Tháng Tư Đen – Bí Mật ?

18tiecthug

THÁNG TƯ NGHIỆT NGÃ (Olivier Todd – Dương Hiếu Nghĩa dịch): Chương 1…5

Chương 1

Hà Nội – Sài Gòn : 1789 km

Ngày 1 tháng giêng 1975,

Vào khoảng 6 giờ, giờ Saigon, ngày 1/1/75 (theo âm lịch Việt Nam, năm Dần, tháng Sửu, giờ Mẹo) 19 quả đạn pháo sản xuất từ Liên Xô, được rót vào tỉnh Biên Hòa, một thành phố nằm về hướng Bắc của Saigon chừng 20 kms. Một quả pháo rơi trúng vào mái nhà tranh của anh Nguyễn văn Bé. Anh chết ngay tức khắc. Là một thanh niên mới 16 tuổi, anh Bé là một thường dân đầu tiên bị pháo kích chết trong năm 1975 ở Miền Nam Việt Nam. Anh Bé ước mơ sẽ là một kỹ sư hóa học….

Trên nguyên tắc, kể từ ngày 27 tháng giêng năm 1973, đúng 0 giờ GMT, thì “Hiệp Định Ba Lê về ngừng bắn và tái lập hòa bình ở Việt Nam ” bắt đầu có hiệu lực và Hai Bên phải ngừng bắn.

Theo thống kê đứng đắn của Tòa Đại sứ Hoa Kỳ thì trong năm 1974, đã có 14.000 binh sĩ Miền Nam và 7000 thường dân tử thương vì các hoạt động quân sự. Về phía Bắc Việt người ta đếm được 57.000 chết trận và một số xác chết khác nữa trong thời gian ngừng bắn giả hiệu nầy.

Ngày hôm đó, Tòa Đại sứ Hoa Kỳ (nằm sát vách Tòa Đại sứ Pháp), đã không nhận được một công điện nào quan trọng từ Nhà Trắng (Tổng Thống) cũng như từ Bộ Ngoại Giao. Ông bà Tổng Thống Gerald Ford thì đang nô đùa với tuyết chung quanh một lâu đài ở dảy núi Rocheuses. Còn ông Tổng Trưởng ngoại giao Kissenger thì cùng ông Phó Tổng Thống Nelson Rockefeller đang nghỉ mát ở vùng nắng ấm Porto Rico.

Trên lầu một của Toà Đại sứ Mỹ ở Saigon các viên chức ngoại giao thuộc phòng chánh trị cũng như các nhân viên thuộc phòng tình báo (CIA) ở từng trên cùng, đang phân vân. Người thì đoán là năm nay có thể được yên tĩnh, người thì lo ngại. Hồi tháng chạp, phúc trình của phòng nhì đã ước tính tình hình rõ rệt lắm rồi: “lực lượng quân sự của cộng sản ở Miền Nam mạnh hơn bao giờ hết. Ước tính có thể cộng sản sẽ tung một phần của lực lượng trừ bị chiến lược của họ để thọc vào những yếu điểm chính trong hệ thống diện địa của Miền Nam . Và không biết chừng cộng sản cũng có thể sẽ chuyển qua thế tổng tấn công.” Dành cho những người có tư tưởng chủ bại !

Bản phúc trình giải thích tiếp : Cân nhắc kỹ lại thì chúng tôi nghĩ là họ sẽ không làm thế đâu. Hà Nội thích tìm mục tiêu trong mùa khô ráo để tấn công trên cả hai mặt chánh trị và quân sự để tránh nguy cơ có thể gây tổn thất cho cuộc tổng tấn công.” Dành cho những người lạc quan!

Những sự phân tách của nhóm tình báo nầy căn cứ trên nhiều yếu tố, nhất là yếu tố thời gian. Từ nhiều thế kỷ, ở Việt Nam những trận chiến có tính cách quyết định thường được tiến hành trước mùa mưa. Bắt đầu từ tháng 5 dương lịch. Lúc đó ở vùng Cao Nguyên nước chảy mạnh với những con suối đầy nước. Đất ở vùng rừng trở nên sốp, còn ruộng ở đồng bằng thì ngập nước, nên các xe vận tải, pháo binh, chiến xa đều bị lún sình khó di chuyển được . Trên trời thì mây đen dày đặc trực thăng thường khó bay và nhất là phi cơ. Đất, nước và không gian liên kết với nhau khiến cho con người khó mà di chuyển và chiến đấu. Mùa mưa thường giúp cho địch quân có thì giờ ngơi nghỉ lấy sức lại. Ba chục năm đánh nhau người anh em cộng sản không tôn trọng giờ ngủ nghỉ gì hết nhưng bên nào cũng cúi đầu trước mùa mưa.

Anh Patrick Hays người Bắc Phi (Algerie) cao 1m 86, tóc húi ngắn, mắt trong xanh là một thiếu úy xuất thân từ trường võ bị Saint Cyr (Pháp), thuộc binh chủng nhảy dù; Anh còn nhớ mãi thời anh còn phục vụ ở trung đoàn I nhảy dù. 12 năm trước anh là phụ tá cho một đồn điền cao su ở Việt Nam , bây giờ thì anh điều khiển cả hệ thống điều hành của hãng Michelin. Vợ anh là một người Việt Nam và là một ngôi sao của đài truyền hình. Anh nói thông thạo tiếng Việt, và thường đi công tác xuống các tỉnh, do vậy mà anh biết rất nhiều tin tức. Với số vốn hiểu biết và bản chất sáng suốt của nhà báo hay nhà ngoại giao, anh là một mật báo viên của tình báo Pháp (SDECC), một việc làm dễ dàng mà anh vừa làm vừa chơi ! Cách đây mấy hôm, Hays không liên lạc vô tuyến được với một đồn điền nhỏ nhất của Michelin ở tỉnh Phước Long, cách Sai Gòn trên 100 kms, một đồn điền cao su rộng 3000 mẫu tây với 1.400000 cây cao su và 500 nhân công. Hays nói là Việt Cộng đã chiếm được 2 đồn trên đường 311, phía Nam của đồn điền nầy và cũng ở về phía Nam của tỉnh lỵ Phước Bình.

Vào trung tuần tháng chạp, Hays đã gặp và trò chuyện rất lâu với quận trưởng sở tại và quản lý đồn điền nầy. Họ đều nói ở đó không có Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam mà có sự chuyển quân quy mô của bộ đội Bắc Việt .

Tại văn phòng của anh gần Câu lạc Bộ thể thao Saigon (mà anh là tổng thơ ký),Anh nhận xét: ” Rất có thể là cộng sản tấn công vào các vị trí yếu nhất của quận Phước Bình để có được một đường bay cho vận tải cơ loại nặng. Một phần vì vướng 25.000 dân tại đó nên việc phòng thủ ở đây trở nên khó khăn, phần khác thì phương tiện của chánh phủ yếu kém hơn hồi 1972.”

Không phải lần đầu tiên mà một tiền đồn bị thất thủ. Đôi khi sự liên lạc với đồn điền cũng bị gián đoạn, nhưng quản lý người Việt lai Tàu ở đây khôn khéo lắm, rồi cũng nối lại được thôi!

Một phần của tỉnh Phước Long nằm sát biên giới Cam Bốt đã bị mất và về đêm thì cộng sản có mặt, ban ngày thì chánh phủ Saigon kiểm soát. Phải gan lì lắm ! Chúng ta hãy xếp loại biến cố nhỏ nầy vào một khung cảnh chung. Việt Nam dạy cho chúng tôi đừng bao giờ ngã lòng. Đối với anh Hays, sau khi Hiệp Định Paris 1973 được ký có nhiều hy vọng là đời sống ở Miền Nam Việt Nam có thể tốt hơn. Nếu Bắc Việt toan tính đi xa hơn thì Hoa Kỳ sẽ gởi cho họ pháo đài bay B.52. Hays thấy là từ năm 1970 Miền Nam coi như đã thắng rồi. Trước đó thì trong tỉnh còn “kháng chiến quân” nhiều lắm. Đến năm 1971 thì gần như không còn mống nào, người ta đi lại tự do hơn trên lộ. Nhưng từ đó lần lần tình hình xuống cấp trở lại. Bây giờ muốn đi về Saigon, Hays phải đưa đoàn xe chở mủ đi vòng lên hướng Bắc qua ngã Ban mê Thuột, một đoạn đường vòng 1000 kms. Vì đoàn xe nầy chỉ đi thẳng đến Saigon khi nào đường đã được mở rồi (thường thì hành quân cấp tiểu đoàn để “mở đường” ).

Ông Nguyễn văn Thiệu, Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa thường tiếp khách tại Dinh Độc Lập, một dinh thự thường thôi nhưng đầy đủ tiện nghi và kiến trúc theo kiểu hiện đại. Ông Agustini Manglia, Đại Sứ Phi luật Tân, niên trưởng ngoại giao đoàn phát biểu:

-” Bây giờ thì thấy có vẻ lạc quan hơn. Một cuộc dàn xếp chấp nhận được, hướng tương lai… về một chân trời mới.”

Cử tọa gục gặt đầu đồng ý, tán thành.

Tháng nầy nhà ngoại giao Ba Tư chủ tọa “Ủy Ban Quốc Tế Kiểm Soát và Theo Dõi” việc thi hành Hiệp Định Paris. (gọi tắt là CICS). Ông thấy không yên tâm lắm :

“- Tôi hy vọng Hiệp Định Paris sẽ được thực thi”

Cử tọa cũng gục gật đầu ra vẻ tin tưởng như vậy.

Những quân nhân Ba Tư, Nam Dương, Ba Lan và Hung gia Lợi trong Ủy Ban Quốc Tế CICS có nhiệm vụ kiểm tra các vụ vi phạm lệnh ngưng bắn. Họ thừa biết là bộ đội Miền Bắc cũng như quân lực Miền Nam đều ít thi hành điều 2 về ngừng bắn hơn hầu hết 23 điều khác của Hiệp Định Paris 1973. Hai Bên đều có ý hành động thăm dò nhau. Người ta “giành dân lấn đất” nhau, người ta mất đi , chiếm lại từng thôn ấp, từng thửa ruộng. Dầu sao thì các trận đánh nhau cũng còn ở mức độ “chấp nhận được”. Trước hết là từ phía Hoa Kỳ: họ không còn một người lính tác chiến nào ở Việt Nam nữa.

Tại Saigon cũng vậy, ngay trong ngày Hiệp Định có hiệu lực , đúng là yên tịnh. Không có một vụ ám sát nào, cũng không có pháo kích. Khách du lịch đến Việt Nam bằng các chuyến bay của hãng Air France, Thái International, hay Cathay Pacific. Airways … vì một tuần lể hạ giá của Hàng Không Việt Nam. Với 27.000 đồng Việt Nam người ta có thể bay đến Dalat, một thành phố đẹp với khí hậu mát mẻ. Trường đua ngựa ở Phú Thọ với chương trình 8 cuộc đua, ngựa được ưa thích nhất là con Phương Dung ! Mười ngày trước đó người ta khánh thành một tiệm ăn sang trọng: tiệm New Carina. Saigon không có không khí chiến tranh !

Dân Saigon ăn nhậu, nhảy đầm, nhưng không vào hộp đêm “Quốc Tế” được vì đang đóng cửa để sửa chửa. Cáo lỗi của chủ nhân đã được đăng trên tờ “Saigon Post”, một nhật báo tiếng Anh, hình như có trợ cấp của CIA (Mỹ): “chúng tôi đang trang trí lại và đổi một số máy điều hòa không khí”. Có nhiều đầu tư trong thủ đô Sai Gòn. Tại Tòa Đại sứ Hoa Kỳ, người ta bàn cải về địa điểm của một khách sạn hạng sang sấp được xây cất: khách sạn Hyatt .

Tại câu lạc bộ của CIA, ở khách sạn “Công Tước” (Duc), người ta ngồi ở các bàn nhỏ để dùng cơm tối. Trong số quan khách người ta thấy có ông Graham Martin, Đại sứ Hoa Kỳ, và các vị đồng nghiệp của ông , ông Nara (Nhật Bản), và ông Aran (Do Thái) Lý thú thiệt ! gần như có một sự chơi chữ ở đây : A-R-A-N, N-A-R-A ! Người ta cũng thấy có ông Thomas Polgar, trưởng lưới CIA ở Việt Nam, một phòng tình báo lớn nhất trên thế giới, và ông Frank Snepp, một phân tích gia có hạng của Trung Ương Tình Báo ở đây. Người ta nói với nhau về kinh tế, về nền kinh tế vững mạnh của Miền Nam Việt Nam, không cần có sự tăng gíá dầu.

Trong mục “quan điểm” của tờ Sóng Thần, báo hằng ngày, tác giả viết : ” 1975, năm bầu cử Tổng Thống, bằng cách nầy hay cách khác, guồng máy lãnh đạo cần phải được cải tiến nhiều hơn…”

người ta bình luận một vài sự việc khác:

” đại úy Lê văn Ngà thuộc đơn vị công vụ, đã bắn vào đầu tự sát, để lại một bức thơ cho Tổng Thống Thiệu, để bênh vực cho mục tiêu đấu tranh của Phật Giáo. Theo lời của một phát nhôn viên quân đội thì đại úy nầy đã hành động hoàn toàn vì lý do tôn giáo. Vì Đại úy Phật Giáo vừa qua tỏ ý tiếc là : – “người ta không cố gắng trong hành động hòa giải quốc gia, một điều mà Hiệp Định Paris đã có dự trù.”

Phần lớn dân chúng không ăn mừng ngày Tết dương lịch. Ngày Tết Việt Nam rơi vào tháng 2 dương lịch. Những người thuộc giới trung lưu trưởng giả thường theo người Tây Phương, Pháp hay Mỹ, ăn Tết dương lịch (1tháng giêng) nhưng không ầm ỉ linh đình như người Mỹ, người Pháp, Ba Lan, hay Hung gia Lợi đang có nhiệm vụ ở Việt Nam. Họ chỉ họp nhau và chuyện trò với nhau thôi, bọn trẻ thì nghe ca nhạc (dĩa), và phần đông giới trẻ thích nghe nhạc bình dân của Trịnh côn Sơn..

Đối diện với khách sạn Continental là quán cà phê Givral. Hôm nay có 3 người ngồi thưởng thức café, 3 người mà giới báo chí thường gọi họ là “3 chàng ngự lâm pháo thủ”. Đó là ông M. Vượng đẹp trai; ông Phạm xuân Ẩn một nhân viên toàn thời của báo Times, một nhà báo Việt Nam duy nhất lãnh lương Mỹ, rất thạo tin và đáng kính nể; ông thứ ba là ông Cao Giao, thỉnh thoảng viết cho tờ Newsweek, người có chòm râu càm giông giống hàm râu của Hồ chí Minh. Họ hỏi nhau. Cao Giao nói:

– ” Người anh họ của bạn tôi làm việc tại đồn điền Michelin, quả quyết là Bắc Việt có xe tăng, loại T.72 và T.54″

Ông Ẩn tỏ ý nghi ngờ:

– ” Tôi tin là cộng sản chuẩn bị một cuộc tấn công vào Tây Ninh”

Tây Ninh là nơi có Thánh Thất của đạo Cao Đài . Họ thờ Victor Hugo và Tôn Dật Tiên chung với những ông Thánh khác trong một ngôi đền đủ màu sắc trang trí hết sức rực rỡ và rườm rà.

Cách Saigon 3000 cây số, trên đảo Okinawa (Nhật) nằm giữa Đài Loan và Nhật Bản, đại úy Cyril Moyer đang buồn bực.

Là một sĩ quan Thủy quân lục chiến, 30 tuổi, đặc trách coi về tiếp vận, đại úy Moyer lo huấn luyện tân binh tại trại Lejeune. Vợ con anh ta đều ở tại Jacksonville (tiểu bang Bắc Carolina, Hoa Kỳ). Binh đoàn Thủy quân tiết kiệm ngân sách, nên gia đình sĩ quan không được theo chồng. 30 tháng trên đảo Okinawa không có gì vui. Chỉ có những trại lính, một căn cứ không quân và những cơ sở của hải cảng. Khi người lính sống xa gia đình thì hay sanh ra lắm tật, rượu chè, dại gái hoặc mê đạo, Moyer nghĩ như vậy. Để không cho mình rổi rảnh, Moyer theo một khóa đại học giống như các sĩ quan ở đây. Anh theo ngành phân tách, như nhiều người đã theo học ở đây. Nếu tiểu đoàn 7 Truyền tin của anh tham gia vào cuộc tập trận dự trù vào tháng 2 nầy ở vùng Phi luật Tân, thì anh sẽ nghỉ học. Việt Nam không nằm trong dự kiến của anh, bộ phận 150 thủy quân lục chiến bảo vệ Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ ở Saigon anh cũng không thích.

Đại úy Moyer huấn luyện lính của anh, anh “gạo” bài học của anh. Ở phạn điếm người ta nói là cuộc tập trận có thể dời lại đến tháng 3.

Tại Hoa thạnh Đốn, cách Saigon 22.000 cây số, Nhà Trắng ban hành luật S.3418 nhằm bảo vệ đời sống riêng tư của người dân.

Ông Gerald Ford đã trở thành Tổng Thống sau khi Richard Nixon từ nhiệm vì vụ tai tiếng Water Gate năm tháng trước đó, (tháng 8/1974). Tổng Thống Ford thừa kế một di sản kinh tế èo uột, với lạm phát và mức lời quá cao, thị trường chứng khoán bấp bênh và đội quân thất nghiệp lên đến 5 triệu người .

Vấn đề Việt Nam nằm trong lãnh vực gần như riêng thuộc Tổng trưởng ngoại giao, Kissenger.

Vào đầu năm nay, người ta lo ngại về những hoạt động bất hợp pháp của cơ quan CIA. Cơ quan nầy đã có dự tính ám sát Fidel Castro, trong thập niên 60. Cơ quan nầy không có quyền hành sự trên đất Hoa Kỳ. Nhưng họ đã thành lập 10.000 hồ sơ của công dân Hoa Kỳ. Họ đã thực hiện sự “giám sát điện tử” để nghe lén đường dây điện thoại. Họ cũng đã lục lọi các thư từ cá nhân. Những sự việc đáng nghi ngờ, những “đồ quý giá của gia đình” CIA nầy các nhà báo thích lắm, nhưng các độc giả và thính giả truyền hình thì không. Trong văn phòng Bầu Dục, Tổng Thống thường tiếp ông William Colby, vị Giám đốc CIA, một người thông minh có bộ mặt của một mục sư, tốt nghiệp trường Princeton, anh hùng đệ nhị thế chiến. Ông Colby dùng thì giờ để giải thích về khuôn khổ làm việc của nhân viên CIA hơn là phân tích tình hình ở Việt Nam. Tổng Thống Ford thì chú ý nhiều về những gì thuộc về “hậu Watergate” hơn là tình hình Việt Nam. Ông ta có ý muốn tháo gỡ ngòi nổ của vụ tai tiếng Watergate để ân xá cho Nixon. Tuần nầy qua tuần khác, thủ đô Hoa Kỳ như bị dán chặt vào vụ Watergate tai tiếng nầy. Sau 15 giờ nghị án, một bồi thẩm đoàn đã tuyên bố là “3 cựu cộng sự viên của Nixon đều phạm pháp vì đã chung sức âm mưu ngăn trở sự tiến hành của tư pháp” . Đó là các ông John Ehrlichman, Bob Halderman, và John Mitchell”

Bị các nhà báo, các dân biểu và nghị sĩ của lưỡng viện quốc hội chất vấn, Tổng Thống Ford không bao giờ chú tâm đến những bài toán của nước Việt Nam xa xôi. Để điều tra về hành động của CIA, ông ta chỉ định một ủy ban làm việc với Phó Tổng Thống Nelson Rockefeller. Ông Ronald Reagan, vừa mãn nhiệm thống đốc tiểu bang California tham gia vao ủy ban nầy.

Những phúc trình của các cơ quan tình báo thường được viết lại, cô động lại đến thường mất hết độ trung thực, rồi mới được đến tay Tổng Thống dưới dạng một bản phân tách.

Có rất nhiều phúc trình và nhiều cơ quan cạnh tranh nhau .

Cơ quan CIA (Trung Ương Tình Báo) thì báo cáo cho Nhà Trắng và Hội Đồng An Ninh Quốc Gia; cho Bộ Trưởng Quốc Phòng, không thuận lắm với Kissinger, và cho các Tham Mưu Trưởng ở Ngũ Giác Đài.

Mỗi quân chủng Không Quân, Hải Quân, Lục Quân và Thủy Quân Lục Chiến mỗi nơi đều có cơ qua sưu tầm tin tức riêng của mình.

Phía Ngoại Giao cũng có cơ quan tình báo nhưng chuyên về chánh trị. Công tác giải mã và đón nghe các đường thông tin liên lạc vô tuyến của địch hay của cả đồng minh đều tùy thuộc Bộ Trưởng Quốc Phòng.

Tất cả các cơ quan nầy trên nguyên tắc đều trực thuộc vào vị Giám Đốc Trung Ương Tình Báo của Liên Bang, và tất cả đều gởi về đây bản phân tách tình hình. Bản phúc trình sau cùng mà Tổng Thống Ford đọc được , nó vừa mơ hồ vừa dè dặt. Không có gì có thể gọi là báo động hết: ” Cân nhắc kỹ”, thi không thấy Bắc Việt sẽ mở cuộc tấn công lớn.”

Tại Hoa Thạnh Đốn, không có một người nào chú ý đến công điện của ông Wolfgang Lehmann, cố vấn ngoại giao, nhân vật thứ nhì trong Tòa Đại sứ Hoa Kỳ tại Saigon. Ông Lehmann nhấn mạnh đến sự hiện diện của tướng Viktor Kulikov ở Hà Nội vào tháng chạp. Tướng Kulikov là phụ tá tổng trưởng quốc phòng của Liên Xô.

Ông Lehmann không nghĩ rằng vị tướng Xô Viết nầy đi dạo chơi ở thủ đô Bắc Việt chỉ với nhiệm vụ đại diện cho Liên Xô nhơn dịp kỷ niệm 30 năm thành lập của Quân Đội Nhân Dân Bắc Việt : “Cũng không phải tướng Kulikov dùng hết thì giờ của ông ta để hát nhạc Giáng Sinh. Tại Miền Nam lúc bấy giờ con số bộ đội chết và bị thương cao gần bằng con số trung bình hằng ngày trong thời gian trước và trong cuộc tấn công năm 1972 ..”

Ông Lehmann nhắc lại là ” Phó tổng trưởng quốc phòng Liên xô Pavel Patitsky là người trực tiếp điều khiển dàn cao xạ phòng không ở Hà Nội, một tuần lễ trước ngày Bắc Việt mở cuộc tấn công mùa xuân năm 1972. ” Lúc đó Bắc Việt thất bại trong cuộc tấn công quy mô nầy. ” Công điện của cố vấn ngoại giao Lehmann được xếp loại “Kín”, vì thế nó cứ nằm kín mãi trong tủ hồ sơ thôi!

Một nhân viên khác của Tòa Đại sứ không bằng lòng cái lối đánh giá tình hình Việt Nam của Hoa thạnh Đốn. Ông Thomas Polgar, trưởng cơ quan Tình Báo CIA tại Saigon đã đọc bản lượng giá trong phúc trình tháng chạp. Theo ông thì những phân tích gia ở Hoa thạnh Đốn không “nằm trong chăn” , nên họ cứ nghĩ là cuộc tấn công của Bắc Việt sẽ kéo dài theo “kiểu chiến cuộc hồi năm 1914” , tức là trước hết phải tiến quân xuyên qua vùng phi quân sự trên vĩ tuyến 17 : “chúng tôi thấy các phân tích gia vì muốn có một sự quân bình trong nhận xét, nên đánh giá thấp tiềm năng và từ đó khả năng thực sự của cộng sản về cường độ hoạt động của họ trong những tháng sắp tới.” Ông Polgar nhấn mạnh tiếp: không có một lý do nào để tin rằng cuộc tấn công quan trọng sắp tới của cộng sản sẽ giống như hồi năm 1972… Có nhiều chỉ dấu cho thấy là sẽ có một cuộc hành quân đại quy mô.” Polgar căn cứ trên những sự tập trung của bộ đội Bắc Việt trên đường mòn Hồ chí Minh và những lời khai của tù binh Bắc Việt.

Tại Hoa thạnh Đốn, người ta đặt giả thuyết là Bắc Việt sẽ mở các cuộc tấn công quan trọng trong năm 1975 vì năm 75 là năm bầu cử Tổng Thống ở Hoa Kỳ. Hai cuộc tấn công lớn của Hà Nội năm 1963 và 1972 hình như chứng minh được quy luật bất thành văn của chiến lược chánh trị quân sự của cộng sản.

Ý kiến nầy cũng là ý kiến của Bộ Ngoại Giao. Ở từng lầu thứ bảy của Kissinger, giống như các cố vấn của Tổng trưởng, ông Douglas Pike cũng nghĩ là trong những tháng sắp tới, Bắc Việt chỉ tung ra những cuộc tấn công có giới hạn. “Trận giặc cắm cờ” sẽ tiếp diễn : Miền Nam sẽ cắm cờ vàng sọc đỏ của họ trong đồng quê, còn cộng sản thì cắm cờ xanh đỏ của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam lên các xã, ấp. Trò chơi đổ máu độc ác nầy cứ kéo dài từ sau ngày ký kết Hiệp Định Paris.

Kissinger không lo ngại lắm. Còn nhiều bài toán nghiêm trọng hơn đang cần đến sự quan tâm của ông . Trong sáu tháng qua, ông thật sự bận rộn với Trung Đông và nền hòa bình quá bấp bênh ở đó từ sau cuộc chiến của Kippour. Người Á Rập đang chạy đua vũ trang. Đối với Do Thái thì phải có sự chấp thuận của Quốc Hội mới có được máy bay và hỏa tiễn. Kissinger còn phải làm trung gian hòa giải giữa người Hy lạp và người Thổ nhĩ Kỳ về chủ quyền của đảo Chypre. Ông còn phải lo giữ sự đoàn kết luôn luôn là mối đe dọa khối Bắc Đại Tây Dương (OTAN). Ông không tin là Miền Nam sẽ sụp đổ trong năm 1975.

Kissinger luôn luôn nhắc nhở cộng sự viên của ông là Tổng Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ mỗi ngày theo sát và đối phó với 4 việc ưu tiên : (1) là chiến tranh bất thần với Liên Xô. (2)các nguồn năng lượng, và các ống dẫn dầu (3) sự phát triển nguyên tử (4) các điểm nóng không dự kiến được .

Việt Nam không nằm trong danh sách “ưu tiên”

Kissinger tin chắc rằng cả Liên Xô và Trung Cộng không ai có lợi gì để cho cuộc chiến tranh tiếp diễn khốc liệt hơn ở Việt Nam. Ở đây chỉ là chiến tranh loại gậm nhắm kiểu âm ỉ của đám lửa sấp tàn chớ không phải chiến tranh loại bộc phát kiểu lửa ngọn bùng cao… Theo tiếng lóng của các nhà chánh trị thì cuộc tranh chấp vẫn được giữ ở “cường độ thấp” . Liên Xô muốn có thư giản trước cuộc chiến nhỏ bé và khốn khổ nầy. Leonid Brejnev vừa hủy bỏ chuyến viếng thăm Ai Cập vì không được khỏe. Còn Trung Cộng thì không muốn có một nước Việt Nam thống nhất, hùng mạnh ở sát biên giới phía Nam của mình. Tổng kết cuối năm 1974, Tân Hoa xã cho thấy quan điểm của lãnh đạo Bắc Kinh là “quan tâm thực sự đến Âu Châu “miếng thịt béo bở ” mà hai siêu cường đang tranh nhau. Trong các chuyến viếng thăm Bắc Kinh, Kissenger không thấy Trung Quốc có một chút lợi lộc thật sự nào đối với người Việt Nam.

Kissinger nói “16 hay 18 giờ mỗi ngày là quá đủ để theo sát tất cả những gì liên quan đến 4 bài toán căn bản đó.” Đã có những cơ quan, và những nhóm nghiên cứu lo phần còn lại .

Ở vùng Đông Nam Á, lúc nầy là phải chú tâm lo cho tình hình Cam Bốt. Lực lượng Khmers đỏ đang tiến gần đến thủ đô Phnom Penh. Người ta không thể theo sông Mékong để đến Phnom Penh được . Chuyện đó mới đáng phải quan ngại. Không nên tự động gắn liền cuộc chiến ở Cam Bốt với Việt Nam. Mối giao hảo giữa cộng sản Bắc Việt và Khmers đỏ đã không được khắng khít lắm mà còn có vẻ khó khăn nữa, như Nguyen đưc Cuc đặc phái viên liên lạc với Khmers đỏ đã tiết lộ với giới ngoại giao ở Hà Nội . Trong tình hình quốc tế hiện tại, cộng sản Bắc Việt không có lợi gì để phiêu lưu trong những cuộc hành quân đại quy mô, mặc dầu mục tiêu cuối cùng của họ vẫn là thống nhất hai miền Nam Bắc. Kissinger không bao giờ tin như vậy.

Luận cứ của Hà Nội còn phức tạp hơn luận cứ của Kremlin hay của Bắc Kinh.

Ở vùng ngoại ô Hà Nội , bên lề quốc lộ 1, có một “cột cây số” cũ kỹ màu trắng và đỏ mà không một người Pháp nào có thể quên: “Sai Gòn 1789 kms” .

Tại Hà Nội khí hậu khắc nghiệt hơn Saigon . Ngày 1 tháng giêng nầy trời lạnh. Kiều xuân Tiến 22 tuổi đi xem chiếu bóng ở Hai Bà Trưng, bên cạnh bờ hồ. Vào hồi 8 giờ tối, người ta đang chiếu phần đầu của một cuốn phim Sô Viết, “Tháng Tám”: cuốn phim nói về đệ nhị thế chiến: người dân Liên Xô đã góp phần đem lại chiến thắng cho Đồng Minh hơn bất cứ sắc dân nào khác. Phim chiếu khó theo dõi : phim được trình chiếu từ bản gốc, đằng sau màn ảnh có một người thông dịch các mẩu đối thoại ..

Tiến là con của một Bác sĩ thuộc Chánh Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam (GRP), anh đã đến Hà Nội cách đây 4 năm sau một chuyến đi bộ dài khổ nhọc vượt đường Trường Sơn. Mẹ anh còn ở lại trong Nam. Tại đây anh đã tìm được cha. Vì thích đóng phim, anh đang được cho theo học lớp đặc biệt mà nếu anh đạt kết quả tốt thì anh sẽ được gởi đi thực tập ở Đông Bá Linh hoặc ở Mạc tư Khoa. Anh đang có mộng sẽ trở thành một Eisenstein Việt Nam. Người ta cho anh một tem phiếu loại 1 đồng, mà nếu anh bán lại theo giá chợ đen thì anh sẽ được 15 đồng. Chán cái phim xô viết nầy quá nhưng mà anh phải học , phải tự trao dồi…

Như thường lệ hằng ngày, bắt buộc phải vào trường, anh đã đọc xong tờ báo Nhân Dân, và tờ Lao Động, của đảng Lao Động, đảng cộng sản Việt Nam. Bài bình luận dự đoán “thắng lợi lớn của cách mạng” trong vòng 12 tháng sắp tới. Khác với cha anh, người thanh niên nầy không phải là đảng viên cộng sản. Tuy nhiên anh tin tưởng vào báo chí và truyền thanh của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Trong những ngày gần đây, báo chí nhấn mạnh đến “chiến dịch thi đua”. Ngoài phố, trên đường, các nhà máy của thủ đô, đâu đâu cũng có những tranh vẽ lớn, với màu sắc rực rỡ tả chân cảnh các công nhân màu “xanh lơ” đang thi nhau làm việc, các bộ đội màu “xanh ve” đang chiến đấu, phụ nữ và trẻ con màu hồng đang khuyến khích anh bộ đội trong “cuộc chiến chống đế quốc” .

Ở Hà Nội người ta ít gặp các nhà ngoại giao “nước ngoài” như ở Saigon, và đời sống xã hội ít có dịp vui chơi hội hè. Các nhà ngoại giao không được phép rời khỏi thủ đô mà không có phép. Ít có cơ hội tiếp xúc với người Việt, họ sống riêng biệt với nhau. Ông John Fawcett, Đại sứ Anh Quốc là một nhà ngoại giao sống cô đơn nhất. Đối với người dân Bắc Việt, Anh Quốc là một “con ngựa thành Troie” của Hoa Kỳ . Nhiệm kỳ một năm của ông tại Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa được chấm dứt trong tháng nầy, và một xử lý thường vụ thường sẽ thay thế ông. Đó là ông John Steward. Vì từ 12 tháng nay chánh quyền Hà Nội từ chối ủy nhiệm thơ của ông đại sứ: Chánh Phủ Hoàng gia Anh không muốn nhìn nhận Chánh Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam . Vì đối với người Hoa Kỳ hay người Anh, chánh phủ đó (GRP) không được độc lập. Không cần phải liên lạc với cái chánh phủ bù nhìn nầy, sẽ làm mất lòng Hoa Kỳ. Chánh Phủ Hà Nội chấp nhận sự có mặt của nhà ngoại giao Anh mà không cần ủy nhiệm đầy đủ: Bắc Việt chỉ cần sự có mặt của đại diện Anh Quốc ở Hà Nội để có chiếu khán cho họ đi Luân Đôn và nhất là Hong Kong. Trong bản phúc trình mãn nhiệm, ông John Fawcett dành nguyên một đoạn dài cho “chiến dịch thi đua” :

– “Đây không phải lần đầu . Công nhân được kêu gọi thi đua sản xuất, và tránh lãng phí. Có thể chiến dịch nầy thành công đó. Nhưng, khi tôi nhờ thông dịch viên của tôi để nói chuyện với một nhóm công nhân đang làm việc thật chậm chạp trong một tuần lể dài chỉ để ráp những cánh cửa mới cho dãy nhà phụ của tôi – có phải các anh làm như thế là thi đua với nhau để tăng năng xuất phải không ? Có phải các anh làm như thế là để tăng trưởng kinh tế hầu xây dựng nhanh xã hội chủ nghĩa ? Có phải các anh làm như thế với hy vọng đạt được danh hiệu “công nhân danh dự xã hội chủ nghĩa” ?, Nghe vậy các anh thợ nầy còn tỏ vẻ vui thích hơn tôi nữa ! Sau đó để bù lại thời gian vui đùa của chúng tôi, trong hai ngày kế tiếp, họ còn làm việc còn chậm chạp hơn lúc trước nữa.”

Phúc trình cho thấy là ý định quản lý nhân sự của Bắc Việt không có chút gì thực tế hết. Thận trọng, nhà ngoại giao Anh nghĩ rằng cách quản lý đó cũng phải …. thận trọng . Đối diện với cộng sản Bắc Việt các nhà ngoại giao thường vui thích muốn thấy “cái gì cũng thực tế”

Ở phía Bắc Hà Nội cách Lao Kay 30 cây số ngàn, cách biên giới Trung cộng 50 kms, là trại tù Phong Quang. Nơi đây một ngàn người tù đang qua một ngày làm việc bình thường. Tù chánh trị và tù hình sự, lẫn lộn.

Anh Nguyễn Ký, tù chánh trị, đã trốn khỏi chế độ Miền Nam để đến Miền Bắc năm 1958. Anh là một giáo sư trung học và là một người viết sách. Ở đây người ta đã buộc cho anh cái tội là “trưởng giả quốc gia” (hay “tư sản quốc gia”) . người ta trách anh là người có “khuynh hướng tự nhiên” do đó anh bị bắt giam nhiều lần, lần cuối cùng vào năm 1964. Anh vừa được chuyển từ dãy A qua dãy B. Hôm nay anh trồng khoai mì (sắn). Ngoài một chiếc áo sơ mi anh còn mặc thêm một áo lạnh bằng len, thế mà anh vẫn run.. Các bộ đội với súng trường, và các cai tù đeo súng lục, canh gác nhóm 30 người tù của anh. Anh Ký phải lao động mỗi ngày 8 tiếng. Cái đói cào ruột anh. Một người lao động xấu chỉ lãnh được 9 kí khoai lang tây, hay sắn, hay gạo gọi là lương thực cho một tháng. Ngày 1 tháng giêng dương lịch không phải là một ngày lể. Anh Ký ghét nhất các ngày chúa nhật và ngày lễ. Vì những ngày đó anh bị nhốt trong trại không ra ngoài được nên không “ăn cắp” được gì cả. Gọi là “ăn cắp” là tìm thêm chút rau cải hay vài loại cỏ khi lao động bên ngoài để ăn thêm.

Trong một dãy nhà khác của trại tù nầy, anh Nguyễn Chí Thiện, thường bị bắt giam nhiều lần hơn anh Ký. Hai người không biết nhau. Anh Thiện hay đọc thuộc lòng những bài thơ mà anh làm trong tù nhưng không sao chép ra được :

Bạn ơi, khi tôi gặp bạn
Tôi sẽ nói
Đến khúc sắn, củ mài
Lịch sử tôi ? Bi lắm!
Chỉ có xích xiềng
Những loạt súng
Của tủi hổ
Của phản bội
Lịch sử nầy
Bạn ơi, Làm anh thêm đau khổ
Nhưng kẻ thù sẽ phải sợ
Vì nó trường cửu
Vì nó dài vô tận
Vì nó rất cảm động
Đó là lịch sử
Của khúc sắn củ mài

Trong tất cả các trại tù của Miền Bắc mà Phong Quang là một, cái đói theo đuổi người tù mãi mãi như một ác mộng !

Chanh , chuối, cam, đường
Lạc, đậu, cơm, khoai
Là ân huệ
Của đảng
Ân huệ vĩ đại
Thật sự vĩ đại !

Tại Saigon các nhà ngoại giao ước tính là các nhà tù có thể chứa từ 5000 đến 30.000 tù binh và tù chánh trị. Nhưng ở Hà Nội những nhà ngoại giao dù là Đông Phương hay Tây Phương cũng không có một ý niệm nào về con số tù nhân chánh trị .

Ở Miền Nam, Hội Hồng Thập Tự và những phái đoàn điều tra quốc tế được phép viếng thăm các trại tù. Còn ở Bắc Việt thì không bao giờ !

(Tiếp theo sau…)

45 thoughts on “Tháng Tư Đen – Bí Mật ?

  1. Chương 2

    Phước Long: Trời cũng phải nhỏ lệ

    Ở Việt Nam , tên của một số thành phố có liên quan đến lịch sử, đến truyền thuyết hay đến hoàn cảnh: Saigon náo nhiệt, Hà Nội khắc khổ, Hué hoàng gia, Phát Diệm công giáo … v.v..

    Phước Bình thuộc tỉnh Phước Long là một thị trấn nhỏ nằm sát biên giới Cam Bốt, không có gợi lên ý niệm gì hết ngoại trừ đối với công chức, nó là một mảnh đất lưu đày.

    Mười năm trước đây, một toán đặc công Việt Cộng đã tấn công Phước Bình, năm binh sĩ Hoa Kỳ tử thương, và 12 bị thương. Bây giờ từ trung tuần tháng chạp/ 1974, hai sư đoàn chánh quy Bắc Việt , sư đoàn 3 và sư đoàn 7 đang di chuyển về Phước Bình, quận lỵ của tỉnh Phước Long, một thị trấn nhỏ nằm ngay khúc quanh của con rạch dưới một triền núi của vùng Cao nguyên. Dân số của tỉnh nầy không quá con số 50.000, phần lớn là đồng bào thượng, người Mán và Hmong. Ở đây không có ruộng. người “thượng” sống trong rừng, trồng cao su và khoai mì.

    Đối với dân Saigon , Phước Bình là miền “Cực Tây” (Far West), dù nó nằm về hướng Bắc, cách thủ đô 115 cây số. Thị trấn chỉ có một con đường chánh mà dân chúng sống tập trung ở đó, con đường nầy còn được dùng như một phi đạo nữa. Và ở cuối phi đạo là tòa hành chánh, có một gác chuông nhỏ trên nóc. Ở dọc hai bên vừa đại lộ vừa phi đạo nầy là doanh trại của quân trú phòng: 3000 binh sĩ chánh quy, và khoản 1000 Bảo an, Dân vệ. Họ ở cả trong các dãy trại và trong các nhà tranh cất dài theo hai bên đường.

    Tất cả các trục lộ về tỉnh nầy đều bị cắt đứt. Quân Bắc Việt đã chiếm hết bốn quận chung quanh, đang bao vây tỉnh theo thế gọng kềm.

    Tại Saigon Bộ Tham Mưu Miền Nam Việt Nam đang theo sát những diễn tiến nầy.

    Tướng Cao văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng Liên Quân rất lo ngại: nằm về phía Đông Bắc của Phước Bình là ngọn núi Bà Rá, cao 723 thước, là một trung tâm truyền tin.

    Đã từ lâu rồi, Saigon phải tiếp tế cho tỉnh bằng phi cơ cánh quạt hoặc bằng trực thăng. Mỗi tháng khoản 500 tấn gạo, đường, muối, xăng dầu và đạn dược.. Chánh phủ Saigon và những người có trách nhiệm quân sự ở đây chỉ bám theo một công thức và những con số thống kê: “còn nắm được tỉnh lỵ là tỉnh đó coi như chưa mất”, và ” cộng sản chiếm đóng 18% lãnh thổ Việt Nam và kiểm soát 10% dân số.” Chúng ta hãy nhìn thử xem: Làm sao nắm biết được những con số nầy? vì sau 30 năm đánh nhau không có một kiểm kê nào gần đây hết ? với những người dân quê nay đi mai đến, và dân lánh nạn thì nay đến mai đi ?

    Không còn nghi ngờ gì nữa, các trung đoàn Bắc Việt đang đổ về hướng Phước Bình. người ta nhận dạng được ngay qua vũ khí của họ, qua đồng phục màu “xanh ve” và nón cối của họ, và nhất là qua giọng nói của họ. Lính việt cộng thuộc Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam không bao giờ có đồng phục , thường mặc bà ba đen và đội nón vải với một khăn rằn choàng cổ.

    Cả bộ tham mưu Saigon và của tỉnh đều hoàn toàn bị bất ngờ, khi Bắc Việt tấn công mạn Nam của tỉnh lỵ hồi 7 giờ sáng ngày 1 tháng giêng, với 40 xe tăng T.54. Binh sĩ trú phòng chận đứng được đợt tấn công đầu tiên nầy.

    Chiến xa T.54 là một loại tăng nhẹ, dài khoản 7 thước, nặng 36 tấn, là một loại cơ giới mạnh có tốc độ đường trường lên đến 48 cây số/ giờ, bình thường có thể hoạt động trong vòng 500 kms, và 700 kms nếu có bình xăng phụ. T.54 được trang bị một đại bác 100 ly với 34 quả đạn trên xe. Liên Xô không viện trợ cho Bắc Việt loại chiến xa biến chế T.62 và T.10 , nặng 50 tấn có trang bị đại Bắc 210 ly. Nhưng họ có cho Bắc Việt xe lội nước PT 76, nặng 14 tấn. Phía Việt Nam Cộng Hòa thì có chiến xa M.48 mạnh hơn nhiều, nhưng chiến xa T.54 có thể đương đầu với M.48 không khó.Dĩ nhiên kháng chiến quân của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam thì không được Hà Nội giao cho một chiến xa nào hết.

    Lực lượng bộ binh Bắc Việt bao vây cứ điểm núi Bà Rá và mở nhiều đợt xung phong mặc dầu cứ điểm nầy có được không quân yểm trợ. Phi công Miền Nam phải liều lĩnh xuống thấp có khi đến 1500 thước, họ ít khi bay dưới 3000 thước vì sợ cao xạ phòng không dày đặc của Bắc Việt. Ở đây không phải là vấn đề gan dạ, mà vì phi công nhận được lệnh nghiêm nhặt lắm : họ phải tiết kiệm máy bay. Hôm nay không có mây mù thường bao phủ tỉnh lỵ vào sáng sớm, tầm nhìn vừa rõ vừa xa. Bắc Việt đã bố trí gần núi Bà Rá những khẩu pháo 130 ly nên nhanh chóng 8 khẩu 105 ly và 4 khẩu 155ly của Miền Nam không còn xử dụng được nữa..

    Ngày hôm sau, Tổng Tống Nguyễn văn Thiệu họp các tướng lãnh, có sư hiện diện của Phó Tổng Thống già nuaTrần văn Hương nặng về pháp lý hơn về chiến lược, và Thủ Tướng trầm lặng Trần thiện Khiêm. Người ta bàn cãi xem có cần phải tăng cường viện binh cho Phước Bình hay không ? Tăng cường bao nhiêu ? Với lực lượng nào ?v.v…

    Trong 48 giờ giao tranh, lực lượng trú phòng của tỉnh bắn hạ tại chỗ 15 chiến xa Bắc Việt . Nhưng bô đội Miền Bắc cứ tiến tới. Chiến thuật của họ gây bất ngờ cho mọi người : các tiểu đội bộ binh đi liền sau các chiến xa. Chiến xa cứ tiến tới mặc cho bộ binh chết cứ chết, nhưng đôi khi các chiến xa cũng lui trở lại để đưa môt số bộ binh khác tiến lên theo. Họ đánh chiếm từng cứ điểm, từ nhà nầy qua nhà khác, từng chòi tranh nầy sang chòi tranh khác. Chiến xa được tăng cường các tấm chắn bằng sắt phía trước để chống đạn bộc phá vì loại đạn nầy sau khi xuyên phá qua lá chắn sẽ nổ ngay ở khoản trống nhỏ giữa lá chắn và vỏ chiến xa. Do đó hỏa tiễn M.72 của binh sĩ Miền Nam không còn hữu hiệu nữa được. Đôi khi vì bắn quá gần nên hỏa tiển không kịp xuyên phá, chỉ trúng lá chắn rồi nẩy vọt đi, nổ xa xa ở chổ khác. Hơn nữa chiến xa thường đóng kín các cửa nên binh sĩ Miền Nam khó mà tung lựu đạn vào chiến xa qua pháo tháp.

    Các doanh trại, hầm trú ẩn và giao thông hào là mục tiêu của pháo binh Bắc Việt nên hầu hết đều bị sụp đổ thảm hại vì đạn pháo.

    Phước Bình nằm trong lãnh thổ trách nhiệm của Vùng 3 Chiến Thuật, Bộ Tư Lệnh Vùng 3 đóng tại Biên Hòa, nơi đây có căn cứ không quân quan trọng, nằm về phía Bắc Saigon chừng 30 cây số. Tướng Dư quốc Đống Tư Lệnh Vùng 3, quyết định sẽ chiếm lại thị trấn Phước Bình, nên xin tăng cường lực lượng. Ông dự trù hành quân trực thăng vận đổ binh sĩ thuộc binh chủng Dù xuống phía Bắc thị trấn đồng thời tiếp tế đạn dược cho quân trú phòng. Nhưng ông Thiệu từ chối, tướng Đống xin từ chức, ông Thiệu không cho.

    Có nhiều cuộc bàn cãi rất sôi nổi ở Biên Hòa và Saigon :

    – Phải chăng Bắc Việt muốn đánh lạc hướng khi họ tấn công Phước Bình ?

