Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc – Thăm dòng họ ở Việt Nam

BBC / 2015-111-01

151030085933_ban-ki-moon

Tổng Thư Ký Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc,
Ông ban-Ki-Moon và phu nhân ghé thăm Việt Nam (Người Hàn gốc Việt)
Sáng ngày 30/10, mạng xã hội tại Việt Nam lan tin bản tin và bút tích
được cho là của ông Ban Ki-moon trong một chuyến ông đến Sài Sơn,
xứ Đoài (huyện Quốc Oai, Hà Nội) để thăm nhà thờ họ Phan Huy.

 

Facebook của tiến sỹ Nguyễn Xuân Diện có đăng bức hình ông Ban đang ghi sổ lưu niệm với chú thích: Hình ảnh đầu tiên về việc Ngài Ban Ki moon tại nhà thờ họ Phan ở Quốc Oai, Hà Nội. Ngày ông Ban đến đây là 23 tháng 5 năm 2015.
Tiến sỹ Diện nói ông được người quen làm quan chức địa phương cho hay ông Ban Ki Moon, người Hàn Quốc, đã tới “chiêm bái, dâng hương tại nhà thờ dòng họ Phan Huy và nhận mình là hậu duệ của dòng họ”.
Ông cũng nói thêm tên Ban Ki-moon theo Hán tự là Phan Cơ Văn.
Ông Diện bình luận chuyến thăm “riêng tư” của tổng thư ký LHQ cho thấy có thể có “gốc tích và mối quan hệ của dòng họ Phan của ngài với dòng họ Phan Huy ở Quốc Oai”.

Ông Ban Ki-moon nói chuyện tại Quốc hội VN
BBC / • 23 tháng 5 2015

Ông tổng thư ký Liên Hiệp Quốc đang có chuyến thăm Hà Nội

Ông Ban Ki-moon là tổng thư ký Liên Hiệp Quốc đầu tiên nói chuyện trước toàn thể Quốc hội Việt Nam chiều 23/5.
Ông Ban hiện đang ở Hà Nội trong chuyến thăm chính thức lần thứ hai với cương vị tổng thư ký LHQ.
Lần đầu tiên ông tới Việt Nam là vào năm 2010.
Được biết trong buổi nói chuyện bắt đầu khoảng 15:00 giờ chiều giờ Hà Nội tại Quốc hội Việt Nam, ông Ban Ki-moon sẽ đề cập môt số vấn đề liên quan quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và LHQ.
Việt Nam đang mong muốn thúc đẩy quan hệ hai bên, nâng cao hiệu quả của việc sử dụng nguồn hỗ trợ của LHQ nhằm triển khai Chương trình Nghị sự Phát triển sau năm 2015, nhất là trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, các chương trình giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Trước đó, trong các tiếp xúc với lãnh đạo Việt Nam, ông Ban đã đề cập khá nhiều tình hình căng thẳng hiện tại ở Biển Đông.
Ông Ban đã được nghe thông báo về tình hình Biển Đông từ chính các lãnh đạo Việt Nam.
Báo Việt Nam sau đó đưa tin ông nói LHQ “sẵn sàng hỗ trợ nếu các bên liên quan đề nghị” để bảo đảm an ninh, ổn định ở Biển Đông.
Ông nói tại một cuộc họp báo sáng thứ Bảy: “Tôi thúc giục các bên liên quan thể hiện sự kiềm chế tối đa, không làm leo thang căng thẳng, cùng đối thoại, giải quyết hòa bình các tranh chấp phù hợp với Hiến chương LHQ và luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước LHQ về Luật Biển 1982; mong các nước Asean và Trung Quốc sớm đạt được Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC)”.
Trong thứ Bảy, ông Ban Ki-moon đã có gặp gỡ các cán bộ ngoại giao trẻ và sinh viên Học viện Ngoại giao, thăm Trung tâm Gìn giữ hòa bình của LHQ ở Hà Nội trước khi tới Quốc hội

nguồn

6 thoughts on “Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc – Thăm dòng họ ở Việt Nam

  1. Phỏng vấn hoàng thân Bảo Ngọc, hậu duệ vua Duy Tân

    Phát Thứ hai, ngày 07 tháng ba năm 2016
    Phỏng vấn hoàng thân Bảo Ngọc, hậu duệ vua Duy Tân

    Hoàng thân Bảo Ngọc trả lời RFi tại Trung tâm Văn hóa Việt Nam, Paris, ngày 12/02/2016.RFI

    Hoàng thân Guy Georges Vĩnh San ( Nguyễn Phúc Bảo Ngọc ) sinh ngày 31/01/ 1933 tại đảo Réunion, là hậu duệ trực tiếp của ba vị hoàng đế của triều đại nhà Nguyễn tại Việt Nam: Ông cố là Vua Dục Đức, ông nội Vua Thành Thái, và cha ông là Vua Duy Tân.

     

    Sau khi học xong trung học, hoàng thân tham gia quân đội Pháp, từng hành quân đến nhiều nơi ở Pháp: Paris, Toulouse, Fréjus và Martinique, nơi ông kết hôn với bà Monique vào 05/1954, và cũng đã từng sang chiến đấu ở Algeria.

    Sau khi kết thúc binh nghiệp vào năm 1967, trở về đời sống dân sự, hoàng thân Bảo Ngọc làm việc cho một công ty xuất nhập khẩu, rồi sau đó thi vào Bộ Tài chính Pháp và vào làm việc trong Tổng cục Hải quan và Thuế. Trong thời gian làm việc ở đây, ông đã gia nhập công đoàn Force ouvrière FO và vào năm 1975 được bầu làm ủy viên thường trực của Văn phòng Quốc gia công đoàn này cho đến năm 1988.

    Sau khi nghỉ hưu vào năm 1996, hoàng thân Bảo Ngọc từ đảo Réunion cùng với vợ trở về Pháp và dành toàn bộ thời gian rảnh rỗi để nghiên cứu lịch sử về Hoàng Đế Duy Tân, và cũng thường về Huế để chăm sóc mộ phần cho cha tại Huế.

    Vua Duy Tân, tên húy là Nguyễn Phúc Vĩnh San, sinh ngày 19/09/1900 và qua đời ngày 26/12/1945 là vị Hoàng đế thứ 11 của nhà Nguyễn, sau vua Thành Thái. Khi vua cha bị thực dân Pháp lưu đày, ông được người Pháp đưa lên ngôi khi còn thơ ấu. Tuy nhiên, ông dần dần khẳng định thái độ bất hợp tác với Pháp.

    Năm 1916, vào lúc chiến tranh thế giới thứ nhất đang diễn ra ở Âu châu, vua Duy Tân đã bí mật liên lạc với các lãnh tụ Việt Nam Quang Phục Hội như Thái Phiên, Trần Cao Vân, để bàn về dự định khởi nghĩa. Dự định thất bại và Duy Tân bị bắt ngày ngày 06/05. Đến ngày 03/11/1916 ông bị thực dân Pháp đày ra đảo Réunion.

    Trong cuộc Chiến Tranh Thế giới lần thứ hai (1939 – 1945), theo lời kêu gọi của tướng de Gaulle, ông gia nhập quân đội Pháp để chiến đấu chống phát xít Đức. Ngày 26/12/1945, khi tướng de Gaulle dự định đưa ông trở về Việt Nam, vua Duy Tân thiệt mạng trong một tai nạn máy bay ở Cộng hoà Trung Phi, hưởng dương 45 tuổi. Cho tới nay vẫn còn nhiều nghi vấn về tai nạn này.

    Ngày 24 tháng 4 năm 1987, thi hài ông được đưa từ đảo Réunion về Việt Nam, rồi đưa về an táng tại lăng Dục Đức, Huế cạnh lăng mộ vua cha Thành Thái.

    Cũng như mỗi năm, đầu tháng 3 này, hoàng thân Bảo Ngọc lại về nước, một phần cũng là để chăm sóc mộ phần vua Duy Tân.

    Ngày 12/02/2016, nhân dịp ông đến xem triển lãm tranh của các hoạ sĩ Hà Nội trưng bày tại Trung tâm Văn hóa Việt Nam ở Paris, RFI đã phỏng vấn hoàng thân Bảo Ngọc.

     RFI : Xin kính chào hoàng thân Bảo Ngọc. Chúng tôi rất cám ơn Ngài dành thời gian cho bài phỏng vấn hôm nay. Trước hết, xin Ngài cho biết cảm xúc của Ngài như thế nào khi lần đầu tiên trở lại Việt Nam mang theo tro cốt của vua cha?

     Hoàng thân Bảo Ngọc : Đối với tôi, việc hồi hương tro cốt cha tôi về quê mang ý nghĩa rất quan trọng , bởi vì cha tôi rất rất yêu đất nước mình. Tôi vẫn tự bảo rằng chắc là ông rất vui sướng khi được trở lại mảnh đất mà ông đã sinh ra, được ở bên cạnh những người thân : Ông cố, ông nội, người cha.

    Chính vì vậy mà ngay từ những năm 1986, 1987 tôi đã làm các thủ tục để đưa tro cốt của cha tôi về nước. Lúc đó thủ tướng Phạm Văn Đồng có nói với tôi rằng : «  Này Ngài Vĩnh San, mọi thủ tục về phía Pháp thì ông lo, nhưng khi máy bay mang tro cốt của cha ông về mai táng ở Việt Nam đáp xuống sân bay Huế, thì chúng tôi sẽ lo toàn bộ thủ tục từ A đến Z ». Mọi chuyện đã diễn ra rất tốt đẹp.

    Đó là một thời điểm lịch sử. Người dân Huế lúc đó đã được nghỉ một ngày để đón di hài của cha tôi và điều đó làm tôi rất vui. Nhìn thái độ cung kính của người dân Huế khi đón tiếp tro cốt cha tôi về đây, lúc tôi cảm thấy là mình đã hành động đúng. Qua thái độ đó, coi như họ khen ngợi tôi đã đưa tro cốt một người của họ trở về quê hương. Tôi rất hài lòng về điều đó.

      RFI :Kể từ khi về hưu, Ngài dành nhiều thời gian cho việc nghiên cứu về vua cha Duy Tân. Chắc là Ngài cũng đã gặp những người từng sống, từng làm việc, từng quen biết với vua Duy Tân trước đây ?
     
    Hoàng thân Bảo Ngọc : Vâng, tôi đã gặp những người sống cùng thời với cha tôi, đặc biệt là ông Boulet, cũng là một Chánh tham biện ( administrateur ) ở Lào. Ông biết rất rõ về cha tôi và thậm chí đã lập một bản tướng mạo quân vụ ( fiche signalétique des services) của cha tôi để trình cho tướng de Gaulle vào khoảng năm 1944-1945.

    Bộ Hải ngoại Pháp đã tiếp nhận rất tốt hồ sơ này, nhưng họ nói với ông Boulet rằng tình hình ở Việt Nam còn khó khăn và trường hợp Vĩnh San sẽ được xem xét sau. Đúng là lúc đó, chính phủ Pháp hay ít ra là bộ Hải ngoại Pháp gặp một số vấn đề với những người thuộc phe quốc gia và họ thấy là việc đưa vua Duy Tân trở về nước còn khó khăn.

    Bế tắc chỉ được giải tỏa khi cha tôi gặp tướng de Gaulle ngày 14/12/1945. Họ đã lập một kế hoạch trở về Việt Nam và xem xét chính sách của Pháp đối với Việt Nam, tức là nên thống nhất ba kỳ, thiết lập nền độc lập cho Việt Nam và sau đó đề ra chương trình hợp tác giữa Pháp với Việt Nam như giữa hai quốc gia ngang bằng nhau.

