng 9, 1986).

    Có lẽ một cách tổng quát phải nói rằng, đối với quan niệm Dân Chủ Tây Phương và tinh thần quản trị khoa học của Mỹ, lề lối làm việc của Tổng Thống Diệm không thể chấp nhận được và Tổng Thống Diệm quả là nhà độc tài vì Ông ta không biết cách ủy nhiệm quyền hành và phân quyền trong guồng máy cai trị quốc gia.

    Tuy nhiên, trong thực tại chính trị Việt Nam, có lẽ cũng là một sai lầm nếu nghĩ rằng những phương pháp đem lại kết quả tốt ở Phương Tây, nó cũng sẽ đạt được những thành tích như vậy, khi đem áp dụng ở Phương Đông. Và những nhà làm chính sách ở Hoa Thịnh Đốn càng không thể tránh được những lỗi lầm nghiêm trọng, khi họ quá tự phụ về những hiểu biết của họ, nhưng trong thực tế, họ rất nghèo nàn trong kiến thức về văn minh và lịch sử Việt nam.

    Dân Chủ Theo Lối Mỹ

    Có một sự thật hết sức mĩa mai, các viên chức thuộc Bộ Ngoại Giao Mỹ luôn luôn đòi hỏi Tổng Thống mở rộng tự do, đề cao dân chủ pháp trị cho phép những đảng phái tham gia vào nội các, nhằm lôi cuốn sự ủng hộ của quần chúng về phía chính quyền. Đồng thời, chính họ lại là những người bất chấp cả những nguyên tắc căn bản của công pháp quốc tế, bí mật xử dụng quyền lực của Mỹ để lật đổ chính quyền Ông Diệm.

    Thật vậy, từ năm 1954, những nhà làm chính sách của Mỹ tại Bộ Ngoại Giao nghĩ rằng họ có quyền thay đổi chính phủ Việt nam, nếu quyền lợi của nước Mỹ đòi hỏi như vậy. William C.Gibbons đã phân tích chính sách đó như sau:

    Từ lúc khai sinh ra chính quyền Diệm vào năm 1954, nhiều nhà làm chính sách Mỹ đã cho rằng, trong những trường hợp nhất định nào đó, Mỹ quốc không những có quyền mà còn có trách nhiệm đem đến một sự thay đổi tại Việt nam. Đường lối nầy cũng khá phổ biến trong việc bang giao cũa Mỹ đối với chính quyền của những quốc gia khác trên thế giới, mà ở đó quyền lợi của Hoa Kỳ đòi hỏi những hành động như thế. Và để theo đuổi triết lý nầy, Hoa Kỳ đã sắp đặt và hổ trợ những cuộc đảo chánh tại Ba Tư và Guatamala để thay thế những nhà lãnh đạo của những chính phủ của các nước đó, bằng những người lãnh đạo do Hoa Kỳ chọn lựa.

    (xem William C.Gibbons, quyển II, 1961-1964, tr 140-141)

    Một sự thật khác cũng khá ngộ nghĩnh, các viên chức dân sự có học thức tại Bộ Ngoại Giao Mỹ thường tỏ ra thái độ bảo thủ, thực dân, khinh thường chủ quyền của các dân tộc khác. Trong khi đó, các tướng lãnh và các nhà quân sự tại Bộ Quốc Phòng lại là những người có đầu óc tiến bộ, ôn hòa, biết kính trọng chủ quyền cùa các quốc gia khác và lại am hiểu tình hình Việt Nam một cách sâu rộng hơn. Thật vậy, khi điều trần trước quốc Hội Mỹ, Thượng Nghị Sị Church đặt câu hỏi, liệu Mỹ có thể xử dụng áp lực buộc Ông Diệm phải thay đổi chính sách không? Tổng Trưởng Quốc Phòng Mỹ MacNamara trả lời:

    Vâng, việc xử dụng áp lực nằm trong khả năng của chúng ta. Nhưng việc bảo đảm để [Diệm] hành động phù hợp với những điều khuyến cáo của chúng ta, nó vượt ra ngoài khả năng của chúng ta.  Đây là một chính quyền độc lập và tôi nghĩ rằng thật không thích hợp để chúng ta cho rằng, đó là một thuộc địa [của chúng ta]. (xem Gibbons, op.ct., tr.192).

    Trong khi đó Tướng Taylor cũng đã xét một cách chính xác về tài lãnh đạo của Tổng Thống Diệm, khi ông phát biểu trước Ủy Ban Ngoại Giao của Thương Viện Mỹ vào ngày 8.10.1963:

    Chúng ta cần một người cứng rắn để lãnh đạo quốc gia nầy, chúng ta cần một nhà độc tài trong thời gian chiến tranh và chúng ta đang có nhân vật đó. Quốc gia nầy đang trải qua một cuộc nội chiến và tôi nghĩ rằng cố gắng áp đặt những điều mà chúng ta gọi là những tiêu chuẩn dân chủ bình thường đối với chính quyền nầy là một điều không thực tế. (Ibid.)

    Nhầm lẫn chết người

    Nhưng sự khác biệt quan trọng hơn hết là những lý do thầm kín bắt nguồn từ quyền lợi của hai quốc gia. Đối với Tổng Thống Diệm, con người đã hy sinh cả cuộc đời của Ông để tranh đấu cho độc lập và chủ quyền của Quốc Gia. Đối với Ông, đó là những thứ thiêng liêng nhất, không thể bị hy sinh, không thể dùng để đổi chác bất cứ điều gì. Đối với Ông, nếu để người Mỹ can thiệp vào nội bộ Việt Nam , thì chủ quyền Quốc Gia bị xâm phạm, chính nghĩa của cuộc tranh đấu chống Cộng cũng mất… Do đó, dù có nhận bao nhiêu viện trợ của Mỹ đi nữa Miền Nam sẽ thua Cộng sản. Bài học của thực dân Pháp tại Việt Nam 1946-1954 đã cho thấy điều đó. Ông Diệm đã thẳng thắn bày tỏ quan điểm đó cho Đại Sứ Nolthing biết:

    Việt Nam không muốn trở thành một xứ bảo hộ [của Mỹ] (Viet Nam does not want to be a protectorate) .

    Xa hơn nữa, một nhà nho như Ông Diệm được đào tạo theo một hệ thống giáo dục đặt nặng trên những giá trị đạo đức cá nhân và gia đình theo quan niệm của Khổng Tử và Ông cũng hấp thụ quan niệm dân chủ cổ điển và lý tưởng Montesquieu, Voltaire, Jean Jacques Rousseau … từ thế kỷ 19 của Pháp. Do đó, Ông Diệm rất khó hiểu được thực tế chính trị văn minh nước Mỹ, một nên văn minh chú trọng đến những quyền lợi kinh tế vật chất và thực tiễn của đời sống. Tổng Thống Diệm đã lầm lẫn khi nghĩ rằng dù có những bất đồng quan điểm với những nhà làm chính sách Mỹ, nhưng vì sự nghiệp đấu tranh cho Tự Do Dân Chủ và chống Cộng chung của hai Quốc Gia, Hoa Kỳ là đồng minh mà Ông có thể dựa vào lúc chung cuộc.