    – Hình như Bắc Việt đã sẵn sáng tiến đánh Biên Hòa , vì từ nơi đây các chiến đấu oanh tạc cơ sẽ bay đi yểm trợ các cuộc hành quân khắp vùng 3 Chiến Thuật.

    – Cộng sản cũng có thể vừa đánh chiếm Phước Bình vừa đồng loạt tiến đánh cả 3 vùng chiến thuật khác .

    Do đó ông Thiệu không muốn rút quân ở đâu cả. Tư Lệnh Vùng 3 đòi hỏi vài trung đoàn binh sĩ thuộc binh chủng nhảy dù. Người ta chỉ đồng ý cho ông 2 đại đội biệt kích dù, khoản 200 người tình nguyện và chuyên hành quân biệt kích, thuộc tiểu đoàn “81 biệt kích dù” đang đóng ở Biên Hòa.

    Ngày 4/ tháng giêng, trên Phước Bình mây thấp và mây đen kịch. Trời mưa to: cuộc hành quân trực thăng vận không thực hiện được , Hai đợt cố gắng đổ quân đều bất thành. Chỉ có một lần Biên Hòa liên lạc vô tuyến được với Phước Bình nhưng nghe rất yếu.

    Đến 8 giờ sáng ngày 5 tháng giêng, 120 biệt kích dù mới được đổ xuống phía Đông của thị trấn. Trực thăng có bị trúng đạn phòng không nhưng đã bay về được. Toán biệt kích bắt tay được với quân trú phòng, bố trí được một vài điểm tựa phần lớn nằm chung quanh dinh tỉnh trưởng. Vũ khí chống chiến xa M72 rất hữu hiệu đối với các T.54 nhưng toán biệt kích không mang theo được nhiều.

    Đến 21 giờ thì có tin là gần phân nửa toán quân tăng cường bị loại khỏi vòng chiến. Người ta không thể tản thương được . Lực lượng bảo an người thượng chiến đấu rất tốt nhưng lòng trung thành của họ bị giao động. Biệt kích dù cho biết là tình hình tuyệt vọng lắm. Nhưng họ cũng cố tổ chức lại một tuyến phòng thủ chung quanh trung tâm hành chánh và dinh tỉnh.

    Sáng hôm sau, ngày 5 tháng giêng, quân Bắc Việt lại tiếp tục tấn công với một số chiến xa và bộ binh khác, đánh nhau suốt cả ngày .

    Ngày 6 tháng giêng chịu hết nổi, nhóm biệt kích dù và những binh sĩ trú phòng còn sống sót rút chạy ra khỏi tỉnh. Lợi dụng trời tối, họ rút đi từng toán nhỏ, không liên lạc vô tuyến, không được yểm trợ, có khi cũng không có vũ khí và đạn dược, họ tiến về phía bìa rừng và đi về hướng đồng ruộng.

    Tổng kết của trận tấn công nầy quá xấu về mặt quân sự, mặc dầu trên phương diện chiến lược thị trấn nhỏ bé của cái tỉnh đèo heo hút gió nầy có mất đi cũng không có gì quan trọng lắm. Tính ra chỉ còn có 850 người sống sót về được, mất đi 5.400 người vừa sĩ quan vừa binh sĩ. Gần phân nửa quân số của một sư đoàn! Hai vận tải cơ C.130 bị hạ . Saigon có cả thảy là 32 vận tải cơ loại nầy. Đây là một đòn hơi nặng, trên phương diện chánh trị : cộng sản đã chiếm được một tỉnh. Và đây là lần đầu tiên mà quân chánh phủ không tái chiếm lại được.

    Cũng là lần đầu tiên mà trong một cuộc tấn công lớn như vậy quân đội Mỹ không can thiệp. Từ ngày ký Hiệp Định Paris, hai năm trước, các tư lệnh 4 Vùng Chiến Thuật đều có đến thăm Bộ Tư Lệnh Không Lực Hoa Kỳ ở Đông Nam Á, đóng ở Nakhon Phanom, Thái Lan. Hệ thống liên lạc viễn thông từ đây được nối liền đến Saigon và các Vùng Chiến Thuật của Miền Nam Việt Nam. Người ta luôn luôn giải thích và chỉ dẫn thủ tục liên lạc cho các Tư lệnh Vùng, để họ có được sự yểm trợ chiến lược của không lực Hoa Kỳ dễ dàng. Các vị Tư lệnh nầy không có một phút nghi ngờ nào về quyền được oanh tạc cơ Hoa Kỳ yểm trợ. Nhưng vừa rồi tại sao oanh tạc cơ không đến ?

    Tổng Thống Thiệu cho lệnh toàn quốc để tang 3 ngày, đóng cửa các hộp đêm, vũ trường, rạp hát, chiếu bóng . Cấm luôn các trận đá bóng , các buổi đua ngựa, dù đã có chương trình. Các biểu ngữ được treo khắp thủ đô đại ý : “Quân lực Việt Nam Cộng Hòa sẽ đòi món nợ máu nầy” Nhiều cuộc biểu tình được tổ chức trước trụ sở của Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Ngừng Bắn. Trong suốt cuộc chiến ở Phước Bình, nhân viên của Ủy Hội một lần nữa đã cho thấy sự bất lực lạ lùng của họ. Họ cũng không thương lượng được một thời gian ngưng tiếng súng để tản thương hay đưa dân chúng vô tội ra khỏi vùng khói lửa. Các thương gia, công chức , dân quê và 2 nữ tu sĩ và 400 cô nhi đã về được đến Saigon .

    Người Mỹ ở Saigon đã cố gắng làm một bản tổng kết tuy có khổ tâm. Trong bản phúc trình của mình ông William Le Gro, người có trách nhiệm về tin tức tình báo ở cơ quan quân sự Hoa Kỳ, đã cho biết là tổn thất của Miền Nam làm cho người ta chóng mặt. Người tài xế của ông ta than rằng: “Đến Trời cũng phải khóc cho Phước Long”

    Tại Hoa thạnh Đốn, ngày 7 tháng giêng, ông Kissinger có buổi họp với toán hành động đặc biệt của ông ta . Các chuyên viên trao đổi nhau nhiều câu hỏi về trường hợp Phước Long:

    – “Đây có phải là một cuộc hành quân quan trọng không ?”

    William Colby, trưởng cơ quan CIA cho là ” Không.”

    – Làm thế nào để cứu vản tình hình của Vùng 3 Chiến Thuật đây ?

    – Có nên gởi đến đó oanh tạc chiến đấu cơ và nhất là oanh tac cơ chiến lược B.52 không ?

    – Trên lý thuyết Không Thể Được : Dư luận quần chúng Mỹ sẽ coi đó là một hành động tái can thiệp của Hoa Kỳ mà họ không muốn. Tuy nhiên trận tấn công của Bắc Việt là một vi phạm trắng trợn và quan trọng nhất đối với Hiệp Định Paris kể từ năm 1973.

    Người Mỹ là những người duy nhất đã thi hành Hiệp Định Paris, trừ điều 6 là điều dự trù ” Mỹ phải phá bỏ hết các căn cứ quân sự của họ trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa trong vòng 60 ngày” sau khi Hiệp Định được phê chuẩn. Đó chỉ là phương diện pháp lý còn thực tế thì giống như một trò xảo thuật: người Mỹ không có phá hủy các căn cứ quân sự của họ mà chỉ chuyển giao qua cho QLVNCH. Họ thi hành pháp luật một cách kỳ diệu ! Trái với những cam kết, thỉnh thoảng họ cũng cho phi cơ quan sát bay trên không phận lãnh thổ Bắc Việt. Không có gì để ngụy trang cho những vi phạm kiểu đó !

    Các cộng sự viên của Tổng Thống Ford muốn quên Việt Nam. Trước ngày bầu cử Tổng Thống Hoa Kỳ, ông Ford không có lợi lộc gì khi ông muốn gắn hình ảnh của mình vào một hành động tái can thiệp của Hoa Kỳ vào Việt Nam . Người ta muốn có một Tổng Thống trong trắng. Sự kiện Việt Nam đã qua đi rồi mà Ngũ Giác Đài chỉ thấy có mất mát mà không thấy có lợi ích nào hết. Từ khi người binh sĩ Hoa Kỳ rút khỏi Miền Nam hay người tù binh Mỹ ở Miền Bắc được đưa trở về nước, đối diện với Việt Nam, Hoa thạnh Đốn bị trầm mình trong tội lỗi ôi thúi, mất hết cảm giác. Càng ít gợi lại bao nhiêu thì bài toán sẽ mờ nhạt bấy nhiêu. Cuộc chiến Việt Nam lẽ ra phải tàn lụi dần khi người ta không còn găng với nhau quá….

    Nhóm hành động đặc biệt không đạt được một quyết định nào. Ông Kissinger hình như quá mệt mỏi. Ông ta đã nhắc đi nhắc lại sau khi ký Hiệp Định Paris: “Nếu chúng ta xét thấy rằng Bắc Việt đã thương thuyết với những ý đồ xấu thì chúng ta sẽ có phản ứng mạnh và ngay tức khắc”

    Hạ thấp giọng, chậm rãi nhưng cứng rắn, ông Kissinger giải tán phiên họp đặc biệt với một câu đầy bản chất của một người Đức :

    – “Chúng ta thuộc loại người nào đây ?

    Các nhân viên dân chính và quân sự trong nhóm tự hỏi: Không biết ông Tổng Trưởng nghĩ gì thế? Chắc chắn là ông nghĩ đến sự khả tín của Hoa Kỳ !

    Nhỏ thó nhưng người béo phục phịch, ông Kissinger, 52 tuổi, là một Tổng trưởng Ngoại Giao nổi tiếng nhất của Hoa Kỳ, được mến chuộng nhưng cũng bị nhiều phê phán. Ông dính vào chuyện Việt Nam từ 10 năm nay. Từ sau ngày bầu cử của ông Nixon năm 1969, ông được giao nhiệm vụ chánh trị đối ngoại, kế đến là cố vấn an ninh và sau đó là Tổng Trưởng Ngoại Giao. Ông Kissinger là một giáo sư đại học có giá trị, một công chức hăng say, một chánh trị gia năng nổ trong hoạt động, ông có một nghệ thuật lả lướt trong chính ngành ngoại giao của mình, từ đó ông có cơ hội trở thành một nhà luân lý.

    Trong những ngày đầu tháng giêng nầy, tinh thần của ông chú trọng đến danh dự của Hoa Kỳ. Với một tinh thần thực tiễn, thích điều khiển các nước khác hoặc vận dụng các chánh trị gia, ông là một bộ trưởng thường không giữ được hòa khí với nhóm quan lại của mình, thích giữ những bí mật cũng như vinh quang của riêng mình, có lối sống buông thả, muốn tới đâu thì tới. Ông có tầm nhìn chánh trị tổng quát. Ông tìm mọi cách để củng cố “cấu trúc hòa bình” mà ông xem là một thế quân bình mới của thế giới , xuyên qua sự kiểm soát vũ khí chiến lược. Không còn có sự căng thẳng giữa các siêu cường vì cuộc chiến tranh khốn khổ ở Việt Nam nữa. Ông Kissenger cũng đồng ý phần nào với nhận định của ông Galbraith và những người khác thường nói đùa là: “nếu người Mỹ chúng ta không vấp phải nhiều làm lỗi thì cái quốc gia nhỏ bé kia không bao giờ thoát ra khỏi nơi tối tăm mà họ rất xứng đáng phải nhận lấy. ” Ông Kissinger phải tốn cả 8 năm dài mệt mỏi cho Việt Nam . Tổng Thống Ford giao hết cho ông Kissenger phần lớn các vấn đề ngoại giao. Khác hơn ông Nixon, ông Ford không có ý kiến gì trong vấn đề nầy. Ông bất lực trong việc tìm kiếm quan điểm để làm vui lòng tổng trưởng của mình. Với cá tánh chậm chạp nhưng là một người có nhiều sáng kiến, ông Nixon có tầm nhìn xa rộng khắp. Nhưng người kế vị Nixon không được như vậy nên ông Kissinger thường nói : “Thật tình mà nói thì tôi cảm thấy gần ông Ford hơn là ông Nixon” điều mà chúng ta phải hiểu là trên phương diện tri thức.

    Thường gặp những đổi ý bất thần, có khi đến phải chán nản, ông Kissenger phải tốn ba năm rưỡi để thương thuyết với phái đoàn Hà Nội để đạt được một hiệp ước mà uy tín của Hoa Kỳ không bị mất . Những cuộc bàn cãi chính thức và những buổi “đi đêm” thảo luận riêng tư với Lê đức Thọ, cố vấn đặc biệt của phái đoàn cộng sản Bắc Việt tại Ba Lê, đã dẫn tới Hiệp Định Paris. Theo Kissinger thì Hiệp Định không được hoàn hảo lắm, nó chỉ giúp cho quân lực Hoa Kỳ rời khỏi Việt Nam đàng hoàng trong danh dự, mặc dầu có sự chỉ trích triền miên của cánh hữu tại Mỹ. Lâu lắm ông Thiệu không chịu ký vào Hiệp Định. Với một số cộng sự viên, Kissinger cho thấy hình như ông ta hâm mộ những người đại diện phía Bắc Việt hơn là những người của Saigon . Tại thủ đô Miền Nam Việt Nam người ta cho Kisinger cái tên là ” nhà ngoại giao đi đêm” và “vua dấu diếm” vì người ta không muốn nói thẳng ông là một thằng hèn, đạo đức giả. Tới năm 1975 thì Kissinger xa cách Việt Nam trên cả mọi phương diện tâm lý cũng như thực tế. Ông chưa hề đặt chân đến Việt Nam từ sau tháng 10 năm 1972, nơi đó ông có một kỷ niệm không tốt gì lắm:

    ông Kissinger muốn cho ông Thiệu chấp thuận bản dự thảo Hiệp Định của ông ta. Cuộc gặp gỡ thật nặng nề, ông Thiệu gọi Kissinger là “thằng chó đẻ”. Kissinger nói trước khi rời Saigon :

    – “người ta đã chửi tôi thậm tệ nên chắc tôi không bao giờ trở lại Saigon nữa.”

    Một trong những người đối thoại với ông, ông Hoàng đức Nhã, em họ ông Thiệu và là Tổng Trưởng Thông Tin, chọc tức ông Kissinger khi ông chỉ trích Hiệp Định từng điểm một.

    Ông Thiệu và ông Nhã đều tin chắc là ông Kissinger hoàn toàn là một người vô liêm sỉ mới đặt bút ký Hiệp Định Paris 1973 với Bắc Việt : “Hoa Kỳ nhận tù binh của họ và an toàn rút quân đội Mỹ về nước, mà trong thâm tâm Hoa Kỳ vẫn biết rằng cộng sản Hà Nội không bao giờ buông bỏ ý định thống nhất Việt Nam bằng vũ lực.”.

    Ông Kissinger và cộng sự viên của ông đã có nhiều lý do để tin tưởng rằng Hiệp Định dù có yếu kém nhưng cũng có thể đứng vững được : đến một thời điểm nào đó thì việc Việt Nam Hóa quân lực Saigon sẽ cho thấy sự hữu hiệu của nó. Ông Nixon đã đặt hết sự tin tưởng vào đó, nhưng ông Kissinger thì không . Trên căn bản, binh sĩ Miền Nam chỉ có thể đương đầu hữu hiệu với những cuộc tấn công của Bắc Việt ở cường độ trung bình đến cấp trung đoàn. Nhưng ông Thiệu không thể chận đứng được một số lớn sư đoàn Bắc Việt. Dù vậy, chắc Hà Nội sẽ không phiêu lưu trong một cuộc tổng tấn công đâu. Bộ Chánh Trị còn sợ phản ứng của ông Nixon. Ông ta không bao giờ do dự để tung các phi cơ B. 52. Chính ông Nixon đã cho lệnh thả bom ngay vùng thủ đô Hà Nội vào tháng chạp 1972 để kéo Bắc Việt trở lại bàn hội nghị, và tựu trung thì sự khuyến cáo đó có hiệu quả. Hơn nữa, gạt ra ngoài các khó khăn nội bộ, chánh phủ Miền Nam vẫn có phần nào năng nổ tích cực nhất là trên bình diện kinh tế. Chánh phủ không được bình dân lắm nhưng dân chúng Miền Nam không bao giờ nổi dậy.

    Cuối cùng, những người có trách nhiệm ở Miền Bắc đã đưa nhân dân mình vào một cuợc chiến quá lâu dài, bền bỉ khó tả, dựa vào sức mạnh của quân đội và công an hùng hậu để cai trị một xã hội bị vắt khô cạn đến hết máu. Họ hy vọng được Hoa Kỳ viện trợ khoản hơn 3 tỷ mỹ kim mà họ quan niệm là “bồi thường chiến tranh”. Ở Paris, Bắc Việt nhấn mạnh điều khoản 21 của Hiệp Định, điều khoản dự trù một sự “hòa giải” và quy định Hoa Kỳ sẽ đóng góp vào việc “hàn gắn vết thương chiến tranh” và “tái thiết Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa sau cuộc chiến”, theo đúng truyền thống chánh trị của Hoa Kỳ . Danh từ “hàn gắn vết thương chiến tranh” là một cụm từ thuần túy của Bắc Việt đã đưa ra mà Hà Nội đã nhấn mạnh và được thấy khắp nơi trên các bản văn tuyên truyền của Hà Nội.

    Ông Kissinger tin rằng lãnh đạo quốc gia nào cũng hành động đúng theo quyền lợi của nước họ. Đối diện với những người lãnh đạo Bắc Việt ông có đánh giá quá thấp sức mạnh về ý thức hệ của họ không ?

    Cân nhắc lợi và hại, ông Kissinger đặt Hiệp Định Ba Lê vào khung cảnh của không khí hòa dịu bớt căng thẳng giữa Hoa Kỳ, Liên Xô, và Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa. Ông cũng như mọi người đều nghĩ rằng Mạc tư Khoa và Bắc Kinh sẽ thúc đẩy Hà Nội đi đến một sự tự chế. Cả hai thủ đô cộng sản nầy hẳn phải có phương thức để thúc ép Bắc Việt: Họ đã tiếp tế cho Bắc Việt cả về quân sự lẫn kinh tế. Trong cái nhìn của Kissinger, tất cả đều đứng vững hết: ông nghĩ tới mối liên hệ giữa sự “thư giãn” quốc tế” giữa các cường quốc để dập tắt lần lần ngọn lửa chiến tranh ở Việt Nam.

    Sáu tuần lể trước khi Phước Long bị tràn ngập, Tổng Thống Ford và ông Brejnev đã gặp nhau ở Vladivostock từ ngày 23 đến 24 tháng 11 năm 1974 . Họ đã quyết định tăng cường mối giao hảo giữa Hoa Kỳ và Liên Xô.. Thật khó có thể và không hợp lý chút nào khi Bắc Việt làm hỏng những thỏa thuận của các siêu cường ! Đối với ông Kissinger vừa là tác giả vừa là người thực hành chánh sách liên kết, ông phải chỉ cho Liên Xô và Trung Quốc thấy là sự “thư giãn” phải được dùng như một áp lực đối với bài toán Việt Nam. Kissinger đã “mua” Liên Xô qua việc Hoa Kỳ cho Liên Xô được hưởng quy chế tối huệ quốc về thương mãi. Nhưng cách đây vài tháng vào mùa thu 1974, nghị sĩ Henry Jackson, có khả năng là ứng cử viên Tổng Thống, đã đưa ra một dự luật theo đó: “thư giãn phải liên kết với việc cho phép người Do Thái được rời khỏi Liên Xô”. Một dự luật khác cũng hạn chế mức nợ cho Liên Xô vay. Tất cả những chuyện đó không thể khuyến khích Liên Xô trong hành động hợp lý được . Do đó năm 1975 Liên Xô thấy không có lợi lộc gì khi phải thắng các đồng chí Bắc Việt của họ lại.

    Trong năm 1974, cho tới ngày từ nhiệm của Nixon, không khí còn có vẻ thuận lợi.

    Từ thủ đô cũng như từ các tòa đại sứ của họ, Liên Xô và Trung Quốc đã bắn tiếng cho biết là họ vẫn tiếp tục viện trợ kinh tế cho Bắc Việt, nhưng sẽ giảm bớt viện trợ quân sự.

    Ông Kissinger biết rõ chỗ yếu chính của Hiệp Định Paris trên phương diện quân sự: Ông đã không cho Việt Nam Cộng Hòa biết là ông đã không ràng buộc Hà Nội phài rút hết bộ đội Bắc Việt ra khỏi lãnh thổ Miền Nam , một cách rõ ràng và minh bạch. Do đó quân đội Bắc Việt đã lợi dụng điểm mập mờ nầy để bám trụ nguyên tại chỗ. Hơn nữa Bắc Việt đã không bao giờ tôn trọng những điều khoản quy định về vũ khí và quân dụng hiện có của Hai Bên:

    ” mỗi cây súng cũ, mỗi khẩu pháo cũ, mỗi quân xa cũ, -tất cả- chỉ có thể được thay thế với thể thức “một đổi một”. Tất cả những chuyện thay thế đó, phải tọa lạc ở những điểm chính xác , và phải được “Ưy Hội Quốc Tế” giám sát nghiêm chỉnh đúng luật lệ như Hiệp Định đã quy định” , một điều khoản không bao giờ được Bắc Việt thi hành.

    Một kẽ hở nữa của Hiệp Định, lần nầy là chánh trị:

    ” trên bình diện “chế độ tương lai của Miền Nam ” Hai Bên Việt Nam sẽ thương thảo với nhau”.
    (Còn tiếp)

  2. Ông Kissinger thừa biết là điếu khoản nầy không bao giờ thực hiện được, cũng giống như việc hình thành một “Hội Đồng Hòa Hợp Hòa Giải Quốc Gia”. Hãy tưởng tượng xem bằng cách nào mà hai kẻ thù hung hăn ngồi lại được với nhau để cùng nhau cai trị một thôn ấp? đừng nói chi đến cả một nửa nước Việt Nam ? Biết vậy nhưng ông Kissinger vẫn còn tin rằng phải bằng mưu mẹo đó, mình mới thắng Bắc Việt được một điểm:

    ” cho tới mùa hè năm 1972, phái đoàn thương thuyết Bắc Việt vẫn muốn liên kết chuyện ngừng bắn với một dàn xếp chánh trị ” (ai cũng muốn có một sự liên kết nào đó của riêng họ). Ông Kissinger vẫn còn tin rằng. Đây là một thắng lợi ngoại giao của mình, vì bù lại Hà Nội không còn đòi hỏi sự ra đi của ông Thiệu nữa, điều nầy cho phép được giữ lại một “cơ cấu chánh trị mạnh ở Miền Nam Việt Nam “.

    Cũng như ông Thiệu và ông Nhã, người dân Miền Nam không bao giờ chấp nhận một Hiệp Định Paris mặc nhiên thừa nhận sự có mặt của bộ đội chánh quy Bắc Việt tại Miền Nam.

    Trong tỉnh Phước Long có nhiều sự vận chuyển quy mô của các đơn vị chánh quy Bắc Việt cấp trung đoàn và cả cấp sư đoàn. Cho dù cuộc tấn công nầy là một cuộc tấn công hạn chế, thì trò chơi kiên nhẫn gom góp dữ kiện và phân tách tình hình của ông Kissinger cũng bắt đầu tan rã.

    – Làm gì hơn bây giờ ?

    – Xin thêm ngân khoản bổ túc cho Miền Nam Việt Nam ?

    Quốc Hội và nhất là Hạ Viện Hoa Kỳ giờ đây đa số dân biểu thuộc đảng Dân Chủ, trong nhóm của nghị sĩ George Mc Govern, một người chủ trương hòa bình cực đoan. Năm 1974 Quốc Hội đã cắt giảm mức viện trợ quân sự cho Miền Nam Việt Nam từ 1 tỷ xuống còn 750,000 trong đó có cả phần 300 triệu dành trả lương cho nhân viên dân chính và quân sự thuộc Cơ Quan Quân Sự Hoa Kỳ ở Saigon rồi. Trong cuộc chiến tranh Kippour, Do Thái đã nhận được trên 2 tỷ viện trợ quân sự của Hoa Kỳ. Phần lớn những người dân biểu Hoa Kỳ thấy cần phòng vệ cho Do Thái hơn là Việt Nam. Nhìn kỹ lại, nếu tính luôn sự tăng giá dầu do cấm vận của các nước Á Rập, thì viện trợ cho Saigon coi như bị giảm một nửa.

    Đối với ông Kissinger, thì mặt trận thứ hai của cuộc chiên Việt Nam nằm ở Hoa thạnh Đốn, ngay tại Quốc Hội và cũng là ngay trong chánh phủ Hoa Kỳ. Nhiều thành viên của chánh phủ xưa kia là diều hâu. Bây giờ thì hết rồi, họ cho biết như vậy, giống như Tổng Trưởng Quốc Phòng James Schlesinger. Một khi đã ra khỏi chánh phủ rồi thì từ một Mc Namara, một Clarke Clifford, một George Bundy, cho tới những người đã triệt để theo Tổng Thống Johnson, bây giờ họ ước tính là phải ra khỏi vũng lầy Việt Nam . Những người nầy vẫn nghĩ rằng cái gọi là GRP (Chánh Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam) cũng chỉ là cánh tay của Hà Nội ở Miền Nam mà thôi, và cộng sản Việt Nam cũng độc tài như các đảng cộng sản khác . Những nghị sĩ nặng ký chống cộng thì có John Stennis hay Richard Russell . Những con diều hâu cũ bây giờ ngã theo đám bồ câu nổi tiếng trong Thượng Viện, George Mc Govern, Frank Church, Albert Gore, Wayne Morse, Edward Kennedy. Ngay như tại Nhà Trắng, ông Kissinger chỉ còn có thể tính đến những người đồng minh tự nhiên của ông. Một vài vị thân cận với ông Ford tin tưởng là bài toán Việt Nam tự nó sẽ tan biến thôi. Mệt mỏi, như bị bao vây, Kissinger không dứt than van:

    – ” Không biết chúng ta thuộc loại người gì ? “

    Và cộng sự viên của ông nhận thấy ông đang cắn móng tay….

    Sáng ngày 7 tháng giêng, Tướng Viên gọi điện thoại cho ông Thiệu. Tham mưu Trưởng Liên Quân báo cáo cho Tổng Thống. Những phi cơ thám sát trên không phận Phước Bình cho biết là mọi dấu hiệu kháng cự coi như đã chấm dứt.

    Tại Dinh Độc Lập, ông Thiệu triệu tập một phiên họp đặc biệt. Có mặt Phó Tổng Thống, Thủ Tướng, hai Phó Thủ Tướng Trần văn Đôn và Nguyễn văn Hão, hai vị Chủ Tịch Thượng Viện và Hạ Viện, Chủ tịch Tối cao Pháp Viện, và tướng Đặng văn Quang, phụ tá Tổng Thống đặc trách về an ninh.

    – ” Địa thế và khó khăn về tiếp vận của chúng ta đã tiếp tay cho cộng sản. Quân lực của chúng ta khó lòng chiếm lại tỉnh Phước Long được ” ông Thiệu nói.

    Tướng Quang thường ít khi phát biểu trong các phiên họp, hôm nay tuyên bố:

    – ” Quận lỵ Phước Bình và tỉnh Phước Long rất khó phòng thủ nên không thể giữ được .Thị trấn An Lộc và tỉnh Kon tum cũng vậy. Thị trấn An Lộc nằm ở phía Tây và Tỉnh Kontum ở về hướng Đông Bắc. Cả hai đều rất quan trọng. Nhất là tỉnh Kontum”

    Rối hơi sẳn giọng. tướng Quang nói tiếp:

    – “Những nơi nầy rồi cũng sẽ bị mất, nếu cộng sản quyết định đánh chiếm.”

    Không thấy một phản ứng nào cả. Như không ai nghe thấy gì hết vậy : Hình như người ta thấy những việc đó không có gì đáng cho họ phải quan tâm .

    Ông Thiệu lại phải nói tiếp:

    – ” Chúng ta có thể phản kháng để thử tìm hậu thuẩn của dư luận quốc tế. Phản kháng ngay Liên Hiệp Quốc. Phản kháng với cả 13 thành viên đã ký tên vào Hiệp Định Paris. Chắc cũng không có kết quả gì đâu. Phần đông các nước đang bấn vì cuộc khủng khoảng năng lượng. Nhưng trước hết chánh phủ chúng ta cần phải có được một sự gia tăng viện trợ quân sự và kinh tế của Hoa Kỳ.”

    Rồi hướng về 2 vị chủ tịch Thượng và Hạ viện, ông nói :

    – ” Chúng ta phải gởi một phái đoàn đến Hoa Kỳ để vận động với chánh phủ Hoa Kỳ làm áp lục Quốc Hội. Nhưng trước hết chúng ta phải chọn lựa vài nghị sĩ và dân biểu để chúng ta mời . Chúng ta vào bàn với Tòa Đại sứ Mỹ về danh tánh những người nầy.”

    Chủ tịch Hạ viện đồng ý:

    – ” Nhưng hình như các dân biểu Hoa Kỳ có nhiều vấn đề đối với cử tri của họ lắm. Chúng ta nên thăm dò dư luận dân chúng Mỹ trước, xuyên qua các tổ chức.

    – ” Tổ chức nào ?

    – “Các nghiệp đoàn, Hội Cựu chiến binh, hay Hội Hồng thập Tự ….

    Ông Thiệu tỏ ra chưa chịu:

    – ” Cần phải tiếp xúc với các nghị sĩ Mỹ, vấn đề cử tri đó thuộc về chánh trị nội bộ của họ. Làm cách nào để có tiếng nói của quần chúng ?

    – Tôi thấy sao Chánh Phủ cô đơn quá, Thiệu vừa nói vừa nhìn sang Thủ Tướng dường như Tổng Thống không kiểm soát được chánh phủ vậy.

    Ông Thiệu ngưng một giây, chờ ông Khiêm lên tiếng. Nhưng như thường lệ, Thủ Tướng vẫn giữ im lặng. Thiệu nói tiếp :

    – ” Trong quá khứ, gặp trường hợp khủng khoảng nặng thì các nhóm đối lập sẽ phải hợp tác với Chánh Phủ .

    Không có một nhóm nào thực sự hăng say năng nổ hoạt động hết, trừ ra có đảng Dân Chủ do ông Thiệu thành lập. Tổng Thống muốn mở rộng căn bản chánh trị của Chánh Phủ nên ông đã ra một luật đảng phái khá tự do, đúng ra là cho các đảng phái chánh trị để cho phép họ ra hoạt động hết, trừ đảng cộng sản. Điều nầy gây cảm tưởng tốt ở Mỹ.

    Sau đó ông Thiệu dặn dò vài điều cho hai vị chủ tịch Thượng và Hạ viện. Ở Miền Nam Việt Nam hành pháp lèo lái lập pháp.

    Hai vị Phó Thủ Tướng hiện diện đề nghị ông Thiệu nên đi gặp các nhân vật có tầm vóc quốc gia để tìm hậu thuẩn. Ông Thiệu lắc đầu, nhưng không người nào gợi ý ra được tên ai hết vì có lẽ không mời mọc ai được hết.

    Ông ta nhắc các dân biểu và nghị sĩ phải hoàn tất luật báo chí và nên cho ông xem qua.

    Sau cùng phiên họp đưa ra vấn đề kinh tế, nhắc lại các điểm đã bàn cãi trong phiên họp nội các bốn ngày trước. Thủ tướng có nói là phải mua thời gian. Năm 1976 Miền Nam sẽ xuất cảng dầu hỏa.

    Như thường lệ ông Khiêm không xen vào các vấn đề quân sự và những bài toán về chánh trị nội bộ, ít nhất trong công khai hay lúc có mặt các tổng bộ trưởng. Ông thích đi sâu vào các vấn đề kinh tế và xã hội . Hôm nay là ngoại lệ, theo ông thì dư luận quần chúng trên thế giới về vấn đề Việt Nam hình như bị “đông lạnh”. Ông còn đi xa hơn khi quả quyết rằng Hoa Kỳ không còn can thiệp quân sự vào Việt Nam nữa, vì ông Ford cũng lạnh cẳng rồi.

    Ông Thiệu lắng nghe, gần như không được thoải mái lắm vì ông không đồng ý với Thủ tướng Khiêm.

    – ” Chúng ta phải kéo dài sự sống còn trong thời kỳ gọi là khó khăn tạm thời nầy , ông Khiêm tiếp tục nói, chính vì chúng ta sẽ có lợi tức dầu hỏa trong năm 1976.

    Ông so sánh tình hình của đất nước với tình thế của người chơi bài phé. Thấy được dầu lửa người ta sẽ tăng thêm tiền đánh cuộc. Trước mặt chúng ta, Hà Nội không theo kịp mình đâu. Muốn cho dầu hỏa chảy ra càng nhanh càng tốt thì các công ty đầu tư cũng phải được hưởng lợi nhuận nhanh. Phải khuyến khích họ, phải nhường cho họ một bách phân hợp lý nào đó của Chánh Phủ .

    – ” và lúc đó thì họ sẽ cố gắng thúc đẩy công tác khoan dầu nhanh hơn. Chúng ta không thể tự cho mình một sự xa hoa được hưởng lợi tối đa trong dài hạn .

    Ông Khiêm nhắc lại là ông ta có nói với ông Hảo Phó Thủ Tướng đặc trách kinh tế để ông nầy hối thúc các công ty dầu hỏa. Ông Khiêm muốn thấy kết quả cụ thể trong vòng 6 tháng.

    Có vẻ phấn khởi, ông nhấn mạnh:

    – ” Nếu chúng ta xuất cảng được nhiều dầu vào năm 1997 thì lúc bấy giờ tình thế chúng ta sẽ tốt hơn.

    Phiên họp chạy theo tình hình kinh tế quên mất việc tỉnh Phước Long vừa bị Bắc Việt chiếm.

    Chiều hôm đó, hai bản phúc trình chi tiết của phiên họp nầy tới tay Tòa Đại sứ Mỹ. Một bản do Phụ Tá an ninh của ông Thiệu. Tướng Quang được yêu cầu báo cáo những gì đã xảy ra ở Phủ Tổng Thống. Thiệu vẫn biết như vậy. Và còn khuyến khích ông nầy làm như một nhân viên CIA tại đây nữa. Nhờ đó mà ông Thiệu điều động được một vài người Mỹ của Tòa Đại sứ trong lúc họ vẫn tưởng họ là “thầy” trong trò chơi nầy. Người Việt Nam bên nào cũng thế đã có một kinh nghiệm lâu đời về nghề gián điệp rồi, cả nhị trùng lẫn tam trùng ! Người Mỹ thì mới đây thôi.

    Bản báo cáo thứ hai xuất phát từ một trong những thành viên của phiên họp vừa rồi.

    Có rất nhiều sự “thoát tin” như vậy ở Saigon và Hoa thạnh Đốn, và có nhiều người “bán tin” như vậy chung quanh Tổng Thống, Thủ Tướng, và những người có trách nhiệm hành chánh và quân sự. CIA đã gài rất nhiều máy thu âm trong dinh Tổng Thống. Họ tin chắc rằng trong hàng thân cận của ông Thiệu phải có một người làm việc cho Hà Nội . Ai ? Quang, Hảo, hay một người nào khác ?

    Tổng Tham Mưu Trưởng Liên Quân đã được thông báo về những quyết định của phiên họp quan trọng vừa qua. Ông ta đã nhận được chỉ thị, và ông chuẩn bị để thuyết trình cho những người khách Mỹ quan trọng.

    Ngày 9 tháng giêng, trong gian phòng thuyềt trình rộng lớn của Bộ Tổng Tham Mưu, tướng Viên tổng kết cho các sĩ quan của ông một bản phúc trình dài 11 trang. Ông thông báo kết luận : “một cuộc tấn công quân sự đại quy mô của Bắc Việt”, một cuộc tấn công mà Tổng Thống đang chờ đợi.”

    Người ta nói tướng Viên “che dù” một tiếng lóng của giới quân sự Việt Nam . Ông không có sáng kiến mà cũng không có khả năng phân tách hay giải đoán tình hình mà lẽ ra ở cương vị của ông là phải có đầy đủ. Ông nhanh chóng chấp nhận là Bộ Tham Mưu của ông hoạt động trong vai trò của một cơ quan tư vấn, một nhiệm vụ mà bất cứ một đại tá quèn nào cũng đảm trách được . Phải chăng đó là cái giá phải trả để được ngồi mãi ở chức vụ nầy ? Ông thích ngồi thiền (yoga) hơn là đi thanh tra chớp nhoáng ngoài mặt trận, với một tướng đi tướng đứng khá đẹp lúc nào đầu cũng đội mũ đỏ của binh chủng nhảy dù. Ông không khúm núm nhưng chịu vâng lời. Tướng Quang cố vấn an ninh, là người soạn kế hoạch đại cương về chiến lược và chiến thuật cho ông Thiệu. Sau khi Tổng Thống chấp thuận thì ông Quang chuyển lịnh thi hành xuống cho Bộ Tổng Tham Mưu. Chính ông Quang đã cho lệnh trực thăng vận đổ 200 biệt kích dù xuống Phước Bình đang bị bao vây.

    Ngày 17 tháng giêng, ông Viên nhận được một bản phúc trình của tướng Trần Văn Trung, Tổng cục trưởng Tổng Cục Chiến Tranh Chánh Trị . Bản phúc trình được chuyển đến Thủ Tướng và Tổng Thống, và ngày hôm sau nó cũng đến tay Đại sứ Hoa Kỳ .

    Bản phúc trình nghiên cứu về kế hoạch của cộng sản trong năm 1975:

    ” Chiến dịch nầy có thể sẽ chấm dứt vào tháng 6 dl. Nhằm tiến chiếm một số quận và tỉnh, nhất là thuộc các tỉnh Tây Ninh, Phước Long, Bình Long, Kiến Tường và Kiến Phong” Cộng sản sẽ cố cắt đứt Việt Nam Cộng Hòa theo một con đường kéo thẳng từ Kontum xuống miền duyên hải Quảng Nam. Trong những tháng sắp tới họ sẽ tìm cách phá cho nền kinh tế của Miền Nam yếu đi. Họ sẽ đồng loạt tấn công các cầu, các kho nhất là kho đạn và đặc biệt những cơ sở thuộc kỹ nghệ dầu hỏa. Họ cũng sẽ cẩn thận vì họ cũng muốn giữ cơ cấu hạ tầng để họ sẽ còn khai thác và xử dụng được một khi họ nắm được quyền hành ở đây. Họ sẽ tạo cơ hội để bắt Miền Nam phải nhận cả triệu dân di cư. Và lồng các nữ cán bộ đảng vào các trại di cư kể cả các trại di cư cũ, để tạo biến loạn. Cộng sản sẽ nuôi dưỡng các phong trào chống ông Thiệu để ông không thể ra ứng cử năm vào tháng 11 năm 1975. Họ sẽ hô hào : “Chiến tranh vẫn tiếp diễn khi nào ông Thiệu còn ở chánh quyền” . Những tổ chức của cộng sản như thanh niên phụ nữ và trí thức sẽ hợp tác với phong trào ” đòi Hòa bình” ở Hoa Kỳ để ngăn cản Tổng Thống Ford không cho viện trợ quân sự cho Miền Nam . Trong chiến dịch nầy cộng sản hy vọng sẽ dùng những cựu tù binh Mỹ. Nếu kế hoạch và chương trình hành động nầy được thi hành thì vào khoản tháng 6/1975 Việt Nam Cộng Hòa bắt buộc sẽ phải ký một hiệp ước khác và sẽ phải chịu thành lập một chánh phủ liên hiệp. Chừng đó những toán tuyên truyền sẽ cố gắng xé nát tất cả các đơn vị của QLVNCH. Những đại biểu cộng sản trong chánh phủ liên hiệp sẽ tạo thêm nhiều khó khăn trong một hay hai năm, và cái Chánh Phủ đó sẽ bất lực , các thành viên cộng sản sẽ từ nhiệm, và một Chánh Phủ khác sẽ được thành lập: Chánh Phủ độc lập “Quốc Gia Dân Chủ Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam” một Chánh Phủ “cấp tiến, xã hội của giai cấp vô sản” . Và ba bốn năm sau, một “chánh phủ độc tài” thực hiện việc thống nhất hai miền Nam Bắc sẽ thay thế Chánh Phủ của giai cấp vô sản kia.

    Chung quanh ông Thiệu, người ta tin là cộng sản sẽ tốn ít nhất 2 hay 3 năm nữa. Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa tuy là cô đơn nhưng sẽ đứng vững. Cần nhứt là tình hình kinh tế phải tốt đẹp hơn. Các tổng bộ trưởng phải gia tăng tuyên bố khích lệ thêm lên. Đặc trách về kinh tế ông Hảo cam kết sẽ gia tăng xuất cảng. Bị hối thúc, ông nói gỗ và ngư hải sản có thể sẽ mang về 100 triệu mỹ kim hằng năm. Ông nói hơi quá: trong năm 1974 Miền Nam phải nhập cảng 929 triệu mỹ kim và chỉ xuất cảng được 76 triệu. Người ta đổ cho Chánh Phủ điều hành lãnh vực kinh tế không tốt, ngó lơ các cuộc mua bán ngoại tệ và chợ đen.

    Hãy noi gương cá nhân ông Hảo: “hành động có đạo đức”

    Ông cùng với Đô trưởng Saigon đi khắp các chợ, những nơi có chứa hàng lậu thuế, thuốc lá, rượu tây, hàng ngoại , máy thu phát âm thanh cực chính xác …. ông cố thuyết phục người bán là nên chấm dứt chuyện mua bán bất hợp pháp nầy đi, điều làm cho người ta vừa kinh ngạc vừa tức cười. Trong sự ngây thơ nầy ít nhất ông cũng đã tỏ ra thành thật. Cả người mua và người bán ai cũng cười. Báo chí nghiêm khắc chỉ trích ông Phó Thủ Tướng. Tờ Điện Tín viết: những chuyến đi dạo chợ của ông Phó Thủ Tướng Hảo được chiếu trên vô tuyến truyền hình là hành động có tánh cách “cố tình khoa trương”.

    Người dân đứng đắn ai cũng biết là nếu có tham nhũng, hối lộ, để được giấy phép nhập cảng hậu hĩ hay giấy phép xây cất bừa bải, hoặc chuyện mua bán ngoại tệ v..v.. thì những thứ toan tính đó không ai dại gì đem ra ngay giữa chợ đâu.

    Ở “chợ trời” nơi các món hàng đánh cắp, hàng lậu thuế… được bày bán lẫn lộn với mọi thứ lặt vặt với giá hạ, người ta mua đi bán lại đủ mọi loại hàng từ chiếc máy thu thanh cực nhỏ đến bàn máy đánh chữ, đồ trận, và đồ lót bằng vải kaki, từ đồ hộp, thức ăn khô của binh sĩ đến những máy khoan điện cầm tay xuất xứ từ California đến những đôi giày da cá sấu của Đài Loan. Trên quầy hàng đủ loại xà phòng còn nguyên xi trong hộp nằm lẫn với các mũ lưỡi trai. “Thượng vàng hạ cám” thứ gì cũng có, tốt xấu gì cũng có….. nhưng từ khi 500.000 lính Mỹ hồi hương rồi thì ” chợ trời” mua bán hơi ế ẩm..

    Về khách hàng thì ở chợ trời nầy, người ta nhận thấy đủ mọi tầng lớp người trong xã hội , giàu sang có, nghèo hèn có, dân quê từ các tỉnh Miền Tây lên có, từ các tỉnh miền Đông giáp giới Cam Bốt xuống có, công nhân và thợ thầy của hàng ngàn công ty ở Saigon có, quân nhân mặc quân phục có, sĩ quan và binh sĩ ngoại quốc thuộc Ủy Hội Quốc Tế có… Ngoài ra người ta còn nói nhiều về một số không ít “cao bồi”, quần ống túm, từng cặp từng cặp lượn qua lượn lại đèo nhau trên các xe Honda, để thừa cơ hội đông người chôm món nầy chỉa món nọ… đôi khi làm phiền khách du lịch. Một số người ngoại quốc thường nhìn bề ngoài hào nhoáng, thơ mộng, khó thấy những gì ẩn kín của thành phố. Ở Saigon phải trên 100 tiệm thương mãi mới có một tiệm hút thuốc phiện, trên 1000 tiệm ăn hay chạp phô mới có một quán nhảy. Đô thành Saigon rộng lớn với Gia Định, Chợ Lớn và các quận ngoại thành, ngoại ô, có khoản từ 3 triệu 500 ngàn đến 4 triệu dân, trong đó có một số từ các tỉnh đổ về, đến, ở một thời gian, rồi đi… không cố định.

    Du khách thường hay chơi ở trung tâm thành phố, chung quanh dinh Độc Lập, nhà bưu điện trung ương, nhà thờ chánh tòa, đường Tự Do con đường chính đi thẳng từ nhà thờ Đức Bà đến Sông Saigon là nơi có những nhà hàng nổi. Du khách đi dạo chơi chung quanh chợ Saigon và các khách sạn, như Continental mà người chủ Philippe Franchini kín đáo ở ngay tại đó, Caravelle tối tân có máy điều hòa và ngang đó là Graham Greene…. Du khách thường ăn ở các nhà hàng do người Pháp hay người Corse làm chủ, và giao dịch với 18 chi nhánh ngân hàng Việt Nam hoặc 14 ngân hàng ngoại quốc..

    Giới quốc tế sang trọng thì ở những khu đẹp hơn, ở quận 3 và quận 1, nơi đó đường sá sạch sẽ hơn với những hàng cây cao bóng mát hai bên đường, có những biệt thự tráng lệ kín cổng cao tường, với những hàng rào cây xanh ngắt, bông hoa cây kiểng. Đây cũng là khu gia cư của giới thượng lưu trí thức , công chức cao cấp, người Âu Châu, Nhật Bản và Hoa Kỳ. Đường phố ở đây rất yên tĩnh như chìm trong giấc ngủ trưa vậy vì ít người qua lại. Trong cuộc chiến mà Bắc Việt gọi là “chống Mỹ cứu nước” hay là “cuộc kháng chiến thứ hai”, hàng trăm hàng ngàn người Mỹ cư trú ở Saigon. Ngoài các khách sạn hay trong doanh trại, họ còn thuê hay mua nhà ở những khu sang trọng và yên tĩnh nầy, một di sản kiến trúc rất đẹp của người Pháp đã để lại cho Việt Nam .