    RFI :Nhưng thưa Ngài, lúc đó tướng de Gaulle có thật sự nghĩ rằng Duy Tân là giải pháp tốt nhất cho Việt Nam lúc đó, hay thực tế là nước Pháp chỉ muốn dùng cha ông như một quân bài phục vụ cho quyền lợi của họ?

    Hoàng thân Bảo Ngọc : Không, theo tôi, lúc đó tướng de Gaulle đã hiểu tình hình Việt Nam, hiểu những nguyện vọng của cha tôi, đó là trước hết nước Việt Nam phải được thống nhất, chứ không thể tiếp tục ở tình trạng chia thành ba kỳ, nơi thì là tự trị, nơi thì còn là bảo hộ. Rồi trong một thời gian ngắn phải giáo dục người dân về nền  độc lập.

    Sự trở về của cha tôi đã được dự tính giống như là đã không có chuyện gì xảy ra, tức là cha tôi chỉ đi xa một thời gian rồi trở về, chứ không cần phải đăng quang trở lại. Tướng de Gaulle đã hoàn toàn đồng ý với dự tính đó. Nhưng tai nạn máy bay tháng 12/1945 ở châu Phi khiến tình hình diễn tiến khác đi.

    RFI :Về tai nạn máy bay này thì hiện vẫn còn nhiều nghi vấn. Khi nghiên cứu về vua Duy Tân, Ngài có đã tìm được những yếu tố khác khẳng định giả thuyết đây là một vụ khủng bố nhắm vào máy bay của cha ông ?
     
    Hoàng thân Bảo Ngọc : Đúng là tai nạn máy bay này đặt ra vài thắc mắc. Tôi nghĩ là tình hình lúc đó có thể khiến có một sự quan ngại nào đó trên trường quốc tế. Việt Nam lúc đó là một quốc gia sắp giành độc lập vào năm 1945, trong khi những nước khác cũng bị ngoại bang chiếm đóng thì dự trù sẽ được trao trả độc lập những năm sau đó.

    Trong bối cảnh đó, kế hoạch mà tướng de Gaulle dự trù trao trả độc lập cho Việt Nam vào năm 1945 có thể gây cản trở cho kế hoạch của các nước thực dân khác trao độc lập cho các thuộc địa của họ những năm sau đó. Những nước đó chắc là cảm thấy khó chịu khi htấy nước Pháp đi trước như thế

    RFI :Có những giả thuyết cho rằng chính người Anh đã gây ra tai nạn khiến cha ông thiệt mạng. Ngài nghĩ như thế nào về điều này ?
     
    Hoàng thân Bảo Ngọc : Trong một bức thư gởi cho một người bạn, cha tôi có nói ông có cảm tưởng là người ta không muốn ông trở về Việt Nam, vì đã có người đề nghị tặng tiền cho ông, nếu không chấp nhận không trở về Việt Nam, nhưng ông đã từ chối. Ông chỉ nói đó là đề nghị của một nước ngoài, nhưng không nói rõ là nước nào. Cho nên chưa thể xác định điều gì. Nhưng, do tình hình thế giới lúc đó, do quyền lợi của những nước lúc đó còn thống trị vùng Đông Nam Á, mỗi người có thể nêu lên những giả thuyết riêng ( về tai nạn này ).

    RFI : Ngài có đã gặp những nhân chứng khác, cũng như những nhà sử học để tìm hiểu về vua Duy Tân ?
     
    Hoàng thân Bảo Ngọc : Không, những gì mà tôi biết được về cuộc đời của cha tôi vào thời ông còn trị vì ở Việt Nam là qua các tài liệu ở kho hồ sơ lưu trữ  Aix-en-Provence, vì tại đó có rất nhiều tài liệu của các viên toàn quyền Pháp thời đó về hoàng đế Duy Tân, về vụ đày ông ra đảo Réunion. Nhưng các nhà sử học thì không có nhiều tư liệu về cha tôi, chẳng hạn như về sự kiện ông dự định đứng đầu cuộc khởi nghĩa vào năm 1916. Thời thế đã bắt buộc ông không thể làm khác hơn là phải đứng ra lãnh đạo phong trào chống thực dân Pháp để giành độc lập cho Việt Nam, thực hiện nghĩa vụ của một quốc trưởng.

    Có thể là trong khu hồ sơ lưu trữ ở Aix-en-Provence còn một vài tài liệu khác về tình hình Việt Nam thời đó, về cha tôi, về dự định khởi nghĩa, về việc đày ông sang đảo Réunion…, nhưng tôi nghĩ là sẽ không có những phát hiện gì lớn nữa, vì dầu sao, đó chỉ là những giai đoạn ngắn trong lịch sử Việt Nam.

    RFI : Từ những nghiên cứu đó, Ngài có dự định viết một cuốn sách về vua Duy Tân  hay không ?

    Hoàng thân Bảo Ngọc : Không, em trai tôi, Claude đã thu thập tất cả những gì viết về cha tôi để xuất bản một cuốn sách cách đây vài năm. Dẫu sao thì vua Duy Tân chỉ trị vì có vài năm,và khi bị đày, ông chỉ mới có 17 tuổi. Cuộc đời của ông chủ yếu là ở đảo Réunion, nơi ông sống lưu đày. Từ nơi đó, ông cũng đã không tổ chức những phong trào chính trị gì lớn, và cũng đã từ chối một vài đề nghị giúp ông đảo thoát khỏi đảo này.  Cha tôi đã từ chối vì ông đã cam kết là không có những hoạt động gì chống lại chính quyền Pháp lúc đó.

    RFI :Chúng tôi xin cảm ơn hoàng thân Bảo Ngọc.

    nguon

  2. Những năm tháng lưu đày của vua Hàm Nghi ở Alger

    Phát Thứ tư, ngày 31 tháng mười hai năm 2014
    Những năm tháng lưu đày của vua Hàm Nghi ở Alger

    Chân dung vua Hàm Nghi những năm tháng cuối cuộc đời lưu đày.( Ảnh tư liệu gia đình)

    Lên ngôi năm 13 tuổi, tại vị trong vòng một năm (07/1884-07/1885), nhà vua trẻ Hàm Nghi (Nguyễn Phúc Ưng Lịch) (1871-1944) trở thành biểu tượng chống Pháp của phong trào Cần Vương trong suốt bốn năm. Tháng 11/1888, chính phủ Pháp đưa vua Hàm Nghi sang lưu đày tại Alger cho tới cuối đời. Sử sách đề cập tới nhiều phong trào Cần Vương, thế nhưng quãng thời gian sống tại Alger của vua Hàm Nghi vẫn là một khoảng trống và thu hút sự quan tâm của mọi người.

     

    RFI đã may mắn gặp được cô  Amandine Dabat, cháu năm đời của vua Hàm Nghi. Hiện chị đang làm luận văn tiến sĩ về cuộc đời và sự nghiệp của vua Hàm Nghi tại đại học Sorbonne-Paris 4. Chị cho biết, bên cạnh một ông vua An Nam bị lưu đày biệt xứ, Hàm Nghi còn là một nghệ sĩ đa tài, một họa sĩ.

    Hoàn cảnh lưu đày
    Vua Hàm Nghi tới Alger vào tháng 1 năm 1889. Chính phủ Pháp bắt ngài vào tháng 11 năm 1888 để chấm dứt phong trào Cần Vương của người Việt và họ quyết định đày ngài sang Alger, cùng với một phiên dịch, một người hầu và một đầu bếp.

    Amandine Dabat: « Khi tới Alger, họ được đại uý Henri de Vialar, lúc đó là sĩ quan tuỳ tùng của Tirman, Toàn quyền Algérie, tiếp đón. Và chính sĩ quan Vialar chịu trách nhiệm tìm nhà cho vua Hàm Nghi. Ngôi nhà có tên là « Biệt thự cây thông » (Villa des Pins), ở El Biar, trên một ngọn đồi thượng Alger. Bắt đầu từ lúc này, vua Hàm Nghi bị truất ngôi, chỉ được coi như hoàng tử và người ta thường gọi là « Hoàng tử An Nam ». Đây cũng chính là tên thông thường của vua trong suốt cuộc đời lưu vong tại Alger. Những năm đầu tiên, ngài sống trong ngôi nhà mà người Pháp thuê cho. Chỉ từ năm 1906 trở đi, sau khi kết hôn với một phụ nữ Pháp vào năm 1904, họ mới xây một ngôi nhà mới, có tên là « Biệt thự Gia Long », do Guiauchain, một kiến trúc sư người Pháp tại Alger thiết kế. Và vua sống trọn đời tại đây cùng với gia đình. »

    Cụm từ « sống lưu đày » (vie d’exil) khiến nhiều người hình dung một cuộc sống vất vả và khó khăn. Liệu cuộc sống lưu đày của nhà vua có nặng nề như ý nghĩa của cụm từ đó ? Amandine Dabat giải thích :

    « Cuộc sống lưu đày của nhà vua chắc chắn là nặng nề, hay khó khăn theo nghĩa xa cách quê hương. Đó chính là nỗi khổ tinh thần đối với gia đình. Nhưng thực ra, cuộc sống lưu đày của ngài khá thoải mái. Vì mục đích của chính phủ Pháp khi đưa vua Hàm Nghi đến Alger, trước hết là để biến ngài thành một người thân Pháp, vì thế, phải khiến ngài yêu nước Pháp. Quả thực, ngay khi bị lưu đày tại Alger, vua Hàm Nghi vẫn là một hoàng tử kế nghiệp và vẫn có thể kế ngôi vua Đồng Khánh. Chính vì vậy, từ thời điểm đó, ngài phải được đối đãi tử tế, phải học tiếng Pháp và hưởng phong cách Pháp. Từ đó để vua Hàm Nghi phải yêu nước Pháp. Vậy nên, dù vua Hàm Nghi buộc phải ở lại Alger, ngài vẫn được sống trong một ngôi nhà tiện nghi. Ngài có thể đánh quần vợt, đi xem hát, đi săn. Ngài có bạn bè và bắt đầu học vẽ. Tất cả các hoạt động này đều được chính phủ Pháp cho phép. Phải để cho vua Hàm Nghi cảm thấy thoải mái tại Alger, vì trong trường hợp ngài được đưa về Việt Nam và lên ngôi vua, cần phải để cho ngài có thiện cảm với nước Pháp. »

    Sau khi vua Hàm Nghi thoát ly triều đình, đứng đầu phong trào Cần Vương, chính phủ thuộc địa Pháp đưa vua Đồng Khánh (Nguyễn Phúc Ưng Kỷ) lên ngôi. Thế nên, dù sống lưu đày tại Alger, vua Hàm Nghi vẫn có khả năng nối ngôi, trong trường hợp vua Đồng Khánh băng hà.