    Nhưng đây chính là sự lầm lẫn hết sức nghiêm trọng có lẽ đã dẫn đến cái chết của Tổng Thống Diệm. Vì cho đến lúc chết, Ông Diệm vẫn không tin rằng chính Tổng Thống Kennedy đã chính thức chấp thuận một cuộc đảo chánh lật đổ chế độ của Ông. Trong thực tế, nếu Ông Diệm biết cuộc đảo chính do người Mỹ sắp đặt, Ông ta nghĩ rằng đó chỉ là một số nhân viên trong chính quyền Mỹ và những nhân viên CIA chống Diệm mà thôi.

    Thật vậy, chính Tổng Thống Diệm cho đến 10 giờ sáng ngày 1.11.1963, vẫn còn tin rằng chỉ có CIA Mỹ nhúng tay vào vụ đảo chánh, cho nên Ông đã phàn nàn với Đại Sứ Lodge về âm mưu đó:

    Tôi biết sẽ có một cuộc đảo chánh xảy ra, nhưng tôi không biết ai sẽ thực hiện.

    I know there is going to be a coup, but I don’t know who is going to do it.

    (Điện văn của Tòa Đại Sứ Sài Gòn số 841 ngày 1.10.1963)

    Lodge còn long trọng trả lời Tổng Thống Diệm:

    Ngài có thể an tâm, nếu có bất cứ người Mỹ nào có hành động sai trái nầy, tôi sẽ trục xuất họ ra khỏi nước nầy.

    (You can be sure if any American committed an impropriety, I [would] snd him out of the country. (Ibid.)

    Trong khi đó, Tổng Thống Diệm đã không thể nào hiểu được rằng, chính Tổng Thống Kennedy, nhà lãnh đạo chính quyền nước Mỹ, một quốc gia thượng tôn pháp luật và dân chủ, đã chính thức chấp nhận cuộc đảo chánh để ám hại Ông.

    Tóm lại, sau khi duyệt xét lại những liên hệ ngoại giao giữa Mỹ và Việt Nam , cùng những khác biệt quan điểm dân chủ giữa Tổng Thống Diệm và chính quyền Kennedy ta thấy những đổ vỡ khó có thể tránh được. Và viên đạn mà các tướng lãnh Việt Nam quyết định bắn vào đầu Tổng Thống Diệm và Ông Nhu, cố vấn của Ông vào ngày 2.11.1963 đã là một sáng kiến của người Mỹ, được lưu trử trong tài liệu Hội đồng An Ninh Quốc Gia Mỹ từ năm 1961, mặc dù đã được bôi xóa một cách cẩn thận. Thật vậy, trong bản lược thuật ngày 5.10.1961 gởi cho Carl Kaysen, một thành viên trong ban Tham Mưu của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia, Frank C.Child, một cựu nhân viên trong Phái Bộ Viện Trợ của Đại Học Tiểu Bang Michigan tại Việt Nam, đã viết:

    Chỉ có một cuộc đảo chánh quân sự – hay là một viên đạn ám sát – mới thay thế quyền lãnh đạo tại Việt Nam.

    Từ những dữ kiện nầy cho thấy một số giới chức tại Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã chuẩn bị cho cuộc đảo chánh và có ý định tiến hành một cuộc ám sát Tổng Thống Diệm từ lâu.

    Và cuộc đảo chánh ngày 1.11.1963 bắt nguồn từ những lý do sâu xa, đó là khác biệt giữa hai nền văn hóa Đông – Tây, giữa quan niệm về Dân Chủ Tự Do, những định chế chính trị và hoàn cảnh xã hội của Quốc Gia phát triển kỷ nghệ và một Quốc Gia chậm tiến, cộng thêm với sự hiểu biết về bản tính cá nhân và mâu thuẩn quyền lợi quốc gia đã khiến nhà lãnh đạo của nước Mỹ phải chính thức quyết định một cuộc đảo chánh lật đổ vị lãnh đạo của một quốc gia gọi là Đồng Minh với họ.

    Có lẽ các lãnh đạo Hoa Kỳ đã không hiểu rõ hay không đánh giá đúng mức tầm quan trọng của những khác biệt đó cho nên sau khi đã lật đổ Tổng Thống Diệm, lập lên được những chính phủ quân nhân như họ mong muốn, họ vẫn thất bại không đem đến sự ổn định và dân chủ cho dân chúng Miền Nam. Có lẽ cũng chính vì lý do đó, mà với phương tiện chiến tranh hết sức qui mô và tối tân của một siêu cường bậc nhất trên thế giới, họ đã thua cuộc chiến tranh tại phần đất nghèo nàn và nhỏ bé như Việt Nam.

    Tiến Sĩ Phạm Văn Lưu

  2. Phiếm luận về hai chữ Việt Cộng

    zzzzzzzz.xxvzv

    Đông Quan


    Điều đáng ngạc nhiên là mãi cho đến hôm nay (2015), sau 40 năm chấm dứt cuộc chiến và thành phần cộng sản miền Nam cũng đã bị loại bỏ khỏi vai trò chính trị, thế mà không ít người Việt, và cả người Mỹ cũng còn mơ hồ về hai chữ Việt Cộng như trong bài viết Viet Cong trên wikipedia. Những người Mỹ thì cho rằng chính họ đặt ra từ ngữ đó và lính Mỹ gọi tắt là vee-cee (vc). Và đa số người miền Nam cũng gọi theo là Việt Cộng, ngay cả báo chí ở miền Nam hay ở Mỹ.

    Điều buồn cười là mặc dù người Mỹ, và người Âu Châu gọi thành phần cộng sản miền Nam là Việt Cộng, nhưng trong cuộc phỏng vấn người đại diện cho cái gọi là Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Nguyễn Thị Bình, sau cuộc họp Hiệp định Paris 1973, bà ta luôn luôn chối quanh khi được hỏi: “Bà có phải là người cộng sản không?”. Ấy thế mà báo chí ngoại quốc thi nhau nói rằng Nguyễn thị Bình, cũng như thành phần Cộng hòa miền Nam Việt Nam, không phải là cộng sản. Nếu vậy, quân đội Hoa Kỳ ở miền Nam Việt Nam đang chiến đấu chống lại kẻ thù nào lúc bấy giờ? Có phải kẻ thù chỉ là Quân đội Bắc Việt? Dĩ nhiên là người Mỹ biết là có một lực lượng đối kháng khác ở miền Nam mà họ gọi là Việt Cộng.

    Từ ngữ “Việt Cộng” có nghĩa rất rõ ràng và đơn giản là thành phần cộng sản Việt Nam, cũng như từ ngữ “Trung Cộng” chỉ có nghĩa là thành phần cộng sản Trung Hoa. Như vậy, dù là người miền Bắc hay miền Nam hay miền Trung của Việt Nam theo cộng sản thì đều được gọi là Việt Cộng. “Việt Cộng” đáng lý ra không phải là từ ngữ chỉ ám chỉ một lực lượng nổi lên, đối kháng chính quyền miền Nam Việt Nam là Việt Nam Cộng hòa và quân đội Hoa Kỳ. Mặc cho quân đội Bắc Việt hay lực lượng đối kháng ở miền Nam tự xưng chính họ là gì, họ cũng chỉ là những thành phần cộng sản Việt Nam. Và đơn giản là thế!