    Người dân Saigon thì ở các nơi khác, như quận 5 quận 7 ồn ào đông đúc hơn, chen chúc nhau dài theo các con đường nhỏ hẹp hơn, có khi không được tráng nhựa, không được sạch sẽ lắm. Nhưng cũng không đến đỗi nghèo khổ như Calcuta hay Dacca đâu. Người dân Saigon nào mà không tìm được nhà 1, 2, hay 3 phòng ở nội thành, không có được nhà xây gạch thì họ sẽ ở những dãy nhà xây cất bằng vật liệu nhẹ, bằng cây, hay trên những nhà sàn hai bên bờ rạch, hoặc trên những nhà bè, nhà nổi, trên thuyền bè lưu động. Chỗ nào cũng ồn ào với tiếng động cơ máy móc của các xưởng thủ công nghệ, sản xuất ngay tại gia đình từ nồi niêu song chảo bằng nhôm đến mọi vật dụng bằng nhựa, một loại chất dẽo của thế giới thứ ba cũng còn được gọi là thế giới đang phát triển. Giới bình dân Saigon là thợ sửa chữa đủ loại, từ chiếc xe đạp đến mô tô, tủ lạnh.. họ hành nghề ngay trong căn nhà ọp ẹp trống trải của họ, dưới mái tôn nóng bức. Hai bên các con rạch nước đen ngòm lại còn có những căn nhà nhỏ như ổ chuột. Trẻ con trần truồng chơi đùa vui vẻ vô tư giữa các thùng cây, các bao lúa hay các vật liệu phế thải bẩn thỉu, vỏ đồ hộp, thùng giấy, ống cao su …của gia đình thu nhặt được.

    Ở cái thế giới hỗn độn nầy trẻ con được ăn uống no đủ, nhưng các cơ quan y tế không chiến thắng được bịnh thiếu sinh tố và bịnh sốt rét. Cuộc chiến tranh và sự có mặt của người Mỹ đã tạo ra được một sự phồn thịnh bề ngoài hay tạm thời thì đúng hơn (mà bộ máy tuyên truyền Bắc Việt sau 1975 gọi là “phồn vinh giả tạo”). Hậu quả của sự phồn thịnh nhất thời ở đây sẽ rơi vào lớp người không được ưu đãi nầy. Ngoài một số ít trại tỵ nạn, không có một người dân Miền Nam nào đói hết. Năm 1975 người ta đọc được trên báo chí các nước rằng Miền Nam Việt Nam vẫn còn là một nước nông nghiệp (đến 80 %) . Chưa đúng lắm, vì bị ảnh hưởng của chiến tranh, bị đồng lương hấp dẫn, nhiều nông dân chẳng những đã trở thành công nhân, mà còn đã biến thành thợ hồ, thợ máy, thợ tiện, thợ điện hay cả nhạc sĩ nữa . Các chuyên viên xã hội học của Hoa Kỳ đến Miền Nam Việt Nam không có thì giờ để thấy rõ được hiện tượng nầy , vì họ còn đang bận với kế hoạch bình định, và điều tra các tù binh việt cộng. Xã hội Miền Nam Việt Nam thay đổi, tiến lên lần lần với thế kỷ XX, có người nói là huy hoàng, có người cho là suy sụp. Chiến tranh làm cho gia đình ly tán, sanh ra đĩ điếm nhưng cũng tạo ra những công nhân giỏi và thợ khéo, những bác sĩ và dược sĩ lành nghề, nhiều chuyên viên cấp cao, nhưng cũng làm cho một số hàng chục ngàn thất nghiệp, phần lớn nhóm sau nầy vào quân đội để sống. Con số công nhân ở Saigon chắc chắn phải nhiều hơn ở Hà Nội.

    Vì họ đoàn kết chặt chẽ với nhau nên trên 500.000 người Tàu sống ở Chợ Lớn ít có người thất nghiệp. Từ lâu rồi trên nguyên tắc Hoa Kiều bị cấm buôn bán cá, thịt, vải vóc, sắt thép, chạp phô và gạo. Họ cũng không có quyền có cửa hàng tạp hóa, buôn bán xăng dầu và chuyên chở công cộng. Nhưng ở Việt Nam luật lệ là một chuyện còn thi hành luật là một việc khác. Người Trung Hoa kiểm soát hết hệ thống các thương hội, trong đó tất cả những cơ quan an ninh mật vụ và trước hết là CIA, khó mà tuyển được người lắm. Trên thực tế người Trung Hoa như các thầu khoán, các người làm việc , đều núp kín dưới tên họ Việt Nam nên họ đều có ruộng , là chủ các hãng xưởng, sản xuất từ bột, dầu ăn, đồ hộp v.v.. đến cả nước mắm nữa, họ còn là chủ khách sạn, các tiêm ăn, nhà hàng sang trọng, các tiệm “lạc son” (bán đồ sắt đồ đồng ), và các tiệm bán thực phẩm. Những người bán dạo, các tiệm bán thức ăn thức uống đầy rẫy khắp mọi nơi khắp các thành phố. Họ còn có chân hay làm chủ một số lớn công ty xuất nhập cảng, các hãng buôn sĩ bán lẻ. Tất cả những dàn xếp tính toán trong việc mua bán đều chắc chắn và khả tín vì trong chuyện làm ăn lớn nhỏ có dính dấp đến tiền bạc, thì một lời nói của người Tàu dù không có giao kèo khế ước đều chắc như đinh đóng cột, đều là vàng. Họ liên lạc chặt chẽ với mọi ngân hàng, mọi công ty tín dụng ngoại quốc, từ Bangkok đến Singapore, Hong Kong, Đài Bắc. Không gì qua được người Tàu khi muốn chuyển tiền ra ngoại quốc, hay muốn đổi tiền Việt Nam ra mỹ kim, đồng quan thụy sỉ, hay đồng mark của Đức v.v.. mà không cần phải đi qua sở Hối Đoái.

    Ở Chợ Lớn, người ta không thấy một biểu ngữ nào của chánh phủ. Bây giờ thì ở thủ đô đang có treo một biểu ngữ mới: “Phước Long sẽ được tái chiếm”. Biểu ngữ mới toanh, được treo ở trước các công sở.

    Còn rất ít người chú ý đến “Bốn Không” của ông Thiệu :

    – “Không thương thuyết với địch” còn có ý nghĩa gì nữa sau bao nhiêu thời gian dài ở bàn hội nghị để đi đến Hiệp Định Paris 1973.

    – ” Không công nhận cộng sản ở Miền Nam Việt Nam ” : điểm chánh trị căn bản của Tổng Thống Thiệu.

    – “Không có Chánh Phủ Liên Hiệp”, khi một điều khoản của Hiệp Định đã có dự trù một Hội Đồng Hòa Giải Dân Tộc .

    -“Không nhượng một tất đất cho cộng sản ” , trở thành chua chát sau khi mất Phước Bình….và tỉnh Phước Long.

    Cũng tương tự như ở Miền Bắc , ở Miền Nam các biểu ngữ được dán, treo hay vẽ lên tường. Như: “Đừng bán gạo cho cộng sản” hay “Đừng nghe những gì cộng sản nói mà hãy nhìn những gì cộng sản làm”, hoặc ” Hợp tác với cộng sản là tự mình uống một viên thuốc độc có bọc đường” v.v…

    Ở Saigon nếu không có những hình thức tuyên truyền như vậy, không có các bản tin tức truyền thanh truyền hình, không có báo chí, tin đồn, chuyện nhãm nhí .. ở khắp các quận, không có binh sĩ mặc quân phục… thì người ta có thể không nhớ gì đến chiến tranh.

    Đôi khi người ta nghe tiếng đại bác bắn ở xa xa, nhưng không còn có những vụ đặc công hay nổ mìn ở Saigon nữa, hàng rào kẽm gai đã rỉ sét , bao cát thì rách và lính gác trước quận hay doanh trại thì thờ ơ, thường ngồi nhiều hơn đứng. May mắn thay cho Saigon một thủ đô yên tĩnh lạ lùng trong cuộc chiến, Saigon có một vẻ đẹp duyên dáng, vui tươi, đầy nhựa sống.

    Vào buổi sáng sớm tinh sương êm dịu, Saigon thức dậy như một đóa hoa vừa hé nở.. Giống như các đô thị lớn ở Á Châu, dân chúng từ ngoại ô đổ về trung tâm thành phố. Cảnh sát mặc đồng phục xám bắt đầu đi tuần rỏn.. giữa tiếng gáy rân trời của vô số bồ câu, Các bà bắt đầu nhóm lửa đốt lò. Mùi than, củi hòa lẫn với mùi nước lèo thơm ngát, mùi xăng, mùi nước mắm. Để đi làm việc, già trẻ gì các ông cũng mặc quần dài áo sơ mi đẹp, các bà thì đội nón lá, các cô thì mặc áo dài mượt mà.. Xe đạp và xe gắn máy chạy chật cả đường, Các quầy hàng bày đầy kẹo, thuốc lá, kính râm, nước hoa, kem đánh răng, ấm tích, bút máy, thau chậu, cả chim nữa..Tất cả hàng hóa bằng mũ nhựa màu sắc rực rở kiểu Á Đông làm cho người Phương Tây lóe mắt. Người ta mua bán, đổi chác, sửa chữa .. ở đây có mùi dầu bạc hà, chỗ kia mùi nước tiểu.. Chợ nào cũng đầy ngập hàng hóa, nhất là chợ trung ương. Dâu, cam, trái vải, bưởi, ớt, khoai, rau muống, hành, cà rốt không thiếu thứ gì cả, và nhiều nữa. Người mua trả giá không phải để cho vui mà thực sự để tìm giá hạ. Từ sáng tới chiều, lưu thông tấp nập, tất bật và vui nhộn. Người ta tôn trọng phụ nữ hơn là tín hiệu đèn lưu thông. Xe buýt và xe khách đầy người mặc dầu đã cũ. Xe đạp, xe gắn máy , mô tô, nổ rần trời chạy chen với tắc xi, những xe Renault 4 ngựa, cũ kỷ màu xanh mà đồng hồ tính tiền không bao giờ nhảy. Tài xế cứ vô số 2 rồi vọt… Saigon là thành phố của xe Honda, của xe Peugeot, của xe Renault. Khoản 8 giờ thì người ta thấy tài xế Việt Nam trên những xe Ford Pinto đen của Mỹ. Ai cũng biết rằng những người Mỹ ngồi cạnh tài xế Việt Nam là nhân viên của CIA. Xe Ford Pinto đen là loại xe ưa thích hay chánh thức của cơ quan nầy. Những người Tây Phương khác , nhất là người Pháp thì thường dùng xe La Dalat hay Méhari. Các xe ba bánh thì chuyên chở các thùng hàng mà họ ràng buộc cao ngất lên, nhưng thăng bằng như hát xiệc vậy. Người ta bị chận lại hoài, rồi người ta nhận kèn in ỏi, người ta vọt lên, càu nhàu lấy lệ. Một đứa trẻ, hai đứa bé, có khi ba.. được đèo phía sau xe, cười đùa tự nhiên. Ở trung tâm thành phố được ghi nhận là có nhiều người Ấn Độ, Có khoản từ 3000 đến 4000 dân Ấn ở Saigon. Họ đến đây từ Coromandel, từ Malabar, từ những chi nhánh thương mại của Pháp. Họ chuyên nghề mua bán ngoại tệ. Vì là dân cho vay chuyên nghiệp nên họ đổi tiền nặng lời kinh khủng. Dân Hindous thường có thông hành Pháp, và người ta thường mướn những người Hindous nầy, đôi khi cũng có vài người dân Sikh để gác đêm các cơ sở thương mại quan trọng như kho hàng hay các khách sạn lớn như Continental.

    Có vài trẻ nhỏ khoảng 12 hay 13 tuổi đầu thường chạy quanh theo người ngoại quốc để gạ đổi tiền hay gạ tìm gái hay gạ bán ảnh khỏa thân.

    Có những trẻ khác lớn hơn rủ rê đi tiệm hút. Những người sành điệu thì thường chọn khách sạn Hưng Đạo, Hưng Đạo 1 hay Hưng Đạo 2 , nơi đây có những cô gái mặc áo lót ra tiếp khách. Cuộc chiến thường vứt vào thành phố đủ hạng người , từ người quân nhân với bộ quân phục mà không có súng ống, tới những kẻ vô công rổi nghề, những người chạy áp phe. Các anh lính thường tản bộ tay nắm tay, giống như bộ đội ở Hà Nội . Sỹ quan thì có vẻ quan trọng hơn đi xe Jeep hay xe chỉ huy. Đến khoảng giữa trưa, hơi nóng phủ mặt đường , không khí dày đặc , nặng nề.. oi bức. Đâu đó có tiếng còi hụ của một xe cứu thương.

    Ở tiệm cà phê Givral, “ba chàng ngự lâm pháo thủ” đang nhâm nhi ly cà phê đầu tiên trong ngày. Vượng và Cao Giao đang nghe Ẩn nói chuyện, có vẻ chăm chú và nể phục, đôi lúc kinh ngạc vì tầm nhìn quá rộng và quá chính xác của người bạn.

    Quá trưa thì các rạp chiếu bóng đầy khách. Phim chiến tranh thì quá phổ thông, nhưng cách đây chừng ba bốn chục cây số người ta có thể nghe thấy tận mắt trận chiến thật sự, tại sao phải xem phim ? Có lẻ vì phim nó có hồi kết cuộc. Ở Saigon người ta sống bên lề cuộc chiến, nhưng không thể quên cuộc chiến được . Người nào cũng biết là cuộc chiến chưa chấm dứt và không một ai biết nó sẽ chấm dứt lúc nào và như thế nào .

    Người ta ít đi xem những cuộc triển lãm do cơ quan văn hóa các Tòa Đại sứ tổ chức vì các cơ quan nầy cũng chiếu phim tài liệu hấp dẫn lắm. Như Học Viện Pháp sẽ chiếu “Bốn trăm phát” ngày 7 tháng giêng, “Jules và Jim” ngày 9, “Cesar và Rosalie” ngày 10. Trung tâm Saigon cũng như Hà Nội đều có lối kiến trúc của Pháp. Nhưng các sinh viên bây giờ không còn ai nói tiếng Pháp nữa. Trong những năm gần đây, tiếng Anh thông dụng hơn để bước vào các hệ thống hành chánh hay quân sự.

    Những người dân tị nạn đến từ Phước Long từng nhóm nhỏ, đi bộ có, đi xe cũng có, vài nhóm quá giang xe quân đội. Họ không làm rối loạn thành phố.

    Không như các thành phố lớn khác như Đà Nẵng hay Huế, Saigon gần như đứng ngoài cuộc chiến vốn thường xảy ra xa thủ đô, trên vùng Cao Nguyên, trong đồng ruộng hay tận các làng mạc xa… Ở những nơi đó cũng có đầy đủ vật dụng bằng mủ, bằng nhựa nhưng không có đèn nê ông vì không có điện. Trẻ con giữ trâu thường đi bắt cua cá trên các bờ đê ruộng hay trong các ao. Ở Saigon một tiếng súng thôi cũng làm cho người ta bu lại. Nhưng ở trong đồng ruộng, phải là một tiếng bom nổ hay một đạn pháo nổ bên cạnh mới làm cho các chú bé nầy ngẩng đầu lên nhìn. Bọn chúng đánh giá sự nguy hiểm bằng thính giác. Dân làng cũng vậy, họ tìm cách sống bên lề cuộc chiến, để làm việc, để tìm nguồn nước mà trồng trọt, để mà sống và được sống còn. Với những đàn heo đen và đàn gà chen chúc dưới gầm giường, dân làng dù sống trong những căn nhà tranh hay nhà gạch, họ vẫn có đủ những máy thâu thanh nhỏ để nghe được tin tức đủ loại và âm nhạc. Ngay năm 1975 cũng như những năm trước , 1965, 1955. hình ảnh của làng mạc trong Miền Nam là như thế, không giống như làng mạc ngoài Bắc Việt , Ở Miền Bắc có được mấy miếng tôn dợn sóng trên mái nhà là điều hiếm có.

  3. Chương 3

    Những bức thơ của ông Nixon

    Tất cả những binh sĩ Hoa Kỳ , những cố vấn Mỹ trong các đơn vị QLVNCH, những chuyên viên, những tổ chức bán quân sự Hoa Kỳ, tất cả đều rời khòi Việt Nam từ tháng ba năm 1973. Hoa Kỳ tôn trọng điều 5 của Hiệp Định Paris: điều nầy qui định là tất cả các lực lượng của họ phải rời khỏi Việt Nam trong vòng 60 ngày. Dư luận chánh trị , Quốc Hội và những người Mỹ nhắm mắt giữ đúng luật đều chống lại mọi vi phạm quá rõ rệt Hiệp Định. Trước khi ký Hiệp Định, người Mỹ cũng đã có gian lận phần nào khi họ tăng cường thêm đạn dược và một số vũ khí tối tân cho Miền Nam Việt Nam : Ngũ Giác Đài dĩ nhiên không muốn mang tiếng xấu là đã để lại cho Miền Nam quân dụng không tốt. Bây giờ thì chỉ còn khoản 8000 công dân Mỹ ở Miền Nam Việt Nam . Riêng Tòa Đại sứ đã có danh sách 2300 người rồi. Bây giờ họ chỉ là người đỡ đầu thôi, với ít quyền lợi và bổn phận hơn. Tòa Đại sứ Hoa Kỳ, một trung tâm đầu não cũa người Mỹ, nằm cách Dinh Dộc Lập của Tổng Thống Thiệu chừng vài trăm thước, trông giống như một cái đồn. Trong cuộc tấn công hồi Tết Mậu Thân 1968 có một toán đặc công cộng sản đã đột nhập vào được một góc trong vài tiếng đồng hồ.

    Từ văn phòng của ông ở lầu 2, nằm giữa ban kinh tế và ban chánh trị , Đại sứ Graham Martin cai quản rất nhiều cơ quan trực thuộc ở khắp SàiGòn và 4 tòa Lãnh sự. Ở các tỉnh thì ông cũng có nhiều tai mắt, phần lớn các ông “phó lãnh sự” đều là nhân viên của cơ quan Tình Báo Trung Ương Hoa Kỳ (CIA). Những người nầy báo cáo thẳng về văn phòng của ông Thomas Polgar, trưởng lưới CIA, nằm ở lầu 4 của Tòa Đại sứ, bên cạnh một trung tâm truyền tin tân tiến. Trực thuộc Tòa Đại sứ còn có Phòng Thông Tin Hoa Kỳ nằm ở lầu 1, ngay trên thư viện Lincoln, và cơ quan Nghiên Cứu & Phát Triển nằm ở những dãy nhà gần Câu lạc bộ thể thao SàiGòn.

    Tòa Đại sứ có hai cơ quan thiết yếu vừa có đông nhân viên vừa có nhiệm vụ quan trọng. Đó là Phòng Trung Ương Tình Báo CIA và Phòng Tùy Viên Quân Lực Hoa Kỳ . Ngay tại SàiGòn không thôi, cơ quan CIA đã xử dụng 300 nhân viên tính luôn cả thơ ký và nhân viên mật mã. Nhiều người phải ra ở khách sạn DUC, ở đây thường có đông người ở quầy rượu, hồ bơi và bãi tắm nắng.

    Phòng Tùy Viên đặc trách về phòng thủ (DAO : Defense Attache Office) một tổ chức duy nhất trên thế giới nầy, là một cơ quan lớn nhất, gồm có 50 quân nhân và 1200 nhân viên dân chính, dưới quyền của tướng Homer Smith, chuyên viên về tiếp vận. Có khoản 100 người là binh sĩ ở trong tình trạng giải ngũ tạm thời làm việc như nhân công khế ước . Tướng Smith là một tùy viên quân sự đặc biệt trực thuộc thẳng với Đại sứ. Nhưng là một cấp tướng, ông còn trực thuộc với Bộ Tham Mưu Liên Quân ở Ngũ Giác Đài, Hoa thạnh Đốn, một hệ thống chỉ huy nặng nề trong không gian và thời gian đã có từ khi có chiến tranh. Tướng Smith rất hợp với ông Martin, còn Alan Carter , trưởng Phòng Thông Tin, thì lại lạnh nhạt với Đại sứ của mình, vì bị chỉ trích là nói quá nhiều với các nhà báo. Nhà cầm quyền ở SàiGòn cũng như ở Hà Nội đều biết về cái tổ hợp ngoại giao nho nhỏ đầy thương yêu lẫn tỵ hiềm kín đáo nầy.

    Phòng Tùy Viên của tướng Smith và các ban ngành trực thuộc đã chiếm đóng lại hết các cơ sở của Bộ Tư Lệnh Quân lực Hoa Kỳ ở Việt Nam, từ Tổng hành dinh đến các rạp chiếu bóng, hồ bơi, phạn điếm, câu lạc bộ… ở ngay sân bay Tân sơn Nhứt. Tướng Smith coi về việc cấp phát quân dụng và gởi người đến thanh tra các đơn vị thuộc quân đội Miền Nam Việt Nam . Một công việc rất phức tạp. Bắc Việt thì báo cáo láo với Liên Xô và Trung Quốc về tình trạng tồn kho của mình, còn Miền Nam thì cũng không khác gì đối với người Mỹ. Dựa theo các báo cáo từ hơn 10 cơ quan ở các tỉnh gởi về, Phòng Tùy Viên Quân Lực soạn thảo phúc trình về tình hình vi phạm Lệnh ngừng bắn của Hiệp Định Paris, một việc mà Ủy Ban Quốc Tế ít khi chịu làm.

    Cơ quan CIA cũng có mặt ở phi trường Tân sơn Nhất, rất dễ nhận với các chiếc phi cơ và trực thăng sơn màu sậm và trắng của hàng không Air America. Vào những năm cuối thập niên 60, thời kỳ tốt nhất, Air America có tới 5600 nhân viên. Các phi công, thường là cựu quân nhân rất hiểu biết về Việt Nam . Lương của những người nầy thường lên đến 45.000 kỹ kim một năm (khoản 200.000 quan Pháp) mà một nửa khỏi bị trừ thuế.

    Từ ngày ký Hiệp Định, Air America thường được dùng để chuyên chở nhân viên của Ủy Ban Quốc Tế, kể cả các thành viên Ba Lan và Hung gia Lợi. Kể từ khi Ủy Ban đến SàiGòn, Polgar giải thích là nếu các thành viên của Ủy Ban Quốc Tế gồm có Gia nã Đại (sau nầy được Iran thay thế), Nam Dương, Ba Lan và Hung gia Lơị, mang theo phi cơ của họ nữa thì chắc chắn sẽ có nhiều tai nạn xảy ra lắm. Do đó ông đề nghị dùng phi cơ của hàng không Air America. Mọi người ai cũng biết phi cơ nầy là của CIA. Đại sứ Ba Lan đầu tiên của Ủy Ban trước kia là giám đốc hàng không LOT của Ba Lan nên rất am tường vấn đề và thúc đẩy các đồng chí Hung gia Lơi của ông nên chấp nhận đề nghị của Polgar. Đề nghị nầy giúp hai phái đoàn nầy tiết kiệm được ngoại tệ mà các nước Đông Âu nầy vốn thiếu. Và như vậy cũng tránh được tai nạn. Nhưng có một lần người của Chánh Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam đã bắn hạ hai trực thăng của Ủy Ban Quốc Tế. Một trong hai chiếc đó có chở một sĩ quan Bắc Việt .

    Ủy Ban Quốc Tế có một Tổng hành dinh ở trong thành phố và các cơ sở khác thì đóng ở sân bay Tân sơn Nhứt. Nhiệm vụ của Ủy Ban là Kiểm soát và Giám sát việc ngừng bắn, nhưng họ không kiểm soát gì hết và cũng không giám sát được bao nhiêu. Do đó phía Gia nã Đại nhanh chóng mĩa mai chuyển danh từ tiếng Pháp CICS (Comité internationale de Controle et de Surveillance) ra tiếng Anh ICCS (International Committee of Control and Survey) để họ đọc trại ra là “I Can’t Control Shit” (Tôi không kiểm soát được gì hết, tôi chỉ kiểm soát mấy cục gạch chơi thôi !) Người Miền Nam Việt Nam hằn học hơn dịch ra là “Im Cho Coi Sao” (ngồi yên lặng chơi để coi cái gì sẽ xảy ra !)

    Hiệp Định Paris dành trọn 18 điều khoản cho cơ cấu pháp lý nầy, trên nguyên tắc CICS ( Ủy Ban Quốc Tế Kiểm Soát và Giám Sát Ngừng Bắn) thay thế cho CIC (Ủy Ban Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến), một ủy ban “hữu danh vô thực ” có mặt ở cả SàiGòn và Hà Nội từ 1954 cho đến 1973 mà không có làm gì hết. Phái đoàn Gia nã Đại thấy rõ là Ủy Ban không hữu hiệu nên họ nhanh chân rút lui khỏi Ủy Ban, và họ được phái đoàn hoàng gia Ba Tư (IRAN) thay thế. Như vậy Hoàng đế Ba Tư coi như bước vào sân khấu quốc tế.

    Các thành viên của Ủy Ban Quốc Tế nầy có nhiệm vụ phải đi điều tra mỗi lần một trong Hai Bên có báo cáo hay phản kháng về vi phạm Hiệp Định của phía Bên kia. Và trên nguyên tắc tất cả các quyết định của Ủy Ban đều phải đạt được sự “đồng thuận”. Hai phái đoàn Ba Lan và Hung gia Lợi luôn luôn khước từ mọi sự điều tra vi phạm do Chánh Phủ SàiGòn yêu cầu, Từ đó hai phái đoàn Nam Dương và Ba Tư chán nản vì họ thường đơn phương đi điều tra. Dù công việc có trịnh trọng thì trên phương diện pháp lý những bản phúc trình của họ cũng không có giá trị (vì thiếu chữ ký của Ba Lanvà Hung gia Lợi).

    Ngày 10 tháng giêng 1975, một người Ba Lan và một người Hung gia Lợi cùng hai cộng sự viên Ba Tư và Nam Dương đồng ký tên trong một bản phúc trình xét thấy bất lợi cho Chánh Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam , trong quận Long Khánh nằm về hướng Đông Bắc SàiGòn 80 cây số. Khi về đến SàiGòn, được cấp trên của họ khiển trách và nhắc nhở, hai người Ba Lan và Hung gia Lợi nầy khai là họ bị bắt buộc phải ký vào văn kiện nầy mà không hiểu gì hết.

    Hiệp Định Paris dự trù triển khai 7 toán Quốc Tế ở địa phương để giám sát quân dụng khi có sự thay thế. Các thành viên của Ủy Ban Quốc Tế đều biết rằng phần lớn những toán địa phương nầy không bao giờ được thành lập và không bao giờ có mặt đầy đủ ở những địa điểm hay địa phương được quy định. Khởi đầu quân số của Ủy Ban Quốc Tế tính chung là 3.300 người . Tổ chức nầy lần lần trở thành một cơ cấu hành chánh nặng nề, tự nuôi sống lấy. Họ không có quan sát viên ở tỉnh Phước Long. Trường hợp rất điển hình: Việt Nam Cộng Hòa yêu cầu họ có thái độ, Phái đoàn Ba Lan và Hung gia Lợi thì đổ thừa là họ “thiếu tin tức” , Phái đoàn Nam Dương và Ba Tư đề nghị gởi các toán quan sát lên xem, Phía Ba Lan và Hung gia Lợi từ chối hẳn, viện lẽ “không có an ninh”. Cho nên ở SàiGòn không có ai ngạc nhiên hết.

    Sỹ quan của Ủy Ban thường tổ chức tiệc tùng ăn uống, chơi tennis hoặc bơi lội ở Câu lạc bộ Thể Thao SàiGòn nhưng lúc nào cũng làm ra vẻ tài phán. Các báo cáo phản kháng vi phạm thì luôn luôn bị xếp xó bằng phủ quyết để không đi đến đâu cả. Trong những phiên đại hội, người ta không bàn cải về Phước Long, trừ khi để lấy một quyết định quan trọng và nhanh chóng là người ta không thể làm gì hết. Người ta dùng thì giờ để bàn cãi những chuyện thiết thực hơn như : tại sao hồ bơi ở Tân sơn Nhứt không chịu thay nước mỗi ngày ? Tuần nầy chúng ta được cấp bao nhiêu xăng ? Giá mỗi phần ăn ở Câu lạc bộ có cao lắm không ? Làm sao cho sửa chữa các máy điều hòa ? Chiều nay phái đoàn nào sẽ đại diện cho Ủy Ban chúng ta ở Tòa Đại sứ Pháp ? và ngày mai ở Tòa Đại sứ Úc Châu ? Các phái đoàn sẽ cho trình chiếu phim gì ở phòng chiếu bóng ?….. v.v…

    Đối với người Ba Lan và Hung gia Lợi thì đây là chuyến du hành đầu tiên ra nước ngoài của họ. Họ chóa mắt về đồng lương được trả bằng mỹ kim cho họ. Họ di chuyển trong thành phố bằng những xe buýt có lưới che ngừa lựu đạn, thăm viếng các đình chùa, mua sắm nữ trang và vàng, chơi gái và học cách chơi bóng bầu dục của Hoa Kỳ . Trong những buổi dạ hội ở SàiGòn tướng Czeslaw nặng nề và đại sứ Fijalkowski mảnh dẻ hơn, đều tỏ ra bình dân. Họ hôn tay kiểu Ba Lan rất là vui vẻ và lịch thiệp. Tướng Dega còn làm ngạc nhiên nhiều người khi ông cất tiếng ca tụng “cuộc cách mạng trắng của hoàng đế Ba Tư ” và những “dự án cải cách đầy cao vọng” của Ngài. Tướng Dega chơi thân với Tùy viên Quân lực của Pháp, Đại tá Yves Gras, một sử gia chu đáo về trận chiến tranh của người Pháp ở Đông Dương nhưng hiểu rất ít về cuộc chiến hiện tại. Hai sĩ quan nầy thảo luận về Nã phá Luân, về bà Walewska, về ông tướng Foch. Đại tá nầy khá đấy chứ. Ông ta tâm sự với tướng Ba Lan :

    -” Bài toán Việt Nam quá rắc rối để người ta có thể giải quyết bằng “chánh trị đô la”

    Người Ba Lan biết rành Việt Nam hơn người Hung gia Lợi. Họ có đại diện ở Miền Bắc và ở Miền Nam từ hơn 20 năm nay rồi. Nhiều người Ba Lan đã dùng phi cơ của Ủy Ban Quốc Tế trên các chuyến bay con thoi nối liền SàiGòn và Hà Nội mỗi thứ sáu hàng tuần. Còn người Hung gia Lợi thì chuyên lo tìm tin tức có lẽ vì họ cần phải theo kịp các đồng chí Ba Lan của họ về mọi sự hiểu biết. Họ cứ mang máy ảnh đi quanh quẩn các cầu, các trại lính, các căn cứ không quân, các kho đạn v.v.. Người dân Miền Nam giận lắm, họ khiếu nại. Làm gì được họ ? Các thành viên của Ủy Ban Quốc Tế đều có quyền đặc miễn ngoại giao. Người Ba Tư thì rất là mềm mỏng và hiếu khách. Họ cung cấp cho mọi người món trứng “caviar” để nhậu với rượu vodka của Ba Lan hay với rượu vang của Hung gia Lợi. Riêng người Nam Dương thì làm việc hoàn toàn trong tinh thần của Hiệp Định Paris. Họ luôn luôn có mặt bất cứ chỗ nào có nhận tiếp tế từ viên đạn thường đến viên đạn pháo, họ đánh giá và so sánh lực lượng , và tính sổ hết các vi phạm.

    – ” Tại sao các ông hoạt động tích cực như vậy ? Polgar hỏi thử một sĩ quan cao cấp Nam Dương.

    – “Chúng tôi có lẽ phải chiến đấu với người Việt Nam , không phải trong hiện tại đâu, mà có lẽ một ngày nào đó ….

    Trong hai năm, người Ba Lan, Hung gia Lợi và người Mỹ, dân chính hay quân nhân, họ đều gắn bó với nhau. Dù sao họ cũng đều là người da trắng, đối diện với người Việt Nam dù họ là người quốc gia hay cộng sản thì cũng khó mà nắm được họ lắm khi người ta từ Budapest (Hung) hay từ Varsovie (Ba Lan) hay từ Hoa thạnh Đốn xa xôi tới. Hơn nữa, giữa những người công chức cao cấp hay những quân nhân nhà nghề vẫn có sự tương quan với nhau. Mặc kệ ý thức hệ hay sự rủ rê của người nầy người kia. Các phái đoàn của Ủy Ban Quốc Tế đầy sĩ quan tình báo. Họ lùng bắt những người đào ngũ nhưng không bao giờ thành công. Ở trong Ủy Ban Quốc Tế người ta không giám sát chiến sự ở Việt Nam mà người ta giám sát kỹ người nầy người kia trong nội bộ. Các sĩ quan Ba Lan và Hung Gia Lợi canh chừng các đồng chí đảng viên cộng sản của họ, điều nầy làm cho CIA nhẹ lo. Polgar nói: ” Có việc làm cho tất cả mọi người . Ngay như anh có tiểu tiện vào đại dương thì anh cũng có thể làm tăng mực nước biển lên được vậy .

    Ông Đại sứ Graham Martin cũng tỏ ra một thái độ lịch sự với người Ba Lan. Khi Đại sứ Ba Lan tới SàiGòn ông ta có đến chào người bạn đồng sự Hoa Kỳ . Trái lại Đại sứ thô kệch Hung gia Lợi kia đã coi thường thủ tục nầy, cho nên ông Martin không gặp ông ta bao giờ.

    Trái lại ông Polgar thì liên lạc chặt chẻ và rất tốt với người Hung gia lợi, nhất là với đại tá Janos Toth và cố vấn chánh trị Antyon Tolgyes. Polgar gốc người Hung gia Lợi. Đại tá Toth chỉ huy cơ quan tình báo Hung. Là đồng nghiệp với nhau hai người thích nhau lắm, mà cũng rất dè dặt nhau. Để thấy rõ trong lãnh vực mênh mông của ngành tình báo nầy, và để giúp đỡ lẫn nhau, Polgar và Toth đặt ra một phương thức tài tình mới lạ lắm: vào một giờ nào đó, ở hai địa điểm tại SàiGòn , một nhân viên CIA và một sĩ quan tình báo Hung mỗi người thuyết trình cho nhau nghe về tình hình của phe bên kia. Một phương pháp rất kín đáo: người Hoa Kỳ và người Hung không thể gạt nhau hay báo cáo sai với nhau được hay dùng lại những gì họ tin cậy trao đổi cho nhau. Nhưng trong tiến trình cuộc chơi nầy hình như phía Ba Lan muốn lợi dụng. Sỹ quan của họ mặc thường phục, đi vào Tòa Đại sứ Hoa Kỳ và được Frank Snepp, một cộng sự viên của Polgar tiếp.

    Theo chỗ riêng tư mà nói thì trước mặt người Mỹ người Ba Lan chê người Hung, và ngược lại người Hung cũng chê người Ba Lan. Rất có lễ độ, người Mỹ than phiền giùm cho Miền Nam . Các sĩ quan thuộc hai phái đoàn Hung và Ba Lan thật thà thú thật rằng họ cũng khó xử với những đồng chí cộng sản Việt Nam .

    – ” Những đồng chí Việt Nam của chúng tôi can đảm thiệt, bướng bỉnh và cương quyết lắm, nhưng rất khó mà hiểu được họ lắm.

    Mặc dầu họ cố nài nỉ nhưng các sĩ quan Hung và Ba Lan không thể biết được một tin tức nào từ các đồng chí cộng sản Việt Nam về sự kiện họ chiếm tỉnh Phước Long. Niềm nở hơn, người Mỹ đã cho các thành viên của Ủy Ban biết diễn tiến của sự việc.

    Các đồng chí cộng sản Việt Nam của họ cũng có mặt ở SàiGòn, với một số không ít hành trang, và một vài vũ khí, đóng ngay sân bay Tân sơn Nhứt từ năm 1973 : 250 binh sĩ và sĩ quan việt cộng – có nghĩa là thuộc CPLTCHMN- và lối 50 bộ đội và sĩ quan Bắc Việt , khó tiếp cận lắm vì nụ cười của họ không khác biểu ngữ bao nhiêu. Họ đóng trong những dảy nhà thẳng hàng nhau, có kẽm gai và bao cát bao quanh, dĩ nhiên dưới sự dòm ngó canh chừng từ các chòi gác của binh sĩ Miền Nam . Họ là thành phần thuộc Hai trong Bốn Bên có liên quan đến cả 19 điều trong Hiệp Định Paris. Binh sĩ thuộc CPLTCHMN thì mặc quân phục màu xanh lá cây, còn bộ đội Bắc Việt thì mặc quân phục màu be, gọn ghẽ hơn chút. Các đại diện CPLTCHMN thì nói toàn giọng Bắc.

    “Ban Liên Hợp Quân Sự 4 Bên” gồm có Hoa Kỳ, quân đội Miền Nam , Miền Bắc , và bộ đội của CPLTCHMN. Họ có nhiệm vụ tìm người chết và mất tích.

    “Ban Liên Hợp Quân Sự 2 Bên” chỉ gồm có đại diện của SàiGòn và của CPLTCHMN

    Cả hai Ban Liên Hợp nầy phải đi theo các Tổ Quốc Tế khi được họ chánh thức báo cho biết lộ trình và khi được yêu cầu. Trong hai năm nay, hai Ban Liên Hợp nầy coi như không còn hoạt động gì hết. Khi các sĩ quan Ba Lan và Hung Gia Lợi hỏi các sĩ quan việt cộng tin tức của trận chiến ở Phước Long thì họ chỉ cười trừ : “chúng tôi không hay biết gì hết “

    Cộng sản ít khi ra khỏi trại của họ, được gọi là “trại Davis”. Tên của một binh sĩ Mỹ tử trận đầu tiên ở Việt Nam . Trong tài liệu, báo chí sách vở của họ, cộng sản cũng gọi là “trại Davis”. Có hai dãy trại, một cho bộ đội Bắc Việt, một cho CPLTCHMN. Khi mới tới đây, cộng sản và nhất là tướng Trần văn Trà, đại diện cho CPLTCHMN, (về sau nầy là người có trách nhiệm các cuộc hành quân ở Phước Long) thấy nhiều bộ phận thâu âm được gắn cùng khắp, từ ngoài sa lông đến phòng ngũ phòng tắm. Toàn là của người Mỹ.

    Hiền hậu quá, nên tướng Trà được tướng Hoàng anh Tuấn thay thế, cương quyết hơn. Nhưng trên thực tế, nhân vật quan trọng ở trại Davis năm 1975 là đại tá Võ đông Giang. Đó là nguyên tắc ngoại giao bôn sơ vích: người số 2 chánh thức có trách nhiệm hơn người số 1. Binh sĩ cộng sản tổ chức trồng rau, trồng bông và trồng cây trong trại, và cũng làm công tác gián điệp nữa. Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Bắc Việt , tướng Văn tiến Dũng đã thường nói : ” Các đồng chí của chúng ta ở Tân sơn Nhứt giữ một vị trí đặc biệt, ngay giữa lòng địch. Điểm quan sát triền tiêu đó là biểu tượng của cuộc cách mạng của chúng ta, và từ vị trí tốt đó họ sẽ giúp chúng ta biết được dư luận hằng ngày và những phản ứng của địch trước giờ hấp hối của họ”.

    Phái đoàn cộng sản ở trại Davis không ngừng trao đổi điện tín với Hà Nội . Tướng Văn tiến Dũng giải thích một cách chân thật : ” Ban Quân Sự Hỗn Hợp của tướng Hoàng anh Tuấn cho Hà Nội tin tức trong ngày thật nhanh về những cuộc điều động binh sĩ mà phái đoàn nhận được từ nhiều nguồn tin kể cả từ công tác quan sát trực tiếp.” Thật vậy, không chỗ nào có thể quan sát được hết các chuyến bay bằng vị trí nầy .

    Nỗi ưu tư chính của phái đoàn cộng sản ở trại Davis là được bảo đảm từ phía người Mỹ không quấy nhiễu bằng cách chen vào phá mật mã của họ. Hoạt động chánh yếu của họ là cuộc họp báo vào mỗi sáng thứ bảy hàng tuần, ngay dưới chân dung Hồ chí Minh hay dưới các ảnh bán thân của các cấp lãnh đạo của họ. Báo chí chẳng biết được gì cả. Sau tuần trà, nuớc cam hay thuốc lá, (thuốc lá Điện Biên Phủ loại đen trong các bao xanh, hay thuốc vàng trong bao đỏ), các sĩ quan cộng sản đem chuyện phản kháng ra trình bày với cái lưỡi cây truyền thống của họ: SàiGòn và Hoa Thạnh Đốn vi phạm Hiệp Định. Họ phải chịu trách nhiệm về các vi phạm lệnh ngừng bắn. Họ không tôn trọng tinh thần Hiệp Định, Họ không cho những binh sĩ cộng sản của chúng tôi vô ra dễ dàng trại Davis v.v….

    – “Ở Phước Long, lực lượng của chúng tôi đang trả lời cho những khiêu khích của chế độ SàiGòn “, họ xác nhận như vậy.

    Tuy nhiên, trong tỉnh Phước Long bộ đội Bắc Việt đã vi phạm rõ ràng các điều khoản chính của Hiệp Định Paris. Từ năm 1973, bộ đội Bắc Việt không bao giờ tôn trọng lệnh ngừng bắn. Hà Nội đã cho quân đội “xâm nhập” và đưa quân dụng vào Miền Nam tự do không bao giờ kiểm soát được.. Quân đội Bắc Việt dùng các căn cứ Lào và Cam bốt. Chỉ có một điều khoản duy nhất mà Hà Nội không vi phạm : đó là vùng phi quân sự ở vĩ tuyến 17 không bị họ tràn qua như trong năm 1972 .

    Chuyện hết sức lạ lùng là Trại Davis đã có ghi trong Hiệp Định. Những người cộng sản ở trại Davis nầy đã đến từ Hà Nội và từ chiến khu của họ ở Miền Nam, trì chí, dạn dày, đã xác nhận về trận tấn công của họ vào Phước Long, như một “đêm giữa ban ngày”. Họ sống ở đây từ gần 2 năm rồi, chỉ cách Văn Phòng Tùy Viên Quân Lực Hoa Kỳ và các dinh thự của các tướng lãnh Miền Nam có vài trăm thước. Một sự hỗn độn lạ kỳ, kiểu SàiGòn. Chúng ta hãy tưởng tượng xem trường hợp của một toán truyền tin quân sự Hoa Kỳ hay Nga Sô ở ngay tại thủ đô Bá Linh của Đức trước ngày chấm dứt Thế Chiến Hai. Hay vài đại đội của Đức Quốc Xã ở ngay tại thủ đô Luân Đôn năm 1944 !

  4. Ở Hà Nội người ta gặp các sĩ quan Ba Lan và cũng có vài sĩ quan liên lạc Hoa Kỳ , chỉ trong vài tiếng đồng hồ thôi không hơn không kém.

    Sự có mặt của cộng sản ở trại Davis chọc tức ông Thiệu, người ta biết như vậy. Hồi năm 1973 khi những binh sĩ cộng sản nầy tới Tân sơn Nhất (SàiGòn), chánh quyền muốn họ phải điền vào các phiếu nhập cảnh. Nhưng họ từ chối vì họ không muốn đương nhiên công nhận chủ quyền của Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa . Và vì thế mà họ không được cho nhập cảnh. Sau nhiều giờ ngồi trên phi cơ chờ đợi, và sau nhiều áp lực của phía Hoa Kỳ, hai phái đoàn Hà Nội và CPLTCHMN mới được ra khỏi phi cơ (Mỹ) và được chở thẳng vào trại Davis.

    Sau khi tỉnh Phước Long bị hoàn toàn thất thủ, ông Thiệu nghĩ tới chuyện trả thù những người cộng sản ở trại Davis. Chỉ có một phương thức bắt bí bọn nầy thôi: cúp nước. Nhưng ông không làm như vậy được , vì lý do nhân đạo.

    Tổng Thống Thiệu còn nhiều việc khác phải lo, cấp bách hơn, về hành chánh cũng như quân sự. Chánh Trị Bộ Hà Nội còn những toan tính gì nữa đây ? Họ còn có hành động gì nữa để khích động được một bước “nhảy vọt” ở Miền Nam ?

    Với một gương mặt tròn, trán hơi vồ nhưng không có vết nhăn, tóc chải keo sát, ông Thiệu không tỏ vẻ mệt mỏi chút nào và giữ vững lòng tin. Ông Thiệu tự xem mình là người được “Ơn Trên” giao cho sứ mạng giữ nước và cứu nước, có sự bảo đảm và ủy thác của người Mỹ. Ông đã chứng tỏ là ông cũng chống cộng như họ. Ông cảm thấy không được thoải mái lắm với giới lãnh đạo Hoa Kỳ , nhưng ông thấy gần gũi hơn với hai người đã từng đương đầu với quân đội cộng sản : Bạch sùng Hy của Đại Hàn và Tưởng giới Thạch của Đài Loan. Ông đã bổ nhiệm người anh ruột là ông Nguyễn văn Kiẽu sang làm đại sứ với ông thống tướng nói trên.

    Ông Thiệu có một sự tin tưởng tuyệt đối : trong bất cứ trường hợp nào Hoa Thạnh Đốn cũng sẽ không bỏ rơi mình. Tuy nhiên ông vẫn biết rằng những người có trách nhiệm Hoa Kỳ có thể phản bội đồng minh của họ. Họ chẳng đã một lần buông bỏ Tổng Thống Diệm năm 1963 đó hay sao? Ông Thiệu đã thấy thi hài của ông Diệm. Năm 1968 ông Thiệu đã lo sợ đến lượt mình sẽ bị ám sát với thỏa ước Hoa Thạnh Đốn .

    Ông sanh năm 1924, tuổi tý, tháng tý, ngày tý và giờ tý,. đó là một điềm không tốt. Nhưng ông đã 52 tuổi đầu rồi, một thành công có một không hai ở cái quốc gia đầy biến cố nầy. Ông lên nắm quyền từ hơn 8 năm rồi. Sự ổn định vững vàng của ông chứng tỏ một sự khôn khéo mà người Mỹ đánh giá cao. Và nhất là Đại sứ Martin.

    Là con út trong 7 anh chị em trong một gia đình bình thường ở Miền Nam , ông Thiệu có đi vào kháng chiến với Việt Minh mấy tháng trong năm 1944. Sau đó ông chọn phía quốc gia. Ông suýt trở thành một sĩ quan hải quân. Theo học trường Vỏ bị Coetquidan (Pháp), ông Thiệu theo con đường quân sự và tiến lần đến đỉnh cao quân sự và sau cái chết của Tổng Thống Diệm ông lại leo lên tuyệt đỉnh chánh trị. Người tiền nhiệm của Đại sứ Martin là ông Đại sứ Ellsworth Bunker, đã thích chọn ông Thiệu là ứng viên Tổng Thống hơn là người phi công nhanh nhẹn Nguyễn cao Kỳ. Ông Thiệu có vẻ già dặn hơn, và bề ngoài có vẻ mềm mỏng hơn. Can đảm trong chiến trận, sĩ quan tham mưu không kém lắm, người có tham vọng , ông biết tránh tai tiếng để chờ thời. Ông là một Phật tử nhưng đã trở về Ki tô giáo thời ông Diệm, một người công giáo cực đoan. Trong thư viện ở Dinh Độc Lập ông Thiệu còn giữ một bộ sưu tầm về “niên Giám của Vatican” có gáy da màu đỏ, một di sản của ông Diệm. Sự theo đạo của ông Thiệu hình như vì hoàn cảnh. Và cũng nhờ đó mà ông cưới được cô Nguyễn thị Mai Anh làm vợ, cô nầy là con của một người công giáo dòng. Tính vui vẻ và tự chủ, ông dấu kín tư tưởng của mình bằng những tràng cười như pháo nổ, theo đúng theo lời dạy của Khổng Tử : “Giận là hạ sách, Cười là một phương pháp tốt nhất để không ai đoán được ý mình” . Từ SàiGòn đến Hà Nội những người lãnh đạo Việt Nam ai cũng có nụ cười khỏa lấp, thường không ai đoán nổi .