    Amandine Dabat : «Chính phủ Pháp tự hỏi là có nên đưa vua Hàm Nghi về kế vị vua Đồng Khánh hay không. Đây là những thông tin được lưu lại trong nhiều tài liệu lưu trữ thuộc địa. Nhưng cuối cùng, họ cho rằng việc này quá mạo hiểm. Vì vua Hàm Nghi còn có quá nhiều người ủng hộ tại Việt Nam và chính phủ Pháp e ngại rằng nhà vua sẽ lại đứng đầu phong trào kháng chiến chống Pháp. Chính vì vậy mà vua Hàm Nghi phải ở lại Algérie. Tôi không biết chính xác tới ngày nào, chính phủ Pháp vẫn coi ngài là quân cờ trong thế trận Đông Dương, hay là một hoàng tử kế vị. Tôi cũng không biết tới tận ngày nào, vua Hàm Nghi vẫn không được phép quay lại Đông Dương. »

    Cuộc sống dưới vòng giám sát
    Dù có một cuộc sống khá thoải mái về vật chất và được phép tham gia một số hoạt động thể thao và nghệ thuật, nhưng vua Hàm Nghi suốt đời bị theo dõi, thậm chí các cuộc thăm viếng cũng bị kiểm soát. Ví dụ, ngài phải xin phép chính phủ Pháp để rời Alger du lịch trong nước Algérie, hay đi sang Pháp lục địa. Và khi ngài tới Pháp, ngài cũng liên tục bị theo dõi. Mọi thư từ trao đổi của ngài đều bị chính phủ Pháp chặn lại. Người ta chỉ đưa cho ngài những bức thư từ Algérie hay Pháp lục địa. Ngài không thể nào nhận được thư từ Đông Dương.

    Amandine Dabat« Biện pháp theo dõi này là do chính phủ Pháp đại lục áp đặt dưới sức ép của chính phủ Pháp tại Đông Dương. Thực vậy, chính phủ Pháp tại Đông Dương luôn giữ hình ảnh của vua Hàm Nghi như một người chống đối nguy hiểm. Họ cũng sợ rằng Hàm Nghi vẫn giữ liên hệ với phong trào Việt Nam chống chế độ thuộc địa. Chính chính phủ Đông Dương đã buộc chính phủ Pháp đại lục theo dõi vua Hàm Nghi. Nhưng chính phủ Pháp tại Algérie nhanh chóng hiểu rằng vua Hàm Nghi tại Alger không còn nguy hiểm và không thể liên lạc với Đông Dương và ngài cũng không còn là một mối đe doạ lớn. Chính vì thế, chính phủ Pháp tại Algérie giảm bớt việc theo dõi. Điều này cũng thể hiện rằng ngay trong nội bộ chính phủ Pháp vẫn có bất đồng quan điểm. Chính phủ Pháp tại Algérie cố bảo vệ vua Hàm Nghi và nới lỏng việc theo dõi. Trong khi đó, chính phủ Pháp lục địa và Đông Dương thì lại muốn việc theo dõi nghiêm ngặt hơn. »

    Với những biện pháp theo dõi chặt chẽ như vậy, liệu vua Hàm Nghi có tiếp cận được những thông tin về tình hình phong trào khởi nghĩa chống Pháp hay, sau này, là cuộc chiến tranh Đông Dương ? Amandine Dabat cho biết chi tiết :
    « Chúng ta không biết được chính xác làm thế nào vua Hàm Nghi có được thông tin về những gì đang diễn ra tại Đông Dương. Vì về mặt chính thức, nhà vua không nhận được thư từ Đông Dương. Nhưng trên thực tế, Hàm Nghi có rất nhiều bạn, chủ yếu là những người bạn Pháp, sĩ quan hay nhà truyền giáo. Những người này thường đi lại giữa Algérie, Pháp đại lục và Đông Dương. Họ cung cấp cho ngài các tin tức về Đông Dương, nhưng đó chỉ là tin truyền miệng.

    Trong một vài bức thư, đôi khi có vài thông tin về những sự kiện đang diễn ra tại triều đình Huế. Nhưng chúng tôi không có một chút dấu tích gì về phản ứng của nhà vua. Điều duy nhất mà tôi biết là ngài luôn từ chối nói về chính trị, hay trong mọi trường hợp, viết về vấn đề chính trị. Vì ngài biết rằng nếu chẳng may chính phủ Pháp đọc được thư, ngài sẽ bị theo dõi chặt chẽ hơn và thậm chí có thể bị giam hãm. Vì thế, trong mọi thư từ, ngài từ chối nói chuyện chính trị. Nhưng thái độ của ngài tại Alger cũng chứng minh rằng ngài chưa bao giờ thật sự quan tâm tới chính trị, ngay cả tình hình chính trị Pháp thời bấy giờ. Khi ngài bình phẩm chính trị tại Pháp lục địa, luôn dưới góc độ hài hước và không có chút bận tâm thật sự nào.

    Tôi nghĩ rằng bắt đầu từ lúc đi đày, ngài đã hiểu ra rằng nếu muốn sống một cuộc sống an bình, thì cần phải thể hiện rõ mình không còn là một nhà chính trị, không còn là một mối nguy hiểm cho chính phủ Pháp. Đó là những gì mà các văn bản, những bằng chứng viết, cho thấy rõ. Còn chúng ta không biết được là chuyện gì xảy ra qua lời nói. Những gì mà vua Hàm Nghi viết không thể hiện điều ngài nghĩ. Chính vì thế, chúng ta không biết được tận sâu đáy lòng, ngài nghĩ gì. Chúng ta chỉ biết được qua những gì ngài viết về bối cảnh lúc đó. »

    Giữ liên lạc với Việt Nam
    Nhiều thông tin cho rằng vua Hàm Nghi từ chối học tiếng Pháp khi đặt chân tới Alger. Phải chăng đó là ngôn ngữ của kẻ xâm lược ? Hay là sự từ chối hợp tác với kẻ thù ? Sau này, khi lập gia đình, các con của vua Hàm Nghi lại không nói tiếng Việt. Hoàn cảnh nào đã dẫn tới việc quyết định chỉ cho các con học tiếng Pháp ? Đó có phải là ý định đoạn tuyệt với Việt Nam ? Amandine Dabat tiếp tục giải thích :

    « Vua Hàm Nghi bắt đầu cuộc sống đi đày vào tháng 01/1889 và trong những tháng đầu tiên, ngài từ chối học tiếng Pháp. Nhưng chỉ trong vài tháng. Bắt đầu từ tháng 7, có nghĩa là 6 tháng sau, ngài đã chấp nhận học tiếng Pháp và đã yêu cầu chính phủ Pháp cho mình một giáo viên tiếng Pháp. Tôi cho là nhà vua hiểu ra rằng phiên dịch của ngài sẽ không vĩnh viễn ở lại Alger. Nếu muốn giao tiếp, không chỉ giao tiếp với chính phủ Pháp, mà còn diễn giải cho chính phủ Pháp những nhu cầu của mình, hay những điều mà ngài không đồng tình, thì Hàm Nghi cần phải tự lập về ngôn ngữ. Vì thế, trên thực tế, Hàm Nghi nhanh chóng chấp nhận học tiếng Pháp.

    Chưa bao giờ vua Hàm Nghi từ chối cho các con mình học tiếng Việt. Ngài kết hôn với một phụ nữ Pháp vào năm 1904, trước khi Nhà thờ và Nhà nước tách rời nhau tại Pháp. Và trong bối cảnh xã hội thực dân tại thời điểm đó ở Algérie, con cái của ngài buộc phải được dạy dỗ như những người Pháp nếu muốn hoà nhập được vào xã hội. Và chính người vợ của vua Hàm Nghi nài nỉ để con cái của họ nói tiếng Pháp. Có lẽ vua Hàm Nghi cũng rất muốn dạy con học tiếng Việt, nhưng ngài không thể làm được. Một phần vì vợ ngài muốn dạy con tiếng Pháp, nhưng một phần cũng do những sức ép của xã hội trong giai đoạn đó. Trong bối cảnh thuộc địa tại Alger khá khép kín, con cái của họ cần phải được coi như những người Pháp.

    Tôi không nghĩ là vua Hàm Nghi có chủ ý cắt đứt quan hệ với Việt Nam, chỉ vì ngài không có lựa chọn. Chính chính phủ Pháp đã quyết định thay ngài. Chính họ là người ra sức cản trở ngài liên lạc với Đông Dương. Vua Hàm Nghi cũng đã gặp gỡ được một số người Việt tại Alger, đa số là học sinh trường trung học Alger. Một số học sinh này, khi quay về Đông Dương, vẫn giữ liên lạc với vua Hàm Nghi. Họ liên lạc đường vòng, bằng cách gửi thư qua người khác để vua có thể nhận được. Vì vậy, chưa bao giờ vua Hàm Nghi có ý định cắt đứt liên lạc với Việt Nam. Mà trái lại, ngài không ngừng tìm cách để giữ liên lạc với quê hương, với gia đình và bạn bè. Chỉ có điều ngài phải qua đường vòng, vì chính phủ Pháp tìm mọi cách để ngăn cản. »

    Hậu duệ vua Hàm Nghi không muốn đưa di hài vua về an táng tại Huế. Hiện nay, ngài vẫn an nghỉ tại làng Thonac, vùng Dordogne (Pháp), nơi công chúa Như Mai, trưởng nữ của vua Hàm Nghi sinh sống. Đây là khu mộ gia đình, nơi các con của vua Hàm Nghi quyết định an táng cha mẹ mình, và sau này là công chúa Như Mai. Amandine Dabat cho biết, lý do chính là, với thế hệ ông bà của chị, vua Hàm Nghi là ông của họ. Điều quan trọng với họ là có thể đến viếng mộ tổ tiên. Ngoài ra, tuổi tác cao cũng sẽ không cho phép con cháu tới viếng mộ vua tại Việt Nam. Chính vì thế, thế hệ con cháu hiện nay vẫn tôn trọng nguyện vọng của thế hệ ông bà.

    Các thành viên hậu duệ gia đình vua Hàm Nghi đã từng tới du lịch Việt Nam với mong muốn khám phá quê hương tổ tiên mình. Đây là mối liên hệ duy nhất mà gia đình còn giữ lại với Việt Nam. Bản thân Amandine Dabat là người sống tại Việt Nam lâu nhất, khoảng 18 tháng, từ năm 2011 tới nay, để phục vụ luận văn nghiên cứu của chị.

    Nguon

  3. CÁC NƯỚC NGHÈO CÓ THỂ DÂN CHỦ KHÔNG ?

    Nguyễn Huy Hoàng dịch
    Gary S. Becker, The Becker-Posner Blog, May. 3, 2011 

    “Các nước nghèo không thể dân chủ” là một điệp khúc phổ biến để cổ xúy cho quan điểm rằng các nước nghèo cần một nền lãnh đạo mạnh và chuyên chế để thoát khỏi những lực lượng khiến họ nghèo đói trong hàng thế kỷ. Minh chứng rõ ràng là đại đa số các nước giàu chủ yếu là dân chủ. Tuy nhiên, trong khi những tác động của dân chủ đối với hiệu quả kinh tế đang gây nhiều tranh cãi, nền dân chủ vẫn có thể mang lại một số lợi ích kinh tế cho cả các nước giàu và nghèo.

    POSTER_7B

    Không nên so sánh những tác động thực tế của dân chủ đối với kinh tế và các khía cạnh khác của cuộc sống với một hình thức chính thể lý tưởng, mà nên so với nhiều chính phủ khác không có tự do báo chí, không cho phép cạnh tranh công khai cho các vị trí lãnh đạo, không có phổ thông đầu phiếu, thiếu những thiết chế và các quyền tự do khác – những đặc điểm của nền dân chủ. Như phát biểu nổi tiếng của Winston Churchill, “Không ai cho rằng dân chủ là hoàn hảo hay toàn thiện. Thực ra, dân chủ là hình thức chính thể tồi tệ nhất nếu không tính đến các chính thể khác từng tồn tại.” Câu nói này được đưa ra trong một bài phát biểu ở Viện Thứ dân ngày 11 tháng 11 năm 1947, khoảng 2 năm sau khi Churchill thất bại trong cuộc bầu cử sớm hậu Thế chiến II.