    Những tên gọi dài nhằng như là “Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam”, hoặc “Quân giải phóng miền Nam Việt Nam” hoặc “Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam” hoặc “Đảng Xã hội Cấp tiến Miền Nam Việt Nam” hoặc “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa v.v… “ được tóm gọn lại không ngoài hai chữ Việt Cộng. Và để chỉ rõ thành phần cộng sản ở miền Nam có thể gọi là Nam Việt Cộng và thành phần cộng sản ở miền Bắc là Bắc Việt Cộng. Thành phần Việt Cộng thường hay giấu mình dưới những tên gọi khiến cho người ta có thể hiểu lầm là thành phần quốc gia mà theo đúng lý thuyết cộng sản chuyên chính thì không còn có chữ “quốc gia” hay “dân tộc” mà chỉ còn là một mẫu hệ cộng sản duy nhất thuộc một nước cộng sản đàn anh nắm quyền mà hiện nay chỉ còn là Trung Cộng.

    Điều buồn cười thứ hai là sau khi Bắc Việt Cộng cưỡng chiếm được miền Nam nhờ vào sự gia tăng viện trợ của Trung Cộng và những viện trợ không ngừng của Sô Cộng và nhất là nhờ vào hành động rút chân khỏi chiến trường và thái độ quyết tâm bỏ rơi miền Nam Việt Nam của Hoa Kỳ, Việt Cộng mới dám khoe mặt tự xưng là Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam mà ngay cả Hồ Chí Minh cũng đã nhiều lần chối bỏ mình là người cộng sản khi được báo chí phỏng vấn. Điều nầy đã đưa ra câu hỏi là có phải chăng người ta thường hay e dè hoặc có thành kiến không tốt về người cộng sản? Như thế có nghĩa là có phải chăng chế độ cộng sản luôn có những vấn đề xấu xa đến nổi con người cộng sản phải tự che giấu thân phận mình?

    Cũng như gần đây có bài viết trên báo Đảng cho là việc dùng từ ngữ Việt Cộng để gọi người đối thoại là một điều sỉ nhục đối với người đó mặc dù người đó chính là thành phần cộng sản. Vậy người ta có thể suy diễn là từ ngữ Việt Cộng hay Cộng sản mang ý nghĩa rất bẩn thỉu lẫn hàm chứa sự khinh khi nào đó. Có phải chăng tác giả bài viết đó cũng là một “nạn nhân” vốn cảm thấy bị sỉ nhục khi ai đó gọi tác giả là Việt Cộng? Như vậy, xin có lời chúc mừng vì tác giả bắt đầu cảm thấy một tư duy mới, rất cá biệt mà không phải bị lệ thuộc vào tính chất máy móc của đám đông như loài sâu bọ.

    Như vậy, con người cộng sản có cái gì để tự hãnh diện không, để tự hào xưng mình là cộng sản khi ai hỏi đến? Quả thật, đây là một thứ đau khổ âm thầm, thậm chí nhức nhối như mụt ghẽ lỡ mà những cán bộ cộng sản Việt Nam, hay cảm tình viên cộng sản ra nước ngoài hoặc những sinh viên Việt Nam du học phải luôn luôn tránh né những câu hỏi liên quan đến hai chữ Cộng sản hay Việt Cộng. Họ chỉ trả lời một câu duy nhất, giống y nhau là: “Tôi không thích nói chuyện chính trị”. Nhưng thật ra, trong đầu họ chứa đầy những mâu thuẩn về chính trị mà nhà nước cộng sản đã nhòi nhét liên tục, và đầy ấp từ những năm qua.

    Thật ra mà nói, đa số dân Việt Nam – nhất là trong thời chiến – không hiểu hay biết gì về hai chữ Cộng sản. Những người dân miền Nam thì càng mơ hồ hơn vì họ chưa từng trải qua dưới chế độ cộng sản lần nào ngoại trừ mang lòng thù hận chế độ đương thời mà cộng sản tuyên truyền một cách dối trá và ca ngợi, vẽ vời về thứ ảo tưởng cộng sản. Nhất là lòng yêu nước của họ bị lợi dụng để phục vụ cho thứ chủ nghĩa ngoại lai, điên cuồng, luôn mang đặc tính sùng bái cá nhân như một loại dị giáo mê tín nào đó của thời tiền sử. Việc sẵn sàng tàn sát đồng loại vô tội hoặc những người dù bị nghi ngờ là chống đối, như là cách cúng tế dị giáo mà nó được cho là vì Đảng.

    Tóm lại hai chữ Việt Cộng không nên chỉ hiểu hay áp đặt cho một lực lượng đối kháng ở miền Nam Việt Nam trước đây mà nó chỉ đơn thuần mang ý nghĩa là thành phần cộng sản Việt Nam. Dù muốn hay không, những thành phần cộng sản Việt Nam hoặc cảm tình viên đều được gọi là Việt Cộng. Họ cảm thấy như bị sỉ nhục vì được gọi là Việt Cộng, nhưng bản chất thật sự của con người cộng sản như thế nào đến nổi khi nghe đến danh từ cộng sản là người ta đã cảm thấy ghê tởm như một loại bệnh dịch nào đó mà thật không may là Việt Nam nằm trong thiểu số đất nước còn mắc phải, lại là một đề tài quốc nhục khác.

    Việt Cộng ở miền Nam Việt Nam đa số là thành phần nông dân, hầu hết, ở những vùng đồng quê xa xôi, hẻo lánh. Họ thường có trình độ hiểu biết rất kém vì nền giáo dục chưa được lan rộng và thường là bị cưỏng bức bắt đi theo nhóm người tự xưng là cách mạng, thậm chí là ở số tuổi 12, 13, cả nam lẫn nữ, tùy nhu cầu hiện tình. Họ trở thành Việt Cộng, phục vụ cho mưu đồ của những người cộng sản có nguồn gốc từ miền Bắc, và hy sinh cho thứ chủ nghĩa xã hội ngoại lai nào đó mà ngay cả khi đến lúc phải nằm xuống, họ cũng chẳng biết thứ chủ nghĩa đó là gì. Và thậm chí, mãi đến hôm nay (2015), những người tự xưng là cộng sản chuyên chính cũng chẳng hiểu biết gì thứ chủ nghĩa đó. Tất cả chỉ là sự xão trá, lừa đảo trong từng bước một được gọi là xây dựng xã hội chủ nghĩa, nhưng thựt chất là vì lợi ích riêng của lũ người nắm quyền không khác gì thời phong kiến. Việt Cộng ở miền Bắc Việt Nam bao gồm mọi phần tử trong xã hội vốn bị răn đe, nhòi nhét, mớ lý thuyết chính trị mù mờ về xã hội chủ nghĩa. Họ trở thành những con trừu rất trung thành theo tiếng kẻng từ lúc nào cũng không biết.