    Cộng sản Bắc Việt thường dùng danh từ “tay sai”, “phản động” và “phát xít” hay “đầy tớ của Mỹ” để chửi ông Thiệu trên báo chí hay trên hệ thống truyền thanh. Khác hơn nhiều chánh trị gia ở SàiGòn Tổng Thống Thiệu không bao giờ đi gặp một người Mỹ nào. Ông không chịu làm thân với người nào, khác với người em họ của ông là Hoàng đức Nhã, lịch thiệp hơn. Ông Thiệu thường tiếp Đại sứ Mỹ, hay vị cố vấn ngoại giao ông Lehmann, và một vài phái đoàn. Ông cương quyết không có thái độ quy lụy của một người nô lệ.

    Đường lối hành động trong hiện tại: nếu Ông Thiệu nói nhiều quá về sự kiện Phước Long, thì ông ngại sẽ gây sợ hãi cho những nhà đầu tư ngoại quốc., nhất là người Mỹ và người Nhật . Còn nếu ông không nói gì hết thì dư luận quần chúng và Quốc Hội ở Hoa Thạnh Đốn không thấy được mối nguy đang đe dọa đất nước Việt Nam . Là một quân nhân, đi theo con đường chánh trị , lại không phải là một nhà ngoại giao giỏi, ông Thiệu không bao giờ tạo dựng cho mình được một đường lối chiến lược quốc tế, mặc dầu có sự cố vấn của người em là ông Nhã và của đại sứ lưu động Bùi Diễm thúc đẩy. Trong hai năm ngoài những người khách Hoa Kỳ người ta còn thấy có một người ngoại quốc có danh tiếng, một tổng trưởng phi châu. Ở thủ đô SàiGòn chỉ có hai Tòa Đại sứ là đáng kể: Tòa Đại sứ Hoa Kỳ và ngay sau lưng là Tòa Đại sứ Pháp. Hoa Thạnh Đốn nhấn mạnh để các Tòa Đại sứ khác, của Anh Quốc, của Đức, của Ý và của Bỉ phải có mặt ở SàiGòn. Các Tòa Đại sứ nầy gần như bất động.

    Đối với báo chí, ông Thiệu có một yêu cầu, thường trực: khi nói tới Hiệp Định Paris thì họ cần phải nói lớn lên: đó là một sự phản bội, một trò gian lận. Đó là một sự đầu hàng, một án tử hình! Thay vì không nhìn nhận Hiệp Định, ông Thiệu không chịu tìm cách luồn lách để khai thác Hiệp Định. Đối với các nhà ngoại giao người ta gọi như vậy là không thấy xa. Dù là thù hay là bạn của ông, ai cũng cho là nếu không thích ông Thiệu thì họ cũng phải kinh nể ông ta. Dù có tinh ranh và đa nghi nhưng ông rất có uy quyền mà không phải là độc tài. Các nhóm đối lập phát biểu tự do ở Hạ Viện, ở Thượng Viện, qua hệ thống tư pháp hay trong gần 30 tờ nhật báo hay tuần báo. Cái mà một chiến binh chống cộng nhân từ như ông Thiệu đang thiếu đó là không chịu nhìn thẳng vào sự việc, nhất là đối với những truyền thuyết của lãnh đạo Bắc Việt . Đối với tướng Võ nguyên Giáp, Tổng trưởng quốc phòng Bắc Việt ông Thiệu nói là ” ông ấy muốn chơi trò Nã phá Luân Việt Nam ” rằng “ông ấy là một giáo sư lỗi thời”

    Ở Miền Bắc đồng chí Lê Duẫn , Tổng bí thư đảng là nhân vật số 1, đầy huyền thoại. Ông Thiệu thì hay gặp gỡ các nhà báo, còn Lê Duẫn thì tuyệt đối không . Ở Hà Nội họ áp dụng nguyên tắc chỉ huy tập thể, nên không thấy có tư tưởng khác biệt giữa những người có trách nhiệm . Còn ở SàiGòn thì các đối thủ đều ra mặt , công khai, mạnh được yếu thua . Ông Thiệu không tin tưởng cộng sự viên và thường hay coi rẻ họ. Ông chỉ định một ông tướng khác bốn sao làm Thủ Tướng. Ngày bầu cử Tổng Thống sấp đến, tháng 10 năm 75, ông Thiệu tự hỏi không biết ông tướng Khiêm nầy có ra ứng cử như ông hay không ? Ở SàiGòn giới trí thức lớn tiếng tuyên bố là Miền Nam Việt Nam là một quốc gia mà cái gì cũng chỉ có một nửa, nửa dân chủ nửa độc tài, với một chánh phủ chỉ có biện pháp nửa vời. Ông Thiệu không đánh bóng công dân của mình. Những người dân tị nạn từ Phước Long đã chứng tỏ rằng họ không nổi dậy để chạy theo Bắc Việt. Trong khi Hà Nội cũng nói rằng dân chúng không nổi lên chống họ, mà cũng không phải họ theo chế độ của Thiệu .

    Mặc dầu đứng trong hàng tướng lãnh, ông Thiệu không nắm quân đội như đảng cộng sản nắm quân đội của họ ở Miền Bắc . Ông Thiệu đã phong cho tướng Cao văn Viên là Tổng tham mưu trưởng liên quân bởi vì ông Viên không có một chút tham vọng chánh trị nào. Ngoài ra ông ta còn để cho ông Thiệu trực tiếp chỉ huy ông nữa. Ông Thiệu biết chỉ huy mà không biết điều khiển. Đối với quân đội của mình, ông Thiệu cũng vẫn sợ sẽ là nạn nhân của một cuộc đảo chánh. Bản thân ông ta là người đã có tham gia vào cuộc đảo chánh ông Diệm. Sau vụ Phước Long, các tướng lãnh tham khảo với nhau, và mỗi lần mà cố vấn an ninh báo cáo cho ông rằng các ông tướng hai hay ba sao đã có gặp nhau, thì Tổng Thống đâm lo. Ông thích để yên không muốn có hành động nào, đó là bản tánh của ông Thiệu. Khi các cộng sự viên có đề nghị đưa lên thì ông trả lời “có thể” hay “để xem đã ” để ông khỏi bận trí. Cũng giống như nhiều chế độ quân phiệt trong thế giới thứ ba, ông ước tính là Tự Do Dân Chủ chỉ phải được tiến tới từ từ, một cách tiệm tiến .

    Ông Thiệu thiếu môn chánh trị học. Mặc dầu ông Nhã có chỉ cho ông luật lệ về hiến pháp, ông Thiệu không hiểu Chánh Phủ Hoa Thạnh Đốn điều hành ra làm sao. Mặc dầu đã có cả hai viện ở Quốc Hội, Tổng Thống Thiệu vẫn tùy tiện tháo khoán được hàng triệu đồng . Ông không tưởng tượng được rằng Tổng Thống Hoa Kỳ không thể làm như vậy được vì không thể qua mặt Hạ viện và Thượng Viện ở Hoa Thạnh Đốn được . Gặp trường hợp nguy kịch như trường hợp Phước Long bị chiếm, ông Thiệu chỉ trông cậy có mỗi một ông Gerald Ford.

    Tướng Quang là người tín cẩn của ông Thiệu, là một cố vấn, là người tâm phúc, là người quan sát tình hình chánh trị tổng quát, là một thủ hạ thông minh và trung thành với ông chủ của mình. Ông Kỳ đã từng là Thủ Tướng rồi. Người ta cách chức Tư Lệnh Vùng 4 Chiến Thuật của ông Quang, vì cho ông là tham nhũng. Ông Thiệu bổ nhiệm ông Quang vào chức vụ Bộ Trưởng Kế Hoạch, và sau đó Phụ tá hay là cố vấn đặc biệt về an ninh quốc gia . To con với cặp mắt sắc sảo, ông Quang có bộ vó như một kẻ gian trong loại phim hạng xoàng. Thiếu bằng chứng, nhưng ở Saigon ai cũng biết ông là một người không tốt. Điều hơi lạ : ông muốn gởi con gái ông sang học ở đại học Mỹ, nhưng không đủ sức trả học phí. Ông nhờ các cơ quan giáo dục Hoa Kỳ để xin học bổng, nhưng không được , con gái ông đành phải đi qua Úc Châu ở với một người bà con của ông đang làm việc ở Tòa Đại sứ Việt Nam ở đó. Bà Quang không khi nào đeo nữ trang khi đi ra ngoài, không làm áp phe. Và cũng lạ lùng nữa, ông Quang vô ra Dinh Độc Lập lúc nào cũng được , vẫn được toán gác dinh mang găng trắng chào kính . Văn phòng ông rất sang trọng với bàn tủ ghế sơn vẹt ni đen bóng loáng, với những tấm bình phong cẩn xa cừ, bàn làm việc loại tối tân với ghế bành bọc da, lẫn lộn nửa xưa nửa nay không tương hợp nhau lắm.

    Ông Quang cho ông Thiệu hay là một chiến dịch đang bắt đầu nhen nhúm nhắm vào Tổng Thống đấy. Người ta muốn nhắm vào gia đình Tổng Thống, bổn củ soạn lại thôi : tham nhũng ! Bà Thiệu làm áp phe, đó là quyền của bà. Nhưng luân lý ở đây muốn đệ nhất phu nhân, hay bất cứ người nào có chồng làm lớn, là phải đứng trên cái giới áp phe thường núp dưới các hoạt động từ thiện hay công tác xã hội. Tổng Thống thường làm việc với giới dân sự, nhất là với ông Lý long Thân, một thương gia người Tàu Chợ Lớn, chủ xưởng Vinatexco, một công ty dệt lớn. Người ta nói bà Thiệu và bà Thân có nhiều quyền lợi trong việc thu hồi “sắt vụn” như đồng, thép và nhôm. Chiến tranh đã để lại biết bao sự điêu tàn, những phế liệu,sắt vụn được thu lượm để xuất cảng trên những thương thuyền của Đại Hàn hay của Panama. Người ta tố cáo bà Thiệu đầu cơ đồng bạc. Bắc Việt đã không nghe lời khuyên của Liên Xô để in bạc giả và nếu cái Chánh Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam của họ cần tiền thì Hong Kong là nơi tốt nhất để Hà Nội tìm đủ tiền Miền Nam cho đám tay sai mà họ đã tạo dựng lên.

    Hồi xưa, bà Thiệu thường hay lui tới với ông Nguyễn cao Thăng, chủ nhà bào chế thuốc Tây, mà cũng là người nắm độc quyền nhập cảng nhiều loại hàng đặc biệt. Ông Thăng người cộng sự ưu ái của ông Thiệu, là người ảnh hưởng và điều động được các dân biểu ở Hạ Viện và cả Nghị sĩ ở Thượng Viện. Ông vừa là môt lý luận gia vừa là một túi tiền của ông Thiệu. Một chuyến bầu cử cho các ông nầy tốn cũng phải từ 1000 đến 2000 mỹ kim. Ông Thiệu ước tính là bài toán tham nhũng chỉ sẽ được giải quyết sau chiến tranh mà thôi. Người ta nói nhiều về tham nhũng ở Miền Nam và rất ít khi nói tới những chuyện nầy ở Miền Bắc .

    Vấn đề nầy được báo chí quốc tế nói tới nhiều nhưng ông Thiệu biết là quan điểm của ông Martin không có gì khác lạ,: những gì mà người phương Đông gọi là tham nhũng, theo ông Martin chỉ là một chứng bệnh về kinh tế, một hiện tượng khó tránh khỏi trong thời kỳ chiến tranh. Tình trạng chợ đen ở Việt Nam ngày nay đâu có nặng hơn hồi thế chiến II ở Âu Châu . Ông Thiệu có thể an tâm về điều nầy. Tướng Quang báo cáo là ông Martin đã không cho các cơ quan của Tòa Đại sứ gởi về Hoa thạnh Đốn những phúc trình sơ suất về vấn đề nầy. Ông Martin thì đòi hỏi phải có những bằng cớ xác thực, mà những tay buôn lậu, những người ăn hối lộ có bao giiờ ký biên nhận đâu và cũng không để cho ai chụp được hình trong những cuộc dàn xếp giao dịch . Họ dùng tên giả, và những thủ tục vô hình. Và tướng Quang nghĩ là chiến dịch chống ông Thiệu sẽ không trầm trọng lắm.

    Ông Thiệu đã lưu giữ 25 bức thư của Tổng Thống Richard Nixon trong phòng ngủ của ông ở Dinh Độc Lập như một hồ sơ mật, một loại vũ khí riêng của mình. Những bức thơ nầy là những bản chánh hay bản sao của các công điện được một viên chức ngoại giao Mỹ chuyển giao cho ông. Đối với ông Thiệu, nội dung của những bức thư nầy và một vài lời tuyên bố của ông Nixon còn quan trọng vững vàng hơn là những điều khỏan của Hiệp Định Paris. Đối với các tổng trưởng, ông Thiệu không nói rõ nội dung của những bức thơ nầy nhưng đã có cho thấy những cam kết của ông Nixon. Ông vừa nói vừa mân mê bao súng của ông coi như ông hiện đang có những bức thư trong đó vậy: “Tôi có lời hứa của ông Nixon ở đây nè !”.

    Khi ông Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa từ chối không chịu ký vào văn bản đầu tiên của Hiệp Định Paris một cách giận dữ, thì ông Nixon nói với ông Kissinger: ” Lời nói đó không có gì hung dữ đâu, ông sẽ thấy là ông không phải là “con chó đẽ” đâu.”(nguyên văn của tác giả Tood Olivier). Dù ông Nixon có bị gì thì ông Thiệu vẫn tin tưởng ông ta, nhưng ông vẫn nghi ngờ ông Kissinger, vì ông nầy vẫn còn tại chức. Ông Nixon đã từng hứa là sẽ có phản ứng ngay nếu có những cuộc tấn công nghiêm trọng của Bắc Việt.

    Ngày 16 tháng 10 năm 1972, ông Nixon viết cho ông Thiệu : ” Ông có thể hoàn toàn tin chắc rằng chúng tôi tiếp tục cung cấp cho Chánh Phủ ông một sự yểm trợ đầy đủ, gồm có viện trợ kinh tế dài hạn và tất cả viện trợ quân sự đúng như Hiệp Định Paris đã quy định. ”

    Cũng trong thơ nầy, đối với Bắc Việt, ông Nixon viết : ” Tôi có thể bảo đảm với ông rằng chúng tôi sẽ coi việc họ không thực hiện đúng theo lời hứa quan trọng của họ sẽ dẫn tới những hậu quả tối nguy hiểm cho họ.”

    Ông Thiệu thấy bị ông Kissenger chơi xỏ, vì ông ta âm thầm và đương nhiên chấp nhận sự có mặt của quân đội Bắc Việt ở Miền Nam sau khi lệnh ngừng bắn có hiệu lực. Ông Thiệu tin chắc rằng Kissinger đã dối gạt ông Nixon về nội dung những cuộc nói chuyện ở Paris giữa ông ta và Bắc Việt. Ông Kissinger đã nhượng bộ cho Bắc Việt nhiều hơn là ông Nixon đã chấp nhận. Tuy vậy, ông Thiệu chỉ tính tới những gì ông Nixon đã viết và nói với ông, với tư cách là một tổng tư lệnh của quân lực Hoa Kỳ .

    Ngày 14 tháng 11 năm 1972, đặc phái viên của ông Nixon và Kissinger , tướng Alexandere Haig yêu cầu ông Thiệu nên nhượng một vài điều trong Hiệp Định. Trong bức thư kèm theo ông Nixon đã cam kết với ông Thiệu như sau : ” Điều quan trọng hơn những điều mà chúng tôi nói trong Hiệp Định, là chúng tôi sẽ hành động thế nào trong trường hợp Bắc Việt tiến hành các cuộc xăm lăng mới của họ.” Hai ông Nixon và Thiệu cùng gập nhau trên một tần số: “Hình thức không bằng nội dung”. mặc kệ các điều khoản của Hiệp Định muốn nói gì thì nói ! ông Thiệu nhìn thấy trước nhất là sự cam kết từ cá nhân một vị Tổng Thống Hoa Kỳ về phần pháp lý của một bản văn. Không thể có một sự hiểu lầm được . Ông Nixon còn viết thêm: ” Ông có một sự bảo đảm tuyệt đối của tôi (nguyên văn của tác giả Olivier Todd: you have my absolute assurance) là nếu Hà Nội không tôn trọng lời văn trong Hiệp Định thì tôi có ý định sẽ dùng trở lại những sự trả đủa nhanh chóng và khốc liệt.”

    Ngày 14 tháng giêng năm 1973 cũng trong luận điệu đó, ông Nixon đã cho oanh tạc Bắc Việt và thả mìn ở các hải cảng Miền Bắc Ông không ngần ngại phải hành động cứng rắn như vậy. Sau đó ông đưa bàn tay sắt cho ông Thiệu khi ông nói rằng:“‘Việt Nam Cộng Hòa có ký hay không ký, thì Hoa Kỳ cũng sẽ ký Hiệp Định Paris.”” nhưng ông viết tiếp cho ông Thiệu : “‘Chúng tôi không nhìn nhận quyền có mặt của quân đội ngoại quốc trên lãnh thổ Miền Nam Việt Nam …. Chúng tôi sẽ có phản ứng mạnh nếu Hiệp Định bị vi phạm.””

    Năm ngày sau đó ông Nixon lại viết tiếp cho ông Thiệu. Ông nhắc lại hai đề tài đã nói và viết : “”Hoa Kỳ chúng tôi nhìn nhận Chánh Phủ của ông như một Chánh Phủ hợp pháp duy nhất ở Miền Nam Việt Nam .” điều nầy làm vui lòng ông Thiệu.

    Rất tự tin, khẩn thiết,và cương quyết, ông Nixon vuốt ve để rồi sau đó cũng hăm doạ ông Thiệu. Để cho ông Thiệu phải ký vào Hiệp Định, ông Nixon không ngần ngại cho thấy Quốc Hội Hoa Kỳ có thể sẽ cắt hết mọi viện trợ cho Miền Nam . Nhưng ông Nixon lúc nào cũng hứa những hành động trả đủa đối với Bắc Việt .

    Thêm một bằng chứng mới, ông Thiệu mân mê những kỷ niệm của ông sau khi ký Hiệp Định Paris: tháng 4/1972, ông được ông Nixon mời sang Tiểu Nhà Trắng San Clemente ở California – không mời đến Hoa Thạnh Đốn vì sợ các cuộc phản đối-, và ông Nixon đã nói với ông Thiệu trong cuộc gặp gở nầy : ” Ông có thể tin ở chúng tôi .” ông Kissinger tinh ranh kia lại nói thêm rằng “sẽ có những “phản ứng dữ dội và nặng nề” nếu Hà Nội vi phạm Hiệp Định. Đại sứ lưu động Bùi Diễm cũng có mặt ở San Clemente. Ông Martin từ lâu cũng đã thường tiết lộ với Tổng Thống Thiệu là người Mỹ tiếp tục giúp ông. Trong trường hợp bị tấn công mạnh thì sự trả đủa sẽ như sấm sét.

    Trong bức thư đề ngày 13 tháng 6 năm 1973, ông Nixon viết : “Chuyện nầy không còn là một đề tài liên quan đến những nhà thương thuyết , hay những luật gia, hay những chuyên viên nữa. Bây giờ là một đề tài trực tiếp giữa hai chúng ta.” (This is now a matter directly between the two of us. ” (nguyên văn của tác giả Todd Olivier)

    “…. hay những luật gia…” ông Thiệu diễn dịch là: những điều khoản của Hiệp Định, là những tờ giấy lộn, là dẻ rách. Ông biết cách nhìn các Hiệp Ước của những người cộng sản chính thống lê nin nít và sít ta lin nít. Nếu họ vi phạm thì chúng ta cũng phải làm như vậy mới được . Ông Nixon hiểu như vậy và ông Thiệu hiểu ông Nixon. Những cam kết dù bằng lời nói hay trên giấy trắng mực đen, lập đi lập lại nhiều lần công khai hay được hiểu ngầm, thì lời nói của ông Richard Nixon với ông Nguyễn văn Thiệu đều nhắm vào Hiệp Định: những chữ “trả đủa”, “phản ứng“, trong những bức thư (bản chính) của ông Nixon được ông Thiệu gạch đít, dưới mắt của ông Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa ít nhất cũng ám chỉ một sự can thiệp của các oanh tạc cơ Hoa Kỳ.

    Bằng chứng phụ thêm : NKP (NaKhom Phanom),là một mật hiệu cho tất cả các vị Tư Lệnh Quân Đoàn Miền Nam , là một tổng hành dinh của Đệ Nhất Không Đoàn Hoa Kỳ ở Thái Lan. NKP là một công thức mầu nhiệm. Mặc cho những lời phê bình hơi chua chát hay những dè dặt hơi độc ác của ông Nhã, ông Thiệu vẫn tin rằng vào giờ chót Hoa Kỳ vẫn cứu ông ta. Ở NaKhon Phanom, các oanh tạc cơ B.52 vẫn còn nằm chờ tại đó….

    Đối với ông Thiệu, Tổng Thống Ford là người kế thừa cả nhiệm vụ và những cam kết của ông Nixon. Tất cả những thơ từ của Richard Nixon bắt buộc ông Ford phải hành động như thế. Ông Thiệu nghĩ rằng Tổng Thống Ford vì thiếu tin tức nên ước tính rằng việc mất tỉnh Phước Long chưa phải là mức độ nguy ngập.

  5. Chương 4

    Ngọn lửa đấu tranh của Hà Nội

    Khi bà ký giả Mỹ Frances FitzGerald viếng thăm Hà Nội thì bà xếp ông Thiệu thuộc cánh “cực hữu” của cầu vòng chánh trị Việt Nam. Là một giáo sư đại học và nhà báo, bà đã phát hành 3 năm trước quyển ” Ngọn Lửa Trên Hồ Nước” , một quyển sách rất thú vị về người Việt Nam và người Hoa Kỳ ở Việt Nam. Quyển sách đã thành công và được xếp vào danh sách các tài liệu bắt buộc tất cả các nhà ngoại giao và giới quân nhân Hoa Kỳ phải đọc qua . Hiện vẫn còn một vài quyển ở Tòa Đại sứ Mỹ tại SàiGòn , trrong thư viện của Phòng Thông Tin, và trong phòng Tùy Viên Quân Lực Hoa Kỳ với một vài tác phẩm của Bernard Fall, của Sir Robert Thompson, của Mao, của Giáp v.v… Bà không cho cộng sản Việt Nam là thiên thần tiến bộ, nhưng chỉ trích thái độ, phương tiện và mục đích của người Mỹ ở Việt Nam và phân tách các xung đột mâu thuẫn cao độ của các nền văn hóa Đông Tây. Đối với bà, cộng sản Việt Nam cứng rắn thật nhưng mà chính thống, mặc họ ! Họ ít tham nhũng hơn người Miền Nam, bà có ý nghĩ của một người tự do và cấp tiến. Bà biết rõ sự liên hệ giữa Hà Nội và CPLTCHMN nhưng bà cho là cái CPLTCHMN nầy cũng có phần nào độc lập tự chủ.. Rất tự nhiên, bà viết lên một cách vô ý thức đến độc ác: ” Ngọn lửa cách mạng dù mỏng mành nhưng đủ sức thanh lọc xã hội tham nhũng ở Miền Nam Việt Nam cũng như sự vô trật tự của chiến tranh của người Mỹ.”

    Ông Mai văn Bộ, một công chức cao cấp ở Bộ ngoại giao Hà Nội , cựu Đại sứ Bắc Việt ở Paris, đã ca tụng quyển “Ngọn Lửa Trên Hồ Nước ” khi duyệt qua các phong trào và dư luận ở Hoa Kỳ. Bà trí thức trưởng giả tốt bụng Hoa Kỳ nầy kết luận rằng: ” Nếu Việt Nam phải được độc lập, thì nước Việt Nam phải có một Chánh Phủ thống nhất . Bây giờ muốn có hòa bình phải cần làm cách mạng.” Bà FitzGerald chúc phúc cho sự thống nhất bằng cách mạng.” !

    Ông Mai văn Bộ nghĩ rằng quan điểm của bà FitzGerald đúng đắn, cần thiết và trong sáng. Rất xứng đáng được cấp chiếu khán. Sau một thời gian dài chờ đợi, bà nhận được chiếu khán. Bà viếng Hà Nội vào đầu tháng giêng với một phái đoàn trong đó có Fred Bransman, đồng chủ sự của tổ chức “Tài nguyên ở Đông Dương”, một tổ chức “vì hòa bình” mà ông đại sứ Graham Martin rất ghét.

    Ở Hà Nội, người ta cho khách ngoại quốc ở khách sạn Thống Nhất. Khách sạn nầy giống như khách sạn Continental ở SàiGòn, hai khách sạn nầy trước kia cùng một chủ. Cũng những phòng rộng rãi, đẹp nhưng cũ kỹ, cũng những chiếc quạt máy chạy chầm chậm. Nhưng ở đây không có sân thượng như ở Continental, điện nước hơi trục trặc, vải trải giường thì vá víu, và nhân viên của sở an ninh ở cả tầng trệt. Họ giám sát các sự di chuyển và thư từ của khách . Khách được cho ăn đầy đủ lắm nhưng thấy ngay là thiếu cà phê, bơ và thịt. Khách ngoại quốc luôn luôn được chú trọng, coi như có đặc ân, không bao giờ thiếu thuốc hút. Một hệ thống tuyệt hảo, nhưng khách coi như bị giam lỏng: mỗi phái đoàn luôn luôn lúc nào cũng có người bên cạnh, một tài xế, một nhân viên tổ chức, thường là công an, và một thông dịch viên, trong trường hợp cho phái đoàn Mỹ lần nầy là ông Long.

    Bà FriztGerald thấy Hà Nội “không hấp dẫn lắm” nóng bức và không sáng sủa nữa.

    Mặt tiền phố xá ở thủ đô Bắc Việt thì nứt nẻ, hồ vữa rơi vỡ từng mảnh vụn, những người cỡi xe đạp không tin tưởng vào luật giao thông. Họ chỉ tự tin vào tài nghệ của mình như những người cỡi xe đạp ở Miền Nam. Trung tâm thành phố già nua của người Pháp thuở nào giờ đây nom cũng còn có vẻ sạch .

    Dân chúng ở thủ đô Bắc Việt không lúc nhúc như ở SàiGòn. Họ chen chúc nhau đi một cách vô trật tự. Có ít xe cộ và lính tráng trên các con đường chính, Xe đạp thì vô số kể, người thì đi xe Phénix của Liên Xô, người thì xe MIR của Trung Cộng, nhưng người ta thích xe Peugeot hơn. Vào sáng sớm hay buổi chiều thì có nhiều quân xa hơn. Đây là giờ đoàn kết của tất cả các nước dân chủ nhân dân: xe cam nhông, xe nước, xe cần trục, xe jeep và xe chỉ huy Liên xô, xe Molotova, Zis, Zil, Aurochs vĩ đại… Nhưng người ta cũng thấy được xe Gia Phong của Trung Quốc, với ca pô dài và tròn, các xe Star 20, 25, 27 của Ba Lan và những xe Praga và Tatra của Tiệp Khắc, xe Ipha của Đông Đức, hay Hirondelle của Bắc Hàn. Rồi người ta cũng thấy những chuyến xe điện cũ kỹ màu đọt chuối hay màu xanh đỏ gì đó chở đầy người chạy ngược chiều với các xe trâu.

    Trong những khu công thự của thủ đô cũ, và cả khu gia cư bình dân đều có những hầm núp cá nhân, những hố tròn bằng xi măng, sâu chừng 2 thước tất cả đều ngập nước bùn. Ý chừng người ta không còn sợ các oanh tạc cơ Hoa Kỳ trở lại nữa hay sao ? Ở nơi khác thì người ta đã làm sạch các hố núp bom nầy rồi .Có lẽ người ta sợ Hoa Kỳ lại tái leo thang oanh tạc.

    Nếu không có chế độ phân phối lương thực thực phẩm, không thấy những bộ đội có võ trang, những khẩu pháo phòng không , những hỏa tiễn SAM lộ thiên,, những mẩu chuyện về chiến sự… thì ở đây người ta đã quên mất chiến tranh rồi. Người Mỹ không bao giờ oanh tạc trung tâm thủ đô Hà Nội, một vài quả bom rơi lạc vào thôi, gây tử thương một nhà ngoại giao Pháp hay một trung sĩ của Ủy Ban Quốc Tế (CIC). Trung tâm Hà Nội vẫn được bảo vệ. Chiến tranh chỉ bắt đầu ở ngoại ô giống như ở SàiGòn .

    Bên bờ hồ, một số bạn trẻ đang uống bia ngoài sân của các quán cà phê. Trong khu thủ công ở phố tàu cũ không náo nhiệt như Chợ Lớn, gần cầu Long Biên – tức cầu Paul Doumer cũ- , bị phá ,sửa đi làm lại cả hai chục lần, trên con đường dẫn tới bệnh viện Bạch Mai, đâu đâu cũng có hệ thống phóng thanh oang oang các khẩu hiệu và từ 6 giờ sáng là giờ trực tiếp truyền đi các buổi phát thanh của đài Hà Nội

    Bà FitzGerald hơi khó chịu về sự “úp mở”. Phái đoàn của bà được “Ủy Ban Đoàn Kết Với Nhân Dân Hoa Kỳ ” mời, mà qua đây bà chỉ gập toàn là viên chức của chánh quyền. Toàn là nghi thức giống nhau trong một không khí tối ư lịch sự và các phái đoàn phải kiên nhẫn, ngồi nghe hàng loạt thuyết trình không biết bao giờ chấm dứt, những “báo cáo” loại trả bài Mác xít. (“bao cao” nguyên văn chữ việt không có dấu của tác giả)

    Trên một cái bàn kiểu cổ của Pháp thời thập niên 30 hay 40 gì đó, chủ nhà bày ra nào là trà, chuối, bánh tây, kẹo và thuốc lá để đãi khách. Với những cử chỉ hết sức vồn vả và rất trân trọng họ mời khách, làm như kẹo trà đó là những món tối cần thiết, không dùng không được vậy. Họ vồn vã hỏi thăm về sức khỏe của khách, của gia đình và bạn bè của khách, cố tạo ra một bầu không khí thân mật từ ông khách ở New York đến ông bạn ở Paris hay ở Stockholm …. Họ nhắc đi nhắc lại đến cả chục lần rằng ở Hà Nội lạnh hơn ở SàiGòn nhiều… rồi từ từ họ cũng lái được người ta vào đề tài chánh trị, không đến đỗi chậm chạp lắm như con mèo thò chân vào nước đá đâu.

    Cũng có lúc toán hộ tống thay đổi người. Nhờ vậy mà phái đoàn Hoa Kỳ mới khám phá ra người thông dịch viên ở Viện Đông Nam Á là vợ của tướng Võ nguyên Giáp, tổng trưởng Quốc Phòng. Có điều không may mắn là phái đoàn không gặp được ông tướng nầy.

    Theo bà FitzGerald, nhân vật chánh thức và quyến rũ nhất có lẽ là ông Hoàng Tùng. Vóc người nhỏ thó và hoạt bát, tóc bạc trắng và húi cua, lúc nào cũng có khăn quấn trên cổ và luôn luôn mặc áo choàng, ông Tùng là chủ nhiệm tờ Nhân Dân, nhật báo của đảng. Ông là ủy viên dự khuyết Trung ương đảng, là đầu cầu mà các nhà trí thức có tiếng tăm khi đến Hà Nội bắt buộc phải đi qua. Vì ông là gạch nối liền trực tiếp với hệ thống đảng cũng như chánh quyền, một hệ thống chịu trách nhiệm phân phối khách thăm viếng và các nhân viên trong công tác phục dịch và tuyên truyền.

    Ông Tổng bí thư Lê Duẩn tiếp các thành viên quan trọng của các đảng cộng sản anh em, Thủ Tướng Phạm văn Đồng thì tiếp các nhà ngoại giao, các giáo sư, các ông Cha, các Mục sư và báo chí ngoại quốc. Ông Hoàng Tùng thì chuyên tiếp giới trí thức có chút ít tiếng tăm.

    Vẻ chân thật, hay nói thẳng và giản dị của ông, đôi lúc hơi tếu, dù gì cũng không che dấu được sự trung thành tuyệt đối của ông đối với ý thức hệ cộng sản . Người ta có thể liên tưởng ông ta là một khúc gỗ lim, một loại gỗ cứng rắn nhất ở rừng Việt Nam. Khác hẳn với các nhân vật chánh thức ở đây, ông Hoàng Tùng không sợ những câu nói bóng gió. Muốn nói tới ” kháng chiến quân” ở chiến khu thuộc CPLTCHMN hay các anh bộ đội chánh quy của Miền Bắc đang ở trong Nam, ông không tránh né, dùng ngay danh từ “lực lượng giải phóng quân” để nói với quan khách Hoa Kỳ:

    ” Có người gọi họ là “quân đội Bắc Việt”, có người gọi họ là “việt cộng”, có người gọi họ là “cộng quân”… các ông muốn gọi họ là gì cũng được. “

    Ông không dấu diếm gì cả, nói thẳng rằng “các sư đoàn Bắc Việt đã cung cấp phần lớn binh sĩ cho Miền Nam.

    Ông sẵn sàng kể lại một cách thích thú vài mẩu chuyện về ông Kissinger :

    – ” Ông tiến sĩ triết học nầy gần đây lại thích chuyện gián điệp. Quý vị có biết là trong thời gian thương thuyết ở Paris, ông Lê đức Thọ – cố vấn đặc biệt của Phái Đoàn Bắc Việt- có hỏi ngay ông Kissinger là : “ông có gặp khó khăn nào trong việc xin Quốc Hội thông qua đạo luật viện trợ cho Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa của chúng tôi hay không ?”

    Thì ông Kissinger trả lời ngay:

    -” Các ông không biết đâu, Chánh Phủ Hoa Kỳ thường gập khó khăn khi xin ngân khoản nho nhỏ cho một vài dự án cụ thể nào đó thí dụ như về an sinh xã hội chẳng hạn, Tuy nhiên mỗi năm Quốc Hội chấp thuận một ngân khoản lớn cho Ngũ Giác Đài. Chánh Phủ có thể trích ra từ ngân khoản nầy một số nào đó để viện trợ cho Bắc Việt được.”

    Sự thật không phải vậy và không đúng như vậy đâu. Câu chuyện nầy thật quá sáng tỏ: ý nghĩ về một ngân khoản hàng tỷ mỹ kim để tái thiét Miền Bắc gọi là “hàn gắn vết thương chiến tranh” đã ám ảnh những người có trách nhiệm ở Miền Bắc. Người cán bộ cộng sản như ông Tùng hay người quốc gia chống cộng như ông Thiệu đều tưởng là Tổng Tống Hoa Kỳ nào cũng có thể “qua mặt” được Quốc Hội về vấn đề tiền bạc.

    Để trả lời cho bà FitzGerald về câu hỏi : ” Chiến tranh Việt Nam có vai trò gì trong “Lịch Sử” ? , ông Hoàng Tùng dã say sưa thích thú đi vào giải đáp lý thuyết loại ngay :

    ” Cuộc chiến đã góp phần làm thay đổi cán cân lực lượng trên thế giới”.

    Người ta thấy là ông đã trả lời như một nhà thông thái, nhanh gọn và rất khiêm nhường.

    Những lý thuyết gia cộng sản của Hà Nội đều biết và tin rằng cuộc cách mạng thế giới đang được tiến hành, mà cộng sản Việt Nam là một trong những động cơ chính yếu, cũng như Cuba vậy. Nước VNDCCH là “đội quân tiền phong” của giai cấp vô sản. Nhưng theo Mạc tư Khoa thì đạo quân tiền phong là Liên Xô. Ngưòi Việt Nam đã nhớ rất rõ là khi mới được khai sanh, nước VIT NAM DCCH không được Liên Xô nhìn nhận ngay đâu.. Người cộng sản VIệT NAM cũng không bao giờ tha thứ cho Trung Quốc khi nước nầy giao hảo với Hoa Kỳ nhờ Nixon và Kissinger. Hà Nội cũng không khi nào quên đưọc lúc ký Hiệp Ước Geneve 1954, Liên Xô và Trung Quốc đã ép người đồng chí VIT NAM nhỏ bé của mình phải chấp nhận vĩ tuyến 17 là biên giới quốc cộng : Cộng sản ở phía Bắc và Quốc gia ở phía Nam. Lãnh đạo Bắc Việt cũng không khi nào tha thứ cho Liên Xô khi họ chỉ phản đối lấy lệ lúc Hoa Kỳ phong tỏa Hải Phòng vào tháng 4/1972 hay dội bom Bắc Việt tháng 12/ 1972. Trong thời gian khó khăn nầy của cuộc chiến, trong giai đoạn đang có sự căng thẳng giữa Hà Nội và Hoa thạnh Đốn, Liên Xô đã có thái độ quá dè dặt .

    Báo chí Bắc Việt nhận định rằng cuộc họp thượng đỉnh giữa hai ông Nixon và Breijev vào tháng 5/1972 là “đi ngược với nguyên tắc”. Lãnh đạo đảng cộng sản VIT NAM biết là Mạc tư Khoa và Bắc Kinh đang chơi trò “thư giản” với Hoa Kỳ, như vậy là coi như họ muốn dời cuộc cách mạng thế giới lại một ngày khác rồi “

    Tất cả những nhận xét của ông Hoàng Tùng trên đây tuy có vẻ nhẹ nhàng nhưng nhân vật Hoàng Tùng muốn cho khách người ngoại quốc thấy: có một khoảng cách giữa Hà Nội, Bắc Kinh và Mạc tư Khoa, và cuộc tranh chấp nầy có vẻ khá nặng nề..

    Đôi khi Hoàng Tùng lợi dụng những cuộc thảo luận tổng quát nầy để gợi lên cho khách thấy sự dị đồng. Như vậy về mặt lý thuyết trong cái thế giới cộng sản người ta đặt một câu hỏi xét ra thật là căn bản: ” trên con đường dẫn tới thiên đường xã hội chủ nghĩa có thế nào “giáo điều, ý thức hệ vượt lên khỏi nhu cầu phát triển kinh tế hay không ? “

    Nước Việt Nam chưa phải là một nước kỹ nghệ. Cộng sản Việt Nam bắt buộc phải đi theo con đường của Trung Quốc, có nghĩa là ý thức hệ phải được coi như ưu tiên hơn là phát triển kỹ nghệ. Ông Hoàng Tùng nhấn mạnh : ” Những người kế thừa Hồ chí Minh đã chọn một đường lối sát với cộng sản chính thống Liên Xô. Đất nước chỉ tiến được lên xã hội chủ nghĩa khi nào nền kinh tế của quốc gia đã ở trong tình trạng phát triển.”

    Trong văn bản của ông, Lê Duẫn đã nhấn mạnh vị trí quan trọng của sự phát triển kỹ thuật (ông Tùng nhận xét). Tại Hà Nội, chủ thuyết Mao trạch Đông chẳng những không được coi trọng nếu không muốn nói là quá lạnh nhạt, xa cách, mà lại còn kèm theo các nụ cười khó chịu nữa. Tòa Đại sứ Trung Quốc ở Hà Nội có đầy những quyển tiểu luận màu đỏ bằng tiếng Việt nhưng vì một sự tình cờ nào đó mà không thấy một quyển nào được thấy xuất hiện ra ngoài.

    Đi lần xuống từ đỉnh cao của ý thức hệ đó, bà FitzGerald nêu lên câu hỏi về bài toán tế nhị của những sự thay đổi trong nội bộ đảng cộng sản.

    Đối với người cộng sản Việt Nam, cái gì mới là quan trọng : Hồng hay Chuyên ?

    ông Tùng trả lời:

    “ Đường lối của chúng tôi khác hẳn của người Trung Quốc, chúng tôi tin tưởng rằng “Phải biết làm và Làm có kỹ thuật” đó mới là ưu tiên, là quan trọng. Có ý chí là một điều cần thiết đấy, nhưng cũng chưa đủ. “. Tùng lại nói tiếp :

    – ” Trong nội bộ đảng CS VIT NAM cũng đã có những sự tranh luận, nhưng không có sự dị biệt về ý thức hệ, từ thế hệ nầy đến thế hệ khác, từ cấp trên xuống tới cấp dưới. Đảng và Chánh Quyền gồm có những người lớn tuổi từ cuộc chiến Đông Dương lần thứ nhất. Họ không có đủ phẩm chất cần thiết để canh tân nước Việt Nam . ” Và ông lại giải thích:

    -” Chúng tôi vấp phải một xu hướng nào đó, có chủ trương cứ để cho lịch sử của quá khứ dắt mình đi, cứ coi như sự thiếu khả năng trong hiện tại là cần thiết. Tôi đã nói đùa với ông Lê Duẫn là “nếu chúng ta sống trong chế độ hồi xưa thì tôi sẽ chấp thuận ban cho rất nhiều người một quy chế quý tộc rồi, quý vị thấy tôi muốn nói gì chớ ? một quy chế danh dự thôi mà !

    Trong thời gian 19 ngày phái đoàn Hoa Kỳ thăm viếng Hà Nội, họ đã đi tham quan các đền đài, viện bảo tàng và các tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng. Đâu đâu và lúc nào người ta cũng giải thích là Miền Bắc cần phải nâng cao sản lượng lúa gạo, than đá, sắt thép, điện lực, xi măng và phân hóa học. Người ta đã làm việc quá nhiều cho kế hoạch sắp tới, cho thời gian chuyển tiếp sau khi thống nhất được hai Miền Nam Bắc. (họ đã nói như vậy). Các doanh gia ở Miền Nam sẽ được mời, nếu họ muốn mua than đá và bán gạo cho Miền Bắc. Việc thống nhất nầy phải còn tốn rất nhiều thời gian. Có thể 5 năm hay 10 năm không biết chừng. Đâu đâu và lúc nào phái đoàn cũng nghe thấy họ nhắc đi nhắc lại thời khóa biểu nầy. Ngay như Thủ Tướng Phạm văn Đồng cũng vậy, đích thân ông đã tiếp phái đoàn Hoa Kỳ nầy, rất ngắn thôi, nhưng cũng đủ để ông gieo vào đầu họ ý nghĩ nầy khi ông tuyên bố:

    – ” Sẽ có thống nhất thôi, ai cấm ? Cứ hỏi ngay ông Gerald Ford xem ! Trước hết, phải thi hành Hiệp Định Paris. Chúng tôi phải có được “Hòa Bình, Dân Chủ và Hòa Hợp Quốc Gia” và một Chánh Phủ mới ở Sài Gòn. Sẽ có thống nhất thôi ! chừng đó tôi là người sẽ trở về Miền Nam.”

    Ông Phạm văn Đồng là người sanh trưởng ở Miền Trung, trong tỉnh Quảng Ngãi. Năm nay ông 79 tuổi có cặp mắt sáng rỡ, đẹp và sâu nom hết sức quyến rủ, luôn tiết ra một luồng nhiệt độ có lẽ từ bịnh rét rừng. Ông có đôi môi dày, nước da ông ngâm ngâm đen và đôi tay ông dài, ông nói tiếng Pháp rất cứng với người ngoại quốc. Với tướng người cao ráo, ông thường mặc đồ lớn, nửa dân sự nửa quân sự, vùa thực dụng vừa thơ mộng của một ông thủ tướng hay nói về Diderot, về Victor Hugo hay về Zola, để tán tụng họ. “Hết Ý” là một trong những từ rất đắc ý của ông ta. Khi nói tới sự thống nhất giữa hai Miền Nam Bắc, ông làm như cần phải dời ngày đó lại một thời điểm nào đó xa xôi hơn, không đoán trước được. Ông vừa cười vừa nói với bà FitzGerald:

    -” Về ngày đó hả ? Chắc tôi phải hỏi lại một chiêm tinh gia mới được !”

    Thật là nhịp nhàng và ăn khớp với nhau quá !

    Không có lúc nào mà người Mỹ trong phái đoàn của bà FitzGerald thấy được tầm vóc của trận đánh chiếm tỉnh Phước Long, cũng giống như những nhà ngoại giao đương nhiệm ngay tại Hà Nội !

    Trong một giác thư, viên xử lý thường vụ Úc Châu, ông G.C. Lewis không sao rút ra được một kết luận nào gọi là thê thảm của diễn tiến quân sự ở Miền Nam. Gần đây nhất ông ta đã có nói chuyện với các đồng nghiệp Liên Xô và Ba Lan ở Hà Nội. Họ cũng đã quả quyết với ông rằng VNDCCH bây giờ chưa dự tính thống nhất hoàn toàn hai Miền Nam Bắc vì họ coi đó là một mục tiêu dài hạn, nếu họ thật sự muốn như vậy .

    Ở Miền Nam Chánh Phủ VNCH của ông Thiệu và CPLTCHMN (GRP) có thể từ từ sát nhập với nhau dưới một hình thức “Liên Hiệp” để rồi một ngày nào đó sẽ đương nhiên trở thành một thành phần trong Liên Bang với Miền Bắc.”

    Các nhà ngoại giao Liên Xô giải thích cho người Úc là CS VIT NAM đang nghỉ xả hơi :

    ” Hai nền kinh tế của Miền Nam và Miền Bắc quá chênh lệch nhau để có thể kết hợp ngay với nhau được , dù là có thể hợp tác với nhau giữa một Miền Nam nông nghiệp với một Miền Bắc kỹ nghệ.

    Vui tính, nhà ngoại giao Úc Châu tiếp lời:

    – “Nhìn từ đây, ngay bây giờ mà VNDCCH muốn sát nhập công ty Honda của Miền Nam cũng không phải thật sự là một đề nghị có thể đi đến thành tựu được.”. Ngoài ra theo ông Lewis, các lãnh tụ Miền Bắc còn nghi ngờ về ảnh hưởng của người Miền Nam đối vói người Miền Bắc”.

    Nhà ngoại giao Úc Châu chỉ lập lại những gì mà Miền Bắc đã nói với các dồng chí Liên Xô của họ mà thôi.

    Hai vị cố vấn trong tòa Đại sứ Liên Xô, ông Trigoubemko và Markow đã đánh tiếng trong ngoại giao đoàn là Liên Xô đã cắt giảm viện trợ quân sự cho Hà Nội trong năm 1974. Hai nhân vật Liên Xô nầy giải thích là chính người Trung Quốc là những ngưòi muốn theo đuổi chiến tranh và muốn đi tới mục tiêu cuối cùng của cuộc chiến. Họ khuyến khích Hà Nội phải tiến hành một cuộc tấn công vào Miền Nam. Ông Trigoubemko nói thêm rằng Trung Quốc có thể “gởi quân đội của họ qua tham chiến” giúp Miền Bắc. Dĩ nhiên ông xác nhận đây chỉ là ý kiến riêng của ông. Ông ước tính là các nhà lãnh đạo của Hà Nội thực tế đang mơ ước có được một Liên Bang Việt Nam hơn là một nước Việt Nam thống nhất. Ông nói tới hai nước VIT NAM giống như hai nước Nam, Bắc Hàn, Đông và Tây Đức.. ông đổ lỗi cho Trung Quốc là một “bá quyền thực dân mới”, một bá quyền có ảnh hưởng rất xấu đối với các chiến sĩ cách mạng Cam Bốt.