    Nhiều nghiên cứu đã cố gắng cô lập những tác động của dân chủ so với các hệ thống chính phủ chuyên chế đối với phát triển kinh tế, bất bình đẳng, giáo dục, và nhiều yếu tố khác. Bởi phân biệt những tác động của dân chủ với tác động của các yếu tố khác là rất khó, những nghiên cứu này không thu được kết quả cuối cùng. Tuy nhiên, xu hướng chung là khi cân nhắc các yếu tố phù hợp khác, giữa tốc độ tăng trưởng GDP trung bình trong dài hạn và việc quốc gia đó có dân chủ hay không dường như chỉ tồn tại một mối quan hệ lỏng lẻo. Dân chủ khuyến khích đầu tư hơn nữa cho giáo dục, và giáo dục sẽ giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh hơn.

    Cho dù một số nhà lãnh đạo chuyên chế đã cải thiện đáng kể nền kinh tế của họ, đó không phải là quy luật chung. Cứ mỗi nhà lãnh đạo độc tài như Pinochet (cựu Tổng thống Chile) hay Tưởng Giới Thạch, những người tạo nên tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ, lại có một Stalin hay Idi Amin ở Uganda với chính sách kinh tế ảm đạm. Tương tự, không phải mọi nền dân chủ đều quản lý kinh tế một cách hiệu quả. Chẳng hạn, Ấn Độ đã trở thành nền dân chủ sôi động kể từ khi giành được độc lập vào năm 1947. Trong suốt 40 năm đầu, nền dân chủ này tăng trưởng rất chậm dưới một chính phủ xã hội chủ nghĩa, và rồi Ấn Độ đã đạt được tốc độ phát triển kinh tế nhanh hơn nhiều sau khi chính phủ thay đổi theo hướng hướng đến các chính sách kinh tế thị trường thân thiện hơn.

    Trong khi tốc độ tăng trưởng trung bình của các nền dân chủ và các chế độ chuyên chế là tương đương, hiệu quả kinh tế giữa các chính phủ độc tài lại khác biệt đáng kể. Trung Quốc đã phát triển vượt trội từ những năm 1980, nhưng sự tàn phá và khó khăn kéo dài do bước “Đại nhảy vọt” (dẫn đến hàng triệu nông dân chết đói) và Cách mạng Văn hóa của Trung Quốc  gây ra sẽ không xảy ra trong một đất nước dân chủ, chẳng hạn như Ấn Độ. Cuba và nhiều quốc gia châu Phi sẽ không phải chịu đựng các chính sách kinh tế tồi tệ như vậy quá lâu nếu họ có những thiết chế dân chủ hợp lý.

    Một trong những lí do tại sao suy thoái kinh tế kéo dài ít có khả năng diễn ra trong các nền dân chủ là tự do báo chí sẽ công khai báo cáo tình trạng đói khổ và chỉ trích nặng nề các chính sách kinh tế gây ra nó. Tương tự, các ứng cử viên chính trị sẽ công khai tấn công các chính sách dẫn đến khủng hoảng kinh tế kéo dài, và họ thường được bầu với nhiệm vụ thay đổi những chính sách đó.

    Một số nhà bình luận kinh tế luôn sử dụng mối tương quan mạnh mẽ giữa sự giàu có của các quốc gia và các chính phủ dân chủ để lập luận rằng dân chủ đem lại sự thịnh vượng lớn hơn. Chắc chắn, nhiều nền dân chủ lâu đời như Hoa Kỳ và Vương quốc Anh đã phát triển rất giàu có. Tuy nhiên, các nước bắt đầu phát triển nhanh chóng dưới chế độ độc tài như Đài Loan và Hàn Quốc cũng tương tự, nhưng lại trở nên dân chủ, một số khá nhanh chóng, khi đã thịnh vượng hơn.

    Nhiều năm trước, từ những bằng chứng lịch sử, nhà xã hội học Seymour Martin Lipset đã kết luận rằng sự giàu có ngày càng tăng sẽ thúc đẩy dân chủ chứ không phải là ngược lại. Tôi tin về cơ bản ông đã diễn giải đúng những dữ liệu tương quan giữa thịnh vượng và dân chủ. Đặc biệt là trong thế giới hiện đại, khi giàu có hơn người ta sẽ đi du lịch nhiều hơn, học hỏi nhiều hơn qua báo chí, truyền hình và Internet về những gì đang xảy ra ở nước họ và các quốc gia khác, và giao tiếp qua điện thoại, email, tin nhắn cùng những cách khác . Người dân ở các nước giàu có đòi hỏi tự do không chỉ trong những lựa chọn kinh tế mà còn trong đời sống xã hội và chính trị. Những nguyện vọng này không phù hợp với các chính phủ kiểm duyệt những gì mọi người đọc và nghe, cố gắng ngăn chặn các cuộc thảo luận mở về các vấn đề chính trị nhạy cảm, và ngăn cản những thách thức từ các ứng cử viên chính trị nằm ngoài các đảng phái được chính thức công nhận.

    Câu trả lời là có, các nước nghèo có thể dân chủ, miễn là họ dùng chính phủ dân chủ của họ để thúc đẩy tự do kinh tế. Thật không may, nhiều nước nghèo, kể cả các nền dân chủ, lại không làm như vậy.

    ________

    Gary S. Becker (1930-2014) nguyên là Giáo sư Kinh tế và Xã hội học tại Đại học Chicago. Ông được trao giải Nobel Kinh tế năm 1992.

    Bản dịch © 2015 Nguyễn Huy Hoàng
    nguon

  4. Tòa án lương tâm – Hồ & Duẩn

    HCM và Lê Duẩn. Ảnh laodong.com

    Khi nhận xét mục đích cuộc chiến vừa qua, Lê Duẩn, bí thư thứ nhất đảng Lao Động, tiền thân của đảng Cộng Sản Việt Nam(CSVN) ngày nay, đã nói ngắn gọn: “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc…”  

    Câu nói nầy được nhà văn Vũ Thư Hiên ghi lại trong sách Đêm giữa ban ngày (hồi ký chính trị của một người không làm chính trị), Nxb. Văn Nghệ, California, 1997, tr. 422, phần chú thích. Sau đó, Nguyễn Mạnh Cầm, ngoại trưởng CSVN từ 1991 đến 2000, tiết lộ trong bài phỏng vấn của đài BBC ngày 24-1-2013 nhan đề là “Một lần lầm lỡ thời cơ mất cả trăm năm”. Nguyễn Mạnh Cầm nhắc lại lời Lê Duẩn hơi khác:“Ta đánh là đánh cả cho Trung Quốc, cho Liên Xô.” Đây chỉ là lời Lê Duẩn nói mà không viết thành văn bản, nên hai người trên đây thuật lại có phần khác nhau đôi chút. Hoặc sự khác biệt nầy do Lê Duẩn nói hai lần khác nhau, từ ngữ khác nhau, nên nghe khác nhau, nhưng đại ý chung không khác nhau.

    Lê Duẩn, người gốc tỉnh Quảng Trị, học đến năm nhất niên bậc trung học (tức lớp 6 ngày nay) thì bỏ học, xin đi làm công nhân sở Hỏa xa Đà Nẵng, rồi ra làm sở Hỏa xa Hà Nội. Tại đây, Lê Duẩn gia nhập đảng Cộng Sản Đông Dương (CSĐD), bị bắt đày ra Côn Đảo hai lần.

    Sau khi CS cướp chính quyền năm 1945, Lê Duẩn được thả ra và được CS cử làm Xứ uỷ Nam bộ năm 1946. Ngày 20-1-1951, Hồ Chí Minh ra lệnh giải tán Xứ uỷ Nam bộ và thay bằng Trung ương cục miền Nam, cũng do Lê Duẩn đứng đầu.

    Trong khi đó, do những khó khăn khi mới cướp được chính quyền, Hồ Chí Minh tuyên bố giải tán đảng CSĐD ngày 11-11-1945 để hòa giải với các đảng phái và tổ chức chính trị khác. Sau đó, do lệnh của Stalin, Hồ Chí Minh triệu tập Đại hội lần thứ hai đảng CSĐD tại xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang từ 11 đến 19-2-1951, tuyên bố đảng CSĐD ra hoạt động công khai trở lại và chia thành 3 đảng riêng biệt của ba nước Việt Nam, Lào và Miên. Đảng CS Việt Nam từ nay lấy tên là đảng Lao Động. Danh xưng nầy cũng do Stalin đặt. (Nguyễn Văn Trấn, Viết cho Mẹ và Quốc hội, California, Nxb. Văn Nghệ, 1995, tr. 149.)

    Trong dịp nầy, đảng Lao Động thành lập Bộ chính trị đầu tiên gồm có 7 ngưới là: Hồ Chí Minh (chủ tịch đảng LĐ), Trường Chinh (tổng bí thư), Lê Duẩn, Hoàng Quốc Việt, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Chí Thanh.

    Năm 1954, đất nước bị chia hai theo hiệp định Genève (20-7-1954). Bắc Việt Nam do đảng Lao Động cai trị; Nam Việt Nam theo chính thể Quốc Gia. Lê Duẩn cùng Võ Văn Kiệt, Mai Chí Thọ, Cao Đăng Chiếm… được CS bí mật cài lại ở Nam Việt Nam để chỉ huy Trung ương cục miền Nam (TƯCMN). (Huy Đức, Bên thắng cuộc, tập I: Giải phóng, New York: Osinbook, 2012, tt. 271-272). Tháng 10-1954, Trung ương cục miền Nam đổi lại thành Xứ uỷ Nam bộ, và cũng do Lê Duẩn lãnh đạo.

    Trong khi Lê Duẩn ở Nam Việt Nam, thì tại Bắc Việt Nam diễn ra cuộc Cải cách ruộng đất giai đoạn thứ 5, bắt đầu từ sắc luật ngày 14-6-1955 của Hồ Chí Minh. Đây là cuộc CCRĐ “long trời lỡ đất”, đưa đến cái chết của 172,008 người bị quy là địa chủ. (Đặng Phong chủ biên, Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945-2000, tập II: 1955-1975, Hà Nội: Nxb Khoa Học Xã Hội, tr. 85.)

    Đảng Lao Động thành công trong cuộc CCRĐ lần nầy, cào bằng xã hội nông thôn, tiêu diệt tận gốc giới “trí phú địa hào (trí thức, phú thương, địa chủ, cường hào) và các thành phần bị CS nghi ngờ. Từ đây đảng Lao Động làm chủ đất đai và nền nông nghiệp Bắc Việt Nam, nhưng ngược lại gây bao nhiêu thảm cảnh đau thương cho nông dân và cho cả toàn dân Bắc Việt Nam.

    Trước sự oán thán và bất mãn của dân chúng Bắc Việt Nam, tại hội nghị Trung ương đảng lần thứ 10, đảng Lao Động giả vờ sửa sai. Ngày 29-10-1956 trong cuộc mít-tinh lớn trước Nhà Hát Nhân Dân tại Hà Nội. Võ Nguyên Giáp thay mặt Hồ Chí Minh và Trung ương đảng Lao Động chính thức thừa nhận những sai lầm nghiêm trọng trong cuộc CCRĐ. (Nguyễn Minh Cần, “Xin đừng quên! Nửa thế kỷ trước”, điện báo Ánh Dương, ngày 3-2-2006.)