    Việt Cộng luôn luôn tự ẩn mình sau những danh từ nhân dân, dân tộc, hầu đánh lừa những người dân lương thiện, những người nồng nhiệt với đất nước, và nhất là dân ngoại quốc. Thí dụ như nhóm chữ “quân đội nhân dân Việt Nam” dường như chữ “nhân dân” quá dư thừa và không cần thiết. Có lẽ vì thế, những người Việt Nam là cộng sản hay cảm tình viên, thường cảm thấy bất bình khi ai đó gọi họ là Việt Cộng như là cố tình phơi bày nhồng nhộng trong việc kéo-đuôi-con-chuột. Cũng như thế, những hội đoàn được thành lập trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài thường được dán lên những danh từ yêu nước thay vì yêu Đảng. Thêm một số câu hỏi được nêu ra là “Tại sao Việt Cộng nói riêng và cộng sản nói chung, không bao giờ dám công khai tự xưng hay phơi bày trước mắt mọi người?”, “Tại sao lúc nào họ cũng lén lút, che giấu thân phận khi ra nước ngoài?”, “Nếu không có thứ gì để họ cảm thấy hãnh diện, tại sao không tự dẹp bỏ nó đi bằng cách nầy hoặc cách khác nhằm thay đổi tư tưởng, mở rộng tầm nhìn, và tạo một tư duy?”

    Đến khi nào người Việt dứt bỏ đi được chữ “Cộng” đầy nghiệt ngã và nhục nhã nầy, dân tộc mới có thể ngẩng cao đầu trước thế giới dù thất bại hay thành công nhưng luôn được sự đồng cảm chia sẻ. Dân tộc sẽ không phải tự “hợm” mình để nâng cao những thứ ảo tưởng cộng sản mà khi thiên hạ biết ra chỉ dành cho sự khinh miệt dù không cần phải nói. Vì chỉ có những kẻ kém cỏi, ngu dốt mới tự cho mình hơn người! Và chỉ có những kẻ đầy tham vọng bẩn thỉu, hạ tiện mới thích tự ca tụng chính mình để mong trở thành thứ “vĩ nhân” nào đó, ngay cả hình tượng phải to đùng nhưng cái xác phàm vẫn thối tha, mục nát.

    21.11.2-15
    Đông Quan

  3. Gái đứng đường và người Trung Quốc tràn lan ở Đà Nẵng

     

    Ảnh minh họa

    Ảnh minh họa

    Hai năm trở lại đây, đặc biệt là thời gian chừng ba tháng trởi lại, thành phố Đà Nẵng xuất hiện gái đứng đường và người Trung Quốc nhiều nhan nhản. Nếu như Gái điếm lấy phía Tây thành phố làm bản doanh thì người Trung
    Quốc làm phía Đông thành phố làm chỗ trú ngụ vững chắc. Có thể nói, trong một chừng mực nào đó, sự xuất hiện của gái đứng đường và người Trung Quốc như một mối dung hòa giữa cung và cầu. Bởi khi người Trung Quốc xuất hiện tràn lan, trong bối cảnh hiện tại cũng đồng nghĩa với tình trạng lộn xộn, mất an ninh và những đường dây ngầm của kĩ nghệ bán dâm, ma túy và cho vay nặng lãi.

    Bản doanh gái bán dâm phía Tây thành phố

    Một cư dân Đà Nẵng, không muốn nêu tên, hiện đang sống ở quận Liên Chiểu, Đà Nẵng, chia sẻ: “Nhiều chỗ lắm, gần Quân Khu 5 là khu xịn nhứt, ngoài có những đường ở quận Liên Chiểu nhưng bên đó bẩn lắm. Bên đường gần quân khu 5 có nhậu, có em út thơm, thơm nhứt là ở khu Eden hoặc khách sạn Mường Thanh ở đường Ngô Quyền, có mấy em thơm lắm.”.

    Theo người này, khu vực Hòa Khánh, quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng là một thủ phủ của gái bán dâm, trong đó có nhiều hình thức, từ đóng vai sinh viên cho đến một số sinh viên nghèo cải thiện cuộc sống và duy trì học tập và không ngoại trừ những cô gái bán dâm chuyên nghiệp cao cấp, mỗi lần đi khách có thể lên đến vài trăm USD. Nhưng, theo người này, vấn đề đáng ngại nhất là những cô đứng đường, các cô này chấp nhận bán dâm với giá rẻ mạt, có khi chỉ là hai mươi ngàn đồng nếu ế khách. Trường hợp bữa nào đông khách thì các cô bán dâm với giá từ năm mươi đến bảy mươi ngàn đồng trên một lần.

    Gái bán dâm chia theo khu vực, mỗi khu vực tạm xem như là một tầng lớp, đằng cấp trong giới bán dâm. Ví dụ như gái bao cao cấp thường kín tiếng, chỉ có một số cán bộ cao cấp, cỡ chuyên viên cấp thành phố, thậm chí cao hơn chuyên viên, đứng đầu các ngành trong thành phố biết đến. Và cái khác của gái chân dài cao cấp này là họ diễn xuất rất tốt, khó mà để lộ hoặc làm ảnh hưởng đến người mua dâm.

    Nhiều chỗ lắm, gần Quân Khu 5 là khu xịn nhứt, ngoài có những đường ở quận Liên Chiểu nhưng bên đó bẩn lắm. Bên đường gần quân khu 5 có nhậu, có em út thơm, thơm nhứt là ở khu Eden hoặc khách sạn Mường Thanh ở đường Ngô Quyền, có mấy em thơm lắm

    Một cư dân Đà Nẵng

    Giải thích thêm về khả năng diễn xuất của các gái gọi cao cấp, người này nói rằng hầu hết các cô đều diễn rất tài tình, có thể nhập vai đồng nghiệp hoặc sếp cao cấp hoặc chuyên viên cấp trung ương đi kinh lý. Điều này khiến cho nhiều bà vợ của một số chuyên viên vẫn nhầm tưởng là chồng đi tiếp khách của bộ vào làm việc, không hề nghi ngờ ông chồng.

    Thường thì giới gái gọi cao cấp này thường hẹn hò ở các khách sạn cao cấp và khoản thù lao khá cao. Điều này khác xa với tràn lan đại hải các tiệm gội đầu, uốn tóc và massage trá hình trên các con đường như Lê Duẩn, Trường Chinh, Hoàng Văn Thái, Bắc Sơn… Ở đây, khách chỉ cần vào trong tiệm gội đầu cùng với một ma cô hoặc một khách làng chơi quen mặt, khi đặt vấn đề thỏa thuận giá và sau đó là cuộc mua bán dâm ngay trong phòng gội đầu. Giá thường dao động từ 250 ngàn đồng đến 300 ngàn đồng.

    Riêng các trung tâm massage thì chuyện này diễn ra lộ liễu và có vẻ phổ thông hơn, nghĩa là không cần phải có ma cô hoặc khách quen giới thiệu. Khách vào mua một vé massge, xông hơi với giá từ 70 ngàn đồng đến 150 ngàn đồng tùy vào tiêu chuẩn giường và phòng tắm hơi. Sau đó vào bên trong, gặp các nhân viên massage, họ sẽ tự động đặt vấn đề và thỏa thuận giá.

    Ở những trung tâm như vậy, vấn đề an ninh cho khách làng chơi tương đối tốt vì hệ thống bảo kê khá vững. Nhưng nếu lỡ có động tịnh gì, trung tâm massage có thể đóng vai nạn nhân, tố thẳng khách và cô gái để thí tốt, xem như mình bị oan, cô gái và khách đã qua mặt chủ chứ chủ không hề có ý định kinh doanh tình dục.

    Người này cho biết là những cô bán dâm theo dạng nhân viên massage thường phục vụ cho khách người Trung Quốc, bởi đây là trung tâm ăn chơi của khách Trung Quốc từ phía Đông thành phố di chuyển sang mỗi đêm. Ngoài ra, còn có một ít khách Việt thuộc dạng trung lưu cũng vào đây.