    Đại ý của các nhà ngoại giao Liên Xô là :

    -” Các đồng chí VIệT NAM lúc nầy cần phải tâp trung tài nguyên vào việc tái thiết đất nước và xây dựng xã hội chủ nghĩa.”

    Tất cả những người thuộc Ban Lãnh đạo đảng CS VIệT NAM nào có liên lạc với Tây Phương ở Hà Nội đều loại trừ khả năng tấn công của lực lượng giải phóng ở Miền Nam trong năm 1975. Họ cũng không loại trừ khả năng can thiệp của oanh tạc cơ Hoa Kỳ. Những người có trách nhiệm nầy tuyên bố là họ muốn tránh phản ứng mạnh của Hoa Kỳ:

    – “Chúng tôi không muốn làm hỏng lễ kỷ niệm 30 năm ngày lập quốc của VIệT NAM Dân Chủ Cộng Hòa vào tháng 9 / 1975 nầy”.

  6. Tất cả những luận điệu và phân tách nói trên lan rộng ra bất kể trong trường hợp hay hoàn cảnh nào, càng ngày càng vững chắc thêm lên, cùng khắp ở Hà Nội để đi tới thủ đô của các quốc gia Tây Phương. Những mẫu chuyện có tính cách “hòa hoãn” này đã ăn sâu vững chắc vào tư tưởng của cả những người ít nhạy cảm nhất.

    Người Tây Phương vốn không cho là quan trọng và ít khi tin vào những gì mà người Liên Xô hay Bắc Việt nói ra, nhưng những đòn loạn ngôn lừa bịp nầy cứ được nói đi nói lại liên tục, lại có kèm theo chứng tích trong giới ngoại giao đoàn, một thế giới thu hẹp vừa bé nhỏ vừa bị bưng bít ở Hà Nội. Hơn thế nữa CS VIệT NAM đã khôn khéo giới hạn mức độ phổ biến vừa đủ với ý định nào đó của họ muốn mà thôi : “kiến tạo hòa bình có lợi cho họ hơn là tiếp tục theo đuổi chiến tranh”. Clausewitz đã có nói; “Kẻ xâm lược lại là những người thích có hòa bình”. Họ muốn vào nhà anh mà không muốn gặp bất cứ một trở lực nào ! do đó mà Bắc Việt sẳn sàng chờ đợi…

    Vào đầu năm 1975, họ than phiền là đồng minh của họ không tiếp tục viện trợ đúng mức và đúng lúc cho họ. Họ đánh tiếng cho các nhà ngoại giao Tây Phương và cả Đông Phương rằng các đoàn xe tiếp vận từ Trung Quốc thường quá trể nãi. Người ta đổ lỗi cho công nhân Hỏa xa Trung Quốc đình công. Các công điện ngoại giao của Tây Phương gởi đi từ Hà Nội đều cho thấy rằng cộng sản VIệT NAM đang theo chánh sách bước đi từng bước một…mà bước nào cũng vững chắc.

    Như vậy là tất cả đều trùng hợp, Bộ Chánh Trị CS VIệT NAM đặt vấn đề kinh tế lên hàng đầu, ưu tiên hơn vấn đề chánh trị. Họ chuẩn bị một cuộc chiến lâu dài, có thể kéo dài trong nhiều năm nữa.

    Nhưng ít nhất cũng có 2 nhà ngoại giao không chia xẻ phân tích nầy, một của Tây Phương và một của Đông Phương.

    Từ tháng 12/74 ông Domogola của Ba Lan, đương nhiệm ở Hà Nội 3 năm rồi, nghĩ là Bắc Việt đang chuẩn bị mở một cuộc tấn công vào Miền Nam. Ông không thấy có một giải pháp chánh trị nào khả dĩ có khả năng thành tựu được. Không có một lãnh tụ ôn hòa nào có khả năng vươn lên để thay thế ông Thiệu. Ông Domogola giữ liên lạc chặt chẽ với những nhân viên dân chính cũng như quân sự của phái đoàn Ba Lan đang có trách nhiệm ở Miền Nam, những người đang biết rõ các cuộc chuyển quân của Bắc Việt hơn những người khác.

    Người thứ hai là ông Philippe Richer, một người đã từng là cựu tù binh bị lưu đày ở Buchewald, một cựu sĩ quan hiện dịch đã có 2 năm phục vụ trong quân đội hoàng gia Lào. Ông là đương kiêm Đại sứ Pháp tại Hà Nội. Ông cũng có nhận định như ông Domogola. Là một nhà ngoại giao rất bén nhạy, ông biết rất rõ từ Mạc tư Khoa đến Bucarest, và ông tới Hà Nội đúng vào tháng giêng năm 1975 . Ông không có một ảo tưởng nào về mọi khả năng giải quyết Miền Nam Việt Nam bằng một giải pháp chánh trị.

    Vài tuần lễ trước đó Thủ Tướng Phạm văn Đồng qua trung gian ông Francois Missofle, một đặc phái viên của Chánh Phủ Pháp ở Á Châu, đã nhờ Chánh Phủ Pháp nhấn mạnh với Hoa Kỳ để họ ép buộc ông Thiệu rời khỏi chức vụ. Hiệp ước Paris đã mặc nhiên chấp nhận giữ ông Thiệu lại ở Miền Nam, bây giờ Bắc Việt lại tìm cách để bứng ông Thiệu ra khỏi Miền Nam. Như vậy là họ đâu có muốn nghỉ xả hơi như họ đã nói đâu ?

    Thủ Tướng Phạm văn Đồng tiếp ông Richer lần đầu tiên vào tháng giêng và nói với ông Richer rằng:

    – ” Tôi hy vọng là ông đem tới cho tôi một câu trả lời”.

    Nhà ngoại giao Pháp không hề nhận được một chỉ thị chính xác nào trước khi đi, nên ông ta phân vân trong một sự mơ hồ…

    Trừ trường hợp ngoại lệ, còn thì tất cả các tin tức khắp các nơi đưa về đều giống nhau, từ Hà Nội và từ các nhiệm sở ngoại giao của Bắc Việt trên khắp thế giới, từ hệ thống tình báo và phản tình báo hùng mạnh của cộng sản, tất cả đều cho biết là “không nên quan trọng hóa vấn đề Phước Long, dù đó là một biến cố không phải nhỏ. Bộ Chánh Trị công sản chỉ muốn giữ một tình trạng căng thẳng nào đó thôi ở Miền Nam để cho bộ đội của họ vui chơi, không hơn không kém”!

    Rất ít có chuyên viên nào nghĩ rằng tất cả các nguồn tin dù đến từ Đông hay Tây cũng đều có một xuất xứ duy nhất là Hà Nội !

    Hơn nữa, vào trung tuần tháng giêng, tất cả các chuyên viên đều có trong tay một bản tài liệu từ tháng 12/74 : bản nghị quyết 08/CT74 do Bộ Tư Lệnh Quân Đội của CPLTCHMN phổ biến. Nghị quyết nầy có nội dung duyệt xét các mẫu số của cuộc đấu tranh cho những năm sắp tới: ” Chánh Phủ và Quân Đội bù nhìn của Nguyễn văn Thiệu nếu không sụp đổ ngay thì cũng tiếp tục gặp nhiều khó khăn trực diện trên mọi lãnh vực và sẽ suy yếu lần lần về phẩm cũng như về lượng”.

    Cộng sản thường mắc bệnh giấy tờ nên họ thường cung cấp tin túc đều đặn cho cán bộ các cấp ngay cả trên mặt trận. Do đó mà đôi khi cán bộ cộng sản còn biết tin tức chính xác trước cả ông Thiệu nữa, như trường hợp nội dung thảo luận ở Paris giữa ông Kissinger và Phái đoàn Bắc Việt. Cơ quan tình báo của Việt Nam Cộng Hòa phân tách kỹ các tài liệu tịch thu được trên xác chết của bộ đội hay của tù binh bắt được. Một cuốn sổ tay tịch thu được của một cán bộ Việt Cộng trong tháng giêng có bản phân tích nghị quyết 08/CT74:

    ” Các đồng chí phải ý thức được sự cứng đầu của địch khi họ muốn tiêu diệt giai cấp thợ thuyền. Đó là nguyên nhân gây ra tình trạng căng thẳng trong hiện tại. Do đó trong năm 1975 chúng ta phải tăng cường nỗ lực gắp ba hay gấp năm lần. Chúng ta phải chiến đấu trên cơ sở của sự đau thương nầy bởi vì chúng ta còn phải tiếp tục một trận chiến lâu dài.”

    Cộng sản Việt Nam không bao giờ buông bỏ mục đích cuối cùng của họ là thống nhất nước VIệT NAM, nhưng trong hiện tại rõ ràng họ đang dự kiến một cuộc chiến lâu dài.

    Đối với dư luận quốc tế, VIệT NAM DCCH và CPLTCHMN được coi là hai thực thể riêng biệt. Dù họ có để lộ cho dư luận thấy một vài điểm dị biệt, nhưng họ chỉ có một tiếng nói chung, giống nhau. Còn người Mỹ, từ chánh quyền đến quân đội, cấp nào cũng vậy, họ không bị bó buộc phải có một quan điểm giống nhau, cả trên hai lãnh vực ngoại giao và truyền thông.

    Ngày 8 tháng giêng, vị Tư Lệnh các lực lượng Hoa Kỳ ở Thái bình Dương (bao gồm chiến trường Việt Nam), Đô đốc Noel Gayler, có thực hiện một cuộc phỏng vấn cho đài truyền hình tại trại Smith ở Honolulu.

    Trước khi cho phát hình cuộc phỏng vấn nầy, đại tá Sheldon Godkin đánh tiếng cho biết rằng Đô Đốc Gayler không loại trừ khả năng một cuộc can thiệp của Hoa Kỳ để ngăn chận một sự “sụp đổ” của Miền Nam Việt Nam, sau khi Phước Long bị Bắc Việt chiếm.

    Cuộc phỏng vấn truyền hình được đài NBC phát đi trong chương trình “today show” một chương trình có rất nhiều người theo dõi. Đô Đốc đưa ra một quan điểm khác biệt với quan điểm của ông lúc ban đầu:

    Trước hết ông tuyên bố là : Hoa Kỳ sẽ xử dụng chiến cụ chớ không dùng quân lính để tăng cường cho Chánh Phủ của ông Thiệu. Ông nói :

    – “ Có khả năng có một sự can thiệp, nhưng cơ hội dẫn tới đó hình như còn quá xa vời”.

    Có vẻ ngần ngừ và hơi ấp úng,ông nói tiếp :

    ” Cần phải giúp đỡ cho Miền Nam Việt Nam chiến cụ để họ có thể xử dụng tùy theo nhu cầu của họ.” – “Không đến độ quá phi lý đâu. Dĩ nhiên là hợp lý, không đến đổi nào đâu… Tôi muốn nói là về đạn dược…. phải có đủ để họ có thể tự bảo vệ, và ….về lương thực cũng phải có để họ có đủ ăn, họ và gia đình họ,… và… cả vải bạt nilon nữa… để họ che mưa ..! “ Những ý kiến của nhân vật quan trọng nầy đã làm cho những người ở Sài Gòn mất hết cảm tình: Những tấm vải nhựa che mưa có thể chống được T.54 sao ? Và ở Hoa thạnh Đốn cũng vậy, người ta cũng không vui vẻ gì. Cần phải hết sức thận trọng về viễn ảnh của một sự can thiệp quân sự của Hoa Kỳ. Không có mấy ai nghĩ tới việc nầy. Ông Kissinger đã có nói về một sự can thiệp ở Trung Đông. Đối với kẻ địch, người ta không bao giờ nên nói là sẽ không làm việc nầy hay việc nọ, nhất là việc không gởi quân… Hai mươi lăm năm trước Bắc Hàn đã tấn công Nam Hàn chỉ vì ông Tổng trưởng Ngoại Giao Dean Acheson vừa tuyên bố là tuyến phòng thủ của Hoa Kỳ không bao gồm Nam Hàn. Ở Bộ ngoại giao hầu hết các chuyên viên đã có “đường lối” riêng của họ rồi: ”Sự việc Phước Long là một sai lầm không thể được tái diễn lại nữa vì đó cũng chỉ là một hành động quân sự hạn chế mà thôi “. Người ta không thể kết luận cho đó là một hành động có tính cách chiến lược được…. Và dĩ nhiên sự chống trả của lực lượng của Miền Nam lẽ ra phải mảnh liệt hơn mới phải “”.

    Một nhóm chánh trị gia chuyên nghiên cứu về kế hoạch dài hạn, dưới quyền ông Kissinger ước tính rằng cần có một sự can thiệp, nhưng rất khó có thể thi hành được việc nầy. Ngũ Giác Đài cũng nghĩ rằng Hoa Kỳ không thể gởi oanh tạc cơ tới đó dù các kế hoạch xử dụng oanh tạc cơ vẫn còn trống. Ngũ Giác Đài thường có kế hoạch yểm trợ cho khắp nơi, như can thiệp ở Việt Nam, Trung Đông, Đức v.v.. cả ở vùng Nam băng Dương nữa.

    Không thể được ? Tại sao ? Tổng Thống Ford, vị Tổng Tư Lệnh của Quân Lực Hoa Kỳ bị đạo luật 93-50 và 93-52 và nghị định 542 của Quốc Hội lưỡng viện tháng 11/1973 ràng buộc. Theo đó Tổng Thống chỉ được phép xử dụng quân lực Hoa Kỳ sau khi có sự tuyên chiến của Quốc Hội; hay trong những trường hợp thật chính xác, như lãnh thổ hay chính quân lực Hoa Kỳ bị tấn công. Trong trường hợp nầy, mọi quyết định của Tổng Thống (về việc xử dụng quân lực) phải được thông báo ngay trong vòng 48 tiếng đồng hồ cho Quốc Hội Hoa Kỳ . Thời gian xử dụng được giới hạn là 60 ngày. Ông Kissinger có chủ trương gởi Hạm đội Mỹ đến vùng biển Việt Nam để cho Hà Nội hiểu rằng họ phải ngưng ngay các cuộc tấn công. Ông Ford đương nhiên phải nghiêng về sự thận trọng nên đã chống lại ý kiến nầy.

    Tất cả những màn tranh luận hay bàn cãi của Chánh Phủ Hoa Kỳ được diễn ra một cách công khai, để cho dân chúng ai cũng thấy biết. Tòa Đại sứ Liên Xô ở Hoa thạnh Đốn xuyên qua Mạc tư Khoa đã cho Hà Nội biết hết toàn bộ những sự do dự, những màn căng thẳng và phản đối ngay trong Chánh Phủ Hoa Kỳ. Chánh sách của Hoa Kỳ được bàn tới bàn lui ở Nhà Trắng, ở Quốc Hội và ở các Bộ trong Chánh Phủ. Cả ở trên vô tuyến truyền hình nữa !

    Ông Nixon không dám chen vào. Các cố vấn của ông Ford thì muốn cho ông lên truyền hình. Ngày 13 tháng giêng Tổng Thống Ford nói chuyện trên 13 kênh trên truyền hình, nhơn ngày ông đọc diễn văn về đoàn kết quốc gia. Các cố vấn của ông đã nhấn mạnh với ông là “Việt Nam mãi mãi vẫn là con số không” Cho nên ông không có một chữ nào về vấn đề Việt Nam. Chiến lược của các cố vấn nầy thật là quá rõ ràng:

    – Hoặc là sự kiện một tỉnh lẻ của Việt Nam rơi vào tay của Bắc Việt sẽ chìm xuống lần lần: như vậy im lặng là điều cần thiết

    – Hoặc tình hình chiến sự ở Việt Nam sẽ xuống thang : Hãy để cho ông Kissenger lo dọn dẹp các mảnh vụn thạch cao của ông ta.

    Các cử tri, các ông nghị sĩ, dân biểu hiện đang quá bận tâm về nền kinh tế của Hoa Kỳ, không ai còn nghĩ tới số phận của Sai Gon hết.

    Tại Quốc Hội, khi nói tới Việt Nam, các nhóm có nhiều ảnh hưởng đang gây áp lực ở đây là những người thiên về “hòa bình”, không có ai thiên về ông Thiệu cả.

    Trên đường về Hoa Kỳ, sau khi rời khỏi Việt Nam, phái đoàn của bà FitzGerald ghé qua Lào. Fred Bransman tường trình về chuyến đi Việt Nam của ông ta với Đại sứ Mỹ tại Vientiane. Một cố vấn ngoại giao đã viết tờ trình về Hoa Thạnh Đốn, nội dung thật là rất buồn cười!

    “ Ông Bransman rất xúc động. Theo ông thì ở Bắc Việt có một không khí hài hòa ! Chánh quyền luôn luon thỏa mãn nhu cầu của dân chúng, không một ai trong Bộ Chánh Trị lợi dụng chức vụ để làm giàu, các đồng ruộng đều được gia nhập vào các hợp tác xã một cách vui vẻ. Người dân ở Bắc Việt không có gì gọi là theo ý thức hệ cộng sản, trái lại họ theo thuyết thực dụng. Họ rất mong có được một giải pháp chánh trị.”

    Ngày 19 tháng giêng, vừa về đến Hoa thạnh Đốn là ông Bransman và thuộc hạ của ông ta đã tràn ngập các hành lang của Quốc Hội. Họ tích cực vận động để Quốc Hội chống lại mọi hình thức viện trợ cho Chánh Phủ VIệT NAM CH. Ông Bransman đã làm việc thật là quá dắc lực !

    Tổng Thống Ford lúc nào cũng đo kỹ nhiệt độ cũa Quốc Hội và phản ứng của báo chí. Một bản nghiên cứu của Bộ Ngoại Giao, xuyên qua các bài bình luận của 36 tờ nhật báo đã cho thấy là 16 tờ cương quyết chống viện trợ cho Việt Nam, 13 tờ nếu không có cảm tình với Chánh Phủ VNCH thì ít nhất cũng có ý kiến là phải viện trợ cho họ.

    Được bước lên ghế Tổng Thống Hoa Kỳ một cách bất ngờ từ sáu tháng nay, ông Ford đã tỏ ra là một nguời có dũng khí. (người ta cũng thật sự chưa biết được có phải như vậy hay không ). To con, mũi gảy, càm vuôn, ông Gerald Ford “Jerry” có vẻ mạnh khỏe, thành thực. Ông không có vẻ gì ở tuổi 62 hết. Trước khi ông nhậm chức Tổng Thống, báo chí nhắc đi nhắc lại “ông Jerry là một người liêm khiết”. Người ta rất mong ông được như vậy. Chắc ông sẽ không hành động bừa bãi đâu trước khi ông tham khảo ý kiến với người tiền nhiệm của mình. Trước khi ông tuyên thệ nhậm chức đã có 350 người điều tra , xem xét cẩn thận cuộc đời của ông rồi. Theo truyền thuyết nghe thấy được ở Hoa thạnh Đốn thì ông Nixon thích tiền và hay khinh người. Còn ông Ford trái lại đã có một mối giao hảo tốt với mọi người. Ông có khoản 250 ngàn mỹ kim tiền túi và trong chương mục ngân hàng của ông. Ông Tổng Thống nầy không có dấu diếm gì cả bởi vì ông không có gì để mà che dấu, nhất là về trình độ trí thức của ông mà những người có ác ý thường đòi hỏi . Đầu óc ông rất trong sáng, không mảy may vẫn đục, và tánh tình ông thật giản dị. Ông không thiết tha lắm với tầm nhìn lịch sử. Tóm lại, về ông “Jerry” chỉ có một chữ thôi : đứng đắn. Khía cạnh hướng đạo sinh của ông làm cho một số người ưa thích ông và một số người khác tin tưởng ông. Ông không giàu tưởng tượng lắm nhưng khéo léo. Sự có mặt của ông gần 25 năm ở Hạ Viện đã chứng minh điều đó. Phải có một tinh thần dung hòa cao độ ông mới trở thành một lãnh tụ thiểu số của đảng Cộng Hòa ở Hạ Viện. Giỡ đây liệu ông có phải là một ông Tổng Thống có tầm vóc hay không ? Trước kia ông Harry Truman không có tầm vóc lúc đầu nhưng đã trở thành một Tổng Thống rất lỗi lạc. Muốn vào Nhà Trắng (Mỹ) hay điện Elysée (Pháp) hoặc ở đường Downing (Anh) trước tiên cần phải có nhân cách. Trong những tháng đầu, ông Ford coi như còn ở trong thời kỳ của tuần trăng mật mà ông còn hưởng được, báo chí đã nương tay cho ông hoặc che chở cho ông. Dĩ nhiên nếu không có ông Ford nầy thì người ta cũng nặn ra một ông Ford khác được vậy. Ông vẫn biết rằng người ta không mong gì hơn “ông Jery là một ông Tỏng Thống bình thường thôi, không cần như các trào Tổng Thống khác, từ ông Roosevelt tới ông Johnson, hay từ ông Kennedy tới ông Nixon.

    Theo tất cả mọi cuộc thăm dò và bình luận, thì ông Ford đưọc coi như một ông Tổng Thống Cộng Hòa bảo thủ. Vốn là một người đã từng hưởng ứng cuộc chiến ở Việt Nam, ông đã chỉ trích tính cách điều hành cuộc chiến dưới thời ông Johnson, về phương tiện chớ không phải về cứu cánh.

    Ông chấp nhận mọi sự bất đồng ý kiến. Ngay cả trong gia đình ông cũng thế. Hai đứa con trai của ông, Mike và Jack chống đối cuộc chiến tranh nầy. Ông không cầu mong có được một khả năng vượt bực trong những lãnh vực mà ông chưa từng quen thuộc. Vài tuần trước ông đã có gặp ông Valery Giscard d’Estaing (Tổng Thống Pháp) ở đảo Antilles. Ông đã để cho ông Kissinger ăn nói nhưng ông cũng không đến đổi tệ lắm đâu. Ông Giscard đã cho biết là đã có khả năng dàn xếp với Hà Nội. Ông Kissinger có vẻ hoài nghi nhưng nghĩ là nên cứ để người ta thử xem sao.

    Ông Ford không muốn bị lôi cuốn trở lại vào cuộc chiến ở Việt Nam nữa. Có lẻ nhờ Quốc Hội hạn chế quyền hành của Tổng Thống trong lãnh vực nầy chăng? Ngoài ra ông còn bị áp lực của ông James Schlesinger, Bộ Trưởng Quốc Phòng : tới giai đoạn nầy ông bộ trưởng không muốn có một hành động can thiệp nào nữa cả. Trong một cuộc họp báo ngày 14 tháng giêng, ông Schlesinger tuyên bố:

    -“ Chúng tôi không thể tin được rằng Bắc Việt đã sẵn sàng tiến hành một cuộc tấn công qui mô trên toàn quốc. Họ chỉ muốn lũng đoạn sự kiểm soát của Chánh Phủ VNCH thôi. Tôi không dự kiến một cuộc tấn công quy mô nào kiểu như cuộc tấn công mà chúng ta đã biết hồi năm 1972. Tôi tin rằng Bắc Việt vẫn còn phải nể sợ sức mạnh của Hoa Kỳ “.

    Sau đó để chứng tỏ ông là một thành viên trung thành với Chánh Phủ, ông tuyên bố tiếp :

    “ Trên phương diện lịch sử, dư luận Hoa Kỳ sẽ có một phản ứng giận dữ đối với một cuộc xăm lăng bạo tàn. Trong trường hợp dó, Tổng Thống sẽ thỏa thuận với Quốc Hội để có được sự chuẩn y trong việc xử dụng quân lực hùng mạnh của mình.”

    Liên quan đến những phê bình trên bình diện chánh trị về một thảm họa có thể xảy ra ở Việt Nam thì ông Schlesinger lại giả bộ ngây ngô, đùa qua hết cho Bộ Ngoại Giao, cho ông Kissinger !

    Trong cái không khí hỗn tạp chánh trị ở Hoa thạnh Đốn, ông Kissinger và ông Schlesinger giống như hai con cá sấu thù nghịch đang gờm nhau, vừa khinh nhau mà cũng vừa nể nhau. Ông Schlesinger là người duy nhất trong Chánh Phủ có thể cạnh tranh được với ông Tổng trưởng ngoại giao trên lãnh vực học vấn. Ông Kissinger thường sấp xếp để lúc nào ông Schlesinger cũng phải đứng ngoài mọi quyết định quan trọng. Các cựu quân nhân từng phục vụ ở Việt Nam đều có làm việc trong cả 2 Bộ ngoại giao và quốc phòng của 2 ông. Các nhà ngoại giao không có được nhãn quan bén nhạy của giới quân nhân nhà nghề. Người thì muốn giữ được lòng tin đối với Hoa Kỳ trên sân khấu quốc tế. Người khác thì muốn di tản hết các sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ Mỹ cuối cùng đang còn hiện diện ở một vài tỉnh ở Việt Nam. Ông Schlesinger chỉ mới đảm trách chức vụ Bộ trưởng quốc phòng từ 18 tháng nay nên chưa phải là hiện thân của cuộc chiến ở Việt Nam. Còn ông Kissinger là đồng tác giả của Hiệp Định Paris nên không thể tự tách rời ra khỏi việc nầy được. Đối với dư luận thì vấn đề Việt Nam đè nặng trên cả hai vai của ông.

    Ông Ford nghĩ là cần phải xin Quốc Hội 300 triệu đô la viện trợ quân sự bổ túc cho Việt Nam. Chiều ngày 23 tháng giêng, trên hệ thống truyền hình, đài NBC, ông bị hai bình luận gia trứ danh John Chancellor và Tom Brokaw chất vấn ông,. Họ đi thẳng vào vấn đề Việt Nam. Ông Brokaw đua ra một câu hỏi thật là giản dị:

    “ Thưa Tổng Thống, xin ông cho biết mục tiêu mà ông cần phải đạt được ở Đông Nam Á, và đặc biệt là ở Việt Nam ?”

    Ông Ford hơi vụng về nhưng đã tỏ ra rất chân thật :

    – “Ở Việt Nam, sau những mất mát về nhân mạng …”… – trên 50 ngàn công dân Hoa Kỳ- và sau quá nhiều phí tổn phi thường của chúng ta tính bằng đồng đô la Hoa Kỳ ..”… thường thường trên 30 tỷ mỗi năm- ..”.. tôi thấy hình như chúng ta phải thử cho người dân Miền Nam Việt Nam trách nhiệm tự bảo vệ “lối sống của họ” bằng viện trợ quân sự của Hoa Kỳ ” (nguyên văn câu tiếng Anh của tác giả: “the way of life”).

    Khi ông Ford nói chuyện trên hệ thống truyền hình và nhất là sau bữa cơm tối, người ta có cảm tưởng lời nói của ông ta có đệm nhạc, giống như một bài hát đạo thoang thoảng nghe được trong các thang máy của các cửa hàng!

    Sau đó ông Ford nói về những quan điểm tổng quát về truyền thống của Hoa Kỳ từ thế chiến 2, về sự viện trợ cho các quốc gia đồng minh. Ông phân tách rõ rệt giữa viện trợ nhân đạo với viện trợ quân sự. Ông lại tiếp tục nói về truyền thống và đức độ của Hoa Kỳ trong tương lai làm ông Brokaw phải kéo ông về đề tài:

    – ” Sự cam kết của Hoa Kỳ sẽ kéo dài trong bao nhiên năm nữa, và nó sẽ đi đến đâu ?

    Tổng Thống Ford nói :

    – ” Tôi không tin là sẽ có một sự cam kết lâu dài. Thật ra Đại sứ Hoa Kỳ ở bên đó, ông Graham Martin, có nói với tôi giống như ông Kissinger, là ông ta nghĩ nếu có một số lượng viện trợ (bằng đô la) đầy đủ đổi ra thành vũ khí đạn dược và trợ giúp kinh tế, …”.. và viện trợ nầy được đặt dưới quyền xử dụng của họ, thì trong vòng 2 hay 3 năm, Miền Nam Việt Nam sẽ qua khỏi được thời kỳ khó khăn của họ”.

    Những lời tuyên bố nầy thiếu căn bản, ông Ford cũng hiểu như vậy:

    -” Tôi tin chắc là người ta đã nói với ông điều nầy rồi, … người dân Miền Nam đã có nhiều tiến bộ lắm rồi, bây giờ thì họ bắt đầu thiếu chút ít về đạn dược, và nạn lạm phát đã bắt đầu tăng trong những tháng gần đây…”

    Ông Ford xác nhận là đã ban khen đại sứ Martin của ông, một người rất tận tụy và rất thiết thực “.

    Vừa có khuyết điểm lại vừa có đức độ, Tổng Thống Ford quả thật là một nhân vật giản dị và ngọt ngào như chiếc bánh ngọt nhân táo chua vậy.

    Với các chánh trị gia chuyên nghiệp, với các cử tri, thì những cuộc tranh luận, bàn cãi và những pha căng thẳng thần kinh trong bộ máy chánh quyền Hoa Kỳ được coi như rất sáng tỏ.

    Và đối với Hà Nội cũng vậy thôi, thật là quá rõ ràng !!

    Ngày 28 tháng giêng, rất long trọng, ông Ford đã gởi một công hàm đặc biệt cho Quốc Hội Hoa Kỳ để xin một ngân khoản viện trợ bổ túc là 300 triệu đô la cho Việt Nam; và 222 triệu đô la cho Cam Bốt. Tổng Thống Ford không có khẳng định là với sự viện trợ này Cam Bốt sẽ thắng trận giặc ở đó hay chiến cuộc Việt Nam sẽ chấm dứt, tuy nhiên theo ông, ít ra trên bàn cờ quân sự mà họ đang chơi, người ta có thể buộc kẻ địch phải thôi đi để trở lại bàn hội nghị thương lượng về một giải pháp chánh trị.

    Những người thân cận ông Ford hy vọng là ông sẽ là một vị Tổng Thống thời “hậu chiến tranh Việt Nam”, nhưng thực tế cho thấy ông đang ở trong cái vũng lầy, ngập đến tận cổ, mà bản thân ông lại không hay biết gì hết!

    – “Ông Ford đang ngồi trên một đống phân”, một công chức cao cấp trong Bộ Ngoại Giao đã nói như vậy, dĩ nhiên câu nầy không sao đến tai ông Kissinger được !

  7. Chương 5

    Lưỡi rìu và gốc cây

    Cơ quan sưu tầm tin tức của Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa đều biết rằng Bộ Chánh Trị và Quân Ủy Trung Ương, cơ quan quyền lực tối cao về chiến tranh của Bắc Việt, đang họp ở Hà Nội, họp liên tục từ ngày 18/2/1974 cho đến ngày 8/1/75, ngay tại Hà Nội .

    Ngày 8/1 đó, ở Hà Nội cũng như ở SàiGòn mọi người đều biết kết quả sau cùng của trận chiến ở tỉnh Phước Long: tiếng súng đã hoàn toàn chấm dứt.

    Các lãnh đạo đảng cộng sản đều có mặt đầy đủ trong tất cả các buổi họp giữa đại diện Bộ Tổng Tham Mưu Bắc Việt và Bộ tham mưu chiến trường Miền Nam gồm cả thành phần chánh trị và quân sự của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Về phía chánh trị thì có Lê Duẫn, Trường Chinh, chủ tịch Quốc Hội, Phạm văn Đồng, Lê đức Thọ. Phía quân nhân thì có các tướng Võ nguyên Giáp, Tổng trưởng Quốc Phòng, Văn tiến Dũng, Tổng tư lệnh, Lê ngọc Hiền Tham mưu trưởng hành quân, và Trần văn Trà, Tư lệnh chiến trường B2 ở Nam Bộ.

    Trừ hai tướng Trần văn Trà và Lê ngọc Hiền , còn thì tất cả đều là thành viên của Bộ Chánh Trị. Đảng kiểm soát Quân Đội và các tướng lãnh đều nằm trong guồng máy chánh trị của đảng. Cho nên không thể nào có chuyện “đảo chánh” nhau được vì không ai lại đi lật đổ chính mình được .

    Các quân nhân cũng có tham gia vào chánh quyền nhưng với mức độ vừa phải thôi để không có ai vô công rỗi nghề được ở thủ đô Hà Nội .

    Các lãnh đạo quân chánh đang hình thành một kế hoạch chiến lược cho hai năm 1975 và 1976. Văn tiến Dũng đã ghi lại như sau :

    ” Tất cả đều xoay quanh việc đánh giá tình hình của chúng ta ở trong nước cũng như tình hình ở nước ngoài. Nếu chúng ta tấn công mạnh quá thì bọn bù nhìn sẽ phản ứng ra sao ? Câu hỏi căn bản là : Hoa Kỳ sẽ hành động thế nào ?Họ có dám can thiệp hay không ? Hay họ sẽ có kế hoạch nào khác ? Họ có toan tính gì khác không ? Chúng ta sẽ có phương thức nào phù hợp và tốt nhất cho cuộc cách mạng của chúng ta? chúng ta sẽ có kế hoạch nào trong 2 năm sấp tới ?” Các cuộc bàn cãi đã kéo dài rất lâu.

    Phạm văn Đồng vừa đi tới đi lui vừa nói:

    – ” Nếu phải đánh giá địch, chúng ta vừa phải trả lời nhiều câu hỏi, vừa phải tránh những nhận định cũ. Chúng ta đang ở trong một giai đoạn mới. Hoa Kỳ đã rút hết quân của họ theo đúng Hiệp Định Paris rồi. Với Hiệp Định, họ thấy đó là một thắng lợi của họ. Thế nhưng đây là một thất bại của họ.”

    Khi người cộng sản nói với dân chúng thì họ quả quyết rằng Bắc Việt hoàn toàn chiến thắng. Nhưng giữa họ với nhau, những người có ý thức trách nhiệm thì có khác, thắng lợi chỉ tương đối thôi.

    Ôg Đồng lại nói tiếp,

    – ” Bây giờ, Hoa Kỳ không có cách nào can thiệp lại bằng cách gởi quân sang đây nữa đâu. Họ chỉ có thể yểm trợ hỏa lực bằng không quân hay hải quân mà thôi. Mà yểm trợ hỏa lực thì không thể quyết định được thắng hay bại đâu. “

    Ông ta cười:

    – “ Tôi lại nói đùa nữa rồi đây ! Nhưng lần nầy tôi nói thật; Tôi quả quyết rằng Hoa Kỳ không trở lại đây nữa đâu. Cho ăn kẹo cũng không dám !”

    Nhờ các công điện của Liên Xô từ Hoa thạnh Đốn chuyển tin về Hà Nội qua trung gian chuyển tiếp của Mạc tư Khoa, và chỉ cần đọc qua các báo Mỹ, Thủ tướng Bắc Việt đã biết rõ là Hoa Kỳ sẽ không còn xử dụng lục quân ở đây nữa.

    Trường Chinh, to con, một lý thuyết gia nặng ký của cánh bảo thủ giáo điều, đã phát biểu thật chậm rãi. Với một quyển sổ nhỏ cầm trên tay, ông trịnh trọng khai triển những gì ông đã ghi chú trong đó, thật khoan thai và bình tỉnh như cần phải đánh từng dấu phết cho từng đoạn trong từng câu… Ông nói:

    – “Địch đang bị áp lực của chúng ta đè nặng trên ba mặt: các cuộc tấn công trên phương diện quân sự, khó khăn kinh tế và kỹ thuật, và phong trào nổi dậy của nhân dân…”

    Các lãnh đạo đảng biết rất rõ họ đang nói gì khi họ nhắc tới phong trào nổi dậy của nhân dân. Công thức nầy được moi ra từ giáo điều. Các biên bản và các hồ sơ lưu trữ phải được bám chặt vào các điều tuyên bố nặc mùi tuyên truyền nầy. Sự nổi dậy của dân chúng Miền Nam chống lại chế độ SàiGòn hả ? Đó chỉ là một loại “dĩa bay” trong thời chiến: lúc nào người ta cũng nói đến nó mà không bao giờ người ta thấy được nó !

    Trường Chinh lại nói tiếp:

    – ” Như vậy là địch sẽ yếu đi một cách nhanh chóng. Quân đội của họ không bao giờ giải quyết nổi cái mâu thuẫn giữa việc rải quân đóng đồn để giữ dân giữ đất với việc tập trung tác chiến lưu động . Tuy nhiên họ vẫn còn mạnh đó. Họ chưa mất bao nhiêu quân số đâu vì họ còn có khả năng tuyển mộ.”

    Điều nầy thấy rất rõ: trên chiến trường Miền Nam, Bắc Việt có 350 ngàn quân chánh quy. Họ có thể tập trung toàn bộ để hướng mũi dùi tấn công vào một vài điểm. Còn quân lực Việt Nam Cộng Hòa và lực lượng Bảo An tính chung là 1triệu 300 ngàn nhưng bị phân tán mỏng trải rộng ra trên toàn lãnh thổ.

    Trường Chinh cũng đặt câu hỏi về một sự can thiệp có thể xảy ra của Hoa Kỳ , một ám ảnh không nhỏ đối với cộng sản :

    – ” Người Mỹ còn để lại 25.000 cố vấn quân sự ở Miền Nam .”

    Nhà cầm quyền Miền Bắc cuối cùng có tin vào những con số mà họ đã dựng lên hay không? Nếu có thì họ tự đầu độc họ mà thôi ! Ở đây cũng vậy, những chuyện hoang đường đó đã trở thành sự thật trong các hồ sơ lưu trữ, và hồ sơ lưu trữ nầy biến thành Lịch Sử (danh từ Histoire được tác giả viết hoa).

    Đối với người cộng sản , Lịch Sử không phải là một chuỗi dài sự việc nối tiếp nhau, mà là những gì đúng theo đường lối, tiên liệu và tuyên ngôn của đảng, đúng theo các giáo điều Mác xít cứng ngắt của đảng. Trường Chinh hình như ít theo sát những diễn biến trên sân khấu chánh trị của Hoa Kỳ bằng Phạm văn Đồng, nên ông nói:

    – “ Nếu Hoa Kỳ cảm thấy có cơ nguy thì họ sẽ can thiệp. Nhưng họ sẽ gặp khó khăn khi xử dụng lục quân, và họ phải hết sức cẩn thận và bị hạn chế phần nào trong việc xử dụng hải quân hay không quân”

    Xuyên qua các biên bản chánh thức của những cuộc thảo luận, người ta ngửi thấy một sự khác biệt bàng bạc giữa một Phạm văn Đồng tinh tế hơn và một Trường Chinh giáo điều hơn, mặc dầu ngôn ngữ của hai người đều giống nhau.

    Trong các phiên họp thì mỗi người đều được phát biểu quan điểm của mình, có người phát biểu dài tràng giang đại hải hàng giờ làm như chuyện lập đi lập lại một lời đoan chắc nào đó phải được đánh giá là nặng ký hay phải được coi như một thực tế vậy. Người ta không đắn đo gì khi phải dùng lại lời nói nào đó của một đồng chí khác trong khi họ ngấm ngầm tỏ thái độ không đồng ý. Về sự can thiệp của Hoa Kỳ, một giả thuyết hơi nguy hiểm, thì có một sự thỏa hiệp chung là: có thể có nhưng xác suất không cao. Phải tiếp tục tấn công. Tổng bí thư Lê Duẫn, một nhân vật đầy uy quyền trong Ban Lãnh đạo Bắc Việt đã kết thúc các buổi họp :

    – ” Hai năm thì mau, mà cũng là quá chậm. Chúng ta phải tiến hành cùng một lúc hành động quân sự, chánh trị và ngoại giao. Đó là phương thức mà chúng ta phải áp dụng, phương thức đặc thù của chúng ta.”

    Ông ta rất có lý . Đó là phương thức của cộng sản Bắc Việt: cùng lúc mở ba mặt trận, ba gọng kềm hay là “ba mũi giáp công”

    Để giúp cho vị trí chánh trị và ngoại giao của CPLTCHMN của họ được thêm phần vững chắc, họ dự định phải chọn một thành phố ở Miền Nam để làm thủ đô. Tây Ninh hay An Lộc ? người ta gác lại quyết định nầy, một phần vì nếu ” thủ đô mới” nầy bị không lực Hoa Kỳ tàn phá thì trên phương diện chánh trị đó là một điều rất phiền.

    Dĩ nhiên với sự đồng thuận, người ta chọn kết luận của Lê Duẫn để đưa vào nghị quyết cuối cùng: “Không bao giờ chúng ta còn có những điều kiện quân sự và chánh trị hết sức thuận lợi hơn để đưa chúng ta đến sự thống nhất trong hòa bình.”

    Các sư đoàn Bắc Việt vừa nuốt trọn một tỉnh của Miền Nam Việt Nam. Điều khoản về “thống nhất trong hòa bình” của Bắc Việt không thiếu vẻ khôi hài và vô liêm sĩ ! Những người lãnh đạo cộng sản chưa biết họ phải chơi cái trò nào trước , chánh trị ?ngoại giao? hay quân sự ?

    “…….Chúng ta có đủ quyết tâm và phương tiện để chiến thắng và ngăn cản Hoa Kỳ không cho họ tiếp cứu chánh quyền SàiGòn …”

    Quyết tâm thì hiển nhiên đã có rồi, còn ý chí thì luôn luôn là cuồng tín !

    Tại Hoa Thạnh Đốn , chánh phủ mạnh nhất thế giới luôn góp mặt hay có hành động khắp năm châu, đang có vô số việc phải lo và phải làm. Các nhân vật có trách nhiệm thường xuyên chú ý khắp mọi nơi. Họ canh chừng Trung Đông, ÂuChâu, Trung Mỹ, Phi Châu, nhưng Kissinger thì hơi xao lảng.

    Tai Hà Nội chánh phủ chỉ thấy có đoàn kết : chỉ có một mục tiêu từ 30 năm nay, chỉ có một chân trời chánh trị duy nhất là giải phóng cả Đông Dương khỏi sự cai trị của ngoại bang, thống nhất hai Miền Nam Bắc, và xây dựng xã hội chủ nghĩa . Ban lãnh đạo Miền Bắc đã qua được một giai đoạn khó khăn: họ đã thuyết phục được với nhau rồi; và năm 1975 họ còn phải khuyến dụ dư luận quốc tế rằng sự thống nhất hai miền Nam Bắc là lẽ sống còn của người cộng sản Việt Nam.

    Bản tuyên bố trong nghị quyết cuối cùng có câu:

    “Chúng tôi có trách nhiệm đối với dân tộc chúng tôi và đối với các dân tộc trên thế giới” Người ta ngửi thấy ngay bàn tay của Lê Duẫn, một cây cổ thụ trong ban lãnh đạo đảng. Ông ta nói đi nói lại một câu mà không cần biện luận.

    Đi đứng hơi nặng nề, phong thái không nhanh nhẹn lắm, Lê Duẫn là một trong những sáng lập viên lịch sử của đảng. Ông ta không có tánh tình xuề xòa nhưng thâm độc như Hồ chí Minh, lại không được duyên dáng như Phạm văn Đồng, hay hòa nhã như Võ nguyên Giáp. Ông là lý thuyết gia, chiến lược gia, sĩ quan tình báo, và phụ trách văn phòng của đảng cộng sản Việt Nam. Ông sanh quán ở Miền Trung Việt Nam , biết rất rõ Miền Bắc và Miền Nam là nơi ông đã tham gia kháng chiến chống Pháp. Là Tổng bí thư đảng cộng sản 15 năm nay , ông đã thay thế Trường Chinh bị hạ tầng công tác xuống làm Chủ Tịch Quốc Hội, vì bị quy trách sát hại trên 40.000 nạn nhân trong chiến dịch cải cách ruộng đất đẫm máu năm 1956. Cộng sản Việt Nam thanh toán những người thù trốt kít hay thuộc các đảng phái quốc gia khác, nhưng không bao giờ họ thanh toán lẫn nhau.

    Lê Duẫn đã có đi Liên Xô và Trung Cộng. Ông ta chưa từng biết thế giới phương Tây bao giờ. Ông là giáo sư của cách mạng, chịu ảnh hưởng kiểu cách ăn nói của Staline, nên cứ nhắc đi nhắc lại là ” cộng sản Việt Nam có trách nhiệm trước các dân tộc của thế giới”, hoặc “phải biết khai thác sự mâu thuẫn trong hàng ngũ địch“. Đối với ông ta, biện chứng pháp là một quyền lực siêu linh, là một hấp lực chánh trị để nhào nặn và uốn nắn thế giới nầy. Vào tháng đầu năm 1975 nầy, chiến thắng đã được thấy rõ rồi nhưng phải làm thế nào đây để tránh những sự thất vọng như những cuộc tấn công năm 1968 và 1972. Việc khai thác mâu thuẫn đã không được tiến hành đến nơi đến chốn. Đối với Lê Duẫn sự thay đổi xã hội ở Việt Nam phải thông qua sự biến chuyển quân sự. Đã có nhiều thời điểm đúng với biện chứng pháp rồi, như năm 1968, 1972 và 1976. Chế độ của ông Thiệu không thể nào không sụp đổ được . Trận tấn công hồi Tết Mậu Thân là một chiến thắng chánh trị nhưng lại là một thất bại về quân sự của cộng sản. Võ nguyên Giáp đã thú nhận là cộng sản đã bị thiệt hại trên 40.000 chiến binh của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam – điều nầy đã giúp Hà Nội giải quyết xong bài toán: số lượng quan trọng về nhân sự của Mặt Trận. Cho tới lúc các cán bộ của Mặt Trận bị nghiền nát hết thì Lê Duẫn mới thấy được là Lịch Sử đã chuyển động. Hơn tất cả các lãnh tụ cộng sản khác, theo Lê Duẫn thì định mệnh của các quốc gia Đông Phương chuyển theo số mệnh nào đó của Tây Phương. Lê Duẫn dường như bị lời tiên tri của bản tuyên ngôn cộng sản lôi cuốn mạnh hơn Hồ chí Minh và sâu hơn cả Phạm văn Đồng. Tất cả những bản văn của ông ta đều chứng minh điều đó:

    “Những điều kiện khách quan cho thấy sự thành công của cách mạng ở Việt Nam đã gần kề, mặc dầu đảng chưa được mạnh lắm , quân đội còn có nhiều khó khăn và nhân dân đã uể oải. Còn hàng chục thứ khác nữa, nhưng chiến thắng đã lộ rõ ra rồi, không có gì lay chuyển nổi.”