    Nghị quyết của hội nghị Trung ưởng đảng LĐ lần thứ 10 được đăng lên báo Nhân Dân ngày 30-10-1956, theo đó Trường Chinh Đặng Xuân Khu mất chức tổng bí thư tuy vẫn còn trong Bộ chính trị đảng LĐ; Hoàng Quốc Việt, Lê Văn Lương ra khỏi Bộ chính trị,; Lê Văn Lương thôi giữ chức trưởng ban Tổ chức TƯĐ. Hồ Chí Minh, chủ tịch đảng kiêm luôn tổng bí thư, Lê Đức Thọ (được vào Bộ chính trị từ 1955) giữ chức trưởng ban Tổ chức TƯĐ, bổ sung thêm Phạm Hùng, Nguyễn Duy Trinh, Lê Thanh Nghị vào Bộ chính trị đảng LĐ.

    Khi cuộc CCRĐ lần thứ 5 xảy ra, Lê Duẩn là thành viên Bộ chính trị đảng Lao Động, nhưng không có mặt ở Hà Nội, mà đang nằm vùng ở Nam Việt Nam. Từ giữa tháng 6-1956, Lê Duẩn ẩn trốn ở Sài Gòn và soạn thảo bản “Đề cương cách mạng miền Nam”.

    Khi Trường Chinh rời chức tổng bí thư, Hồ Chí Minh cho gọi Lê Duẩn ra Hà Nội. Trong Bộ chính trị đầu tiên từ năm 1951, Lê Duẩn đứng thứ 3 sau Hồ Chí Minh và Trường Chinh. Lê Duẩn về đến Hà Nội ngày 4-6-1957. (Huy Đức, sđd., tr.274.) Lê Duẩn được triệu tập ra Hà Nội phụ tá cho Hồ Chí Minh có thể vì hai lý do:

    Thứ nhứt, lúc xảy ra cuộc CCRĐ bị dân chúng bất mãn, oán thán, Lê Duẩn đang ở Nam Việt Nam, không có mặt ở Hà Nội, nghĩa là không tham dự tại chỗ vào những quyết định của cuộc CCRĐ. Điều đó chứng tỏ cho dân chúng Bắc Việt Nam thấy rằng tuy Lê Duẩn ở trong Bộ chính trị đảng LĐ, nhưng Lê Duẩn là người ngoại phạm, hay ít nhất là “vô can” trong những sai lầm lớn lao của cuộc CCRĐ, nên lúc đó Lê Duẩn được xem là chưa bị dân chúng phản đối. Vì vậy HCM gọi Lê Duẩn trở ra Bắc để củng cố lại Bộ chính trị đảng CS.

    Thứ hai, trước khi ký kết hiệp định Genève, Châu Ân Lai cùng Hồ Chí Minh hội họp ở Liễu Châu (Quảng Tây) từ 3 đến 5-7-1954, quyết định CSVN sẽ gài người ở lại Nam Việt Nam sau khi Việt Nam bị chia hai, nhằm trường kỳ mai phục, chờ đợi thời cơ tiếp tục chiến tranh. Muốn tái chiến ở Nam Việt Nam, Hồ Chí Minh phải gọi Lê Duẩn ra Bắc để bàn thảo kế hoạch tấn công Nam Việt Nam, vì Lê Duẩn nằm vùng lâu nay ở miền Nam, hiểu rõ tình hình miền Nam và đã từng soạn “Đề cương cách mạng miền Nam” từ năm 1956.

    Vào cuối năm 1958, Lê Duẩn được bí mật gởi vào Nam Việt Nam lần nữa để nghiên cứu thêm tình hình tại chỗ. Khi trở ra Bắc Việt Nam, Lê Duẩn viết bản báo cáo, đề nghị đánh chiếm Nam Việt Nam bằng võ lực. (Stanley Karnow, Vietnam A History, New York: The Viking Press, 1983, tt 237-238.)

    Bản báo cáo của Lê Duẩn là nền tảng của quyết định quan trọng của hội nghị Trung ương đảng LĐ lần thứ 15 ở Hà Nội. Tại hội nghị nầy, ngày 13-5-1959, ban chấp hành Trung ương đảng LĐ đưa ra hai nghị quyết: Thống nhứt đất nước tức đánh chiếm miền Nam bằng võ lực và đưa miền Bắc tiến lên xã hội chủ nghĩa. Nghị quyết đăng trên báo Nhân Dân ngày 14-5-1959.

    Vào năm sau, tại Hà Nội, từ 5-9 đến 10-9-1960, diễn ra Đại hội đảng LĐ lần thứ III, chính thức xác nhận hai mục tiêu lớn trên đây của đảng LĐ là: Xây dựng BVN tiến lên xã hội chủ nghĩa và “giải phóng” NVN bằng võ lực. Cuối Đại hội nầy, Hồ Chí Minh được bầu là chủ tịch đảng LĐ; Lê Duẩn được bầu làm bí thư thứ nhứt (không phải là tổng bí thư), thay Trường Chinh vì những sai lầm của Trường Chinh trong cuộc CCRĐ. Bộ chính trị mới của đảng LĐ gồm 11 uỷ viên chính thức và 2 uỷ viên dự khuyết.

    Như thế, sự rút lui của Trường Chinh ra khỏi chức tổng bí thư đảng Lao Động sau cuộc CCRĐ đã mở đường cho Lê Duẩn bước lên nắm quyền lãnh đạo đảng LĐ và từ đây thăng tiến trong sự nghiệp chính trị. Đó là một hệ quả quan trọng của cuộc CCRĐ mà ít được chú ý đến.

    Diễn tiến chiến tranh từ 1960 đến 1975 hầu như ai cũng biết. Chỉ xin lưu ý là sau hội nghị Liễu Châu với Châu Ân Lai từ ngày 3 đến ngày 5-7-1954, thì tại hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương đảng LĐ khóa II ngày 15-7-1954, Hồ Chí Minh đưa ra chủ trương: “Mỹ không những là kẻ thù của nhân dân thế giới mà Mỹ đang biến thành kẻ thù chính và trực tiếp của nhân dân Việt Nam, Lào. Mũi nhọn của ta cũng như mũi nhọn của thế giới đều chĩa vào Mỹ. Chính sách của Mỹ là mở rộng và quốc tế hóa chiến tranh Đông Dương. Chính sách của ta là tranh thủ hòa bình để chống lại chính sách chiến tranh của Mỹ…” (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 7:1953-1955, xuất bản lần thứ hai, Hà Nội:Nxb. Chính Trị Quốc Gia, 2000, tt. 313-315.)

    Khai mạc Đại hội III đảng LĐ tại Hà Nội ngày 5-9-1960, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Ngày nào chưa đuổi được đế quốc Mỹ ra khỏi miền Nam nước ta, chưa giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị tàn bạo của Mỹ-Diệm, thì nhân dân ta vẫn chưa thể ăn ngon, ngủ yên. Bởi vậy không thể nào tách rời cuộc đấu tranh bảo vệ hòa bình, thống nhất nước nhà với cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ.” ( Hồ Chí Minh toàn tập tập 10 1960-1962, Hà Nội: Nxb Chính Trị Quốc Gia, xuất bản lần thứ hai, 2000, tr. 200.) Sau đó, vào cuối hội nghị, Hồ Chí Minh đưa ra kết luận: “Hiện nay, đế quốc Mỹ là kẻ thù chính của nhân dân thế giới và nó đang trở thành kẻ thù chính và trực tiếp của nhân dân Đông Dương, cho nên mọi việc của ta đều nhằm chống Mỹ…” (Hố Chí Minh,sđd. tr.319.)

    Như thế rõ ràng trong cuộc khởi binh tấn công Nam Việt Nam năm 1960, CSVN chống Mỹ không phải để “cứu nước”, mà để chống lại “kẻ thù chính của nhân dân thế giới”. Ở đây “kẻ thù chính của nhân dân thế giới”, với CS có nghĩa là kẻ thù của phong trào CS quốc tế do Liên Xô và Trung Quốc đứng đầu. Mà kẻ thù của Liên Xô và Trung Quốc lúc đó không ai khác hơn là Mỹ hay Hoa Kỳ. Vì vậy, Lê Duẩn mới tóm lược cụ thể “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc”.

    Hậu quả của cuộc chiến là quân đội Việt Nam Cộng Hòa mất 224,000 người, bị thương trên 1 triệu người (Webter’s New World Dictionary of the Vietnam War, New York: 1999, tr. 58.) Về phía quân đội CS, theo số liệu do nhà cầm quyền CS Hà Nội công bố ngày 4-4-1995 với thông tấn xã AFP (Agence France Press) thì CS Bắc Việt Nam và CS Nam Việt Nam chết 1,100,000 người, bị thương 600, 000 người. (Google:Vietnam War Casualities.) Cũng theo tiết lộ của CS Hà Nội với AFP ngày 4-4-1995, thì số lượng thường dân chết trong chiến tranh lên đến 4 triệu người, chia đều cho hai miền Bắc Việt Nam và NamViệt Nam, nghĩa là mỗi miền 2 triệu người

    Một số tài liệu khác cho thấy số lượng thương vong ở cả hai bên Bắc Việt Nam và Nam Việt Nam hơi khác. Tuy nhiên, căn cứ theo số lượng thương vong do nhà cầm quyền Hà Nội cho biết, thì thử hỏi tiêu hao 4 triệu sinh linh người Việt để “đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc” là công hay tội?

    Trong lich sử các nước trên thế giới, chưa có một nước nào tự nguyện sử dụng 4 triệu sinh linh đồng bào của mình để phục vụ chiến tranh cho một nước khác. Chưa có ai khen những kẻ sử dụng xương máu đồng bào mình để phục vụ nước ngoài là những người yêu nước, mà ai cũng liệt những tên nầy vào loại tay sai hay lính đánh thuê, đã “tiêu máu của dân, / Như tiêu giấy bạc giả!”(Thơ của Phùng Quán, “Chống tham ô lãng phí”.

    Chỉ có đảng CSVN mới vinh danh lãnh tụ của họ, dùng tiền của dân làm lăng cho Hồ Chí Minh tại Hà Nội và làm đền thờ Lê Duẩn. Vì Lê Duẩn là người Quảng Trị nên được đảng bộ Quảng Trị làm đền thờ. Thế mà đảng bộ Quảng Bình cũng làm thêm một đền thờ nữa, viện cớ ông tổ ba đời của Lê Duẩn là người Quảng Bình.

    Dân Nghệ An-Hà Tĩnh (Nghệ Tĩnh) vốn nổi tiếng là thâm nho. Trình độ thâm nho của tỉnh đảng bộ CS Hà Tĩnh thể hiện trong việc trưng bày một tấm bảng lớn, trên có ghi lại câu nói của Lê Duẩn: “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, Trung Quốc”.

    Mới xem qua, thì người ta tưởng là tỉnh đảng bộ CS Hà Tĩnh vinh danh Lê Duẩn. Tuy nhiên, suy nghĩ cho thật kỹ, thật sâu sắc thì rõ ràng tỉnh đảng bộ CS Hà Tĩnh kết tội Lê Duẩn phản quốc, dùng xương máu của dân Việt, bốn triệu người chứ ít chi, để đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc. Như thế thì có thể gọi là yêu nước không? Chẳng qua đó là hành động phản quốc, phản quốc hạng nặng.