    Riêng những cô gái đứng đường thì nhiều vô kể, gồm cả một số nữ sinh viên cần tiền dể trang trải học tập và gởi về quê, nói dối với cha mẹ là tiền học bổng hằng tháng. Đối tượng mua dâm ở các trục đường về khuya thường là dân lao động, thợ hồ, xe ôm, dân buôn bán rày đây mai đó… Giá thành khu vực này rẻ mạt.

    Người Trung Quốc ở phía Đông thành phố

    Một người tên Kha, sống ở quận Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng chia sẻ: “Thì đường Trường Sa, đường biển toàn bộ là người Trung Quốc ở. Hai bên đường nó kinh doanh đủ thứ, ăn nhậu, ăn chơi. Người Việt nam mình không được vào đâu! Con đường từ Hội An ra Đà Nẵng thì đầy rẫy người Trung Quốc…”.

    Theo ông Kha, vấn đề người Trung Quốc xuất hiện tràn lan, kéo theo nhiều thứ tệ nạn xã hội, trong đó nạn xì ke ma túy và mại dâm phát triển mạnh, bởi có cung thì có cầu, có cầu thì có cung. Ông Kha cho rằng những biệt khu mà công an khu vực không được phép kiểm tra của người Trung Quốc tại Đà Nẵng có thể chứa bất kì thứ hàng hóa nào, không ngoại trừ vũ khí và ma túy.

    Trong đó đáng sợ nhất là ma túy. Bởi vì với vũ khí, cho dù có tiêu thụ ra thì trường thì vẫn không mất đi, vẫn lần ra dấu vết nơi phát tán. Trong khi đó, ma túy chỉ cần một chỗ tập kết an toàn, sau đó phát tán và xóa dấu vết, khi công an có đầy đủ lệnh kiểm tra thì mọi chuyện xem như đã xong. Và hiện tại, đường dây buôn ma túy, cho vay nặng lại cũng như cầm cái số đề mà đầu sỏ là người Trung Quốc, họ quản lý cả một hệ thống ma cô người Việt đã tác oai tác quái trên thành phố Đà Nẵng.

    Thì đường Trường Sa, đường biển toàn bộ là người Trung Quốc ở. Hai bên đường nó kinh doanh đủ thứ, ăn nhậu, ăn chơi. Người Việt nam mình không được vào đâu! Con đường từ Hội An ra Đà Nẵng thì đầy rẫy người Trung Quốc

    Ông Kha

    Theo ông Kha, đây không còn là chuyện bí mật nữa. Nhưng không hiểu sao cho đến nay, hệ thống này vẫn tồn tại, số lượng thanh niên xài ma túy ở Đà Nẵng ngày càng nhiều, nạn trộm cắp cũng bắt đầu xuất hiện, gái bán dâm thì nhiều vô số kể, kẻ cho vay nặng lãi cũng nhiều. Nhưng nhà cầm quyền thành phố Đà Nẵng vẫn chưa có động thái nào nhằm chặn đứng tệ nạn xã hội. Đó là chưa muốn nói rằng sắp tới đây, có thể người Trung Quốc sẽ sang Đà Nẵng theo diện chuyên viên kĩ thuật với 300 người chỉ để quản lý 350 lao động phổ thông người Việt.

    Theo ông Kha, đây là chuyện hết sức khôi hài và vô lý. Bởi với 350 công nhân, nếu thật sự cần chuyên viên kĩ thuật thì không tới 10 người là quá đủ để quản lý họ. Trong khi đó, những cán bộ đầu ngành có liên quan đến vấn đề người Trung Quốc vào Đà Nẵng sắp tới lại cho rằng đó là chuyện rất bình thường, không nằm trong tầm quan sát và quan tâm của họ.

    Ông Kha cho rằng với đà quản lý lỏng lẻo và vô trách nhiệm, để người Trung Quốc vào Đà Nẵng quá nhiều nhưng không biết được họ làm gì, đi đâu thì một lúc nào đó, Đà Nẵng sẽ trở thành một bản doanh của các trùm ma cô, đầu gấu, mại dâm và xã hội đen. Đây là bài học lớn từ Bình Dương, Hà Tĩnh mà nhà cầm quyền thành phố Đà Nẵng cần phải nhận thấy ngay từ đầu!

    Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam.

  4. Một đại họa cho đất nước và cho dân tộc, cần phải tiêu diệt!


    Suốt chiều dài lịch sử 4000 năm của Việt Nam cho đến 30 tháng 04 năm 1975, đất nước Việt Nam chỉ có một lần rơi vào thảm cảnh nạn kiêu binh của thời hậu Lê (1533-1789). Theo Wikipedia: “do những quân lính gốc ở Thanh – Nghệ, cậy mình có công, đã sinh thói kiêu căng, coi thường luật lệ, gây ra và làm trong và ngoài triều chính thời đó hết sức điêu đứng, khổ sở. Theo sách Việt sử tân biên, thì nạn kiêu binh này là một trong những nguyên nhân khiến cơ nghiệp Lê – Trịnh ở Việt Nam mau đổ nát”.

    Những lính gốc gác vùng Thanh Nghệ vì cậy công phò chúa (chúa Trịnh), phò thái tử, vua (Lê) nên kiêu căng, sách nhiễu dân chúng. Dân chúng vô cùng khổ sở vì sực hà khắc côn đồ xem thường pháp luật của bọn binh lính kiêu binh. Bọn lính kiêu binh cậy có công phò chúa, phò vua đã ngang nhiên chiếm đoạt tài sản của dân chúng, dành các mối lợi về kinh doanh, đất đai, đầm hồ, chợ búa, bến đò, sông bải. Nói chung những gì có lợi là bọn họ và nhóm bè đảng tay chân thâu tóm, mặc cho sư ta thán của người dân.

    Theo Wikipedia: “Trong sách Hoàng Lê nhất thống chí ở hồi hai và ba, có nhiều đoạn kể khá tỉ mỉ nạn kiêu binh. Nhờ tác giả là người đã sống trong thời đại hỗn loạn ấy, nên chúng có giá trị lịch sử & hiện thực cao. Trong bài giới thiệu tác phẩm này, Kiều Thu Hoạch có đoạn nói đến nạn kiêu binh như sau:

    Trịnh Sâm thì hoang dâm, xa xỉ. Vua Lê Cảnh Hưng thì bù nhìn, bạc nhược. Trịnh Tông chỉ là con rối của đám kiêu binh. Còn quan lại đa phần là một phường dung tục, bất tài, chỉ rình rập cơ hội để tranh giành quyền lực, danh lợi… Dưới những vua quan như vậy, thì binh lính đương nhiên cũng không thể có kỷ cương, phép tắc gì. Những “ưu binh” đã biến thành “kiêu binh” ngang ngược, quay lại uy hiếp triều đình, quấy nhiễu dân chúng, tùy ý phá nhà, giết người, khiến mọi người đã phải gọi chúng là “quân bất trị”. Và ba chữ ấy đã trở thành nỗi khủng khiếp của một thời.”