    Hiệp Định Paris ư ? Chỉ là hợp thức hóa cho cộng sản mua thời gian không hơn không kém, một loại nguyên liệu mà họ đang cần, lại dẫn tới sự rút quân của Hoa Kỳ, một giai đọan gần như cuối cùng của tiến trình chiến thắng. Lê Duẫn có thể cho thấy rõ sự kiêu hãnh phi thường của đảng cộng sản Việt Nam đối với các đồng chí của mình và ngay cả với các đồng chí Liên Xô, Trung Quốc, Nam Tư hay Đông Đức nữa. Nếu cần ông ta sẽ chỉ trích cả Mạc Tư Khoa và Bắc Kinh, những nước đang chơi trò đu đưa mất thì giờ với Hoa Thạnh Đốn . Ông ta thuyết phục các cán bộ đảng rằng chỉ có người Việt Nam mới nắm giữ đúng phương thức Mac xít nhất. Ông ta không bao giờ tin ở thuyết “sống chung hòa bình”, mà ông gọi là một phát minh buồn nôn của Khrouchev. Ông ta tuyên bố là cách mạng thế giới đã ở trong tầm tay. “Cuộc chiến đấu của dân tộc Việt Nam là mủi dùi tấn công của quân đội cách mạng thế giới” . Ông lái con thuyền Việt Nam giữa sự chệnh hướng của Liên Xô và những sự lầm lỗi của Trung Quốc, và ông giữ vững tay lái.

    Nghị quyết tháng giêng năm 1975 công bố một “nhiệm vụ lịch sử” của cộng sản Việt Nam trong cộng đồng các dân tộc trên thế giới. Khi ông Phạm văn Đồng tiếp các khách ngoại quốc, thì ông tự chứng minh trước hết ông là một người quốc gia, còn Lê Duẫn, đặc biệt khi nói với những người cộng sản khác thì ông không cần dấu diếm gì cả: ông đang suy nghĩ và đang hành động như là một người cộng sản quốc tế.

    Sau các phiên họp về chánh trị, hội nghị ở Hà Nội bắt đầu xem xét các bài toán quân sự. Cũng nhiều.

    Tướng Trần văn Trà nêu lên các khó khăn trong hiện tại cũng như trong thời gian đã qua, Ít có cấp lãnh đạo quan trọng nào chân thật như vậy:

    – ” Vì phải hoạt động liên tục từ tháng 4/1972, cán bộ và binh sĩ của chúng tôi đã mệt mỏi, chúng tôi không có thời gian để thay thế cán bộ được . Tất cả các đơn vị của chúng tôi đang xao xuyến, chúng tôi đang thiếu nhân công, thiếu thốn lương thực và đạn dược. Do đó thật rất là khó khăn khi phải đương đầu với các cuộc tấn công của địch. Có đôi lúc chúng tôi phải tháo chạy để cho địch có cơ hội kiểm soát lại một số dân”

    Đây là ông nói về tình hình chánh trị và quân sự sau khi Hiệp Định Paris được ký kết.

    Tướng Lê quang Đạo Ủy viên chánh trị trong Quân Ủy Trung ương, ngắt lời tướng Trà và đưa ra một loạt đề tài cũ rích:

    (1) Chúng ta phải giải quyết mâu thuẫn thường xảy ra giữa cấp chỉ huy quân sự và chánh trị viên trong đơn vị.

    Loại đề tài nầy làm cho tướng Giáp bực bội, ông thích nghe phần trình bày kế tiếp của tướng Đạo.

    (2) Một số lớn sĩ quan thiếu sự hiểu biết về kỹ thuật khi đối diện với loại chiến tranh mới của thập niên 70. Khi bộ đội Bắc Việt chúng ta dùng chiến xa năm 1972, họ đã vấp phải nhiều lỗi lầm. Họ đánh giá thấp sự tác chiến của binh sĩ Miền Nam .

    (3) 90 % bộ đội chánh quy của chúng ta ở trong Nam cần phải tác chiến tốt hơn trong hợp đồng binh chủng, vì có cả bộ binh, pháo binh và chiến xa trên chiến trường.

    (4) Cần phải làm tốt hơn khâu tiếp vận, và các chiến cụ phải được đồng nhứt với nhau. Bắc Việt chúng ta không có sản xuất chiến cụ được . Các quốc gia xã hội chủ nghĩa bạn giao cho mình đủ loại đạn dược mà có những loại đạn không đúng với lòng súng.

    (5) Và cuối cùng dĩ nhiên là phải hoàn tất khâu huấn luyện cho mọi người , từ sĩ quan cho tới anh bộ đội.”

  8. Mười năm trước, năm 1965, trong quân đội nhân dân, cứ 8 anh bộ đội thì có 1 cán bộ. Bây giờ thì 1 cán bộ cho 6 bộ đội. Phẩm chất phải chạy theo số lượng. Từ tháng giêng năm 1973, bộ đội Bắc Việt ở trong Miền Nam được tăng lên gấp đôi, và tướng tư lệnh được một số xe thiết giáp 7 lần nhiều hơn, 700 chiến xa, hầu hết là T 54 và T 55.

    Về tiếp vận, thì đường mòn Hồ chí Minh đang trong tình trạng tốt – người Miền Bắc giữa họ với nhau thường gọi là hệ thống đường 559, vì người ta bắt đầu xây dựng năm 1959- Có những đoạn còn khó xử dụng sau tháng tư vì lúc đó trời mưa.

    Người ta quyết định chuyển nhiều đơn vị công binh đang giữ đường mòn Hồ chí Minh nằm trong địa phận Lào và Cam Bốt về trực thuộc vào các đơn vị tác chiến ở chiến trường Miền Nam. Quyết định quan trọng: tướng Văn tiến Dũng sẽ chỉ huy các cuộc hành quân ở Miền Nam trong những tháng tới.

    Trong trận chiến ở Phước Long, đã có nảy sanh ra nhiều bất đồng về chiến thuật. Tướng Trà không nhận được đủ số chiến xa mà ông đòi hỏi. Tướng Lê ngọc Hiền giữ lại gọi là dự trữ một số vũ khí, đạn dược nhất là chiến xa và pháo binh -giống như các tướng lãnh của Miền Nam Việt Nam – Tướng Dũng nhìn xa tới năm 1976 nên chấp thuận ý kiến của vị tư lệnh hành quân của mình – .

    Các chiến lược gia của Hà Nội phân năm 1975 ra làm 3 giai đoạn:

    – giai đoạn đầu: tới tháng 2, thuộc chiến trường của B2.

    – giai đoạn hai: từ tháng 3 đến tháng 6, phải tiến hành một số cuộc hành quân bao gồm khắp cả lãnh thổ Miền Nam

    – giai đoạn ba: từ tháng 7 trở đi, là một giai đoạn hoạt động hạn chế để chuẩn bị cho năm 1976.

    Trong viễn ảnh một “cuộc tổng tấn công và tổng nổi dậy đi tới chiến thắng năm 1976” tướng Hiền đã thiết lập kế hoạch phân phối đạn dược loại súng lớn: 10 % cho năm 1975, 45% cho năm 1976, còn lại là dự trữ. Người Miền Bắc đúng là tiết kiệm và lo xa như những con rái cá. Nhưng sau chiến thắng Phước Long, họ bắt buộc phải thay đổi hết các sự toan tính nầy. Tướng Trà sẽ nhận được nhiều đạn dược hơn dự trù, 27.000 tấn thay vì 11.000 tấn cho năm 1975.

    Tầm quan trọng của chiến thắng Phước Long đẩy các nhà lãnh đạo Bắc Việt phải kéo dài thêm hội nghị sau ngày 8 tháng giêng.

    Tướng Văn tiến Dũng giải thích quan điểm của Bộ Tổng Tham Mưu Bắc Việt . Ông đề nghị tập trung một lực lượng hùng mạnh, quét mạnh để mở một “hành lang Kontum” từ đó dẹp tan địch để giải phóng tỉnh Kontum. Sau đó sẽ đè nặng áp lực lên Bộ Tư Lệnh Vùng II Chiến Thuật ở Pleiku. Như vậy họ sẽ giải phóng được một phần lớn Miền Tây Nguyên. Pleiku và Kontum nằm rất gần vĩ tuyến 17, biên giới của 2 nước Việt Nam và rất gần với hậu cứ Bắc Việt của họ, dưới 100 cây số. Như vậy họ có thể tập trung dễ dàng chiến xa trong vùng nầy.”

    Ý tướng Dũng là muốn giữ những đường tiếp vận càng ngắn càng tốt. Do đó ông ta chọn mục tiêu Pleiku và Kontum. Tướng Trần văn Trà, tuy là tướng của Bắc Việt nhưng hiện là đại diện cho binh sĩ ở trong Nam, không có cái nhìn giống tướng Dũng:

    – ” Ông đánh giặc theo lối vua chúa ! Ông chỉ quan niệm là dùng một quân số khổng lồ và hàng tấn đạn cho một trận tấn công. Khác hẳn với chúng tôi, những người lính khổ ở một chiến trường xa xôi rất khó khăn khi phải đếm từng viên đạn. Tấn công Kontum và Pleiku là đưa mình vào một điểm cực mạnh của địch . Ở đó địch đã phòng thủ kỹ lâu rồi, họ đang chờ chúng ta trong thế mạnh đó.

    Tướng Trà đề nghị một phương án khác:

    – “Tấn công vào Ban mê thuột là đánh một đòn bất ngờ mà địch không thấy được . Đó là ta đánh sau lưng địch, đánh vào hậu phuơng của địch, nơi mà họ không có chờ chúng ta. Đó là cách ta đốn cây bằng lưỡi rìu ngay ở sát gốc. Sau đó cành lá tự chúng nó sẽ rơi rụng thôi.

    Những cuộc bàn cãi về các phương án quân sự cần phải theo tiếp theo chiến thắng Phước Long được tiếp tục tiến hành. Ngày 15 tháng giêng, tướng Trần văn Trà và Phạm Hùng bí thư đảng bộ Miền Nam, tức là lãnh đạo về mặt chánh trị, cả hai đi gập Lê Duẫn (các bản phúc trình gọi là anh Ba). Cũng chưa quyết định. Lê Duẫn nhấn mạnh phải tấn công vùng Đồng Bằng sông Cửu Long, phía Nam SàiGòn , nhắm vào các thành phố. Ông có hàm ý nhìn nhận rằng sự nổi dậy của dân chúng vẫn còn là một bài toán:

    – “Trong địa bàn thành thị, ta phải đặt hết trọng tâm vào phong trào quần chúng để biến họ thành dòng thác. Phải dùng đàn bà con nít, học sinh sinh viên , thợ thuyền.. làm mũi dùi của cuộc đấu tranh nổi dậy.”

    Tướng Trà lại thuyết phục Lê Duẫn về ý định tấn công Ban mê Thuột. Bộ Chánh Trị họp xét. Tại Bộ Tổng Tham Mưu, và ở Quân Ủy Trung ương người ta cũng họp để thảo luận. Một điều chắc chắn là Hoa Kỳ sẽ không can thiệp bằng bộ binh.

    Ngày 20 tháng giêng, Phạm Hùng và tướng Trà, đại diện CPLTCHMN đi gặp Lê đức Thọ. Ông nầy thông báo cho hai người biết là đã có quyết định. Mục tiêu tấn công sấp tới sẽ là Ban mê Thuột.

    – ” Tôi đã đến họp với Quân ủy Trung ương để cho họ biết là Bộ Chánh Trị đã quyết định mục tiêu cuộc tấn công nầy rồi. Tình hình quốc tế rất là phức tạp. Chúng ta phải giới hạn các cuộc đánh nhau trong năm 1975.

    Các nhà chánh trị quyết định. các quân nhân chỉ có việc thi hành. Với Văn tiến Dũng và bộ tham mưu, thì binh sĩ của họ sẽ ở khá xa các căn cứ không quân của vùng SàiGòn . Bắc Việt cũng có không quân nhưng họ không bao giờ xử dụng dưới vĩ tuyến 17.

    Ngày 24 tháng giêng, tướng Trà lên đường trở về Nam Bộ, về Bộ Tư Lệnh chiến trường B2 của ông ta. Tướng Trà và Phạm Hùng đã cân nhắc để xin được quyết định tấn công vào Ban mê Thuột.

    Họ đã suýt không tham dự được phiên họp ở thủ đô Bắc Việt. Vào tháng chạp, tư lệnh hành quân Bộ Tổng Tham Mưu ở Hà Nội đã gởi cho họ một công điện để cho họ biết là khỏi cần lên Thủ Đô. Họ không nhận được công điện đó. Trên đường ra Bắc, dọc theo đường mòn Hồ chí Minh, họ không gặp được người của Bộ Tổng Tham Mưu, Lương văn Nho, người có nhiệm vụ phải trao cho họ công điện đó và cả chỉ thị “liên quan đến kế hoạch cho năm 1975”, kế hoạch nầy sơ khởi không có dự trù một cuộc hành quân qui mô nào.

    Tướng Trà rất thỏa mản khi nhận được vũ khí và đạn dược bổ túc. Các phiên họp đã làm ông phát khùng lên. Là một tướng hai sao của quân đội chánh quy Miền Bắc, vì đại diện cho CPLTCHMN, ông phải giữ đường hướng và những quyền lợi của tổ chức nầy đến một mức độ nào đó thôi.

    Dáng người trung bình, mặt tròn, tánh tình vui vẻ, 57 tuổi, tướng Trà vừa bồn chồn khi phải dậm chân tại chỗ trong thời gian ở trại Davis, vừa phải đương đầu dụng mưu đấu trí với Ủy Ban Quốc Tế và các Ban Liên Hợp 4 Bên và 2 Bên.

    Trần văn Trà là người đã tổ chức trận tấn công vào SàiGòn hồi Tết Mậu Thân 1968, và ông vào Nam chiến đấu từ năm 1959. Trong cái CPLTCHMN trong Nam Bộ, ông là nhân vật số 2 sau Phạm Hùng. Trong hệ thống cộng sản Việt Nam ở cấp nào cũng thế, chánh trị vẫn đứng trước quân sự. Nhưng lúc ở mặt trận, từ cấp sư đoàn trở xuống đến trung đội, thì quân sự có quyền hơn chánh trị . Trong thời gian ở trại Davis, để trả lời cho các phóng viên Tây Phương, ông Trà đã dùng những câu hóm hỉnh hơn là những công thức cứng đờ như cái lưỡi cây của cộng sản. Ông rất thích chụp ảnh như ông Thiệu. Ông rất thích thú khi nhờ mua được hai máy Polaroid, một loại máy chưa được biết ở Hà Nội. Ông sẽ dùng máy nầy cho chiến dịch sấp tới của ông nhưng chỉ là phim đen trắng thôi.

    Sau mấy tháng ở trại Davis, tướng Trà lại trở vô bưng. Hồ sơ của ông trong các cơ quan tình báo Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa chỉ thấy toàn là dấu hỏi. Ông vốn là con nhà chài lưới, đi làm công nhân hỏa xa. Ông phục vụ trong đảng bộ cộng sản Nam Bộ, sau Hiệp Ước Genève 1954 ông tập kết ra Bắc và theo học các trường quân sự để trở thành Sư trưởng sư đoàn 320. Ông là thành viên trong Quân Ủy Trung Ương, nhưng không có chân trong Bộ Chánh Trị. Vì nhu cầu giữ bí mật trong các hội kín nên những người cộng sản Việt Nam thường dùng bí danh, mà Hồ chì Minh là người đầu tiên. Tướng Trà có nhiều bí danh như Tư Chí, Mười Trí.. Đôi khi để đánh lạc hướng ông còn chơi ngông dùng ngay tên thật của những tướng lãnh Bắc Việt khác, như của tướng Trần nam Trung.

    Trên đường về Bộ Tư Lệnh của ông, ông nhận thấy đường mòn Hồ chí Minh, hay đường 559, giờ đây ở trong tình trạng rất tốt. Khởi thủy, vào những năm 50, con đường nầy chỉ là con đường đất. Từ 1959 nó đã trở thành một hệ thống đường rộng lớn. Hai đường lớn song song nhau chạy về hướng Nam. Trong 3 năm sau cùng, công binh Bắc Việt đã thiết lập thêm nhiều đường ngang từ Tây sang Đông, dẫn tới sát bờ biển Huế và Đà Nẵng. Có nhiều đoạn có thể bọc vòng quanh một vài thị trấn hay các vị trí quân sự của quân lực VNCH . Trong vòng 16 năm các đường mòn đã biến thành đường đất, đường đất thành đường lộ, và đường lộ đã trở thành xa lộ. Các xe vận tải có thể chạy ba bốn hàng. Song song bên cạnh đó còn có đường cho người đi bộ. Cứ cách 8 tiếng đi bộ là có các trạm nghỉ, trạm gác, trạm tiếp tế. Bộ tham mưu đã điều về đây nhiều tiểu đoàn phòng không để giữ an toàn cho con đường nầy nhất là từ tháng giêng 1974.

    Tướng Dũng nói là “Miền Bắc đã dùng hằng ngàn cơ giới đủ loại như xe ủi đất, hằng chục ngàn binh sĩ, thợ thầy, kỹ sư và những người tình nguyện trẻ ” Tình nguyện hay không tình nguyện thì khối người làm đất, công binh, thợ điện nầy đều gập rất nhiều khó khăn như oanh tạc cơ B52, gió mùa, hay tiếp tế không đủ ăn, bệnh rét rừng trong lúc Bắc Việt lại không có đủ thuốc ký ninh cho họ. Với một sức chịu đựng dẻo dai và lòng kiên nhẫn phi thường, khối người đó đã bạt núi san bằng những đoạn tưởng chừng không thể vượt qua được , vận chuyển các tảng đá, đốn cây, xây cầu, làm phà, và đào cả hầm trú ẩn nữa. Người Việt Nam thật là dẻo giai, chịu đựng hết mọi thứ mệt nhọc. Họ được huấn luyện, khuyến khích, ghép thành đội ngũ và có kỹ luật sắt, họ làm việc rất hăng say và tận tụy. Đám lao công nầy đàn bà cũng như đàn ông đều hy sinh một cách cuồng tín như đám dân công trước kia đã từng vác súng đạn xuyên rừng núi đến Điện Biên Phủ vậy.

    Tướng Dũng hãnh diện mô tả công tác sửa sang đường 559, và những lời nói của ông ta được xác nhận qua các không ảnh mà phi đội thám sát Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa đã chụp được .

    – ” Đường nầy rộng 8 thước. Các xe vận tải lớn, các quân xa hạng nặng đều chạy được cả 2 chiều, với tốc độ cao. Họ đã chuyên chở đêm ngày hàng ngàn tấn đến tận chiến trường để yểm trợ cho chiến dịch lớn.” Bộ tham mưu Bắc Việt hình như rất bằng lòng với cách thức họ đưa được xăng dầu vào Nam Bộ:

    Dọc theo con “đường chiến lược nầy” chạy dài một ống dẫn dầu nối liền Quảng Trị đến Lộc Ninh, đủ sức tiếp tế cho hằng chục ngàn xe đủ loại đang xử dụng con đường nầy . Thật là một điều nghịch lý, quân đội của một nước nhỏ chậm phát triển, thiếu thốn đủ mọi thứ, lại có một đường ống dẫn dầu quân sự tốt nhất thế giới .

    Tướng Võ nguyên Giáp và Văn tiến Dũng trước hết là những người tiếp vận giỏi, lại có binh sĩ hy sinh phục vụ tận tâm. Còn người Mỹ không bao giờ thành công trong việc vô hiệu hóa con đường nầy, đó là một thất bại lớn về mặt chiến lược của họ. Đứng trước một kẻ địch có quyết tâm như vậy , với tất cả kỹ thuật hiện đại trong tay mà họ không làm sao cắt đứt được một hệ thống giao thông ngang dọc trên 10.000 cây số của đường 559 nầy. Từ năm 1959, người Mỹ thất bại trong việc bẽ gãy đường mòn Hồ chí Minh, dù đã xử dụng phương tiện điện tử tối tân hiện đại nhất. Thì làm sao Việt Nam Cộng Hòa làm được việc đó trong năm 1975 ?

    Trong tuần lễ cuối cùng của tháng giêng, tại Hà Nội, Lê Duẫn tiếp tướng Văn tiến Dũng tại nhà riêng. Ông tổng bí thư hỏi tướng tổng tư lệnh: “ liệu lực lượng mà ông có trong tay có đủ để tấn công Ban mê Thuột hay không ? “

    – ” Với những gì chúng ta có, cũng được rồi, tướng Dũng trả lời. Nếu biết xử dụng thì có thể phần may mắn sẽ về phía chúng ta.

    Ông Tổng bí thư xem chừng như chưa tin chắc lắm về chiến thắng nầy.

    Sau đó tướng Dũng đi gặp ông Lê đức Thọ. Bộ Chánh Trị đã có quyết định là đưa vào Nam nhân vật đã từng thương thuyết ở Paris. Cũng vẫn một phương thức cũ : một quân nhân được một nhân vật chánh trị theo kèm bên cạnh. Nói về cuộc tấn công sấp tới, mà dưới nhãn quan của mình ông thấy chưa phải là cuộc tấn công cuối cùng, ông Thọ nói:

    – “ Nếu ta thắng ván bài lớn nầy, chúng ta sẽ tạo được một thời cơ mới rất có lợi cho chúng ta .” Và vẫn nhã nhặn ông nói tiếp:

    – ” Anh hãy giữ mình cẩn thận nghe !

    Lê đức Thọ hiện là một nhân vật khá quan trọng trong đảng và là một trong những người có thể thay thế cho Lê Duẫn. Năm nay ông ta 64 tuổi. Ở Paris trong suốt gần 5 năm mật đàm hay thương thuyết công khai vừa là kẻ thù vừa a tòng với Kissinger, ông ta đã mê hoặc ông tổng trưởng ngoại giao Hoa Kỳ qua thái độ ngạo mạn rất lạ kỳ của ông mà Kissinger đã nhận ra được . Ông ta còn tự cho phép mình lên mặt thầy đời với Kissinger nữa. Trong một pha mật đàm ở nhà của ông Jean Sainteny, ông Kissinger lên giọng giáo sư, nói oang oang lên : ” Tôi nói là…. ông Tổng Thống muốn….. Ông đòi hỏi phải……” Như một lãnh chúa, trong bộ áo cổ cao, rất thản nhiên Lê đức Thọ lắng nghe Kissinger nói. Xong ông trả lời rất nhẹ nhàng:

    ” Thưa ông Kissinger, ông có thấy tóc tôi đã bạc hết rồi hay không ? Tôi đã có tuổi đời lâu rồi, Tóc của ông vẫn còn đen quá. Ông còn phải học nhiều nữa. Những gì mà ông vừa nói với tôi, tôi cũng đã nghe qua rồi, nhưng bằng một ngôn ngữ khác. Ông hãy nghe đây: Người Pháp đã nói với tôi y như giọng của ông hôm nay vậy đó, người ta đã nói với tôi những chuyện đó, bây giờ ông lại nói lại với tôi nữa.” Ông Kissinger không bao giờ luống cuống, ông ta hạ thấp giọng và nói một câu “Thưa Ngài” với một ông Lê đức Thọ đang thích thú.

    Người Mỹ được bầu lên thì chỉ làm việc trong một thời gian có hạn định vài năm thôi, còn Lê đức Thọ cũng như những người trong ban lãnh đạo đảng ở Bắc Việt , ông ta đã làm việc quá lâu rồi. Hồ chí Minh đã từng xác nhận là người cộng sản phải phục vụ trong 10 năm, 20 năm, 30 hay 50 năm là thường. Ban Lãnh đạo đảng đã tránh những cuộc thanh trừng đẫm máu trong nội bộ của họ.. Lê đức Thọ là người sanh trưởng ở Miền Bắc, vào đảng từ năm 16 tuổi, ông được người Tây Phương biết nhiều từ khi ông đạt được nhiều thành quả ở Paris. Lê Duẫn chỉ huy chiến trường trong Nam cho đến năm 1953, thì Lê đức Thọ vào thay ông. Thành viên của Bộ Chánh Trị từ năm 1955, Lê đức Thọ đề ra một chiến lược tổng quát, đúng theo phương thức của Bắc Việt là “vừa đánh vừa đàm, vừa đàm vừa đánh, đánh đánh đàm đàm”. Đây là một dấu hiệu đang đi lên của ông: tên ông đứng trước tên ông Giáp trong danh sách tiểu ban lo về đám tang Hồ chí Minh.

    Thời cơ đến với ông vào năm 1975. Một người có tầm cỡ như ông Thọ được đưa vào Miền Nam . Hơn hẳn các người khác ở Hà Nội ông Thọ có đủ thông số quốc tế.

    Trước khi Lê đức Thọ lên đường đi vào chiến trường Miền Nam, Lê Duẫn nói với ông ta:

    – ” Đừng trở về đây trước khi thắng trận nầy nghe ! Bây giờ chúng ta đang gặp một cơ may lịch sử. Cơ may nầy không bao giờ ta gặp lại trước 10 ngàn năm nữa đâu”

    Ít nhất điều nầy cũng đã đảng xác nhận về sau.

    Tây Phương còn nói nhiều đến ông Võ nguyên Giáp. Năm 1975, yếu đau, ông bị gạt ra ngoài các cuộc hành quân. Trong lúc tướng Văn tiến Dũng trẻ hơn với tuổi 58, đã là đại tướng bốn sao hồi năm trước. Ông Giáp cũng là đại tướng bốn sao. Là một nông dân thật sự – thấy rõ qua giọng nói của ông- Văn tiến Dũng đã làm việc trong một nhà máy dệt như là một thợ điện, một người thợ giỏi, một quý tộc của giai cấp vô sản. Ông vào đảng cộng sản Đông Dương lúc còn trẻ. Bị bắt, ngồi tù, được thả ra, bị bắt lại và lợi dụng việc chuyển trại ông trốn khỏi nhà tù, đến trốn trong một ngôi chùa, ở đó ông sống hai năm như một nhà sư Phật giáo. Sau đó ông là chánh trị viên và tiếp đó chỉ huy trưởng một trong các sư đoàn việt minh có tiếng nhất , sư đoàn 320. Năm 1972 ông là thành viên Chánh trị bộ và chỉ huy chiến dịch lớn đánh chiếm Quảng Trị. Nhưng nhờ oanh tạc cơ

    B 52, Miền Nam Việt Nam đẩy lui được cuộc tấn công. Từ đó tướng Dũng lo canh tân quân dội Miền Bắc , rút ra được những bài học từ những thất bại và đã đi thực tập ở các trường cao đẳng quân sự Liên Xô. Ông đã học được phương thức chỉ huy và tác chiến hợp đồng binh chủng cấp sư đoàn. Các tùy viên quân sự ở Hà Nội cho rằng ông là người dễ mến, có sáng kiến và có kiến thức hơn tướng Giáp. Các nhân viên ngoại giao đều thì thầm với nhau là tướng Dũng và tướng Giáp đều nghiêng về Liên Xô hơn. Tướng Dũng là một quân nhân nhà nghề. Liên Xô cung cấp tới 95% chiến cụ nặng gồm máy bay, pháo binh và chiến xa. Dĩ nhiên tướng Dũng với tư cách là tổng tư lệnh phải rút tỉa ra những bài học cần thiết cho quân đội Bắc Việt trong việc xử dụng chiến cụ nầy. Nhiều cuộc tranh luận giữa phe nghiêng về chuyên nghiệp quân sự và phe nghiêng về ý thức hệ, (bên Hồng bên Chuyên). Cũng như đa số các sĩ quan cấp tá và cấp tướng, Dũng nghiêng về bên Chuyên: kỹ thuật quân sự đối với ông là quan trọng hơn các tài liệu của Mác. Trước khi đi vào Nam, tướng Dũng đã có một buổi nói về quy tắc về chuyên ngành trong quân đội. Ông nói:

    – “Sau khi nghiên cứu về những đặc tính của chiến tranh hiện đại, Lénine đã nhấn mạnh đến sự cần thiết phải thành lập một quân đội chánh quy cho một nhà nước của giai cấp vô sản. Trong đại hội đảng kỳ 8 của đảng cộng sản Liên Xô, Lénine đã đánh bại hết những đối thủ quân nhân trong nội bộ đảng, những người muốn binh vực một quy chế nhằm bầu lên các vị chỉ huy, nhằm giữ một kiểu cách và hành động du kích chiến , những người chống đối kỷ luật quân sự, những người chống đối lại việc thành lập một quân đội chánh quy của giai cấp công nông, một quân đội đỏ mà Lénine đang binh vực. Tướng Dũng đã thận trọng nêu lên truờng họp của Lénine, muốn mỗi người sĩ quan trước hết phải là một kỹ thuật gia, phải chuyên hơn là hồng. Danh từ chính yếu phải dùng là “quân đội chánh quy”. Kỳ dư nào là “chánh quyền của giai cấp vô sản” nào là “quân đội của giai cấp công nông” tất cả đều là chất độn. Tướng Dũng rất dứt khoát với quan điểm của mình. Tuy nhiên để tránh khỏi bị gán cho là thành phần “xét lại” ông ta kết luận một câu rất lạ kỳ : ” Tính nhà nghề của quân đội chánh quy của tất cả quân đội phản ảnh trước tiên là bản chất của giai cấp của quân đội đó”

    Giống như tất cả các quân nhân lên đến một cấp nào đó, ở quân đội Miền Bắc cũng như ở quân lực VNCH tướng Dũng biết rõ tác phẩm của Tôn Tử, một người Trung Hoa, đã viết về nghệ thuật chiến tranh cách đây hai ngàn năm. diễn tả những quy củ của chiến tranh mà ông coi là một nghệ thuật chớ không phải một học thuyết , nhưng nghệ thuật đó phải căn cứ trên những dữ kiện khoa học. Tôn Tử là một người Trung Hoa. Hầu hết những người Việt Nam không thích nhắc tới món nợ đối với nền văn hóa của Trung Hoa. Do vậy mà tướng Dũng mới ám chỉ đến Carl von Clausewitz, hiện đại, ông lại lợi dụng lý thuyết của Lénine -trong đó có cả Marx và Engels. một tính chính thống quyết phải có ở Hà Nội. Ngoài giáo điều chính thống đó, người ta còn học Clausewitz trong các trường đại học của Liên Xô. Sự kết hợp chánh trị và quân sự của ông tướng người Phổ đã cảm hóa được một người cộng sản Việt Nam, nhứt là ý kiến cho rằng : “chiến tranh là một sự tiếp nối của chánh trị quốc gia với những phương tiện khác hay với sự pha trộn với các phương tiện khác”

    Tôn Tử nói : ” Hãy tìm một con đường gián tiếp đồng thời phải đánh lạc hướng địch bằng cách dùng mồi nhử địch. Như vậy ta có thể đi sau địch mà lại đến trước họ. Người nào biết hành động như vậy là hiểu được chiến lược trực tiếp và gián tiếp.”

    Clausewitz viết : “Chiến thắng không nhất thiết chỉ thắng địch trên chiến trường., mà là sự tiêu diệt tiềm năng vật chất và tinh thần của họ, một sự tiêu diệt mà người ta thường chỉ thực hiện được sau khi hoàn tất chiến thắng trên chiến trường. “

    Tướng Dũng là một người chăm chỉ đọc Tôn Tử và Clausewitz.

  9. Chương 6

    Những người đang ngủ đứng !

    Để cầm chân và đánh lạc hướng Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, phía Bắc Việt mở những cuộc tấn công theo lối dương Đông kích Tây. Ngày 22 tháng giêng, một cảnh sát trưởng đạp phải một trái mìn ở gần đồn Nguyễnvăn Quế thuộc vùng ngoại ô Sài Gòn. Cuộc mưu sát nầy đã làm bị thương 4 người cảnh sát.

    Đây là lần đầu tiên từ năm 1972, không khí chiến tranh tràn vô tới SàiGòn. Phải chăng Việt Cộng lại chuẩn bị phá rối ngày Tết nữa? Tết Việt Nam năm nay bắt đầu từ ngày 11 tháng 2 dương lịch.

    Ông Hoàng đức Nhã, người em bà con với ông Thiệu có vẻ lo âu. Bốn tháng nay ông không còn là Tổng trưởng Thông Tin nữa. Đề nghị cuối cùng của ông trong tư cách vừa là tổng Trưởng vừa là cố vấn riêng của ông Thiệu là nên liên lạc thẳng với CPLTCHMN. Mặc dầu ông đã công khai tuyên bố (“4 Không”) nhưng ông Thiệu cũng thấy ý kiến nầy hay hay. Nhưng người Mỹ sẽ nghĩ thế nào về vấn đề nầy ? Năm 1963 họ đã loại bỏ ông Diệm bởi vì những người em của ông nầy đã muốn nói chuyện trực tiếp với Hà Nội . Đây là một bài học luôn luôn ám ảnh ông Thiệu.

    Nhiều người chỉ trích ông Nhã là đã ngiêng về cánh tả. Nhưng ông nầy nghĩ mình là người thực tế hơn : “Đó là vấn đề “sống còn của Miền Nam chúng ta”. Ông không tin rằng cái gì tốt cho Hoa Kỳ nhất thiết sẽ tốt cho Việt Nam.

    Ông Đại sứ Graham Martin đã đòi hỏi và đã loại được ông Nhã ra khỏi nhiệm sở của ông ta nằm ở ngay tầng lầu ba trong Dinh Độc Lập. Người ta gán cho ông Nhã một biệt danh là “một cậu nhỏ chống Mỹ” (nguyên tác: “anti americain kid”) mặc dầu ông đã ba mươi ba tuổi đầu rồi, và ông không bao giờ rút lại lời nói của ông. Tổng Thống Thiệu nghĩ rằng mình có phần nào sai khi nhượng bộ với Đại sứ Hoa Kỳ . Ông đã cho ông Nhã rời khỏi Bộ Thông Tin nhưng vẫn còn tín nhiệm người em của mình. Ông Nhã cố thuyết phục Tổng Thống:

    – ” Phải xốc Chánh Phủ của ông Khiêm mạnh lên, ông Thủ Tướng của Anh thiếu hoạt bát. CSVN tấn công Phước Long là để thăm dò hệ thống phòng thủ của chúng ta. Họ muốn xem phản ứng của người Mỹ, và Hoa Kỳ đã không nhúc nhích !”

    Ông Thiệu không tin chút nào về chuyện đó. Ông Nhã nói với ông Thiệu như một người em nói với ” ông anh cả”. Lúc ông Thiệu chỉ mới có một đứa con gái, ông xem Nhã như một người con trai hơn là một người em. Khi ông Thiệu là chỉ huy trưởng trường Võ Bị Quốc Gia ở Đàlat, ông Nhã còn là học sinh nội trú trường Trung học ở đó, nên thường đến chơi với gia đình ông Anh mình. ông Nhã thông thạo cả tiếng Pháp và tiếng Anh. Sau đó ông qua học bốn năm ở trường đại học Oklahoma trước khi vào đại học Pittsburgh, và tốt nghiệp ở đó với bằng kỹ sư. Cũng giống như ông Kissinger và người dân Mỹ thuộc vùng Trung Tây Hoa Kỳ, ông Nhã không có lòng tin đối với những người Mỹ ở vùng bờ biển phía Đông. Có rất ít người Việt Nam hiểu người Mỹ bằng ông Nhã. Ông Nhã cũng đã giải bày cho “ông anh cả” của mình ít nhất 90% những suy tư của mình. Đối với một Tổng Thống, như vậy cũng đã quá nhiều rồi. Đối với người Mỹ, ông Nhã không có một tự ty mặc cảm nào mà trái lại ông có một ý thức tự tôn. Và ông cũng không giữ sự tôn kính đối với người già hay các niên trưởng theo truyền thống của người Việt Nam. Ông ta có đủ mọi thứ để quyến rũ người ta và cũng có đủ mọi thứ để làm phật ý mọi người, tùy theo. So với người Việt Nam bình thường thì ông Nhã có hơi to con với 1 thước 65 bề cao. Với cách ăn mặc thanh lịch và đúng mốt, với sự thông minh và kiến thức nhanh nhẹn, ông Nhã bổ túc và lần lượt gây khó chịu cho các nhân viên ngoại giao Hoa Kỳ. Ông cũng khuyên ông Thiệu nên thay người tham mưu trưởng của mình đi. Lúc ông Martin đến SàiGòn, một nhân viên ngoại giao có nói với ông Nhã: – ” Ông có muốn tôi giới thiệu ông với ông Đại sứ không ? ” Ông Nhã thẳng thừng nhấn mạnh: – “Không . Tôi là một Bộ trưởng, Ông Đại sứ phải tự giới thiệu với tôi mới phải chứ !” Ông Martin không bao giờ tha thứ cho ông Nhã về tính yêu nước bồng bột và quá tự tin về nghi thức xã giao của ông nầy. Ông Kissinger và ông Martin đều cho là vì còn quá trẻ tuổi nên ông Nhã chưa có đủ kinh nghiệm. Và ông Nhã không đến đỗi dùng ảnh hưởng của ông trong vấn đề lạm dụng quyền hành . Lối sống của ông cũng khác lạ hơn người ta nữa. Ông lái xe Mustang, Mercedes, và trong phòng khách của ông, ông xây một ống khói cho lò sưởi đốt bằng củi, như của người Mỹ vậy, dĩ nhiên đây là lò sưởi độc nhất ở SàiGòn. Ông Nhã có một hệ thống tin tức khắp thế giới. Trước khi Hiệp Định Paris được ký, ông ta đã có nhiều đụng chạm dữ dội với ông Kissinger. Ông ta thúc giục ông Thiệu :

    – ” Tổng Thống Ford bị trói tay trong lãnh vực tài chánh. Người Mỹ chỉ nói cho Anh những gì mà họ muốn Anh nghe thôi. Tôi nói thật với Anh là chúng ta không thể tin vào ông “Anh Lớn” Hoa Kỳ được “.

    Ông Thiệu thở ra và nói:

    – ” Chú nói hơi quá. Chú nghiêm khắc quá ! Ông Martin bênh vực và ủng hộ chúng ta.”

    Từ khi tới SàiGòn ông Martin đã bảo đảm là sẽ có viện trợ Hoa Kỳ cho Tổng Thống Thiệu, một sự tin tưởng mà ông Thiệu đang cần . Đại sứ Mỹ đã cho lệnh nghiêm nhặt cho các ban ngành trực thuộc phải phá tan mọi âm mưu nhằm làm lung lay hay lật đổ ông Thiệu. Mỗi một hành động đối lập hay chống đối ông Thiệu đều phải được xem là một mầm móng của âm mưu đó. Mệnh lệnh còn đi xa hơn : các nhân viên ngoại giao Hoa Kỳ phải bớt tiếp xúc với cánh đối lập không cộng sản ở Miền Nam Việt Nam , nhất là với “lực lượng thứ ba” mà lãnh tụ của họ là tướng Dương văn Minh mà người ta thường gọi là ông “Minh Dương” (nguyên tác: “Grand Minh” ), (người Mỹ thường gọi là “Big Minh”). Đối với người Mỹ, lực lượng thứ ba nầy có nhiều điểm yếu. Một số cá nhơn hay phe nhóm không đáng kể ở tại Thủ Đô SàiGòn và một vài tỉnh nào đó, được coi là đại diện cho lực lượng nầy mà qua họ để tìm kiếm được một giải pháp chánh trị nào đó, thật là một điều quá vô ích.

    Ngày 24 tháng giêng 9 người Mỹ gồm 6 nam 3 nữ, biểu tình trước Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ . Họ mang một biểu ngữ bằng vải : “người Mỹ muốn có hòa bình ở Việt Nam . Hoa Kỳ phải chấm dứt chiến tranh” . Khách qua đường tò mò nhìn vào nhóm người nầy với một vẻ chế diễu. Báo chí được gọi đến. Họ quay cảnh nầy và phỏng vấn những người tham gia. Và như vậy là các đài NBC, AP, UPI, và báo chí Hoa Kỳ bảo trợ cho hành động nầy. Những người biểu tình đòi “hòa bình” nầy, những người mà Đại sứ Martin ghét nhất, đã vào SàiGòn với giấy phép nhập cảnh du lịch chỉ có giá trị trong một tuần lễ. Họ phát một số truyền đơn. Một nhiếp ảnh viên ngoại quốc biết chuyện đã cười và nói mỉa mai:

    -” Các tay nầy có dám gan ra tận Hà Nội để làm trò biểu tình như vầy không?

    Cảnh sát đến yêu cầu họ giải tán. Họ từ chối. Cảnh sát trưởng không muốn bắt họ một cách công khai, nhất là không muốn sự bắt bớ nầy được truyền hình Mỹ quay phim. Về sau, người ta đến khách sạn mời họ một cách rất có lễ độ, và hộ tống họ ra tận phi trường, đưa lên phi cơ về Bangkok lúc 21 giờ 30.

    Ông Martin mừng lắm. Chính tổ chức của Fred Bransman, người đã ở Hà Nội với bà ký giả FritzGerald cách đây mấy ngày, đã đài thọ mọi chi phí cho chuyến du lịch của những tay biểu tình nói trên. Những người “đòi hòa bình” nầy đã thất bại trong việc gặp gỡ và phối hợp với những thành viên của lực lượng thứ ba cùng các phật tử ở SàiGòn để tổ chức một cuộc biểu tình khác trước Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ . Ông Martin tin rằng đây là một sự cố ý nhằm gây ra những sự xô xát mà nếu được quay thành phim và phổ biến ở Hoa Kỳ thì bọn “đòi hòa bình” sẽ chứng minh rằng chế độ đàn áp của SàiGòn không đáng được nhận viện trợ kinh tế và quân sự. Ông Martin rất vừa ý, Dù sao thì những người biểu tình nầy cũng là công dân Hoa Kỳ , họ đã được đối xử một cách đàng hoàng và bị trục xuất một cách quá đẹp.

    Có những tâm hồn cao thượng, có những kẻ trung gian, thật có giả có, có những con rối… lúc nhúc, hướng về Hoa Thạnh Đốn, ai cũng xác nhận là mình có một giải pháp chánh trị cho Việt Nam.

    Ngày 27 tháng giêng, trong căn phòng số 6209 của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, ông Robert Miller tiếp ông Trần văn Hữu. Ông Miller là cánh tay phải của ông Kissinger, là phụ tá Tổng trưởng đặc trách về Đông Nam Á và Thái bình Dương Sự Vụ. Ông Trần văn Hữu là cựu Thủ Tướng Miền Nam Việt Nam. Hai mươi năm trước ông đã từng thương nghị về nền độc lập của Việt Nam tại thành phố Pau (Pháp). Giống như tất cả các cựu Thủ Tướng thời Pháp, ông nào cũng tin rằng mình có có thể lãnh đạo đất nước trong tương lai. Ông Hữu được ông Donald Heath Đại sứ Hoa Kỳ ở Việt Nam từ 1950 đến 1954 giới thiệu. Tuy nhiên sự giới thiệu nầy không được nặng ký lắm để được đích thân ông Kissinger tiếp kiến. Ông Hữu đã tìm mọi cách vận động trong thời gian ông ở khách sạn Hilton ở New York: ông xác quyết rằng ông là người có thể đứng ra thương nghị giữa hai nước Việt Nam quốc gia và cộng sản. Ông viện dẫn rằng ông có sự chấp thuận của ông Thiệu trong việc “dùng tên của cá nhơn mình để đứng ra thương thuyết, chớ không phải dưới danh nghĩa của một nhân viên của Tổng Thống Thiệu, vì Hà Nội “không ưa” ông Tổng Thống nầy”. Ông Hữu còn đoan chắc rằng Hà Nội khuyến khích ông vì lúc nào ông cũng tán đồng cho một viện trợ kinh tế cho Miền Bắc Việt Nam .

    Là một người giàu có, và chống cộng, ông chống đối lực lượng thứ ba, mà theo ông chỉ là một loại tổ chức chánh trị đã có trò chơi không minh bạch với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Ông giải thích với ông Miller rằng ông Thiệu chắc chắn sẽ không bao giờ từ nhiệm để trao quyền lại cho một tướng nào khác, dù đó là ông Khiêm hay ông Minh Dương (nguyên tác : Grand Minh). Trái lại ông Thiệu sẽ ra đi nếu qua thương thuyết ông Hữu đạt được một nền hòa bình có thể chấp nhận được . Lúc bấy giờ ông Thiệu sẽ vui vẻ mà lui ra khỏi chánh trường, vui vẻ vì vẫn còn để lại sau lưng mình hình ảnh của người anh hùng đã từng chiến thắng Bắc Việt năm 1972 , ông Hữu nhấn mạnh: – ” Là một tướng lãnh Miền Nam đã đánh bại được người anh hùng Miền Bắc Võ nguyên Giáp năm 1972, ông Thiệu sẽ giữ được tên tuổi của mình trong Lịch Sử”. Trước khi kết thúc buổi tiếp xúc, ông Hữu giới thiệu với ông Miller hai người cộng sự viên: Lê quốc Túy, cựu đại tá Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và Mai văn Hạnh, cựu phi công Quân Đội Pháp, người có hai quốc tịch Pháp và Việt Nam.

    Ông Miller tóm tắt quan điểm của Hoa Kỳ với ông Hữu :

    – ” Chúng tôi luôn luôn nhắm vào sự thi hành Hiệp Định Paris, chủ trương rằng hai Bên Việt Nam phải cùng nhau bàn bạc về tương lai của Miền Nam Việt Nam. Chúng tôi luôn luôn tự hứa là phải tiếp tục giúp đỡ Việt Nam Cộng Hòa về phương diện vật chất cho đến khi nào quốc gia nầy thấy còn cần thiết để chống đỡ áp lực quân sự của phía Bắc Việt.”

    Sau đó ông Miller thảo một bản tường trình về việc nầy cho ông Kissinger :

    – “Chủ yếu, ông Hữu nghĩ rằng Miền Bắc công nhận là họ không thể chiếm được Miền Nam bằng võ lực. Và họ mong kết thúc bằng một giải pháp chánh trị . Ông Hữu nói ông ta có tất cả lý lẽ để tin rằng Tổng Thống Thiệu sẽ sẵn sàng từ nhiệm để nhường quyền lại cho một người nào có thể thiết lập một nền hòa bình thật sự ở Việt Nam .”

    Liên Hiệp Quốc cũng là một trong số những trung gian có máu mặt. Đại diện Hoa Kỳ tại Liên Hiệp Quốc phản kháng, sau khi Bắc Việt chiếm Phước Long. Qua văn thư trả lời ông Tổng thư ký Kurt Waldheim rất lấy làm tiếc và chua chát ghi nhận rằng với tư cách Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc, ông không có một nhiệm vụ gì trong việc soạn thảo và ký kết Hiệp Định Paris. Ông Waldheim tiếc rằng những sự mất mát về nhân mạng là do sự leo thang chiến tranh ở Việt Nam . Ông không thể làm gì hơn được, ngoài việc chuyển những sự kinh sợ và lo âu của ông đến Chánh Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ở Hà Nội. Và không quên nhắc lại sự kính mến đối với đại diện Hoa Kỳ (theo thông lệ) !

    Đối với Việt Nam, dưới trào ông Waldheim, Liên Hiệp Quốc hoàn toàn đứng ngoài cuộc, trong một sự bất lực đáng ghê sợ. quá “tục tỉu” như De Gaulle đã từng nói . (nguyên tác: “machin”)

    Như vậy thì Waldheim có hữu ý gì đối với trò chơi của Hà Nội ?