    Tuy nhiên nếu nói Lê Duẩn phản quốc, thì tỉnh đảng bộ CS Hà Tĩnh sẽ bị đảng CSVN kỷ luật, nên họ treo câu nầy lên, để kín đáo nhắc nhở người đời nhớ lấy thành tích của Lê Duẩn và của tập đoàn CS. “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, Trung Quốc.” Thâm thúy lắm. Đúng là thâm nho lắm, hay nói theo ngôn ngữ bình dân là đểu quá là đểu. Treo cả một cái bảng to tướng kể tội Lê Duẩn, mà qua mặt luôn cả nhà cầm quyền CSVN nữa, đâu phải là chuyện dễ!

    Sau năm 1975, tại Sài Gòn, mà CS đổi tên là Thành phố Hồ Chí Minh, tại trường Thánh Thomas tức trường Nhà Thờ Ba Chuông (Nhà thờ Thánh Thomas d’Aquin) trên đường Trương Minh Ký (sau năm 1975, CS đổi thành đường Lê Văn Sỹ), ở lớp 10, diễn ra một vụ án đặc biệt. Các em học sinh khép cửa lớp lại, lập một tòa án đặc biệt gồm có ba học sinh giữ ba vai trò: một chánh án, một biện lý và một luật sư biện hộ. Người bị đưa ra xét xử là Hồ Chí Minh.

     Sau khi tranh cãi, học sinh chánh án tuyên bố tử hình Hồ Chí Minh. Các em đem hình Hồ Chí Minh treo trên tường xuống, cho nổ một trái pháo, tan tành hình Hồ Chí Minh. Ngay sau đó, cả ba học sinh đều bị công an CS bắt. Em học sinh giữ vai luật sư biện hộ cho Hồ Chí Minh được công an thả ra vì bênh vực Hồ Chí Minh. Còn hai em giữ vai chánh án và vai biện lý, bị bắt giam, bị đưa đi học tập. Hai em bị đưa ra tận ngoài Cao Bằng tại trại giam Ma Thiên Lãnh. Khi Trung Cộng tấn công vùng biên giới năm 1979, trại tù Cao Bằng phải di chuyển. Hai em bị chuyển về trại Thanh Cẩm ở Thanh Hóa, và cuối cùng được thả ra sau năm 1990

    Ngay từ năm 1975, các em học sinh Trường Nhà Thờ Ba Chuông ở Sài Gòn đã can đảm thiết lập tòa án xét xử Hồ Chí Minh. Tòa án của các em làm cho mọi người nhớ đến toà án Nuremberg (Đức) và toà án Bertrand Roussel.

    Tòa án Nuremberg ở Đức xét xử các viên chức Đức Quốc Xã từ tháng 11-1945, sau thế chiến thứ hai và kéo dài trong nhiều năm. Trong khi đó, trong thời gian chiến tranh Việt Nam, một nhà triết học Anh là Bertrand Roussell đã thành lập Tòa án Quốc tế ngày 15-11-1966 để xét xử Hoa Kỳ về “tội ác” chiến tranh ở Việt Nam trong khi Hoa Kỳ giúp Việt Nam Cộng Hòa chống cộng sản. Tòa án nầy họp hai lần. Lần đầu tại Stockholm (Thụy Điển) từ 2 đến 13-5-1967 và lần thứ hai tại Copenhagen (Đan Mạch) từ 20-11 đến 1-12-1967.

    Thế mà từ năm 1930 là năm đảng CSVN được thành lập cho đến ngày nay, chỉ có những quyển sách, những bài báo đưa ra những vụ án lớn, phê phán CSVN, mà không hiểu vì sao lại chưa có một tòa án lương tâm nào được thiết lập để công khai xét xử tội ác của Hồ Chí Minh, Lê Duẩn và đảng CSVN. Tạp chí Polska Times tức Thời báo Ba Lan ngày 5/3/2013 đưa ra một bản xếp hạng 13 nhà độc tài đẫm máu nhất thế kỉ 20, trong đó có Hồ Chí Minh. Theo báo nầy, trong 24 năm cầm quyền của mình, Hồ Chí Minh đã gây ra cái chết của 1,7 triệu người Việt qua cuộc chiến tranh đẫm máu. Chắc chắn sau khi chế độ CSVN sụp đổ, sẽ có tòa án xét xử các lãnh tụ CS như các tòa án ở Đông Âu.

    Trong khi chờ đợi thời khắc lịch sử sẽ đến, ngay từ bây giờ người Việt có thể thiết lập một tòa án lương tâm ở một trong ba nơi sau đây:

    1. Ở trong nước: rất khó thực hiện dưới sự đàn áp của CSVN.

    2. Ở hải ngoại. Có thể thực hiện được. Ban tổ chức phiên tòa sẽ mời tất cả các bên: 1) Bên phía những người phản đối Hồ Chí Minh và CSVN. 2) Phía nhà cầm quyền CS trong nước, hoặc những người ủng hộ CS, nhất là những người hay về nước giao lưu với CS. 3) Phía trung lập, vô cảm với tình trạng đất nước. Tòa án nầy có thể thiết lập được nếu có một tổ chức đứng ra lo liệu. Xin lưu ý đừng quyên tiền bạc vì việc quyên tiền bạc rất dễ làm mất uy tín phiên tòa và những nhân vật tham gia việc xét xử.

    3. Nếu hai nơi trên đây không tổ chức được, có thể nhờ một tạp chí, nhất là tạp chí điện tử, đứng ra tổ chức phiên tòa, gồm đầy đủ các thành phần của tòa án, thu thập và trình bày đầy hồ sơ từ các phía (phía chống cộng, phía cộng sản, phía trung lập), công bố đầy đủ tài liệu công khai trên báo chí, rồi cuối cùng mời độc giả bỏ phiếu cho ý kiến để kết luận.

    Quý vị độc giả nghĩ sao về sự thiết lập một tòa án lương tâm như thế

    (Toronto, 20-8-2016)

    © Trần Gia Phụng
    nguon

     

  5. Tình trạng nô lệ thực dân tại Việt Nam và Mã Lai ngày nay

    Tác giả: Michael Benge
    Nguyễn Trọng Dân – lược dịch

    Ảnh www.thehindu.com

    Trong cuộc họp của UB Đối Ngoại Thượng Viện Hoa Kỳ vào ngày 6 tháng Tám-giới Thượng Nghị Sĩ của lưỡng đảng đều chỉ trích Tổng Thống Obama về một điểm nguy hiểm của hiệp định “Thuơng Mại Châu Á – Thái Bình Dương ” gọi tắt là TPP- đó là dung dưỡng tình trạng nô lệ thực dân tại Mã Lai; tuy nhiên; sự lên án của Thượng Viện chỉ mới đúng có một nữa sự thật. Cộng đồng quốc tế đều lên án cả Việt Nam lẫn Mã Lai về tình trạng nô lệ thực dân đang xảy ra- thí dụ như Việt Nam đã cưỡng bức lao động khổ sai tù nhân tại các nông trường trồng hạt đều chẳng hạn- mà quốc tế gọi là “hạt điều máu”; cũng tàn nhẫn ngang bằng tình trạng lao động khổ sai tại các nông trường sản xuất dầu cọ ở Mã Lai. Thế mà hai quốc gia này, Việt Nam và Mã Lai, đang được bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ tán thuởng một cách hết sức khôi hài là “đang nỗ lực cải thiện nhân quyền hết mình”(?!) bất chấp một sự thật quá rõ là chính quyền ở hai quốc gia này vẫn đàn áp nhân quyền một cách công khai mỗi ngày.

    Đối với tình trạng lao động khổ sai theo kiểu thực dân tại các nông trường trồng hột điều ở Việt Nam, các tù nhân chính trị bị buộc phải lao động khổ sai trong điều kiện lao động nghiệt ngã bảy tiếng đồng hồ không nghĩ trong một ngày suốt cả tuần với ba dollar Mỹ tiền lương cho một ngày kéo dài năm này qua năm nọ, có khi lên đến bảy năm, dẫn đến tình trạng phạm nhân bị tàn phế, chấn thuơng, thậm chí bị mù cả mắt để có thể đem về cho đảng Cộng Sản Hà Nội một nguồn lợi nhuận xuất khẩu hạt điều sang Hoa Kỳ và nhiều thị trường khác lên đến 1,5 tỷ Mỹ kim mỗi năm!

    Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ hành xử chiều theo mưu tính cho quyền lợi chính trị trước mắt, loại bỏ nhiều quốc gia ra khỏi danh sách cấm vận để đảm bảo mưu đồ chính trị được thuận lợi mà không cần phải đắn đo kỹ lưỡng trước thực tế chà đạp nhân quyền tàn nhẫn ở các quốc gia này. Giống như người ta vẫn thường nói, “quốc gia dễ đổi, bản chất khó dời”, các chính phủ độc tài chà đạp nhân quyền một cách tàn nhẫn nay chỉ cần chà đạp quyền con người một cách khéo léo kín đáo hơn trước một chút là được, cũng như hạn chế thông tin và ngăn cấm giới báo chí đến tận nơi điều tra để đảm báo sự thật được giấu kín một cách an toàn cho chế độ. Quốc Hội Hoa Kỳ và các tổ chức Nhân quyền, vốn có trách nhiệm điều tra mọi sự vi phạm, vì thế không biết thật hư của tình trạng chà đạp nhân quyền ra sao, không có bằng chứng cụ thể để lên án sự chà đạp nên cứ thế mà họp báo cáo là mọi việc tốt đẹp, rồi bỏ qua nỗ lực giám sát các chế độ vi phạm nhân quyền tàn bạo này, tiến tới một sự tác cởi mở mà không biết thật tế, sự chà đạp nhân quyền ở các chế độ nà vẫn còn y nguyên, chẳng có gì thay đổi cả!

    Hai mươi năm qua quan hệ với Việt Nam; đưa ra biết bao nhiêu nỗ lực hỗ trợ kinh tế với kỳ vọng cao cho sự tiến bộ để rồi nay chỉ để đánh đổi lấy hết sự lường gạt này đến sự lường gạt khác cùng với những lời hứa suông dối trá và sự tàn bạo chà đạp nhân quyền một cách trắng trợn không ngưng tay từ chế độ Cộng Sản đang cầm quyền mà thôi! Đó là chưa kể các đảng viên và giới chóp bu của Cộng đảng cầm quyền thì tư lợi tham nhũng, bóc lộc lên chính nhân dân của họ một cách công khai tàn nhẫn để trở nên giàu to trong suốt thời gian hai mươi năm qua.

    Trên lãnh vực nhân quyền, Cộng Sản Hà Nội vẫn tiếp tục siết chặt bàn tay sắt để đối phó với những ai bày tỏ bất đồng chính kiến hay chỉ trích chế độ ở trên mạng, hay đối với những ai muốn có cải cách chính trị, muốn cải thiện sự tự do về tôn giáo tín ngưỡng bằng cách đưa ra các điều khoảng phạt tiền năng nề vô lý, xử án cầm tù rất bất công dã man có khi lên đến 17 năm, thậm chí, tiến tới cả hạ sát. Điều này cho thấy nhà cầm quyền Cộng Sản Hà Nội chẳng có đổi thay hay cải thiện một tí nào cả về Nhân quyền- dựa trên những bằng chứng điều tra mới nhất từ tổ chức Human Right Watch hay các tố chức phi chính phủ khác, cũng như từ chính báo cáo của bộ Ngoại Giao (Hoa Kỳ). Cộng Sản Hà Nội thật sự là xứng đáng với danh hiệu là:“Chế độ chà đạp nhân quyền tàn bạo nhất ở Đông Nam Á!”