    Nạn kiêu binh của thời hậu Lê và chúa Trịnh đã suýt đẩy Việt Nam vào vòng lệ thuộc Tàu do hành động rước voi dày mả tổ của vua Lê Chiêu Thống nếu không có Vua Nguyễn Huệ với tài dùng binh kiệt xuất đánh bại lực lượng hùng hậu khoảng ba trăm ngàn quân Tàu của vua Mãn Thanh vào năm 1789.

    VIỆT NAM HIỆN NAY, THẾ KỶ 21, CÓ NẠN KIÊU BINH HAY KHÔNG?

    Tuyệt đại đai số người dân Việt quả quyết nạn kiêu binh đang lộng hành trên toàn cỏi đất nước, từ tổ dân phố đến tận trung ương! Quả thật là như vậy. Kiêu binh thời nay nó khủng khiếp hơn vào thế kỷ 18. Thử xét nghiệm lời than oán của người dân về đại nạn kiêu binh thời đại “a còng – @” của thề kỷ 21.

    Tổ dân phố, phường, quận, huyện:

    Người dân luôn bị kiểm soát, hạch sách bởi công an khu vực, dân phòng, công an an ninh phường quận huyện. Họ khinh thường chính luật lệ do đảng cộng sản của họ đặt ra. Dân chúng bị ép buộc “giáo dục” bởi các nhóm, tổ chức ngoại vi của đảng cộng sản có trình độ văn hóa sơ cấp, may ra chỉ có trình độ đảng viên. Hành động quản chế giáo dục các nhà trí thức, khoa học, luật sư bất đồng chính kiến tại xóm, tổ dân phố bởi các thành phần ngoại vi của đảng cộng sản với sự hiểu biết nông cạn sơ đẳng là một thí dụ. Đây là nạn kiêu binh tại cấp hạ tầng cơ sở, dựa vào quyền lực cai trị chuyên quyền của đảng cộng sản.

    Chính quyền trung và cao cấp ngành cảnh sát công an:

    Đây là nơi tập trung đại nạn kiêu binh. Họ ngang nhiên chà đạp đến các quyền tự do căn bản do chính đảng cộng sản của họ đặt ra và được ghi hẳn hoi vào chính bản hiến pháp của đảng cộng sản ban hành. Muốn đánh đập, hành hạ, giết bỏ dân chúng họ “tự do” làm. Muốn bỏ tù thì cứ việc đóng dấu cho cái tội tuyền truyền chống đảng, nhà nước. Thời Lê-Trịnh chỉ có một nhóm kiêu binh “Thanh Nghệ” lộng hành, nhưng thời kỳ Việt Nam định hướng tiến tới xã hội chủ nghĩa, đảng cộng sản có cả một hệ thống gần 3 triệu đảng viên ăn theo với đầy dẫy kiêu binh từ địa phương đến trung ương tác oai tác quái dân chúng.

    Chính quyền địa phương, trung và cao cấp ngành hành chánh:

    Tuy trên mặt ngôn từ là hai tổ chức hành chánh và an ninh phải khác nhau, nhưng tựu trung họ cũng chỉ là cùng một tổ chức của đảng cộng sản. Họ cấu kết, hợp đồng cộng tác với nhau để áp bức cướp đoạt tài sản của dân, cùng chia nhau và với các bọn lợi ích. Tại nông thôn, họ cướp đất của dân, cướp nhà cửa, cơ sở kinh doanh trao tay trục lợi. Họ đương nhiên không chừa tài nguyên quốc gia, đào xới bán xổi cho bọn Tàu anh em đồng chí. Bọn họ ngày nay giàu nhiều lần hơn những người mà cha anh của họ đã từng gán tội là tiểu tư sản, tư sản. Bọn họ nay được gọi một cách mỉa mai là bọn “tư bản đỏ”.

    Thời kỳ 1975-1985 họ gán cho người dân tội hợp tác với chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, tội tư sản để ngang nhiên cướp đoạt và chia chác cho nhau nhà cửa, ruộng vườn, tài sản cơ sở kinh doanh của dân chúng miền Nam, như các chiến lợi phẩm.

    Thời kỳ 1990 – nay họ quay lại họ cướp đất, cướp mồ hôi nước mắt của người dân đã từng bao che ủng hộ họ tại miền Nam, và đau đớn hơn là họ lại đối xử cạn tàu ráo máng với dân chúng tại miền Bắc, những người theo đảng từ năm 1954, cái nôi của cộng sản Việt Nam. Họ ăn cắp tài nguyên rừng biển, khoáng sản, quặng mỏ. Họ tham nhũng trong tất cả các dự án đầu tư. Họ không phải ăn cắp theo kiều ăn cắp vặt mà ăn cắp có hệ thống qui mô từ trung ương đến địa phương, hằng ngàn tỷ đồng, hằng trăm triệu USD, từ các công trình ngàn tỷ, từ các dự án viện trợ của nước ngoài, từ các dự án vay. Họ tạo ra các tập đoàn kinh tế nhà nước để thao túng nguồn vốn của quốc gia. Tất cả các tập đoàn đều thua lỗ hằng ngàn, hằng chục ngàn tỷ đồng (Vinashin, Vinalines, Điện lực Việt Nam, Than Khoáng Sản, Dầu Khí, Sông Đà, Xây Dựng, Hàng Hải, Ngân hàng…) Số tiền thua lỗ thực chất do bọn cán bộ quan chức kiêu binh ăn chận khi thực hiện các công trình ma quỷ hay mua sắm thiết bị dỏm, phế thải. Nhưng họ chỉ bị kiểm điểm, học tập trong tình đồng chí (kiêu binh), rồi được điều động sang nhiệm sở khác béo bở hơn, hay được hạ cánh an toàn!

    Lính kiêu binh thời vua chúa hậu Lê-Trịnh so với tập thể kiêu binh dưới thời đảng cộng sản Việt Nam chỉ là cá chốt với cá mập. Kiêu binh thời hậu Lê-Trịnh là một nhóm binh lính. Nhưng Việt Nam của thế kỷ 21, kiêu binh không phải là binh lính (bộ đội) mà là công an, là quan chức thế hệ con cháu Bác Hồ từ địa phương đến trung ương, nói chung là đảng viên đảng cộng sản Việt Nam. Họ lấy danh nghĩa đảng cộng sản cấu kết nhau thành “tập đoàn kiêu binh”. Tập đoàn kiêu binh tại Việt Nam của thế kỷ 21 gồm tuyệt đại đa số sinh sau năm 1975 hoặc ở tuổi thiếu niên hay tuổi đôi mươi mới vào du kích địa phương (miền Nam), bộ đội (miền Bắc) vào thời điểm 1975 nay được thăng quan tiến chức trong guồng máy đảng cộng sản, nhưng hành động chống lại người dân của họ thì sắc máu và tàn độc hơn bọn quan chức thời kỳ Pháp thuộc, để lập công với nhóm kiêu binh lãnh đạo đàn anh. Tập đoàn kiêu binh “kinh tế” cấu kết với kiêu binh công an thâu gom của cải của dân, tài sản quốc gia và cùng chia chác với nhau, đẩy dân vào con đường bần hàn. Không những thế, tập đoàn kiêu binh kinh tế còn cấu kết với các nhóm lợi ích ngang nhiên bán đất, giao biển đảo cho bọn xâm lược. Vì tư lợi bằng mọi cách họ quyết thực hiện các dự án độc hại hủy hoại đất nước và ảnh hưởng đến sự tồn vong của dân tộc như dự án Bauxit, dự án điện hạt nhân, v.v… Họ sống vô tư trong nhung lụa còn hơn dân giàu có của các nước tư bản phương tây. Họ và con cái ăn xài hoang phí với sự giàu có phi nhân bất chính trong khi đó ngoài miệng thì hô hào toàn dân sống tự trọng, đạo đức, liêm chính theo chủ nghĩa “vô sản” Mác Lê và tư tưởng Hồ Chí Minh.