    Ngày 30 tháng giêng, với sự có mặt của Kissinger và Schlesinger, Tổng Thống Ford tiếp các lãnh tụ Quốc Hội trong một tiếng rưỡi đồng hồ. Ông phải vận động với lưỡng viện Quốc Hội để họ có thể chấp nhận đơn xin ngân khoản viện trợ bổ túc cho Việt Nam Cộng Hòa. Các nghị sĩ và dân biểu đang canh chừng Trung Đông. Theo thuyết của ông KIssinger, ông Ford giải thích rằng trong việc thi hành chủ nghĩa quốc tế của mình Hoa Kỳ không thể chỉ chú trọng đến mỗi một vùng Trung Đông vì đó mới chỉ là một điểm trên bản đồ của thế giới mà thôi Như vậy Hoa Kỳ sẽ tự phơi bày chủ nghĩa phân biệt của mình ở chỗ khác, như Việt Nam chẳng hạn.

    Các lãnh tụ có nghe mà không có cam kết gì hết.

    Tại Thượng Viện và Hạ Viện, không khí có hơi mát. Nhưng ông Ford không lấy làm ngạc nhiên khi nghị sĩ dân chủ Edward Kennedy đổ tội cho Chánh Phủ là “dậm chân tại chỗ” trên địa hạt ngoại giao. Phía chánh trị gia dân chủ, đối thủ vẫn còn là đối thủ. Tổng Thống Ford và những người của ông càng ngạc nhiên hơn nữa khi nghị sĩ Henry Jackson, đưa ra một lời tuyên bố công khai, hoàn toàn đối với chủ nghĩa chống cộng:

    -” Hoa Kỳ phải chấm dứt cuộc chiến nầy”

    Bộ máy lập pháp nặng nề và chính xác của Hoa Kỳ đang chạy. Ngày 30 tháng giêng nầy người ta triệu tập các thành viên thuộc Ủy Ban Phân Phối Ngân Khoản . Một cuộc họp quan trọng của các ủy ban và tiểu ban thuộc Thượng Viện và Hạ Viện. Hạ Viện vẫn giữ độc quyền trình bày những luật lệ về tài chánh. Nặng nề và rất thận trọng, trong một khung cảnh oai nghiêm , các tiểu ban đưa ra những câu hỏi chất vấn các viên chức cao cấp của Chánh Phủ. Tiểu Ban “Phân Phối Ngân Khoản” nghe nhiều nhân chứng. trong đó có Eric von Marbod, cộng sự viên của Phụ Tá Tổng Trưởng Quốc Phòng, đặc trách về tiếp vận.

  10. Ông Von Marbod xác nhận rằng: Ngũ Giác Đài dự kiến một cuộc tấn công của cộng sản trong sáu tháng sấp tới.

    Tướng A. Graham, trưởng Phòng Tin Tức Tình Báo của Ngũ Giác Đài xác nhận rằng: ” – ” Chúng tôi không nghĩ rằng Hà Nội mưu toan đạt được chiến thắng toàn bộ trong những tháng sấp tới. Chúng tôi dự kiến là quân đội của Miền Nam sẽ gặp nhiều khó khăn quan trọng. Chúng tôi đang chờ đợi những cuộc tấn công trong vùng Kontum và Pleiku”.

    KonTum và Pleiku, chính là vùng mà Bộ Tham Mưu Bắc Việt đã quyết định là “không tấn công”.

    Tất cả những sứ quán cộng sản ở Hoa Thạnh Đốn đều theo dõi các cuộc điều trần ở Quốc Hội. Họ có cả những biên bản khi những cuộc điều trần nầy được diễn ra công khai và khi họp kín thì những tiết lộ sẽ làm thỏa mãn những kẽ tò mò muốn tìm hiểu. Như vậy là Hà Nội được báo trước ngay sau đó. Một xã hội (quá) cởi mở không có gì còn là bí mật hết, ngay ở cấp quyết định tối hậu cũng vậy. Ở Hoa Kỳ gần như không thể giữ kín được bất cứ một hành động bí mật nào, cho dù đó là một hành động có tầm mức quan trọng . Lời khai của các nhân chứng Graham và Von Marbod không có gì mâu thuẫn quan trọng với nhau hết: một cuộc tấn công có thể không nhắm vào chiến thắng cuối cùng. Tuy nhiên, những nhân chứng nầy gây bối rối cho các vị dân cử, đại diện cho dân chúng Hoa Kỳ . Dân biểu Robert Gialmo (dân chủ) của tiểu bang Connecticut nói:

    – “Những con số về tương quan lực lượng mà quý vị cung cấp cho chúng tôi cho thấy là quân số Miền Nam cao hơn quân số Bắc Việt ở trong Nam Bộ”

    Từ 10 năm nay, câu hỏi về quân số của hai Bên Nam Bắc Việt Nam thật khó có thể ước tính được . Phải biết phân biệt giữa chánh quy và không chánh quy, giữa việt cộng của CPLTCHMN và lực lượng bảo an của Miền Nam Việt Nam . Tổng Thống Ford vừa nói rằng hiện tại 298.000 bộ đội Bắc Việt đang có mặt ở chiến trường Miền Nam . Ở Hoa Thạnh Đốn với sổ sách trong tay, người ta quả quyết là quân đội chánh quy thuộc QLVNCH và lực lượng bảo an, dân vệ là 1.300.000 người . Như vậy, phải nghiêm chỉnh xét lại xem cán cân lực lượng sẽ ngiêng về bên nào ? Đó là ý nghĩ của các vị đại diện dân ở Quốc Hội. Tướng Graham biết rõ là QLVNCH không có được tới 500.000 người thực sự là quân số hành quân hay tác chiến. Quân đội nầy được tổ chức rập khuôn theo kiểu Hoa Kỳ : cứ mỗi người lính trong đơn vị tác chiến thì người ta phải có 5, 10, hay đôi khi 20 ở hậu cứ, trong những kho, trong các Bộ Tham Mưu hay ở các căn cứ không quân. Thú nhận việc nầy là sẽ đặt lại cả vấn đề chánh trị quân sự của Hoa Kỳ từ bao nhiêu thời gian lâu nay rồi.

    Vấn đề không phải là giải thích sự yếu kém thuộc về cơ cấu tổ chức của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, mà phải chỉ cho người ta thấy được những thuận lợi giúp cho bộ đội Miền Bắc có thêm sức mạnh. Tướng Graham bèn xoay qua đường mòn Hồ chí Minh:

    -” Giờ đây, một phần quan trọng của con đường nầy đã được tráng nhựa. Trước kia lực lượng tăng viện của Bắc Việt phải mất 70 ngày đi bộ mới vào được chiến trường Nam Bộ. Bây giờ họ chỉ mất có 3 tuần lễ . Thời gian nầy họ vượt phần lớn các đoạn đường bằng xe vận tải.”

    Ông Philip Habib, Phụ tá Tổng trưởng ngoại giao đặc trách Đông Nam Á Sự Vụ cũng ra điều trần trước Ủy Ban. Ông là một trong những phụ tá của Kissinger ở Paris. Ông Gialmo hỏi :

    – ” Trên phương diện pháp lý Hoa Kỳ có nghĩa vụ phải tiếp tục võ trang cho Việt Nam Cộng Hòa hay không ? Hỏi xong ông Giamo lại tự mình trả lời luôn cho câu hỏi của mình :

    – ” Có nghĩa vụ tinh thần, mà không có nghĩa vụ pháp lý”

    Ông Habib rất hân hoan: – Đó là một thể thức rất tốt, rất chính xác.! “

    Và cuộc điều trần vẫn tiếp tục…..

    Có lẽ đây là một sự khéo phối hợp đúng lúc: ông Thiệu thấy được nghệ thuật xử dụng truyền thông mà ông Nhã đã chỉ cho ông, nên ông đã cho tờ Washington Post phỏng vấn. Tờ nhật báo nầy là một tờ báo rất có ảnh hưởng ngay tại thủ đô Hoa Kỳ. Tổng Thống Thiệu không nghĩ rằng Hoa Kỳ bỏ rơi đồng minh của họ. Tuy nhiên ông cũng phải dự trù trường hợp xấu nhất, ông tuyên bố :

    – ” Nếu Hoa Kỳ bỏ rơi SàiGòn thì Việt Nam Cộng Hòa chúng tôi vẫn tiếp tục chiến đấu “ Nhưng thật ra đây là một thất sách. Ông Thiệu lẽ ra phải tuyên bố là :

    – “nếu không có được một viện trợ tài chánh nào thì quân dân Việt Nam Cộng Hòa đành phải chịu buông súng bỏ cuộc thôi !”

    Đằng nầy ông Thiệu đã vô tình cho thấy là nếu không có viện trợ của Hoa Kỳ thì SàiGòn vẫn có thể tiếp tục chiến đấu.. Cuộc phỏng vấn chẳng những đã trở thành vô hiệu mà còn có hiệu quả ngược lại!

    Để chứng minh quyết tâm của mình, Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa tuyên bố là không cho giải ngũ nữa. Các binh sĩ sẽ không được rời khỏi quân đội trước 38 tuổi, hạ sĩ quan không trước 42 tuổi và sĩ quan cấp úy không trước 45 tuổi. Để nói lên tinh thần chiến đấu của chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa Tòa Đại Sứ Việt Nam Ở Hoa Thạnh Đốn bèn thông báo cho lưỡng Viện Quốc Hội Hoa Kỳ . Do đó mà có một số dân cử trong Quốc Hội đã nói với nhau :

    – ” Cuối cùng rồi thì người Việt Nam của “chúng ta” cũng có thể xoay trở để tự lo liệu lấy ” (nguyên tác : nos Vietnamiens với chữ nos nghiêng)

    Tình cờ, Quốc Hội Mỹ ngẫu nhiên chú ý tới vùng Đông Nam Á, các đại biểu lại nhìn thấy tình hình ở Cam Bốt có vẻ nghiêm trọng. Chỉ cần theo dõi tin tức trên truyền hình cũng xác định được tình thế .

    Nếu Quốc Hội Hoa Kỳ có thật tâm muốn nhận định tình hình ở Việt Nam năm 1975 có nghiêm trọng hay không, thì chỉ cần xem một vài hình ảnh đánh nhau trên hệ thống truyền hình cũng đủ rồi, nhưng rất tiếc là trận đánh Phước Long chẳng có được nhiêu phim ảnh!

    – Lực lượng Khmer Đỏ chiếm 80 % lãnh thổ, bắn rốc kết vào Phnom Penh. SàiGòn chưa có gì đến đổi như vậy.

    – Quân số mỗi tiểu đoàn Cam Bốt từ 300 hao hụt chỉ còn 100 người . Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa không có tan rã như vậy

    – Trên sông Cửu Long (địa phận Cam Bốt), Khmer Đỏ bắn chìm tàu dầu. Chiếc tàu dầu cuối cùng đến được Phnom Penh ngày 23 tháng giêng. Con sông Mekong (địa phận Việt Nam) vẫn còn lưu thông tốt.

    Đường dây duy nhất nối liền thủ đô Cam Bốt với thế giới bên ngoài là cây cầu không vận.

    Tại Hoa Thạnh Đốn vào một buỗi trưa mát trời, ông Douglas Pike, một chuyên viên về Việt Nam, tác giả của một quyển sách nói về Việt Cộng, lững thững rảo bước trên con đường Mall, một con đường mà hai bên có các viện bảo tàng, có các đài kỹ niệm, và các Bộ của Chánh Phủ. Ông Pike là một chuyên viên thầm lặng, nên luôn luôn từ chối không muốn dính líu về tình cảm đến chuyện Việt Nam . Ngay như lúc ông còn làm việc ở Tòa Đại sứ Hoa Kỳ ở SàiGòn cũng vậy. Trong trận tấn công của Việt Cộng hồi Tết Mậu Thân – lúc nước Việt Nam đang trong cảnh máu lửa- bạn bè khách khứa của ông Pike lấy làm ngạc nhiên khi thấy ông bình tỉnh xếp loại các con tem trong bộ sưu tầm của ông và nói rằng : ” Phải biết chờ.. rồi mọi việc cũng sẽ qua đi…” Cùng tản bộ với ông, có ông Sam Burger, một cựu nhân viên của sứ quán Mỹ ở SàiGòn. Hai người vừa mới tham gia một hội đồng giám khảo của trường đại học. Một đại tá đã trình luận án tiến sĩ : “Không có Hoa Kỳ quân dân Miền Nam có giữ được đất nước mình hay không ?” Ông đại tá nầy có vẻ lạc quan. Hai vị giám khảo thì không quá lạc quan như vậy. Trên đường về Bộ Ngoại Giao, ông Sam Burger nói nhỏ với ông Pike :

    – ” Xem chừng như hết rồi phải không ?

    Hơi trầm ngâm, ông Pike đi được 10 bước mới trả lời :

    – ” Đúng vậy, Hết rồi !

    Ông Pike chưa cần phải suy nghĩ là đã tin chắc như vậy rồi ! Ông lại nghĩ miên man : Tôi lại kể chuyện gì nữa đây ? ông không thể tự nói với mình là “Miền Nam Việt Nam có thể sống còn… “

    Trong giới công chức ở đây, những người như hai ông Pike và Burger quá hiếm….

    Chung quanh ông Kissinger, người ta đang bị Trung Đông ám ảnh.

    “Không có gì nguy hiểm bằng tình hình ở Trung Đông“

    Ông Kissinger xác nhận như vậy. Ông ta muốn đạt được một Thỏa Ước về sa mạc Sianai. Tổng Thống Sadate của Á Rạp dường như dễ dãi hơn Thủ Tướng Do Thái Rabin. Ông nầy chỉ có một đa số mong manh ở Quốc Hội nên không mạnh tay trong hành động. Còn ông Kissinger thì theo dõi những uẩn khúc chánh trị trong nội bộ của Do thái nhiều hơn là của Miền Nam Việt Nam . Ông ta đang chuẩn bị cho một chuyến đi 10 ngày qua Trung Đông vào tháng hai. Ông muốn đạt được một thỏa thuận với người Do Thái là họ phải lui về 50 cây số ở Sinai. Trong cuộc vận động nầy, qua các tài liệu ngoại giao hay qua nghiên cứu trên bản đồ, các công chức cao cấp đã tốn rất nhiều thì giờ cho đèo Mitla trong sa mạc Sinai hơn là đèo Ải Vân ở Đà Nẵng.

    Ở Hoa Thạnh Đốn, có rất ít người có trách nhiệm hình dung được là Bắc Việt sấp sửa tiến quân hằng trăm cây số đến vùng Cao Nguyên. Toàn là những người làm việc ở văn phòng nên họ thiếu óc tưởng tượng.

    Ở Bruxelles (Bĩ) ông Đại sứ Nguyễn phú Đức của Việt Nam Cộng Hòa đến thăm tướng Alexander Haig, Tổng Tư Lệnh lực lượng Đồng Minh Khối Bắc Đại Tây Dương. Ông Thiệu không thích Kissinger nhưng giữ kỷ niệm tốt với tướng Haig. Năm 1972, ở Nhà Trắng, dưới trào Tổng Thống Nixon, tướng Haig đã có thảo luận về Hiệp Định Paris với ông Thiệu . Ông Haig cũng có ép ông Thiệu ký váo Hiệp Định, nhưng rất là nhã nhặn và lịch sự. Giữa quân nhân với nhau, họ dễ thông cảm và hiểu nhau hơn. Tướng Haig hứa với ông Nguyễn phú Đức là ông sẽ đích thân can thiệp với Tổng Thống Gerald Ford.

    Từ tướng Marshall đến tướng Eisenhover, người ta chưa từng chứng kiến một sự thăng cấp nhanh như trường hợp của tướng Haig. Chỉ trong vòng có bốn năm, từ cấp đại tá ông ta nhảy vọt lên cấp đại tướng bốn sao. Ở tuổi 50, ông giữ một nhiệm vụ đầy uy quyền ở Âu Châu. Ông sớm hiểu được là muốn thành công trong binh nghiệp thì cần phải có nhiều quan hệ tốt với giới chánh trị . Sỹ quan cấp tướng cần phải chứng tỏ mình có đầy đủ năng lực về chánh trị cũng như về chiến lược quân sự. Tướng Haig đã tốt nghiệp về khoa “bang giao quốc tế” ở Đại Học Hoa Thạnh Đốn . Ông đã từng chiến đấu ở Việt Nam, là Tổng Tư Lệnh của Khối Bắc Đại Tây Dương, qua vài phản ứng của các thủ đô Âu Châu tướng Haig biết rõ là người ta đang đánh giá về lòng tin của họ đối với Hoa Kỳ . Ông biết rằng Lịch Sử tạo anh hùng, và nhiều người như Nixon, hay Kissinger cũng có thể tạo ra thời thế. Nhưng liệu ông Ford có cơ may nào nắm bắt được thời cơ hay không ?

    Đến Hoa Thạnh Đốn, ông bàng hoàng thấy không khí chánh trị có vẻ lộn xộn quá. Muốn đánh mạnh vào dư luận quần chúng, ông nghĩ có lẽ ông phải xin từ nhiệm. Người ta tiếp ông ở Nhà Trắng. Thông thường thì ông có tật hay dùng tiếng lóng, nói dài dòng, và thích dùng những danh từ trừu tượng bóng gió hơn là nói thẳng như người Anh, nhưng lần nầy quá cảm xúc, ông nói thẳng với ông Ford, rất là dản dị và dể hiểu :

    – Thưa Tổng Thống, ông phải cho tái oanh tạc, dù Quốc Hội có từ chối.”

    – Ồ, Tôi không làm được việc đó đâu. Cả nước đã chán ghét chiến tranh lắm rồi ! Ông Ford nói.

    Tướng Haig lại nhấn mạnh là ông Ford cần phải gởi pháo đài bay B 52 đến đó ngay. Đúng theo nguyên tắc và cũng đúng theo quyền lợi của cá nhân ông ! Nếu không thì ông sẽ không được tái bầu lại đâu, tướng Haig xác nhận như vậy:

    – Ông phải chứng tỏ quyền lãnh đạo của mình ngay bây giờ đây, trước khi nó quá muộn.

    Ông Ford có vẻ quan tâm nhưng vẫn không bị lay chuyển. Các nhân viên thân cận như Ron Nessen và Donald Rumsfeld an ủi ông:

    – Ông Haig không nắm vững được tình hình thực tế ở Hoa Thạnh Đốn. Trong những ngày nầy, ông có phản ứng của một quân nhân chớ không phải của một chánh trị gia.

    Và họ bồi thêm một phát súng ân huệ nữa:

    – ” Dưới trào ông Nixon, tướng Haig thường có nhiều cuộc hành quân bí mật và làm mất hòa khí giữa Quốc Hội và Nhà Trắng. “

    Ông Ford phải giữ đúng vị trí của một Tổng Thống pháp định, để không còn ai nhớ đến các cuộc dội bom bí mật xuống Cam Bốt của ông Nixon.

    Hơn nữa, theo ước tính của những công chức của Nhà Trắng, thì sẽ không có cuộc tấn công nào của Bắc Việt trước năm 1976.

    Đúng là những người đang “ngủ đứng” !

  11. Chương 7

    Long Mạch

    Ở Sàigon ngày 27 tháng giêng, ngày kỷ niệm 2 năm ký Hiệp Định Paris đã lặng lẽ qua đi, không có một ai nghĩ tới… .

    Khoảng 100 Phật tử, trong số nầy có chừng 20 ni sư khất thực, có ý định biểu tình, xuất phát từ chùa Ấn Quang. Cảnh sát thẳng tay giải tán. Theo quan điểm bán chánh thức của hai Chánh Phủ Việt Mỹ thì người dân Sàigon coi chuyện mất tỉnh Phước Long cũng không phải là một thảm kịch.

    Phạm xuân Ẩn, người cộng sự viên chính của tờ Time, người lúc nào cũng biết nhiều tin tức nhất đã nói là: – “Hà Nội muốn có một cán cân lực lượng mới thuận lợi hơn trong việc thương nghị. (1)

    Ông ta phân tách như vậy với hai người bạn là Cao Giao và Vượng tại quán cà fé Givral. Ông ta cũng đã nói ngắn gọn như vậy với bà Trần thị Nga, thư ký hành chánh thuộc văn phòng của tờ Time. Bà nầy không bao giờ chú ý đến vấn đề chánh trị . Bà muốn có hòa bình để bà được về thăm lại Miền Bắc của thời thơ ấu, nơi mà bà đã chứng kiến và trải qua một thời kỳ đói khát kinh khủng nhất của lịch sử (thập niên 40), dưới thời Nhật thuộc, và nơi mà bà đã bị ép duyên với một tướng người Tàu Quốc dân đảng (bà đã có một người con với ông nầy). Sau đó ông tướng bị giết và bà đã chấp nối với người em rể. Bây giờ bà có 4 người con. Sau một thời gian làm việc cho Bộ Xã Hội, bà được chuyển luôn qua văn phòng của tờ Time.

    Sàigon bây giờ không có nhiều nhà báo ngoại quốc như trước. Trưởng văn phòng của tờ Time hỏi bà Nga tại sao bà quá buồn như vậy ?

    Bà Nga nói:

    -” Cộng sản còn tiến tới nữa đó, “

    Sau đó bà cũng không biết tại sao bà lại nói tiếp :

    – Tôi nghĩ là tôi sẽ tự sát.

    – Có lẽ bà nên tìm cách thu xếp khác, tốt hơn. Người chủ sự nói như vậy.

    Đi chăng ?

    Nhà văn Duyên Anh cũng là người di cư từ Miền Bắc như bà Nga, nhưng ông không thấy gì khó khăn hết. Là một nhà báo, có biệt danh là “nhà văn của bọn trẻ”, Duyên Anh đã xuất bản trên 50 quyển tiểu thuyết, thơ, văn…. Ông đã để lại ở Miền Bắc cả cha mẹ và 5 người anh chị em. Mẹ ông đã tử nạn trong một vụ dội bom . Nhà văn nầy từ lâu đã gia nhập vào một đảng chống ông Diệm, chống Pháp và chống Hoa Kỳ, chống tòa thánh Vatican , và chống cả những người Việt Nam nào chạy theo người ngoại quốc.nữa. Mặc dầuvậy nhưng nhà văn nầy không thíchvà cũng không bao giờ thích chánh trị. Văn ông thường tả cảnh hỗn loạn, hay sự cô đơn của giới trẻ Việt Nam . Nếu không được thù lao bằng đô la như ông Ẩn của tờ Time thì người ta phải làm rất nhiều việc trong các tờ báo Việt Nam mới sống được . Nhà văn Duyên Anh thấy vừa lòng khi ông Nguyễn văn Hão cho ông làm tổng biên tập của 3 tờ báo được phát hành ở Sàigon, Cần Thơ và Đà Nẵng, chuyên về kinh tế và giáo dục. Ông nói:

    – ” Tôi nhận vì dù được thù lao nhưng những tờ báo nầy không chạy theo chánh quyền.”

    Ông cũng viết cho tờ “Cách mạng xanh” một tạp chí nói về cải cách ruộng đất. Trong lãnh vực nầy ông Thiệu không đến đỗi nào. Trong tháng ba nầy nhà văn Duyên Anh chuẩn bị cho một ngày gọi là ” người cày có ruộng”

    Nhà sư Thiện Huệ, 23 tuổi, sống với một số nhà sư khác ở một ngôi chùa nằm về hướng Đông Bắc của Sàigon, cách sân bay chừng 10 phút lái xe. Qua báo chí ông được biết tin Bắc Việt đã chiếm tỉnh Phước Long . Hầu hết các nhà sư Phật Giáo không bao giờ bàn đến vấn đề chánh trị. Nhưng ngôi chùa Quan thế Âm cao 3 tầng của vị sư trẻ nầy đã có một thời nổi tiếng. Vào tháng 6 năm 1963, dưới trào Tổng Thống Ngô đình Diệm, để phản đối chủ trương bài Phật Giáo của chánh quyền, một vị sư đã tẩm xăng và tự thiêu ở đây. Bà Nhu, em dâu của ông Diệm đã cho là “ông Sư đã bị quay”. Còn bây giờ ngôi chùa nổi tiếng nhất mà các nhà báo và chánh trị gia thường lui tới là chùa Ấn Quang. Ở đây, Thượng Tọa Thích Trí Quang đang say đắm trong vấn đề chánh trị .

    Kỹ sư Văn nghĩ rằng thua một trận không phải là một chuyện quan trọng. Ông đã gặp những người dân lánh nạn, những quân nhân đã từ Phước Long chạy về. Tất cả từ binh sỉ, hạ sỉ quan và cả sỉ quan đều nói rằng họ thiếu súng đạn để có thể tái chiếm Phước Long. Nhiều người còn khẳng định rằng họ không có phương tiện hữu hiệu để chống lại các xe tăng của Bắc Việt . Ông kỹ sư nầy chỉ tin có phân nửa thôi . Trong thời gian du học ở Paris, ông kỹ sư công chánh nầy đã có gặp ông Nguyễn Khắc Viện, một người cộng sản có trách nhiệm trong “Hội Việt kiều Yêu Nước” , ông nầy lo tuyển mộ cán bộ cho Bắc Việt. Lúc đó kỹ sư Văn đang còn mơ ước sự hình thành của một xã hội bình đẳng. Suýt tý nữa là ông đã đi về Hà Nội rồi ! Ông xem một cuốn phim tuyên truyền của Miền Bắc nói về phong trào “cải cách ruộng đất” với những tòa án nhân dân, với những cảnh điền chủ bị chôn sống và bị chặt đầu bằng lưỡi cày. Hoảng hốt, kỹ sư Văn trở về Sàigon . Vào những năm của thập niên 50 việc lựa chọn Miền Nam hay Miền Bắc của người Việt Nam đôi khi rất hời hợt….

    Là một công chức của Bộ Công Chánh, kỹ sư Văn hy vọng rằng đồng bào Việt Nam của ông sẽ đi theo thuyết trung dung của Đức Khổng Tử. Trung lập và Hòa giải là hiện thân của thuyết đứng giữa. Ông Văn là thành viên của Hội Ái Hữu cựu học sinh sinh viên các trường trung học Petrus Trương vĩnh Ký, Marie Curie và Chasseloup-Laubat. Trong tổ chức nầy người ta ca tụng hai nhân vật trung lập: người thứ nhất là Trịnh Đình Thảo, Chủ tịch “Lực Lượng Liên Hiệp Quốc Gia Dân Chủ Và Hòa Bình”, ông nầy đã chạy theo CPLTCHMN. Người thứ hai cũng trung lập là ông Minh Dương, đang ở Sàigon .

    – Tại sao hai nhân vật trung lập, một người ở thành và một người ở ngoài bưng lại không hợp tác với nhau ? ông Văn nói. Người ta phải biết vượt qua mọi sự chia rẽ về chánh kiến để cho các gia đình được đoàn tụ với nhau.

    Trong các giới trung lưu, có nhiều người Miền Nam có thân nhân ở Miền Bắc và ngược lại. Chúng ta đều là người Việt Nam hết. Ngay như tướng Minh Dương cũng có một người em là Dương văn Nhật, một sĩ quan quân nhu của Miền Bắc .(2) Có nhiều đường dây liên hệ vô hình như vậy ngay ở cấp cao. Ở Sàigon người ta nói là bà Tổng Thống Thiệu bao che cho con gái của một thành viên quan trọng trong CPLTCHMN và bà đã đưa cô gái nầy sang du học ở Hoa Kỳ với tiền riêng của chính bà. Phía người Mỹ cũng than phiền không ít. Có những cuộc dàn xếp ở địa phương giữa Việt Cộng và binh sỉ Miền Nam . Vậy tại sao bây giờ người ta không dàn xếp với nhau ở cấp cao ? Tất cả những chuyện nầy người Mỹ không thể nào hiểu nổi.

    Mặc dầu cộng sản Bắc Việt đã tàn sát dân chúng Miền Nam ngoài Huế vào Tết Mậu Thân (1968) , nhưng kỹ sư Văn nghĩ là cộng sản cũng là một bộ phận, một thành phần của quốc gia. Và với danh nghĩa đó, chuyện người cộng sản điều hành đất nước cũng là một chuyện bình thường thôi ! Họ cũng đã hy sinh nhiều rồi. Con đường đi đến “trung dung” hình như không tránh khỏi trên phương diện kinh tế, Miền Bắc rất cần có ruộng của Miền Nam và Miền Nam cũng cần có quặng mỏ của Miền Bắc !

    Ông Tổng trưởng Giao Thông Công Chánh mở một phiên họp với các chủ sự phòng và giám đốc các công ty liên hệ như Hàng Không Việt Nam , Điện Nước, Chuyển Vận đường bộ đường sông và đường biển, để phân tách vấn đề Phước Long. Ông Tổng trưởng nói:

    – ” Đây là cộng sản muốn trắc nghiệm xem phản ứng của Hoa Kỳ có can thiệp hay không và xem chúng ta có tiếp tục chiến đấu hay không ?

    Ông Tổng trưởng để cho các nhân viên của Bộ được tự do phát biểu sáng kiến của mình: theo đúng lương tri của mỗi người ….

    Có nhiều phiên họp khắp nơi, chánh thức hoặc bán chánh thức trong các bộ, hay các công ty. Phiên họp ở Bộ Công Chánh kết thúc, các nhân viên ra về vui vẻ. Trong sự ồn ào người ta nghe được câu:

    – “Người Mỹ đã đầu tư quá nhiều cho Miền Nam chúng ta rồi, nên đâu có dễ gì bỏ chúng ta được “

    Hoặc :

    – “Hoa Kỳ biết rõ là người Miền Bắc không đủ khả năng khai thác hạ tầng kiến trúc ở Miền Nam ….

    Kỷ sư Văn không tin chắc như vậy.

    Cũng như bà Nga, nhà văn Duyên Anh, và vị sư kia, cũng như tất cả những người dân Việt Nam ở Sàigon , kỹ sư Văn chuẩn bị ăn Tết, một thời điểm rất tốt để mọi người thử đoán xem vận mạng tương lai của mình ra sao. Năm Dần sắp hết, năm Mẹo sẽ đến. Dù là Tổng Thống hay nông dân, thương buôn hay binh sỉ, học trò hay tài xế tắc xi, thợ thầy hay giáo chức, dù được đào tạo ở Tây Phương hay chưa từng xuất ngoại, người Việt Nam nào cũng tin vào khoa học huyền bí với một thái độ hết sức nghiêm túc khiến cho người Âu Châu phải ngạc nhiên và người Mỹ phải rởn tóc gáy ! Bài bác cái gì siêu phàm hay phi lý ư ?, người Việt Nam sẽ trả lời ngay:

    -” Các ông thì tin vào những lời tiên tri theo khoa học, còn chúng tôi thì tin ở định mệnh theo kiểu của chúng tôi. Muốn đoán được tương lai, chúng tôi có những phương pháp để giải đoán các điềm báo trước.”

    Và như thế người ta đi “coi Thầy”. Ở Miền Nam cũng như ở Miền Bắc chánh quyền và báo chí cố đả phá tập tục nầy. Người ta đến một ông Thầy bói toán. Ông nầy dùng bốn đồng tiền và một cái bát, xem bao nhiêu sấp ngửa để đoán cho thân chủ. Người ta thường tìm đến các ông thầy mù. Các thầy tướng số thường là học giả nên đắt lắm. Các nhà nghiên cứu người Mỹ nghĩ rằng khoa tướng số xứng đáng hơn lòng thương người. Gương mặt của con người lộ rõ những nét có thể đọc được . Theo một số bác sĩ thì sự thay đổi sắc diện trên gương mặt là dấu hiệu báo trước cho biết trạng thái rối loạn tim mạch.

    Ở Sàigon người ta vẫn tiếp tục đầu tư. Trước khi xây thêm phòng ốc cho một biệt thự hay muốn cất lại một căn nhà, dù là nhà lá, người ta phải biết rõ việc xây cất đó có cắt đứt “long mạch” nằm ngay dưới lòng đất hay không . Thầy địa lý nào cũng bắt buộc phải làm như vậy. Người ta tin vào những lời chỉ bảo đúng nhất và cũng đắt tiền nhất từ các chiêm tinh gia. Tổng Thống Thiệu thường tin tưởng vào các chiêm tinh gia nầy. Nếu có một người Tây Phương nào hỏi ông tại sao vậy, tại sao một người Ki tô giáo lại phải đi hỏi ý những chiêm tinh gia ? thì ông Thiệu dấu kín sự không bằng lòng của ông bằng một nụ cười nắc nẻ :

    – ” Tôi không hỏi ý kiến các chiêm tinh gia mà tôi thỉnh ý các thầy tử vi. Tử vi là một khoa rất chính xác , nhưng không phải tất cả các Thầy Tử vi đều là thầy giỏi.

    Năm 1974, ông Thiệu hỏi một chiêm tinh gia:

    – ” Nếu tôi từ nhiệm thì ai sẽ thay thế tôi ? Đừng quên ông Minh Dương nghe !

    Sau một hồi suy nghĩ kỹ, ông thầy trả lời :

    – Nếu ông từ nhiệm thì không có ai thay thế ông cả.

    – Như vậy là cộng sản sẽ thay thế tôi !

    Các tướng lãnh cũng vậy, họ cũng hỏi ý các Thầy chiêm tinh trước khi hành quân, một điều mà các cố vấn Hoa Kỳ không mấy thích. Các sĩ quan Bắc Việt thì không làm như vậy nhưng CPLTCHMN thì không ngần ngại xử dụng các ông thầy bói để đánh lạc hướng dư luận ở Việt Nam hay ở ngoại quốc.

    Tôn Tử có nói: “Những gì mà người ta gọi là tiên đoán thì không một trời thần nào có thể biết trước được hết. Cũng không thể suy luận hay dự đoán bằng những sự việc đã qua được Mà phải do những người nào biết và nắm chắc được tình hình của kẻ địch.”

    Mỗi năm Thầy Huỳnh Liên đều có xuất bản và bán được trên 5000 quyểnTử Vi, và người ta có thể tìm thấy các quyển tử vi nầy tận ở Paris.

    Huỳnh Liên là một thầy Tử Vi giỏi, đoán được số mệnh của quốc gia và của từng cá nhân mỗi người. Ông đã tiên đoán tương lai của nước Việt Nam. Năm nay là năm mẹo (1975), là một năm mà ông Thiệu sẽ gặp nhiều khó khăn. Vì ông Thiệu tuổi Tý. Bất cứ người nào dù dốt đến đâu cũng biết là chuột với mèo không phải là bạn của nhau (mèo là khắc tinh của chuột). Những người tuổi Tý thì hợp với người tuổi Ngọ. Ai cũng hiểu đó là tuổi của bà Thiệu. Để tránh bớt chuyện không may thì vần phải làm việc thiện, và nếu được thì người ta vào chùa tu phước. Ông Huỳnh Liên thấy trước là năm 1975 sẽ có nhiều chuyện xung đột nhau như nước với lửa vậy.

    Các cơ quan hành chánh hình như đang ngái ngũ vì thủ đô quá yên tỉnh.

    Ngày 1 tháng 2, ông Giám đốc Bưu Điện loan báo là ông đã có những đường dây điện thoại liên lạc được với Cộng Hòa Nam Phi, với Botsvana, với Lesotho, với Rhodesie qua ngả Paris. Uy tín bắt buộc ! và trong vài ngày nữa đây, người ta sẽ liên lạc với Pretoria còn dễ dàng hơn với Paris nữa.

    Du khách tản bộ dạo chơi khắp thủ đô, và người ta tin chắc rằng năm tới đây con số khách du lịch còn nhiều hơn nữa. Tờ báo anh ngữ “Sai Gon Post” một nhật báo đã có nhiều độc giả hơn nhật báo tiếng Pháp Le Courrier d’Extrême Orient trong những năm gần đây đã loan một bản tin sau đây vào ngày 2/2 :” Một trai người Đức, 27 tuổi, muốn kết bạn với một bạn gái Việt Nam , có thể đi đến hôn nhân. Có ảnh gởi tới được càng tốt. Sẽ trở lại Sàigon trong những năm tới, 1976

    ” Ông Hartensuen, 7000 Stuggart, Wannenstrasse 88, Allemagne”

    Ban điều hành Thảo cầm viên Sàigon rất hãnh diện ghi nhận đã có “137.000 khách viếng thăm, trong số đó có 98.000 người lớn và 38.400 trẻ em” . Ở Việt Nam những con số thống kê liên quan đến người chết , bị thương , người tỵ nạn hay khách viếng thăm sở thú v.v.. thường không được chính xác lắm.

    Tổng Thống Thiệu đang chuẩn bị một thông điệp cho người dân Việt Nam vào dịp Tết, đúng theo truyền thống. Năm nay ông nhấn mạnh 3 điểm :

    1.- “Phải yểm trợ mặt trận quân sự, tối đa”; Không biết có bao nhiêu mặt trận ở đất nước Việt Nam nầy ?

    2. – “Phải tăng cường sản xuất”. Đối với điểm nầy thì hai Miền Nam Bắc Việt Nam gặp nhau, nhưng Miền Bắc có lẽ phải đôn đốc mạnh hơn Miền Nam

    3. – và cuối cùng là “Hậu phương phải được ổn định”, ông mong có một sự đoàn kết và hợp tác mạnh hơn nữa trên mặt trận chánh trị .

    Chánh Phủ cần phải giải quyết 3 cuộc khủng khoảng về chánh trị nội bộ.

    – Những người Hòa Hảo ở phía Nam Sàigon . Giáo phái nầy theo triết lý Phật Giáo. Họ có tổ chức một lực lượng bán quân sự với một đường lối chánh trị quốc gia chống cộng rõ ràng hơn lực lượng của giáo phái Cao Đài. Người Pháp , rồi người Mỹ cũng như Đệ Nhị Cộng Hòa đều xử dụng lực lượng nầy. Còn Việt Minh trước kia và bây giờ là Việt Cộng không làm ăn gì được hết trong vùng quê thuộc đồng bằng phì nhiêu của Miền Tây, có quân dân cán chánh gốc Hòa Hảo tham gia kiểm soát. Với gần 2 triệu tín đồ và trên 50.000 được võ trang, họ thực sự là một lực lượng đáng kể. Có lúc họ thỉnh cầu Chánh Phủ nên cử những người của họ vào các chức vụ tỉnh trưởng và quận trưởng. Nhưng ông Thiệu không muốn nới lỏng quyền uy của Chánh Phủ : Các tỉnh trưởng và quận trưởng phải là những quân nhân do ông chọn lựa. Với những người nầy Chánh Phủ sẽ giữ được quyền lực và kiểm soát chặt chẻ quân đội cũng như dân chúng hơn.

    Các đại diện Hòa Hảo được mời đến Dinh Độc Lập để thương nghị. Ông Lương trọng Tường, đại diện cho Tổ Đình yêu cầu ông Thiệu xét lại các thỉnh cầu của lực lượng Phật Giáo Hòa Hảo mà lúc nào ông cũng bảo đảm là vẫn trung thành với Chánh Phủ . Cuối cùng rồi thì đâu cũng vào đó, người ta xoa dịu các đại diện bằng một vài hứa hẹn nhưng chỉ khi nào thanh bình được vãng hồi (3)

    – Ngay tại Sàigon ông Thiệu phải đối đầu với nhóm đối lập không cộng sản . Nhóm nầy tuy có ồn ào nhưng không được bao nhiêu người , gồm có Phật giáo và cả Kitô Giáo nữa.. Tuy ông Thiệu là người mới trở lại Ki tô giáo, nhưng ông không trông đợi hay nhờ vả gì người công giáo cả. Sau Hiệp ước Genève năm 1954, có nhiều làng công giáo cùng với Cha xứ đã bỏ Miền Bắc di cư vào Miền Nam, những người công giáo nầy rất tốt. Nhưng trong số những người công giáo ở Miền Nam trong thời gian gần đây có những thành phần gọi là “cấp tiến” lại không có tinh thần vững chắc. Ông Thiệu tin rằng giáo hội Ki tô đã bị nhiễm độc đến tận Vatican rồi. Đức Giáo Hoàng Joan XXIII đã cứng rắn đối với cộng sản . Nhưng khi ông Thiệu được tiếp kiến ở La Mã, thì Đức Thánh Cha Phao Lồ đệ Lục lại khuyên ông nên tìm cách dàn xếp với cộng sản Việt Nam . Ông Phao Lồ đệ Lục cũng đã tiếp bà Nguyễn thị Bình, Bộ trưởng ngoại giao của cái gọi là CPLTCHMN. Cho nên ông Thiệu cũng nghi ngờ luôn những người công giáo.

    Linh mục Trần hữu Thanh thuộc dòng Chúa Cứu Thế, một người nhỏ con nhưng hơi nóng tính đã cao hứng thành lập “Phong Trào Dân Chúng Chống Tham Nhũng” đã chĩa ngọn lửa đấu tranh vào cá nhân Tổng Thông Thiệu. Ông phân phối những lời kêu gọi của Phong Trào cho văn phòng báo chí trong nước và cho cả nhà báo ngoại quốc. Vị linh mục nầy tố cáo ông Thiệu ngày hôm qua thì gian lận trong cuộc bầu cử để nắm chánh quyền và ngày hôm nay thì khuyến khích tham nhũng. Theo linh mục Thanh thì ông Thiệu là một người được sanh ra trong chiến tranh và ông ta muốn kéo dài cuộc chiến nầy. Có nhiều nhân sĩ ở Sàigon tham gia vào Phong Trào Chống Tham Nhũng nầy, như Nghị sỉ Trương tiến Đạt, và những người công giáo khác như linh mục Thanh Lãng, Chủ tịch Hội Văn Bút, chủ tịch Hội Đồng Báo Chí, và Hội các nhà báo Việt Nam, một người rất có uy tín trong giới trí thức

    Linh mục Thanh của Dòng Chúa Cứu Thế viết văn rất đễ dàng nhưng rất độc ác. Ông viết và phát hành “Bản Cáo Trạng số 1” , không mập mờ, đánh thẳng vào trí tưởng tượng của người đọc, nhất là giới bình dân. Những lời công kích nẩy lửa của ông có hơi lúng túng vì thiếu bằng chứng. Ông xác quyết rằng tài sản quan trọng của ông Thiệu gồm có bất động sản ở Việt Nam và ở ngoại quốc ; rằng ông Thiệu dính sâu vào đường dây buôn ma túy; rằng bệnh viện “Vì Dân” mà bà Thiệu là Giám đốc hành chánh đã trở thành một ổ mua quan bán tước; rằng gia đình của ông và bà Thiệu có hàng trăm “áp phe”. Ông anh rể của bà Thiệu giữ độc quyền nhập cảng phân bón, việc bán phân bón nầy có một lợi tức quá lớn. Rất thận trọng, ông Thiệu có phản ứng lại theo đường lối riêng của ông. Ông không lý gì tới tác giả của “Bản Cáo Trạng số 1”, không truy tố tác giả về tội phỉ báng, một tội danh có dự liệu trong Hình Luật của Việt Nam, mà Tổng Thống nhắm vào các tờ báo đã đăng bản cáo trạng nầy với tội danh: có hoạt động thân cộng.

    Lại thêm một sai lầm chánh trị tai hại: ông Thiệu đổ tội luôn cho các nhân sĩ công giáo và chánh trị cũng như các nhà báo.

    Như vậy chiến thuật và biện pháp của Chánh Phủ cần được giải thích: thì đây, ông Bộ trưởng Nội Vụ họp báo, có bộ trưởng Thông Tin, và Chỉ Huy Trưởng Cảnh Sát kiêm Trung ương Tình Báo đồng tham dự, theo đúng cung cách của chánh phủ, vừa có uy quyền vừa đúng theo luật pháp. Ông Bộ trưởng Nội Vụ tuyên bố:

    – ” 16 nhà báo và 2 tổng biên tập kiêm chủ báo bị bắt giữ. Những người nầy làm việc có lợi cho cộng sản. Họ hoạt động nhằm lật đổ Tổng Thống Thiệu. Chánh Phủ không thể xem họ là thành phần đối lập hợp pháp được .

    Năm tờ báo bị đình bản. Một số tờ báo khác bị tịch thu vì Chủ bút của các báo nầy không chịu cắt bỏ những đoạn văn trong phần bình luận của họ có tính cách bôi lọ vị nguyên thủ quốc gia . Chánh phủ tung ra một cáo buộc không giải thích được : ” Các bài báo nầy tìm cách đầu độc dư luận quần chúng”. Trong cuộc họp báo ông Bộ trưởng đưa ra hai người “phạm tội” không được minh xác lắm : Tô minh Trung thì khai rằng anh ta “làm theo lịnh của Lê Duẫn” và Vũ trọng Lượng thì xác nhận là ” người ta cho lệnh anh khai thác tối đa những tin tức nào có hại cho Chánh Phủ ” .

    Thành phần dự buổi họp báo hầu hết là nhà báo, ai cũng cười. người ta tưởng tượng sai về người lãnh đạo đảng cộng sản ở Hà Nội : làm gì có chuyện ông ta chuyển thẳng lệnh cho một nhà báo ở Sàigon được ? “Khai thác tối đa” là một nhóm chữ mơ hồ, và không thiếu gì những tin tức xấu. Nói về trạng huống đó thì một nhà báo có ý thức nếu muốn chỉ trích Chánh Phủ thì đâu có cần lệnh lạc gì của ai đâu?

    Linh mục Thanh Lãng đại diện cho Hội các ký giả, không sợ gì cả lên tiếng lớn hỏi ông Bộ Trưởng:

    – ” Ông có nói là ông đã biết những hoạt động của các người nầy từ lâu rồi, vậy tại sao ông chờ cho đến giờ nầy ông mới cho bắt họ ?

    Ông Bộ trưởng hơi lúng túng không trả lời đúng câu hỏi :

    – ” Chúng tôi làm việc trong khuôn khổ của một Chánh Phủ Dân Chủ, Báo Chí phải được Tự Do, nhưng chúng tôi không chấp nhận những người công tác với cộng sản lợi dụng sự tự do đó để dùng báo chí như một phương tiện để tuyên truyền có lợi cho cộng sản . Những lời giải thích đầy tính nguyên tắc đó không đánh lừa ai được cả. Một đại diện của nhật báo Điện Tín bênh vực ký giả Vũ trọng Lương, một nhân viên trong ban biên tập của mình:

    – ” Ông Lương coi về tin tức văn hóa trong tờ báo của chúng tôi. Trước đó anh đã phụ trách mục “Thi Văn” trên đài phát thanh Sàigon. Nếu trước kia Chánh Phủ không biết anh ta đã cộng tác với cộng sản, thì bây giờ chúng tôi làm sao biết được chuyện đó ?

    Thính giả bình luận ồn ào. Có người to tiếng hỏi:

    – Ai đã bị bắt ?

    – Đọc tên lên, đọc tên lên..

    Ông Chỉ huy trưởng Cảnh Sát đọc một lô tên những nhà báo bị bắt, không nói họ là cộng sản thiệt hay là tình nghi cộng sản .

    Ông Cao Giao , một trong “ba chàng ngự lâm pháo thủ” đưa ra câu hỏi :

    – Còn anh Choé thì sao ?

    Choé là một họa sỉ có tài. Ông ta được ghi nhận là mất tích. Những hí họa của anh ta có tánh cách chống cộng sản dữ dằn lắm mà đối với Chánh Phủ cũng không kém gì hơn. Anh ta đã có đề phòng trước nên không bị bắt. Ở Hà Nội thì cộng sản muốn bắt giam ai cũng được nhưng ở Sàigon thì chánh quyền phải làm việc cẩn thận hơn.