    Đối sách luồn lách che giấu sự tàn bạo về nhân quyền của nhà cầm quyền Cộng Sản Hà Nội:

    Khi viếng thăm Hoa Kỳ, TBT của Cộng đảng là Nguyễn Phú Trọng, không những yêu cầu thúc đẩy TPP mà còn làm bộ đòi thêm tiền cho những tổn thất của chất độc “màu da cam” Chính phủ Hoa Kỳ đã tung hàng triệu dollar để làm sách những vùng ảnh huởng bởi loại hóa chất này trong thời gian chiến tranh. Trớ trêu thay, chính Cộng Sản Hà Nội lại là kẻ đem hoá chất này hay các loại hóa chất có ảnh hưởng tương tự rãi lên đất nước Campuchia xuyên suốt khu vực gọi là “Đường Mòn Hồ Chí Minh” để buộc nông dân Cao Miên phải rời bỏ khu vực này dựa trên tường trình gởi về Liên Hiệp Quốc gần đây.

    Bổn phận của Hoa Kỳ là phải lên tiếng mạnh mẽ để yêu cầu nhà cầm quyền Cộng Sản Hà Nội chấm dứt chà đạp tôn giáo, bãi bỏ cấm đoán báo chí truyền thông, tôn trọng quyền bài tỏ chính kiến, chấm dứt sự kiểm soát sách nhiểu những người bất đồng trên mạng để có đủ điều kiện tham gia vào TPP; thế nhưng mà dường như chính phủ Obama sẽ nhắm mắt làm ngơ trước những điều kiện tiên quyết này để có thể gia nhậ hiệp định TPP.

    Chính phủ Obama đang cố nhắm mắt làm ngơ tối đa nếu có thể được về mặt Nhân quyền đối với hai quốc gia Mã Lai và Việt Nam, đang ngày một vi phạm quyền con người một cách trắng trợn và dã man. Cộng Sản Hà Nội đang có triển vọng trở thành một lực lượng quân sự chủ yếu chống lại và ngăn cản bớt sự bành trướng của Trung Cộng tại biển Đông theo đối sách “lấy độc trị độc” của chính phủ Obama. Mã Lai thì lại nắm giữ eo biển Malacca rất then chốt để phong tỏa kinh tế Trung Cộng khi cần thiết với hơn 40% số lượng hàng hóa của thể giới theo đường hàng hải, đó là chưa kể một phần ba lượng dầu hỏa thiết nhập vào yếu cho nền kinh tế Trung Cộng, đều đi ngang qua nơi này.

    Câu hỏi đặt ra là “Thưa Tổng Thống Obama, vậy còn đồng minh chính yếu của chúng ta (tức Hoa Kỳ)- những người Việt Nam không Cộng Sản yêu chuộng Tự Do, thì chúng ta phải tính ra làm sao và như thế nào đây?”

    © Đàn Chim Việt (Bản tiếng Việt)
    nguon

    ———————————

    Michael Benge từng làm việc tại Việt Nam hơn 11 năm như là một quan sát viên nên ông rất am tường nhiều sự dối trá của nhà cầm quyền Cộng Sản Hà Nội. Ông cũng là một người hoạt động nhân quyền rất tích cực. Lối viết của ông hóm hĩnh nhưng vô cùng sắc bén, cứa thẳng vào chổ ung nhọt của chế độ Cộng Sản Hà Nội.

    nguon

     

  6. Mao: Tội phạm lớn nhất của lịch sử – Hơn Hitler hay Stalin

    *

    media
    Chân dung Mao Trạch Đông trước Thiên An Môn, 16/05/2016.REUTERS/Kim Kyung-Hoon

    Một tấm hình của Mao Trạch Đông màu đỏ máu chiếm trọn trang bìa với hàng tựa lớn « Mao, tội phạm lớn nhất lịch sử » : Tạp chí L’Obs tuần này (18-24/08/2016) đã không ngần ngại dành hồ sơ chính cho nhân vật lãnh đạo Trung Quốc đã khiến hàng chục triệu người dân của mình bị chết oan, nhưng ngày nay vẫn được chế độ Bắc Kinh tôn thờ. Điểm độc đáo trong hồ sơ của L’Obs chính là phần so sánh « tội ác » của Mao với hai nhà độc tài khét tiếng khác là Hitler và Stalin để đi đến kết luận : kẻ đứng đầu chính là Mao Trạch Đông.

    L’Obs đã dành hơn 10 trang trong cho hồ sơ Mao Trạch Đông, một mặt tổng kết di sản thực sự mà Mao để lại 40 năm sau khi qua đời, một mặt khác cũng tìm hiểu tại sao Trung Quốc ngày nay vẫn tôn thờ kẻ gây tội ác này. Bài viết nêu bối cảnh năm nay là kỷ niệm đúng 40 năm ngày người « Cầm Lái Vĩ Đại » qua đời (09/09/1976) và 50 năm Cách Mạng Văn Hóa.

    Stalin và Hitler còn thua xa Mao về số người bị thiệt mạng

    Trả lời phỏng vấn về tội ác của Mao, sử gia Frank Dikotter, giải thích với phóng viên của L’Obs là Mao đã lấy Stalin làm gương và không chỉ làm y như Stalin mà còn muốn vượt qua nhà độc tài Xô Viết, muốn vượt lên trên cả Lê Nin. Theo sử gia này thì Mao phải chịu trách nhiệm về cái chết của hơn 50 triệu người ở Trung Quốc.

    Nếu dựa trên số người tử vong thì Mao cùng với Hitler, là hai kẻ vô địch phạm tội ác. Hitler đã gây ra cái chết của 55 triệu người, nhưng con số đó bao gồm cả nạn nhân những vụ thảm sát (người Do Thái) lẫn những người đã nằm xuống trong cuộc Thế Chiến Thứ II. Trong lúc đó, ở Trung Quốc, Mao đã gây ra số tử vong tương đương, hơn 50 triệu, thậm chí còn hơn thế : Nạn đói mà Mao đã gây nên và để kéo dài suốt 3 năm từ 1959 đến 1962 đã làm 45 triệu người chết, cộng thêm với hàng triệu người khác trong các thời kỳ bạo lực khác – ít nhất 5 triệu nữa.

    Là tấm gương của Mao, nhưng Stalin vẫn còn thua xa Mao tính về số người bị hy sinh. So sánh 3 nhân vật này, Hitler, Mao và Stalin, sử gia Dikotter cho là điểm chung của họ là họ rất thông minh, không hề có cảm giác tội lỗi, có tài thao túng tuyệt đỉnh – cả con người lẫn tình thế.

    Mao đã noi gương Stalin như các cuộc thanh trừng cho thấy ngay từ lúc còn chiến tranh du kích trong những năm 1930 – tháng 12/1930 700 sĩ quan nổi dậy đã bị giết, từ 1942 đến 1944, 10.000 trí thức theo ông đến Diên An bị hành quyết. Mao còn lại muốn vượt qua Stalin và cả Lê Nin, tham vọng này của Mao đã dẫn đến hai thảm họa cho Trung Quốc, bước Đại Nhảy Vọt và cuộc Cách Mạng Văn Hóa. Mao thật ra muốn chứng tỏ cho thế giới thấy ông là lãnh đạo thật sự của khối xã hội chủ nghĩa, là thiên tài có tầm nhìn xa và thắng được chủ nghĩa tư bản.

    Phải nói là Mao đã đưa được 1/4 nhân loại đến với chủ nghĩa xã hội. Mao đã rất hãnh diện với thành tích này.

    Dùng bạo lực làm phương pháp củng cố quyền lực

    Các tài liệu lưu trữ của đảng Cộng Sản Trung Quốc được cho tham khảo gần đây, cho thấy là Mao đã chọn một chính sách bạo lực thật sự và triệt để làm phương pháp củng cố quyền lực.

    Một ví dụ cụ thể là cuộc cải cách ruộng đất bắt đầu ở Mãn Châu, từ năm 1947 – song song với cuộc chiến giànhchính quyền – và kết thúc năm 1952 : Với hơn một nửa nông dân làm chủ ruộng đất của họ, một phần khác thi chia nhau khai thác ruộng đất gia đình, chỉ khoảng 6% là thuê đất, không dễ dàng có đia chủ bóc lột dưới tay để nhân dân trút giận. Thế là đảng Cộng Sản đã « chế tạo ra » thành phần này, và kết quả là có 2 triệu người chết theo các báo cáo nội bộ của đảng.

    Trong thời kỳ chiến tranh chống Tưởng Giới Thạch, chính sách vây hãm thành phố của các tướng lãnh của Mao – dồn binh lính, dân chúng vào nạn đói, những ai bỏ chạy bị bắn tại chỗ – để buộc đối thủ đầu hàng, đã làm hàng trăm ngàn thường dân chết như ở Trường Xuân. Phương thức này cũng được áp dụng ở các thành phố khác như Bắc Kinh, Thượng Hải…

    Sau khi chiếm chính quyền, từ năm 1950, những cuộc thanh trừng tiếp diễn, Mao còn đưa ra quota về số người bị hành quyết 1/1000 hay hơn nếu cần thiết. Trong vòng một năm, có 2 triệu người bị hành quyết trước công chúng. Những cuộc thanh trừng về sau cũng không đếm xuể, cộng thêm nạn nhân nạn đói do sai lầm chính sách Đại Nhảy Vọt, cuộc Cách Mạng Văn Hóa… Mao đã để lại một hình ảnh thật đen tối.

    Mao vẫn là trụ cột của chế độ Tập Cận Bình

    Nhưng ngày nay Trung Quốc mặc dù đã thay đổi, hiện đại hóa, kinh tế phát triển nhảy vọt, trở nên nền kinh tế thứ nhì thế giới nhưng Mao, vẫn là một trụ cột của chế độ Tập Cận Bình.

    Để chứng minh Mao vẫn ngự trị trên đời sống Trung Quốc, phóng viên của l’Obs Pierre Haski đã nêu một số ví dụ đập mắt như hình ảnh Mao vẫn hiện diện khắp nơi, từ Quảng Trường Thiên An Môn cho đến các ngôi nhà ở thôn quê, ngay cả trên một số xe taxi. Lăng của Mao ở Thiên An Môn vẫn là nơi mà dân chúng, chính khách địa phương đều viếng thăm. Bài báo cũng trích lời của con trai một người từng là nạn nhân của Mao, giải thích : Khi nghe tin Mao qua đời, ông có cảm giác như « trời đang sập xuống ». Khác với Liên Xô thời hậu Stalin, Trung Quốc đã không « gột rửa dấu ấn của Mao ».

    L’Obs cũng nhắc lại vụ đấu đá tranh quyền với nhóm « tứ nhân bang », trong đó có Giang Thanh, vợ của Mao. Khi phe này bị dẹp, vào đầu năm 1981, người ta cứ tưởng rằng đó sẽ là một dịp lên án Mao, thế nhưng đã có một sự thỏa hiệp giữa phe gọi là theo chủ nghĩa Mao « mềm », bỏ bớt đi những khía cạnh thái quá, và phe theo chủ thuyết thực tiễn, đứng đầu là Đặng Tiểu Bình, đã bị Mao thanh trừng hai lần.