    Ngay trong hàng ngũ lãnh đạo trung ương của đảng cộng sản, nhóm kiêu binh trung ương đảng cũng chẳng xem luật đảng, tôn ti trật tự đảng ra gì. Bằng chứng cụ thể là với kết quả cuộc họp trung ương đảng kỳ 6 vào đầu tháng mười vừa qua, lãnh đạo cao nhất của đảng cộng sản Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng đã phải bó tay trước sự lộng quyền của nhóm kiêu binh trung ương đảng kết bè kết phái. Ông ta đã uất ức đến ứa nước mắt khi đọc bài diễn văn bế mạc phiên họp đặc biệt này, trong khi bọn kiêu binh trung ương đảng bên dưới lại cười khẩy đắc thắng!

    Nhóm kiêu bình thời hậu Lê-Trịnh bị vua Nguyễn Huệ tiêu diệt và giúp đất nước thoát khỏi ách lệ đô hộ của bọn Tàu phương Bắc.

    Loạn kiêu binh thời đại toàn cầu hóa tại Việt Nam tuy tinh vi, ác độc và đôi khi không còn nhân tính nhưng vẫn có thể bị khuất phục và loại bỏ. Đó là cơ chế và chế độ mà nó đang bám vào như cây chùm gởi. Bọn kiêu binh công an và kinh tế sở dĩ lộng hành vì có sự bao che của cơ chế độc quyền độc đảng lỗi thời, của chế độc độc tài. Một khi chế độ chuyên chính độc đảng được thay thế bởi một cơ chế đa đảng, tam quyền phân lập, nhân quyền và quyền tư do của toàn dân được bảo vệ thì bọn kiêu binh tự nó sẽ bị tiêu trừ. Một bằng chứng cụ thể là với chế độ độc tài quân phiệt Miến Điện, khi được thay thế trong ôn hòa bởi một thể chế tự do dân chủ thì bọn kiêu binh công an và quan chức tại Miến Điện đã nhanh chóng bị hóa giải.

    Nhóm lãnh đạo cao cấp của đảng cộng sản Việt Nam hiện nay nếu thật sự yêu nước, lo cho tiền đồ và tương lai của dân tộc của đất nước, hãy nhanh chóng từ bỏ cơ chế kiêu binh, độc tài chuyên chính lạc hậu và thực hiện một thể chế đa nguyên đa đảng bình đẳng, tam quyền phân lập.

    Chỉ có con đường thay đổi chế độ sang một thể chế đa nguyên đa đảng mà tuyệt đại đa số các nước trên thế giới áp dụng, trong số đó Miến Điện là quốc gia mới nhất vừa dứt khoát đoạn tuyệt với chế độ độc tài quân phiệt, thì đại họa kiêu binh đang hủy hoại tổ quốc và dân tộc mới được giải trừ. Khi đó Việt Nam mới thật sự là quốc gia tự do dân chủ, và kỷ cương quốc pháp mới được tái lập.

    © Nguyễn Hùng, Trần Hoài Nam

    Nguồn: danlambao

    ___________________

    * Tài liệu tham khảo:

    – Nạn kiêu binh

    http://vi.wikipedia.org/wiki/N%E1%BA%A1n_ki%C3%AAu_binh

    – Cưỡng chế đất Văn Giang – Nông dân Phụng Công

    – Công An dã mang đàn áp, đánh đập người dân trong vụ cưỡng chế đất Văn Giang

    Vô xem

  5. Đi với Mỹ – Tại sao không ?

    Bị bom nguyên tử, vì sao người Nhật không hô hào tiêu diệt Mỹ ?

     Thời Báo
    2015-12-10
    Tướng quân MacArthur là danh tướng của Mỹ. Năm 1942 tướng MacArthur dẫn đại quân tấn công Nhật Bản, từ Melbourne xa xôi đánh thẳng đến Tokyo, hai tay nhuộm máu người Nhật Bản. Vì thế vô số người Nhật muốn xé xác ông, còn ông cũng hận người Nhật thấu xương.

    Vụ nổ bom nguyên tử ở Hiroshima. (Ảnh: Internet)

    Tướng MacArthur tiếp nhận quân Nhật đầu hàng (Ảnh: Internet)