    Rốt cuộc trong Hội Nghị Toàn Thể Ban Chấp Hành Trung Ương lần thứ 6 vào tháng 6/1981, đảng Cộng Sản Trung Quốc đánh giá như sau về thành tích và sai lầm của Mao : 70% tích cực – 30% tiêu cực. Như vậy là dẹp qua một bên những sai lầm của người Cầm Lái Vĩ Đại. Những người còn sống sót của các thảm kịch chính trị đã được phục hồi sau năm 1976, nhưng không ai đặt lại vấn đề trách nhiệm các lãnh đaọ, điều này là cấm kỵ.

    Ém nhẹm tội ác của Mao để bảo vệ Đảng Cộng Sản

    Sử sách thì vẫn ca ngợi Mao, người đã mang lại lòng tự hào cho một đất nước chịu ô nhục trong hơn một thế kỷ. L’Obs nhận thấy là tính toán chính trị các lãnh đạo Trung Quốc trong những năm 1980, và tiếp tục đến hôm nay, là phải duy trì sự liên tục lịch sử với thời kỳ Cách Mạng, nhưng xóa nhòa những khía cạnh tiêu cực để bảo vệ tính chính đáng của đảng Cộng Sản.

    Từ 35 năm qua, hình ảnh hiền hòa của Mao Trạch Đông, « vị cha già dân tộc » vẫn được gìn giữ ở Trung Quốc, cho dù người dân không hề bị lừa và vẫn chỉ trích Mao khi nói chuyện riêng. Có điều trong thời đại mất phương hướng hiện nay trên mặt tư tưởng, và với thời gian đã xóa mờ các vết thương, người dân Trung Quốc đã tìm về người trong mắt họ đã bảo vệ người dân « bình thưòng » trước những kẻ mạnh. Nhiều người Trung Quốc cũng không hiểu tại sao người nước ngoài lại có ác cảm với Mao, xem cố lãnh đạo của họ như một kẻ độc tài ghê rợn.

    Tập Cận Bình hiện nay đã sử dụng phong cách Mao, những phương thức từ thời Mao như tôn thờ cá nhân, đàn áp ly khai. Thường ngày ông vẫn mặt âu phục, thắt cà vạt, nhưng trong lễ duyệt binh thì lại mặc áo cổ Mao. Phong cách Mao này được sử dụng để củng cố quyền lực của ông.

    Tập Cận Bình : Kẻ hủy diệt các “phe nhóm”

    Không hẹn mà gặp, Courrier International cũng chú ý đến đường lối của Tập Cận Bình được cho là mang nặng ảnh hưởng của Mao Trạch Đông. Dưới tựa đề « Tập Cận Bình, người triệt hạ các phe nhóm », tuần báo Pháp đã giới thiệu một bài phân tích trên mạng nanzao.com của tờ Nam Tảo, xuất bản tại Hồng Kông.

    Bài viết trở lại sự kiện ông Tập Cận Bình muốn triệt hạ Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Trung Quốc, mà một số biện pháp đã được Tân Hoa Xã nêu chi tiết vào đầu tháng 8 này : Cải tổ cơ cấu lãnh đạo ; giảm một nửa ngân sách năm nay ; có thể sắp đóng cửa một trường đại học do Đoàn Thanh Niên quản lý. Ủy Ban Kỷ Luật Trung Ương đã có những lời chỉ trích nghiêm khắc nhắm vào Đoàn Thanh Niên : Hành chánh quan liêu, phân biệt đối xử, kén chọn chủ nghĩa, quá chuộng vui chơi v.v…

    Nhiều quan sát viên cho rằng các lệch lạc của Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Trung Quốc là một cái gai trong mắt ông Tập Cận Bình, vì lẽ điều đó sẽ làm ảnh hưởng của Đoàn bị sa sút, không còn là con đường tiến thân chính của cán bộ trẻ trong Đảng, ít ra là trong tương lai trước mắt.

    Đối với tờ Nam Tảo, đằng sau việc uốn nắn hoạt động của Đoàn Thanh Niên, còn có mục tiêu diệt trừ các phe nhóm trong Đảng Cộng Sản Trung Quốc : Vào lúc Tập Cận Bình nỗ lực củng cố quyền lực trước Đại Hội Đảng lần thứ XIX vào năm tới, việc « cải tổ » Đoàn Thanh Niên – mà cựu chủ tịch Hồ Cẩm Đào đặc biệt chăm sóc – là một giai đoạn bắt buộc.

    Sau Đại Hội XIX, một ê kíp hoàn toàn mới sẽ lên lãnh đạo Trung Quốc, ngồi lại chỉ còn hai nhân vật Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường (mà người ta cũng chưa biết là sẽ còn trụ lại ở vị trí thủ tướng hay không). Ai cũng biết là Lý Khắc Cường bắt đầu con đường chính trị trong Đoàn Thanh Niên và được ông Hồ Cẩm Đào nâng đỡ.

    Tác giả bài viết nhắc lại là thời ông Hồ Cẩm Đào là thời vàng son của Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Trung Quốc, có ảnh hưởng tăng vọt, đông đảo cán bộ được đưa vào những vị trí quan trọng cấp quốc gia cũng như địa phương. Theo bài viết, ông Hồ Cẩm Đào đã dựa vào thế lực Đoàn Thanh Niên để chống lại « Bang Thượng Hải » của ông Giang Trạch Dân.

    Trước khi Tập Cận Bình lên nắm quyền, thì « bè lũ Đoàn Thanh Niên » và « Bang Thượng Hải » chi phối chính trường Trung Quốc. Nhưng với chiến dịch chống tham nhũng, Tập Cận Bình đã làm cho cả hai phe bị lung lay.

    Tập Cận Bình thuộc phe « Chiết Giang » hay « Thái Tử Đảng » ?

    Câu hỏi được tờ Nam Tảo đặt ra là ông Tập Cận Bình thuộc phe nhóm nào ? Với tư cách là cựu bí thư tỉnh ủy Chiết Giang, người ta nghĩ rằng Tập Cận Bình có thể cất nhắc người của tỉnh mình lên và lập nên nhóm Chiết Giang. Nhưng theo tờ báo, điều đó chưa thấy rõ, và phải chờ thêm xem lãnh đạo Trung Quốc sẽ chọn ai cho ê kíp cầm quyền trong năm năm sắp tới. Có điều là giống như Mao Trạch Đông, Tập Cận Bình có vẻ rất ghét tình trạng phe nhóm trong Đảng, nguồn gốc gây chia rẽ. Đây là điều mà ông thường nhấn mạnh trong các diễn văn của mình.

    Một ví dụ : Tập Cận Bình từng đảm trách nhiều chức vụ lãnh đạo trong suốt 17 năm tại tỉnh Phúc Kiến. Thế nhưng, trong ba năm trở lại đây, ông không hề cất nhắc một số lượng cán bộ đông đảo nào đến từ tỉnh đó. Tập Cận Bình cũng từng làm bí thư Chiết Giang và Thượng Hải. Nhưng thời gian ông làm việc ở đó qua ngắn để có thể đào tạo ra những người thân cận với mình.

    Còn phe « Thái Tử Đảng » mà Tập Cận Bình là một thành viên thì sao ? Theo tờ báo, khái niệm này rất rộng, và chưa có gì chứng tỏ rằng các « thái tử đảng » sẽ thực sự được đề bạt vào các chức vụ then chốt trong chính quyền hay trong Đảng.

    Có thể hiểu như thế nào về tình trạng như kể trên ? Theo tác giả bài viết, rất có thể là đối với Tập Cận Bình, một quân vương chuyên chế không cần đến hậu thuẫn của bất kỳ một phe nhóm nào.

    Nhật Hoàng muốn nghỉ hưu cũng không được !!!

    Về Châu Á, Courrier International còn nhìn sang Nhật Bản. Với một tựa đề hóm hỉnh, tờ báo khẳng định : « Nhật Hoàng không được quyền nghỉ ngơi ».

    Tuần báo Pháp đã trích dịch bài viết trên tờ báo Nhật Asahi Shimbun, phân tích thông điệp bất ngờ ngày 08/08/2016 vừa qua, trên truyền hình của hoàng đế Nhật Bản Akihito, 82 tuổi, nói đến ý của ông muốn nhường ngôi lại cho con trai của ông, thái tử Naruhito. Có điều Hiến Pháp Nhật cấm vị hoàng đế rút lui như thế.

    Bài báo một mặt ca ngợi Nhật Hoàng đã có ý thức sâu rộng về trách nhiệm của mình, khi nêu lên vấn đề sức khỏe của ông có thể suy sụp nghiêm trọng hơn, gây ra ảnh hưởng không tốt, nhưng một mặt khác lại chỉ trích giới chính trị Nhật thụ động và bất cẩn, dẫn đến tình trạng ngày nay. Theo bài báo, ai cũng thấy rõ gánh nặng đè lên vai một vị hoàng đế cao niên, ngày càng yếu sức, trong lúc những người trong hoàng tộc có thể hỗ trợ cho ông ngày càng ít đi. Điểm này cũng rất đáng lo ngại.

    Nếu những thủ tướng trước đây như ông Koizumi hay Noda đều quan tâm đến hoàng gia, nêu lên những vấn đề cụ thể như nghiên cứu xem một phụ nữ có thể lên ngôi hay không chẳng hạn, thì đương kim thủ tướng Abe hầu như không làm gì cả. Thông điệp của hoàng đế là một lời cảnh báo nghiêm trọng, không biết là thủ tướng Nhật có ý thức được vấn đề và tìm ra giải đáp hay không.

    Theo bài báo, giải pháp dựa trên các cuộc thảo luận ở Quốc Hội về quy chế biểu tượng của hoàng đế, và đã đến lúc phải thảo luận một cách nghiêm chỉnh. Bài báo cũng nhìn thấy là trong một nước Nhật ngày càng già đi, dư luận rất thông cảm với hoàng đế, vì thế việc cho là một hoàng đế phải ngồi trên ngôi cho đến lúc chết sẽ đi ngược lại với dư luận. Cũng như thế, phớt lờ nguyện vọng của hoàng đế vì cho là vấn đề nhân quyền không áp dụng đối với ông, ông không được phép hành động theo ý của mình, điều đó sẽ khó được dư luận chấp nhận.

    Trong phần kết luận bài báo cho là phải tổ chức thảo luân một cách cụ thể trên giải pháp tốt nhất để đạt được đồng thuận trong dư luận, đồng thời phải suy nghĩ về tương lai hoàng gia.

    Trang bìa các tạp chí khác

    Tạp chí L’Express, tuy trang đầu vẫn dành cho thời sự trước mắt với việc cựu tổng thống Pháp Sarkozy quyết tâm « tái chinh phục » lòng dân và quyền lực, nhưng cũng đã xoay nhìn về quá khứ với hai hồ sơ lớn trang trong : « Số phận Sa Hoàng », và nghi án Malthide Carré, nữ điệp viên Pháp thời Đệ Nhị Thế Chiến. Là một gương mặt có trọng lượng trong mạng lưới gián điệp Pháp, cuối cùng bà đã bị Đức mua chuộc vào năm 1941, và câu hỏi dai dẳng đến nay là phải chăng bà là đầu mối việc hệ thống tình báo Đồng Minh bị phá hủy.

    Le Point, cũng như đồng nghiệp L’Express, dành trang bìa cho sân khấu chính trị Pháp, nói lên tâm sự của đương kim tổng thống Hollande dưới tựa đề « Lời thú nhận » : Nếu không thành công trong việc tái đắc cử thì ông rời bỏ chính trị. Tuy nhiên, ở trang trong, tạp chí cũng đã dành 4 trang cho thỏa thuận Evian năm 1962, về chiến tranh Algérie.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s