    Vào 2:5 chiều ngày 30/8/1945, tướng quân MacArthur ra khỏi máy bay và đặt chân lên đất Nhật Bản, cho dù ông không mặc quân phục và không mang theo vũ khí gì, cũng không có người tổ chức duyệt binh, nhưng thời khắc đó với 70 triệu người Nhật Bản là thời khắc kinh hoàng mà họ không thể quên, trong tâm trí mọi người chỉ còn nghĩ được hai chữ “mất nước, mất nước, mất nước”.
    Nhưng tướng MacArthur mang quân đến vì hòa bình, chính nghĩa, khoan dung và dân chủ
    Nền kinh tế Nhật Bản sau chiến tranh rơi vào suy sụp, đến bữa trưa của Nghị viên Quốc hội cũng phải ăn cơm trộn khoai lang, cái đói bao phủ khắp nơi. Lúc này tướng MacArthur gây áp lực khiến chính phủ Mỹ phải hỗ trợ Nhật Bản, thế là 3,5 triệu tấn lương thực và 2 tỷ Mỹ kim tức tốc được gửi đến Nhật. Ông không chỉ giữ lại chính quyền Nhật Bản mà còn gây áp lực đặc xá cho Thiên hoàng, thậm chí còn quan tâm đến số phận của từng người lính bình thường của Nhật Bản, giúp họ tìm con đường sống.
    Theo sau ông, 400 nghìn lính Mỹ đã dùng thiện ý và tinh thần hy sinh để chinh phục người Nhật Bản. Khi đó các con hẻm trong thành phố của Nhật vô cùng chật hẹp, một người Nhật bình thường và một người lính Mỹ to lớn nếu gặp nhau cũng khó khăn để đi qua nhau, vì thế thường thì người lính Mỹ sẽ nép vào một bên cho người Nhật đi trước. Người Nhật không thể không băn khoăn tự hỏi, nếu họ là kẻ chiến thắng thì họ có làm được như thế không?
    Sau khi tướng MacArthur đến Nhật Bản, ông lập tức ra lệnh thả tội phạm chính trị, trong đó có rất nhiều Đảng viên Cộng sản, bị chính phủ Nhật bắt giam trong thời gian dài.
    Ngày 25/8/1945, quân chiếm đóng của Mỹ cho phép phụ nữ Nhật xây dựng tổ chức của mình; tháng 9 cho công bố Dự luật về vai trò trong bầu cử của phụ nữ Nhật Bản; đây là lần đầu tiên trong lịch sử Nhật Bản, phụ nữ được quyền bầu cử và ứng cử.
    Lúc này tại Tokyo có cô kỹ nữ được chọn làm Nghị viên thành phố, nhiều thị dân cảm thấy khó chấp nhận. Nhưng tướng MacArthur nói, mọi người chọn cô ấy để cô ấy phục vụ mọi người, đừng vì cô ấy là kỹ nữ mà kỳ thị bỏ qua. Khi đó mọi người chợt hiểu người được chọn trong bầu cử dân chủ phải là người thay mặt cho mình để vì mình làm việc, thế là sau khi hiểu ý nghĩa vấn đề họ đã quyết định chọn bầu cô kỹ nữ kia. Kết quả sau khi trở thành Nghị viên, cô đã không phụ lòng mọi người, làm được rất nhiều việc có ý nghĩa.
    Vào ngày 11/10/1945, tướng MacArthur tuyên bố bỏ lệnh cấm báo chí, Nhật Bản được tự do thông tin và tự do ngôn luận. Ngày 22/12/1945, ban hành “Luật Công hội”, giai cấp công nhân thực sự có tổ chức của mình. Ngày 1/9/1947, ban hành “Luật lao động”, quy định tiêu chuẩn tiền lương thấp nhất và thời gian làm việc nhiều nhất.
    Ngày 3/2/1946, tướng MacArthur chỉ thị cho Tổng bộ Liên minh khởi thảo Hiến pháp Nhật Bản. Chính phủ Mỹ truyền đạt nguyên tắc chế định Hiến pháp cho tướng MacArthur là: Chính phủ Nhật Bản phải do toàn thể cử tri trao quyền và phải chịu trách nhiệm trước toàn thể cử tri. Ngày 3/5, quân liên minh giao ra Bản dự thảo Hiến pháp. Ngày 7/10, Quốc hội Nhật Bản thông qua Hiến pháp. Ngày 3/11, Thiên hoàng cho ban hành Tân Hiến pháp.
    Đây là Hiến pháp do kẻ chiếm lĩnh chiếu theo giá trị quan phương Tây áp đặt cho kẻ bị chiếm lĩnh, nhưng lại là bản Hiến pháp đem lại phúc lợi cho nhân dân quốc gia bị chiếm lĩnh. Bản Hiến pháp nhấn mạnh quyền lợi công dân cơ bản của người Nhật Bản, xem những quyền lợi này là “quyền lợi trời cho mà không ai có quyền tước đoạt”. Những quyền này bao gồm: quyền bầu cử, lập hội và tự do xuất bản; không có sự tham gia của luật sư thì không được định tội; bảo đảm quyền cư trú an toàn cho dân, cấm kiểm tra và tước đoạt vô cớ.
    Ngày 21/10/1946, Quốc hội đã thông qua “Luật Cải cách ruộng đất”. Chính phủ Nhật Bản mua lại đất đai dư thừa của giới địa chủ, sau đó bán đất lại cho nông dân không có ruộng. Với những nông dân không có tiền mua đất, chính phủ cho vay thế chấp. Tất cả diễn ra không đổ một giọt máu, một mạng người, những người nông dân ai nấy đều có được một phần đất cho mình.
    Ngày 31/3/1947, ban hành “Luật Giáo dục”. Theo đó mục tiêu hàng đầu của giáo dục là “tôn trọng sự tôn nghiêm của cá nhân, bồi dưỡng cho mọi người có lòng nhiệt huyết vì chân lý và hòa bình”. Trường học của Nhật Bản không còn nằm trong kiểm soát của chính phủ mà là do Ủy ban Giáo dục do dân chúng bầu ra quản lý. Việc chọn lựa nhà giáo, sách học và bố trí chương trình hoàn toàn do người dân tự chủ quyết định.
    Năm 1952, quân chiếm đóng Mỹ trả chính quyền về cho chính phủ Nhật Bản. Sau 7 năm chiếm đóng, người Mỹ cải cách triệt để con đường phát triển của Nhật Bản, chủ quyền quốc gia từ trong tay kẻ chuyên chế trao lại cho người dân Nhật Bản, những tiền đề tiến bộ đầu tiên này giúp người Nhật bước vào con đường thênh thang. Hơn 10 năm sau, Nhật Bản trở thành cường quốc kinh tế thứ hai thế giới, quốc gia phồn vinh, nhân dân giàu có, xã hội ổn định. Có thể nói thêm một câu, quân chiếm đóng của Mỹ không chi một đồng tiền thuế nào của người dân Nhật Bản, chi phí của họ là lấy từ tiền thuế của người Mỹ.
    Người Nhật tổ chức buổi lễ long trọng đưa tiễn tướng quân MacArthur
    Trong thời gian chiếm đóng Nhật Bản, rất nhiều người Nhật đã viết thư gửi cho tướng MacArthur yêu cầu biếu tặng điền sản của họ. Nhiều phụ nữ can đảm viết thư đề nghị được hiến thân cho tướng MacArthur, nhiều người còn viết “xin hãy cho tôi được sinh con cho ngài.”
    Sáng ngày 16/4/1951, Tổng thống Truman phế bỏ chức Tư lệnh quân chiếm đóng, tướng MacArthur phải về nước, sự kiện này chỉ thông báo cho một số quan chức cấp cao người Nhật biết. Nhưng khi ông ngồi lên ô tô thì mới phát hiện, từ nơi dinh phủ ông ở đến Sân bay Atsugi có hàng triệu người Nhật Bản đứng hai bên đường đưa tiễn. Đoàn xe hộ tống đi qua những hàng nước mắt cùng tiếng hô vang dậy của người dân Nhật Bản: Đại nguyên soái!
    Người dân Tokyo đứng chật kín hai bên đường, ai nấy rơi nước mắt, họ như hoàn toàn quên chuyện tướng MacArthur là kẻ chiếm đóng đã đánh bại quân đội quốc gia mình. Thiên hoàng đích thân đến sứ quán đưa tiễn MacArthur, tướng MacArthur cũng xúc động rơi nước mắt, nắm chặt hai tay của Thiên hoàng Hirohito.
    Khi đưa tiễn, Thủ tướng Yoshida của Nhật nói: “Tướng quân MacArthur đã cứu chúng tôi ra khỏi nỗi sợ hãi, lo lắng và hỗn loạn của thất bại để đưa chúng tôi vào con đường mới do ông xây dựng, chính Ngài đã gieo trồng hạt giống dân chủ trên đất nước chúng tôi để chúng tôi bước trên con đường hòa bình, tình cảm ly biệt mà nhân dân chúng tôi dành cho Ngài không lời nào có thể diễn tả được.”

    Uy lực quả bom nguyên tử của Mỹ tàn phá thành phố và nền kinh tế của Nhật Bản, nhưng về phương diện tinh thần, nước Mỹ đã hoàn toàn chinh phục được người Nhật Bản.

    ——

    Ý kiến độc giả:

    Nhìn lại những gì đã xảy tại Việt nam sau khi quân Cọng Sản Bắc Việt chiến thắng miền Nam thì thấy rõ tư cách bọn này không bằng cục phân của người Mỹ. Chúng chính là quân cướp và là bọn chó má, không thể dùng từ nào khá hơn để đánh giá chúng được.

    Việt Cọng là thứ ghê tởm nhất trần gian, hiện nay chúng đi đâu cũng bị cả thế giới khinh bỉ !!

    Kim Hoa Bà Bà

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s