    Sự việc nầy làm náo động cả thủ đô. Người ta họp nhau lại, rồi người ta đưa ra những kiến nghị trong tinh thần đoàn kết. Một phát ngôn viên của Phật Giáo tranh đấu Ấn Quang tuyên bố là : “chúng tôi sẳn sàng yểm trợ giới báo chí” . Có bốn tờ báo không dính líu vào vụ nầy đã có quyết định tự đình bản một ngày . Ba tờ báo có trợ cấp của Chánh Phủ thì đăng một bản thông cáo chánh thức không đặt thành vấn đề : “Các ký giả bị bắt giữ là cộng tác viên bí mật của cộng sản ”

    Đến lượt Thượng viện cũng thấy nóng lên. Bốn mươi tám nghị sỉ thuộc nhóm đối lập không cộng sản ở Quốc Hội cáo giác sự tịch thâu báo chí của chánh quyền viết đầy lên tường quy lỗi cho ông Thiệu đã dùng những phần tử thối nát. Lá thư của nhóm người nầy không chĩa mủi dùi vào ai hết , ngoại trừ tướng Quang, cố vấn an ninh của Tổng Thống. Họ khéo cẩn thận không nói gì tới vị nguyên thù quốc gia hết, không cáo buộc cá nhân ông ta. Để làm tăng vẻ quan trọng của vấn đề tất cả đều ký tên bằng máu.

    Đại sứ Hoa Kỳ cho biết là việc bắt bớ các nhà báo đã gây một hậu quả không hay ở Hoa Thạnh Đốn . Chánh Phủ bèn lui một bước. Các vị Bộ trưởng giải thích là có một sự hiểu lầm. Hầu hết các nhà báo bị bắt giữ dĩ nhiên không thể nào và không phải là cộng sản. Chánh Phủ sẽ coi lại vấn đề và chắc chắn họ sẽ được trả tự do vì họ chỉ là “nạn nhân của sự đầu độc của cộng sản ”

    Ông Minh Dương họp các bạn bè của ông lại. Đến lượt ông đại diện của lực lượng thứ ba lên tiếng:

    – ” Bắt giữ các tổng biên tập và những ký giả nhà báo, đóng cửa những tờ báo đang ủng hộ cuộc chiến đấu của chúng ta, đó là Chánh Phủ đã đụng vào chúng ta rồi đó. Một hành động ngạo mạn và coi thường quần chúng. Chánh phủ độc đoán nầy muốn bóp nghẹt tiếng nói của chúng ta. Chúng ta còn vui vẻ gì nữa mà ăn Tết? Cuộc tranh đấu của chúng ta sẽ gặp khó khăn rồi. Thưa các bạn, tôi muốn nói tới sự hòa giải mà tôi đã từng tranh đấu lâu rồi, chỉ có sự hòa giải mới đem lại hòa bình mà thôi “ (4)

  12. Còn gì chính xác hơn nữa ! ông Minh Dương đã ám chỉ tới nhu cầu trao quyền hành lại cho những người “được sự hậu thuẫn của quần chúng”, cho những lực lượng chánh trị “của quần chúng”.

    Giả bộ khiêm nhường ông Minh Dương không muốn đi tới nữa. Ông ta cũng thận trọng không nói tới thái độ độc đoán, và không tấn công đích danh ông Thiệu. Ông ta khôn ngoan lắm. Giữa hai người tướng lãnh hình như có một thỏa thuận ngầm với nhau. Mười hai năm trước cùng với mấy người khác, họ đã từng hợp tác với nhau trong cuộc lật đổ Tổng Thống Diệm. Đúng theo truyền thống thì ông Thiệu phải kính nể ông Minh Dương vì ông nầy vừa cao tuổi hơn vừa đã từng là cấp chỉ huy của ông. Vì quyền lợi, bắt buộc ông Thiệu phải có thái độ nể nang và ngó lơ cho ông Minh Dương vì có như thế thì coi như trên sân khấu chánh trị ông Thiệu chấp nhận có một đối thủ ít nhất cũng có sức mạnh bề ngoài, còn có bộ mặt đa nguyên đúng ý muốn của người Mỹ nữa. Bù lại ông Minh Dương cũng tiết chế những mối bất đồng hoặc có phát biểu thì cũng nhẹ nhàng kín đáo để tránh khỏi bị loại ra khỏi vòng chiến bằng một sự bắt bớ không hay.

    Năm mươi chín tuổi, người cao lớn (do đó mới có biệt danh là Big Minh), tướng Dương văn Minh có một vai trò lạ lùng lắm, một vai trò mà ông không thể tin được là của chính mình. Ngay những người thân cận với ông cũng thừa nhận là ông không có khiếu về chánh trị . Giống như Kác Mác đã từng nói là ở miền đồng bằng thì một ngọn đồi nhỏ cũng có vẻ như là một ngọn núi vậy. Lạ lùng lắm, vì lực lượng thứ ba nhìn nhận ông là đại diện của họ nhưng ông Minh Dương nầy chưa từng bao giờ tuyên bố như vậy. Gần như ông làm nấc thang cho người khác đi, những người có nhiều tham vọng và không được bình dân như ông. Vậy cái bản chất bình dân mà bạn bè ông thường nói đúng ra nó là cái gì ?. Ở Sàigon không có người nào và cũng không có cơ quan thăm dò dư luận . Ông Minh Dương luôn luôn rụt rè khi phải xuất hiện trong những cuộc bầu cử, mà thường ông không biết điều động. Còn số mệnh của ông ? có thể là số mạng của người thất bại trong danh dự. Là con của một giáo chức, ông chỉ mơ ước được làm một công chức và được biết Âu Châu. Ông không thể vào trường đại học Sorbonne (Pháp) được , cũng không thể vào trường võ bị Saint Maixent của Pháp. Vào đầu Thế chiến 2, ông nhập ngũ và trở thành quân nhân ở Việt Nam . Vừa mới thoát khỏi một trại tù binh Nhật bản, ông lại bị Việt Minh bắt . Sau đó ông được kết nạp làm giáo viên, phục vụ trong Đệ Tứ Cộng Hòa Pháp quốc.. Năm 1954, với cấp bực trung tá, ông Minh đầy tình cảm nầy đã được lệnh thanh toán thẳng tay lực lượng Bình Xuyên hung dữ. Được Tổng thống Diệm đỡ đầu, ông Minh được thăng cấp đại tướng bốn sao năm 1957, và sau đó lại tham gia vào nhóm quân nhân lật đổ ông Diệm vào năm 1963, có sự đồng ý của Hoa Kỳ. Ông Diệm bị hạ sát theo lệnh của tướng Minh Dương. Ông thành lập và trở thành chủ tịch Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng trong một thời gian ngắn, nguyên thủ quốc gia danh dự . Tướng Minh Dương lại là nạn nhân của một nhóm sĩ quan trẻ đảo chánh ông năm 1964 và ông được đưa qua sống lưu vong ở Bangkok (Thái Lan) từ đó.

    Ông trở về Sàigon vào tháng 10 năm 1968. Khi thuộc cấp cũ của ông là tướng Thiệu lên làm Tổng Thống, ông nầy đề nghị ông làm cố vấn đặc biệt. Ông Minh từ chối đề nghị hấp dẫn nầy cũng như ông đã từ chối lãnh đạo một đảng của Phật Giáo. Sự trong sáng của tướng Minh mà nhiều người tán tụng ông về sự thanh liêm và khôn ngoan.. đôi khi trở thành vẩn đục . Dinh ông ở số 3 đường Trần quý Cáp, rất khiêm nhường cho một đại tướng bốn sao. Nơi đây ông thường tiếp các chức sắc của chế độ, những nhà ngoại giao không tên tuổi, những bình luận gia nổi tiếng và những nhân viện mật vụ có xưng danh hay không cũng vậy. Năm 1971 kết quả bầu cử của ông tại Sàigon cũng tốt lắm.

    Đã từ lâu rồi,ông Minh Dương đã nói khéo lắm:

    -” Chánh Phủ Sàigon và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (sau nầy là CPLTCHMN) bên nào cũng đều có cái hay của họ. VNCH có lực lượng quân sự, cảnh sát v.v.. nhưng CPLTCHMN không có. Họ chỉ dựa vào nhân dân mà thôi.”

    Vậy nhân dân nầy là những ai ? và họ đang nghĩ gì ? Có thể nào tướng Minh Dương sẽ nỗi danh hơn là bình dân ở khắp các đô thị ? và trước nhất là ở Sàigon ?

    Năm 1971, người ta muốn là các cuộc bầu cử phải được tiến hành công khai, hay ít nhất cũng có vẻ như vậy . Tòa Đại sứ Hoa Kỳ đề nghị ông Minh Dương ra tranh cử đối đầu với ông Thiệu. Ông Minh lưỡng lự rồi từ chối. Chán nản, người Mỹ không còn chạy theo ông nữa. Lúc bấy giờ, nhân vật duy nhất giữ liên lạc với ông Minh là tướng hiện dịch hồi hưu Charles Timmes . Ông đã làm việc cho Trung Ương Tình Báo Hoa Kỳ đặc trách liên lạc với tất cả các tướng lãnh ở Miền Nam Việt Nam .

    Đệ nhị cố vấn của Tòa Đại sứ Pháp, Pierre Brochand thường gặp tướng Minh Dương .Ông Minh tính hòa nhã thích nuôi cá, trồng lan và chơi quần vợt ở Câu lạc bộ thể thao Sàigon, nơi mà ông Brochand thường đến. Tướng Minh thường nói : “tôi không có tham vọng gì cả” và người ta tin như vậy. Rồi ông lập lại: “Đối với tôi, chánh trị trước hết là vấn đề luân lý”. Luân lý của tôi là luân lý Khổng Mạnh. Và người ta ca tụng ông. Người Mỹ họ không thấy một chương trình hành động nào trong cái vắng thiếu luân lý Khổng Mạnh đó, họ nhận thức đó là một sự thiếu nghị lực. Nhiều người sau khi đến vấn kế tướng Minh Dương đều trở về với câu hỏi trong đầu, giống như Staline đối diện với tòa thánh Vatican vậy : lực lượng thứ ba có bao nhiêu sư đoàn ? Bản thân ông Minh cũng có câu hỏi tương tự. Ông tướng nầy đi dây giữa CPLTCHMN và Chánh Phủ Sàigon . Ông có mặt khắp nơi mà cũng không có mặt nơi nào hết. Ông thản nhiên giữ liên lạc tốt với Thủ tướng Khiêm, một ông tướng bốn sao như ông. Trong giới lăng xăng chạy theo tướng Minh, người ta thường thấy những tài tử nhưng cũng có nhiều người tài trí lỗi lạc.. Một trong những người cố vấn chánh trị của ông là ông Tôn thất Thiện, lại có những lời nói bất lợi cho ông Minh về khía cạnh chánh trị :

    ” Ông Minh là người Nam, là một Phật tử, ông được khắp Miền Nam Việt Nam ủng hộ, từ Huế đến Sàigon. Ông là một quân nhân liêm chính, uy tín không hề bị sứt mẻ trong quân đội, ông không có một cao vọng nào cả..”

    Sao lạ vậy ?, Một người làm chánh trị mà lại không có một ước vọng hay một tham vọng nào hết ! được sao ?

    Chung quanh ông Minh, có vài người chờ đợi ông ta phải có quyết định, hoặc mong có những tình huống bắt buộc ông ta phải nắm chánh quyền : ông Vũ văn Mẫu, tiến sĩ luật, đã từng là Tổng trưởng ngoại giao. Ôn nầy chủ trương hòa bình hơn ai hết, bảo trợ cho “lực lượng hòa giải”, một phong trào, một chủ trương chớ không phải là một đảng. Một người nữa là ông Nguyễn văn Huyền, một tín đồ Ki tô giáo thuần thành hơn là một chánh trị gia, một người thần học hơn là một người có tinh thần thực tế, ông từ chức nghị sĩ Quốc Hội để phản đối đường lối chánh trị của ông Thiệu. Ông Huyền đã đánh bại một người của ông Thiệu trong Quốc Hội để lên đảm nhiệm chức vụ Chủ Tịch Thượng Viện. Người ta thấy ít sợ nhưng kính nể ông Minh Dương và những người của ông ta. Qua phát biểu hay những bản tuyên bố, ông Minh đòi hỏi quyền hội họp và nhu cầu phải có những tổ chức chánh trị thật sự, của cả hai Bên. Ông Minh Dương không nuôi một ảo tưởng nào đối với chế độ Hà Nội, tuy nhiên ông nhân danh “hòa hợp hòa giải”, ông thường tránh không trực diện nói tới cộng sản Bắc Việt trong những phát biểu chánh thức của ông. Ông cũng không xem thường những chi tiết rất quan trọng của giới tiểu tư sản và tư sản ở Miền Nam. Ông đòi hỏi phải bải bỏ chiếu khán xuất ngoại hay nhập cảnh cho mọi công dân Việt Nam . Trong cố gắng là “một người của tất cả mọi người “, ông không thành “một người nào” của ai hết ! Có thể ông ta đang tiến từng bước một để đợi thời cơ thuận tiện chăng ?

    Trên lý thuyết thì Chánh Phủ VNCH và CPLTCHMN đang tiến hành thương lượng, đàm phán với nhau tại La Celle-Saint-Cloud (Pháp) về tương lai và thành phần của một Chánh Phủ ở Miền Nam , nhưng trên thực tế thì các phiên họp đã ngưng lâu rồi. Nếu ở đó hai Bên thỏa thuận về cái tên của ông Minh Dương, thì ông nầy sẽ có hành động gì ? Ông ta không khi nào dám trả lời một cách rõ ràng. Ông thì thầm một vài câu bâng quơ như là “Tôi muốn phục vụ Tổ Quốc của tôi với sự yểm trợ của dân tộc tôi ..” . Người ta đồng ý chấp nhận điều nầy rồi, nhưng cho tới giờ nầy điều đó không thấy có gì thực tế hay hữu hiệu cả. Trong vụ tịch thâu báo chí, ông Minh Dương đã cho là mình đã tích cực can dự vào, nhưng ông Thiệu không hề ghi nhận được điều gì hết.

    Mặc dầu bị cấm nhưng đó đây người ta đã nghe tiếng pháo truyền thống nổ vang…. báo hiệu Sàigon cũng đã “ăn Tết”. Các Phật tử rập riều đi chùa, cố tìm một niềm vui vừa phải thôi ! Không một người Việt Nam nào mà không nghĩ tới ngày Tết năm Mậu Thân (1968). Lúc bấy giờ trái với truyền thống Việt Nam , không tôn trọng lệnh hưu chiến mà họ đã thỏa hiệp, cộng sản đã tiến hành một cuộc tấn công khắp Miền Nam Việt Nam. Cho nên cứ mỗi lần Tết đến là người ta tự hỏi : Liệu cộng sản có dở lại cái trò đó nữa hay không ?

    Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa đã có tiên liệu nên đã không cho công chức nghỉ, và cấm quân nhân nghỉ phép dài hạn. Mỗi người chỉ có một ngày rưỡi phép thôi. Dè dặt hơn, Bộ trưởng Giáo Dục cho học sinh sinh viên nghỉ hai tuần để tránh các cuộc biểu tình ủng hộ các nhà báo.

    Ngày 17 tháng hai, Chánh Phủ rút lại một số cáo buộc đối với báo chí. Ngày 18, một phiên tòa đã tha bổng các nhật báo từng bị tố cáo là vi phạm luật báo chí, mà ông Thiệu nghĩ là phải cần được tu chỉnh lại. Ngành Tư Pháp ở Miền Nam hoàn toàn không lệ thuộc vào Hành Pháp: Tòa án buộc Bộ Nội Vụ phải bồi thường 200.000 đồng thiệt hại cho nhật báo Sóng Thần.

    Cuối cùng rồi người ta thấy Chánh Phủ giải quyết một cách êm đẹp cuộc khủng khoản nầy. Cuộc xáo trộn lắng xuống ngay. Những phán quyết cuối cùng của Tòa án đã làm dịu ngay cảm tưởng của ủy ban đại diện Thượng Viện Hoa Kỳ , một điều mà cả ông Thiệu và các Bộ trưởng của ông đã trông chờ.

    Một phái đoàn của Việt Nam Cộng Hòa đã đến Bộ Ngoại Giao và Quốc Hội Hoa Kỳ để giải thích lập trường của Miền Nam . Ông Kisinger đã rời khỏi Hoa Thạnh Đốn từ ngày 13 tháng hai, đi một vòng sang Ai Cập, Syrie, Do Thái, Arabie Saoudite, Cộng hòa Liên bang Đức, và cuối cùng sẽ đến Genève để gập ông André Gromyko Ngoại trưởng Liên Xô. Chuyến đi nầy có thể giúp ích cho Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa . Người ta nói tới một sự viện trợ của Arabie Saoudite cho Miền Nam vì Quốc Vương Faysât của quốc gia nầy ca tụng sự chiến đấu chống cộng sản của quân dân Miền Nam Việt Nam .

    Tại thủ đô Hoa Thạnh Đốn, phái đoàn Việt Nam Cộng Hòa do một nhà ngoại giao khôn ngoan và thận trọng là ông Trần văn Lắm, Chủ tịch Thượng Viện hướng dẫn, đã được Tổng Thống Gerald Ford tiếp kiến. Tổng Thống Ford nói :

    – ” Tôi muốn tỏ lòng khâm phục của tôi đối với cuộc chiến đấu hào hùng của quý vị và đồng bào Miền Nam của quý vị, trong cuộc chiến để gìn giữ sự Tự Do của dân chúng Miền Nam … Tôi tin chắc rằng quý vị đã biết được nỗ lực của cá nhân tôi để đạt được một sự viện trợ và một sự giúp đõ hữu hiệu cho đất nước của quý vị. Tôi mong rằng cuối cùng rồi Chánh Phủ Miền Bắc cũng phải thấy được lòng kiên trì và quyết tâm của quân dân Miền Nam để họ chấp nhận thi hành đúng đắn Hiệp Định Paris.”

    Liệu ông Ford có tin vào những gì ông đã nói hay không ? Đặc phái viên của ông Thiệu và những người đồng viện của ông ta có cảm giác rằng phần đông những nhân vật mà họ đã gặp và nói chuyện ở Hoa Thạnh Đốn đều không còn muốn nghe đến hai chữ Việt Nam nữa. Những tiếng thở dài mệt mỏi và những hứa hẹn mơ hồ không thế nào dối gạt ai được hết….

    Tại Câu lạc bộ Báo Chí quốc gia, ông Trần văn Lắm đã phát biểu :

    – ” Đúng ra bài toán không phải ở vấn đề viện trợ bổ túc. Trong những năm trước , người ta phải chi 100.000 mỹ kim mỗi ngày lúc đang có gần 500.000 lính Mỹ hiện diện ở Việt Nam. Bây giờ Tổng Thống Ford chỉ xin có 300 triệu mỹ kim, một con số đâu có gì là thái quá đâu ?

    Tại Hoa Thạnh Đốn ông Trần văn Lắm đã nhìn thấy quá rõ , người ta không ngừng nhắm vào tánh chất chuyên quyền của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, một luận cứ mà những người phản chiến đang tạo ra và đang đẩy mạnh trên mặt trận truyền thông. Một số thành viên của phái đoàn Quốc Hội Hoa Kỳ sắp qua Sàigon , nhất là bà Bella Abzug, dân biểu của tiểu bang New York, đã nêu lên mối bận tâm của họ đến vấn đề tù chánh trị ở Miền Nam .

    Ông Trần văn Lắm nói :

    – ” Quốc gia chúng tôi thực tế được sanh ra từ trong chiến tranh. Cho nên nước Việt Nam không bao giờ có khả năng thực hành hoàn toàn Dân Chủ. Dù thể chế chúng tôi có một vài khuyết điểm, nhưng ít nhất điều nầy cũng giúp được chúng tôi nhiều khả năng để chuyển đổi..

    Những lời nói của ông Lắm không ra ngoài tầm nhận xét của những người ủng hộ chế độ Miền Nam . Trong thâm tâm ông muốn nhấn mạnh rằng sự chuyên quyền hay độc tài của cánh hữu còn có thể chuyển đổi được , khác hẳn với sự độc tài ở cánh tả của cộng sản ở Miền Bắc .

    Ông Lắm và các bạn đồng viện của ông rất là khó chịu. Trong sự chú tâm của Hoa Thạnh Đốn về Đông Nam Á , người ta chỉ nghỉ tới Cam Bốt mà thôi.

    Ngày 13 tháng hai, phúc trình phân tách cập nhật của Cơ Quan Tình Báo Trung Ương nêu lên hai dự đoán là cộng sản có ý định “chiếm toàn bộ tỉnh Tây Ninh như họ đã chiếm tỉnh Phước Long tháng trước ” và “Sàigon sẽ phải nỗ lực rất nhiều trong việc phòng thủ tỉnh Tây Ninh.”

    Có rất nhiều chuyên viên trong guồng máy chánh quyền cũng như trong những cơ quan nghiên cứu tư ở Hoa Kỳ đã có nhiều dự đoán trong gần 20 năm qua. Các ông nầy xem chừng như rất thích thú khi họ muốn đem những dữ kiện khoa học ra xử dụng để tìm đáp số xuống thang cho cuộc chiến . Họ quên rằng không thể có vấn đề khoa học trong số lượng hành động của con người , nhất là trong chiến tranh. Đó chỉ là giấc mơ của khoa xã hội học và của tất cả khoa nhân loại học, thường không phải thuộc lãnh vực khoa học mà cũng không liên quan đến nhân loại. Nhưng từ trào của ông Robert Mc Namara ở Ngũ Giác Đài, thì ý muốn của mấy ông nầy trở thành bất biến !

    Sự ám ảnh nầy đã được thấy rõ ràng trong một báo cáo của một nhà nghiên cứu tên là Warren Phillips, được trình lên trong một buổi gặp gỡ thường niên của “Hội Nghiên Cứu Quốc Tế” ở Hoa Thạnh Đốn từ ngày 18 đến 23 tháng hai. Bản báo cáo có tựa đề là ” ông Henry có thành công một mình được không ? “. Ông Henry Kissinger có thể nào ép buộc Bắc Việt phải thương lượng hay không ? Ông Phillips dựa trên thuyết của ông Markov và những tiến bộ kỹ thuật của ông ta. Ông Phillips cho rằng :” muốn thấy được hành động của một nước nào đó đối với một quốc gia khác, thì phải phóng chiếu tới tương lai xem nước đó đã có hành động nào trong cùng một lãnh vực trong quá khứ gần nhất.” Người ta giả dụ là những thay đổi và những triệu chứng phản ảnh hành động trong quá khứ có thể dùng để phỏng đoán được những bước hành động trong thời gian sấp tới. Đắm chìm trong cái lối nhìn cuộc chiến theo toán học, một lớp trí thức của Hoa Kỳ trong các bộ tham mưu hay trong các viện nghiên cứu tư nhân, say mê với các con số lũy thừa, các đường cong diễn biến (pa-ra-bol) lô-ga-rít của đại số học, để thiết lập đồ thị dẫn giải về lịch sử, về thuyết tương quan, đa dạng v.v….

    Theo chiều hướng đó, ông Phillips xem xét lối cư xử và hành động của Miền Bắc trong những năm từ 1971 đến 1973, để thiết lập những phương trình khá lạ lùng : Hảy tưởng tượng một quốc gia “Q” nào đó, với những mẩu số đã có X (đầu vô), và những mẩu số Y (đầu ra) …

    “X———————Q———————–Y”

    Và ông Philipps chọn những con số để phân loại các phản ứng của Bắc Việt đối với Hoa Kỳ , Liên Xô, và Trung Cộng:

    – 3 (trừ 3) = rất “không thân thiện”

    – 2 (trừ 2) = “không thân thiện”

    – 1 (trừ 1) = “không thân thiện” ít thôi

    0 = trung lập (trung dung, không thân thiện, không chống đối)

    + 1 (cộng 1) = “thân thiện” ít thôi

    + 2 (cộng 2) = “thân thiện”

    + 3 (cộng 3) = rất “thân thiện”

    Ông Philipps thiết lập một lô phương trình trên 31 trang giấy và sự nghiên cứu theo dõi của ông dẫn tới một kết luận quá vô vị : kết quả quan trọng của sự nghiên cứu nầy cho thấy phản ứng của Bắc Việt thay đổi từng thời kỳ, và ông nói một cách ngây thơ rằng “trong hiện tại, không hiểu tại sao Bắc Việt lại từ chiến lược nầy nhảy sang một chiến lược khác ? ” Tại sao một lúc nào đó họ đàm phán để rồi lại tiếp tục đánh nhau, và ngược lại? Do đó ông Philipps thú nhận là “chúng ta cần rất nhiều tin tức về các quyết định trong nội bộ đảng cộng sản Bắc Việt trước khi có thể quyết đoán được họ sẽ có hành động nào đối với quốc tế.””

    Trong những năm gần đây đã có rất nhiều bản nghiên cứu loại nầy, nhưng bản nghiên cứu của ông Warren Philipps không được hai Bộ Ngoại Giao và Quốc Phòng Hoa Kỳ để ý tới. Vì giống như một bức tranh biếm họa, bản nghiên cứu loại nầy chỉ đại diện cho một khuynh hướng của một số trí thức nào đó ở Hoa Kỳ đối với bài toán Việt Nam mà thôi.

    Clausewitz đã có nói : ” Đây cho thấy tại sao các công trình nặng về lý thuyết và phê bình của chúng ta thay vì phải sáng sủa và giản dị, vì có như thế thì tác giả mới biết mình viết cái gì và độc giả mới biết mình đọc cái gì… thì có những danh từ kỹ thuật, tối nghĩa, trừu tượng làm cho người viết và người đọc phải xa cách nhau. Tệ hơn nữa đó lại chỉ là những chiếc thùng rỗng ! Ngay như tác giả cũng không nắm rõ thực nghĩa của các danh từ đó, và phải chấp nhận một trạng thái mập mờ mà ông ta cũng không hài lòng lắm khi phải dùng ngôn ngữ để nói lên những danh từ đó.

    Người dân Hoa Kỳ có quan niệm lạc quan hơn là bi quan: Họ muốn rằng Lịch Sử, trong chiến tranh cũng như trong hòa bình đều phải hợp lý. Trong thập niên 70, Hoa Kỳ sống trong một giai đoạn mà kỹ thuật đang tiến vượt bực gồm các sự phát triển có tính cách quyết định về tin học. Thì làm sao họ không có thể đánh gục được một quốc gia nhỏ bé chậm phát triển như Bắc Việt khi mà họ đã lên được cung Trăng ?

    Các máy điện toán (vi tính) đã cho những kết quả rất thú vị khi được đối chiếu với những thông số thường, như thuyết “hấp lực” của ông Newton . Các loại máy nầy chắc cũng phải cung cấp được nhiều loại dữ kiện hơn nữa để hiểu được xã hội và các lãnh đạo chánh trị . Kỹ thuật và phương pháp tin học trong khoa nhân chũng học đã rất thịnh hành ở Phương Tây, nhất là ở Hoa Kỳ , nơi mà ngành tin học đã tiến triển vượt bực. Đó đây có những người như Warren Philipps và những máy vi tính đã cho ra những kết quả vô nghĩa vì các dữ kiện hoàn toàn sai lạc hay quá đơn giản. Các máy điện toán không va chạm được với thực tế. Với một ông Philipps tự tin là nắm được thái độ và hành động của Bắc Việt xuyên qua thuyết của ông Markov, thì chiến tranh là một chuyện không thực tế, càng không thực tế hơn vì đối với một sử gia của thế kỷ 20 thì đó là là một cuộc chiến của thời Trung cổ.

    Người ta không thể nào hiểu được người cộng sản Miền Bắc đã tính phải làm gì trong những năm 1963, 1965, 1968, 1972, 1973 . Người ta cũng không biết bây giờ họ sẽ có hành động thế nào trong tháng hai 1975. Với một trình độ hiểu biết tối thiểu về chánh trị, sau một thời gian tiếp xúc có thể nói là cạn cợt với Lenine, người ta phải biết và phải dự đoán được là Bắc Việt sẽ không bao giờ tôn trọng Hiệp Định Paris. Những nhà sưu tầm nghiên cứu Hoa Kỳ ở Trung Ương Tình Báo hay các chỗ khác đã có những tin tức chính xác, nhưng cũng giống như ông Philipps họ không thể nào nắm bắt được ý nghĩ trong đầu củaTổng bí thư Lê Duẫn ở Hà Nội hay của các tướng lãnh Bắc Việt. Một yếu tố căn bản là ý chí độc tôn, một sự tình nguyện cuồng dại có tăng mà không có giảm của lãnh đạo đảng … những yếu tố nầy không thể đưa được vào một phương trình hay một máy vi tính nào được hết.

    Ngày 23 tháng hai, ở phiên họp cuối cùng của Hội Nghiên Cứu Quốc Tế, ông James Schlesinger vẫn không loại trừ một sự can thiệp của Hoa Kỳ , nhưng khi được đài ABC phỏng vấn trên hệ thống truyền hình, ông tổng trưởng Quốc Phòng phải giữ sự dè dặt :

    – ” Đó là một khả năng hành động còn xa lắm….

    Ông ta cũng chỉ nghĩ đến Cam Bốt :

    -” Chắc chắn là Cam Bốt sẽ rơi vào tay cộng sản , nếu Quốc Hội không chấp thuận một ngân khoản viện trợ quân sự bổ túc..”

    Ngày hôm sau, Tổng Thống Ford viết cho ông Thiệu, để trả lời cho những bức thư mà ông Thiệu đã gởi cho ông ngày 24 và 25 tháng giêng, theo đó ông Thiệu muốn biết ý định của Hoa Kỳ sau khi cộng sản chiếm tỉnh Phước Long.

    Ông Ford chỉ nói chung chung để cá nhân ông khỏi bị dính vào cam kết nào cả:

    – “ Tôi chia xẻ nổi ưu tư của ông. Tôi muốn đoan chắc với ông rằng Chánh Phủ của tôi tiếp tục nhấn mạnh để Hiệp Định Paris được thi hành đúng đắn”

    Nói chuyện thi hành Hiệp Định Paris sau khi Miền Nam bị cộng sản Bắc Việt chiếm cả một tỉnh, đã cho thấy một sự giả nhân giả nghĩa quá ngây ngô hoặc một sự ngu đốt không thực tế chút nào của Hoa Kỳ .

    Ông Ford còn viết tiếp :

    – ” Một lần nữa, quân dân Miền Nam đã chứng tỏ quyết tâm của họ trước các cuộc tấn công của Hà Nội . Mặc dầu thiếu thốn về đạn dược và bị tràn ngập cả ở tỉnh Phước Long và ở ngọn núi Bà Đen vì địch quân có một số lượng quá áp đảo về quân số, nhưng sự chiến đấu dũng cảm của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã làm cho tôi rất khâm phục. “

    Ông Ford nhìn nhận rằng bài toán chính yếu của quân dân Miền Nam là : thiếu thốn vũ khí và đạn dược. Núi Bà Đen, một ngọn núi nhỏ thuộc tỉnh Tây Ninh, nằm sát biên giới Cam Bốt đã bị cộng sản tấn chiếm, là một trạm tiếp vận truyền tin rất quan trọng. Bộ chỉ huy Bắc Việt hay nói đúng hơn là tướng Trần văn Trà đã tổ chức một cuộc tấn công dương Đông kích Tây đánh lạc hướng , nhằm làm cho người ta lầm tưởng rằng cộng sản Bắc Việt sẽ mở các cuộc tấn công quy mô vào vùng nầy .

    Ông Ford còn giải thích thêm cho ông Thiệu để ông nầy phải tin chắc rằng là nếu cuộc chiến còn kéo dài, phần lỗi sẽ thuộc về phía Bắc Việt:

    – “ Chúng tôi tiếp tục tin rằng việc thi hành Hiệp Định Paris qua việc đàm phán trực tiếp giữa hai Bên Việt Nam là phương cách nhanh nhứt, thích hợp nhất và hữu hiệu nhất để chấm dứt cuộc đổ máu…. “

    Lá thư cũng nhắc lại một cách mơ hồ :

    – ” Chúng tôi sẽ làm hết sức của chúng tôi để cung cấp sự giúp đở tối cần thiết cho sự chiến đấu của quân dân Miền Nam cho tới khi đạt được nền hòa bình.”

    Nói gì thì nói, vẫn không có vấn đề gởi pháo đài bay B.52 hay chiến đấu oanh tạc cơ “Con Ma” (Phantom), dĩ nhiên là không thể có bộ binh ! Ông Ford chỉ có một cam kết duy nhất là “xin Quốc Hội ngân khoản”

    Ông Thiệu đang ở trong một trận chiến mà ông không sao thấy được phần kết cuộc. Còn ông Ford nói về “hòa bình” như là một vật gì đó đang nằm ở góc đưòng, mặc dầu ông ta vẫn nói : con đường đi tới hòa bình không bao giờ dễ dàng đâu. Từ lâu rồi, con đường nầy ở Việt Nam rất là dài và rất là khó khăn. Biết là nó đã như thế từ lâu rồi ? Vậy trong tương lai con đường nầy có còn như thế hay không ?

    Ngày 27 tháng hai; những người có trách nhiệm ở Nhà Trắng có trong tay một bản báo cáo phân tách tổng hợp của tất cả các cơ quan tình báo : “Bắc Việt sắp chuyển vào Nam một trong những sư đoàn trừ bị, đó là sư đoàn 341 E. “

    Chú Thích của dịch giả:

    (1) Câu nói của Phạm xuân Ẩn, một cán bộ cộng sản cao cấp nằm vùng, có chủ ý rõ ràng là: che dấu kế hoạch tổng tấn công của cộng sản Miền Bắc .Sau ngày 30/4/1975, Phạm xuân Ẩn lộ nguyên hình là Đại tá cộng sản đặc trách Tình Báo của Hà Nội, nằm vùng tại Miền Nam. Trước 30/4/75 không hiểu tại sau ông lại cho Mỹ bốc cả vợ con ông sang Mỹ, nhưng sau 30/4/75 cộng sản buộc vợ con ông phải về lại Việt Nam nên họ phải trở về qua ngã Đông Âu, rồi Liên Xô để từ đó về lại Sàigon . Đến cuối thập niên 80, ông được Hà Nội tuyên dương công trạng và được vinh thăng Thiếu tướng, hiện vẫn phục vụ trong ngành Tình Báo quốc nội, cho đến ngày hôm nay. Sau 1975 hai người ký giả bạn trong “ba chàng ngự lâm pháo thủ” là Cao Giao và ông Vượng mới biết được mặt thật của Phạm xuân Ẩn. Hai ông nầy đều đã qua đời…..

    (2). (nguyên tác :Général Dương văn Nhật). Sau 30/4/1975 mới biết được ông nầy không phải cấp tướng mà chỉ là một trung tá việt cộng tập kết ra Hà Nội năm 1954, không thuộc hàng ngũ của quân đội Bắc Việt, nhưng được cộng sản đưa trở về Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và được cộng sản bố trí, cho kín đáo vào nằm phục ngay tại nhà ông anh ruột là tướng Minh Dương tại góc đường Trần quy Cáp Sàigon, như một sĩ quan liên lạc của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, qua Dương văn Nhật cộng sản đã hướng dẫn tướng Minh Dương cách thức”đoạt” lấy quyền hành từ tay ông Thiệu và ông Trần văn Hương. Chỉ với tư cách tổng tư lệnh ông mới ngăn cản mọi nỗ lực tiếp tục chiến đấu của QLVNCH (nhất là ở Vùng IV Chiến Thuật), ra lịnh cho quân đội buông súng, và tuyên bố đầu hàng, dâng Miền Nam cho giặc cộng!

    (3) Phần nói về giáo phái Phật Giáo Hòa Hảo nầy dịch giả có bỏ bớt một đoạn nhỏ (2 câu). Vì hoặc tác giả không nắm vững vấn đề hoặc nghe theo luận điệu của nhóm nào đó nên đã viết không đúng sự thật. Phần lớn có lẽ tác giả dựa trên một số dữ kiện cũ, từ Đệ Nhất Cộng Hòa thời Tổng Thống Diệm. Những dữ kiện nầy đến thời Đệ nhị Cộng Hòa đều không còn giá trị nào nữa. Vì lực lượng Hòa Hảo đã hợp tác chặt chẻ với Chánh Phủ của ông Thiệu từ Lập Pháp đến Hành Pháp và trong lực lượng bán chánh quy trong công tác chống cộng mà không có một đòi hỏi nào cả cho đến ngày 30/4/75, Sau khi tiếp thu Miền Nam, bằng những cuộc hành quyết dã man cộng sản đã trút tất cả hận thù lên biết bao nhiêu là viên chức quân sự và hành chánh gốc Phật Giáo Hòa Hảo, kể cả dân biểu (cấp tổng, xã và ấp) như dùng búa đập đầu hay mã tấu chặt đầu sau khi đánh đập hành hạ dã man thay vì xử bắn.. thậm chí đến người đã chết rồi từ lâu cũng đào mả đem cả hòm ra giữa chợ để đấu tố. Dân chúng các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long là nhân chứng sống cho thái độ tàn ác và dã man của cộng sản vì lực lượng nầy đã hợp tác quá tích cực với các cấp chánh quyền và QLVNCH trong công tác chống cộng, cũng như đã cung cấp một phần nhân lực bổ sung cho tất cả các đơn vị chánh quy và Bảo An của Miền Nam nói chung và Miền Tây nói riêng.

    (4) Đúng là cộng sản đã mớm cho ông những danh từ “hoà giải”, “hòa hợp” từ lúc nầy rồi, có nghĩa là từ lúc ông sống “lưu vong” ở BangKok (Thái Lan 1964-1969) vì từ trước 1963 làm gì ông biết nói chuyện “hòa hợp hòa giải” ?

  13. Chương 8

    Chiến dịch 275

    Bắc Việt đã tiến hành được rất nhiều việc trong ba tuần lễ. Họ đã gởi tướng Văn tiến Dũng,Tổng tham mưu trưởng Quân Đội Nhân Dân vào Nam Bộ, với tư cách là Tổng Chỉ huy Chiến dịch.

    Trong một xã hội khép kín và quân phiệt như Bắc Việt thì người ta có thể theo dõi hành tung của một sư đoàn, nhưng hành tung của một cá nhơn thì không thể được . Tướng Dũng đã rời khỏi căn nhà số 33 đường Phạm ngũ Lão ngày 5 tháng 2 lúc 10 giờ sáng để ra phi trường. Ông ta ghi nhận là các cây đào đã bắt đầu trổ bông.

    Ông ta đã kỹ lưỡng dàn cảnh chuyến đi vào Nam của ông cũng như của Sư đoàn:

    – Ông đã ký trước những công hàm để ở nhà chúng sẽ được gởi cho Mông Cổ, cho Đông Đức, cho Liên Xô, mừng ngày thành lập Quân Đội của các quốc gia nầy.

    – Sau khi tướng Dũng rời khỏi Hà Nội thì báo chí ở đây phải đăng những tin tức liên quan đến hoạt động của ông như thanh tra, hội họp với sĩ quan các cấp…v.v….

    – Mỗi ngày lúc 7 giờ sáng và 2 giờ chiều, chiếc xe Volga của ông phải chạy từ nhà đến Bộ Tổng Tham Mưu, rèm xe kéo kín. Và chiếc xe cũng phải trở về nhà lúc 12 giờ trưa và 5 giờ chiều. Ngoài ra người ta thường thấy tướng Dũng hay chơi bóng chuyền với bộ đội gác nhà ông, do đó mỗi buổi chiều các anh bộ đội cũng phải tiếp tục hoạt động thể thao nầy như thường lệ trong sân bóng của tư dinh .

    – Hơn thế nữa, một ngày trước khi ông rời Hà Nội, người thư ký của tướng Dũng lên cơn sốt – thật hay giả không ai thấy được – và một xe cứu thương được gọi đến tận tư dinh đưa người bịnh đi.

    Tướng Dũng bí mật bay vào Nam trên chiếc Antonov 24.

    Người Mỹ không biết được sự có mặt của tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Bắc Việt ở Miền Nam trước tháng 4/75. Toán tham mưu cùng đi với tướng Dũng có mã số là A.75, tướng Dũng lấy bí danh là Tuấn, tướng Giáp là Chiến. Trong hai người ai quan trọng nhất ? Chiến hay là Tuấn ?

    Máy bay đáp xuống Đồng Hới, trên lãnh thổ Bắc Việt . Từ đây toán A.75 được đặt dưới sự điều động của các đơn vị chỉ huy thuộc “559”, Bộ Tư Lệnh đường mòn Hồ chí Minh. Tướng Dũng và đoàn hộ tống đi xe tới Bến Hải, dùng ca nô máy vượt vĩ tuyến 17, làn ranh phi quân sự của hai Miền Nam Bắc . Sau đó đoàn A.75 dùng cả quân xa và xe vận tải thuộc Bộ GiaoThông Vận Tải để đi tiếp xuống Miền Nam .

    Trên đường xuôi Nam, dù đôi lúc phải còn dùng con đường mòn, quang cảnh làm cho tướng Dũng thích thú khi nghĩ rằng không có gì khích lệ bằng nhìn thấy “bộ đội của mình di chuyển bằng phương tiện cơ giới” . Người dân Miền Bắc đã tiết kiệm được từ ngày nầy qua ngày khác, từ tháng nầy qua tháng khác, để dành tất cả cho chiến trường Miền Nam , và chờ một cơ hội lớn. Họ đã che dấu được tất cã những gì mà họ đã trử trong 10 năm nay mà các cơ quan của Miền Nam của Hoa Kỳ , thậm chí đến Liên Xô và Trung Quốc cũng không thể biết được . Các sĩ quan Liên xô và Trung Quốc không được tự do đi lại được ở Miền Bắc , dĩ nhiên không bao giờ vào trong Nam được . Nhữntg ước tính của họ không bao giờ chính xác được vì người cộng sản Việt Nam có kỹ thuật phân tán, mà họ gọi là “sơ tán”. Thường là họ để một tấn đạn dược ở đây, hai tấn ở chỗ kia, trong những thôn ấp và được che dấu và nghi trang cẩn thận. Họ cũng có những kho lớn mà chỉ có họ mới nhận ra được mà thôi. Nhưng đối với các đồng chí Liên Xô và Trung Cộng, cũng như đối với Hoa Kỳ và Miền Nam Việt Nam , họ có thể dấu kín hàng ngàn tấn đạn dược bằng lối sơ tán nầy.

    Khi tới Bộ Tư Lệnh 559, tướng Dũng nghỉ trong một nhà tranh và không thể nào chợp mắt được với quá nhiều câu hỏi trong đầu :

    ” Làm sao biến ý chí “giải phóng Miền Nam ” của Bộ Chánh Trị thành hành động ?, Làm thế nào để giật được chiến thắng ở vùng Cao Nguyên?… Làm sao chiếm được Ban mê Thuột ? Làm thế nào để cho Miền Nam Việt Nam phải sụp đổ trong một thời gian ngắn đây ?”

    Tướng Dũng cũng nghĩ đến lề lối tác chiến độc đáo của bộ đội Bắc Việt trong hơn 30 năm qua: ” Đánh bất ngờ, đập thật mạnh vào trung tâm đầu não…. “

    Tôn Tử có nói : “Địch phải không biết được tôi sẽ đánh chỗ nào. Vì như thế họ mới phải chuẩn bị đối phó ở nhiều nơi. Và khi mà họ phân tán lực lượng ra nhiều nơi như vậy thì chỗ tôi định đánh họ sẽ không có nhiều quân. Và khi mà họ đưa quân ra nhiều nơi tiền tuyến thì hậu cứ của họ sẽ yếu, còn nếu họ muốn giữ cho hậu cứ mạnh thì tiến tuyến của họ sẽ yếu đi. Nếu họ chuẩn bị đề phòng ở bên tả thì bên hữu của họ sẽ yếu, và ngược lại nếu họ lo phòng vệ bên hữu thì bên trái sẽ không có nhiều quân…. Mà khi họ muốn phòng thủ khắp mọi nơi thì chỗ nào họ cũng yếu “

    Còn Clausewitz thì lại nói ngắn gọn hơn : ” Chúng ta nói “bất ngờ” là yếu tố căn bản của mọi hành động, không có ngoại lệ.”

    Sự độc đáo trong tác chiến của bộ đội Bắc Việt không phải chỉ có yếu tố bất ngờ mà còn phải chuẩn bị cho sự bất ngờ đó trong nhiều năm chớ không phải chỉ trong nhiều tháng. Một trong những lợi khí không thể đo lường được của họ là thời gian, lợi khí khác là sự bền chí.

    Là một nhà tiếp vận thận trọng, đi đến đâu tướng Dũng cũng phải biết chắc là các sư đoàn của ông ta có đủ xăng nhớt, có đủ quân xa, vũ khí và đạn dược cần thiết, ông ta cần phải nhìn rõ và muốn được nhìn rõ. Lúc bấy giờ ông ta không thể tin chắc vào khả năng hiện có của mình: “Có thể đập mạnh được hay không đây ? trong những điều kiện như thế nầy, ta có đủ khả năng hay không đây ?”

    Để cho cuộc di chuyển của ông được dễ dàng, người ta có gắn thêm vào bảng số xe của ông bản hiệu “T.50”. Điều nầy có nghĩa là xe của ông ta được ưu tiên số 1, và xe của ông cũng dễ được nhận dạng. Ở một đoạn nào đó, có nhiều toán nhân công nữ tình nguyện hay được chỉ định. Họ đang sửa đường. Tướng Dũng ngừng xe lại. Một số nữ quân nhân nói với ông :

    – Thủ trưởng ơi, Tết sấp đến rồi mà thư từ vẫn chưa đến !

    Mỗi khi Tết đến là họ trao đổi quà cáp với nhau. Một thành viên của đoàn A.75 cho toán nữ quân nhân nầy một gói “kẹp tóc” . Ở một đoạn khác, đoàn xe của tướng Dũng gập những xe trống, đi ngược chiều về hướng Bắc. Một người tài xế nói :

    – ” Thủ trưởng ơi, gần ngàyTết rồi mà chúng tôi không có một điếu thuốc ! Những người đi với tướng Dũng không thiếu thuốc lá, và ông ta đem ra phân phát cho nhóm tài xế nầy. Ở một chỗ khác đoàn xe bắt kịp sư đoàn 316, hoàn toàn cơ động. Sư đoàn có trên 500 quân xa và nhiều chiến xa, nhiều xe bọc sắt. Vốn khởi đầu cuộc chiến 30 năm về trước bằng loại súng trường bắn từ phát một, tướng Dũng cảm thấy thỏa mãn lạ thường khi thấy các xe Zil.31 kéo những khẩu đại bác 122 và 130 ly, các xe tăng T.54 và những pháo đội hỏa tiển SA 2. Tất cả sĩ quan thuộc sư đoàn 316 đều được lệnh tuyệt đối im lặng vô tuyến, Nếu không thì khó mà làm cho trên 10.000 người phải giữ im lặng, nhưng quân đội Miền Bắc có kỷ luật. Đối với một vị tư lệnh chiến trường, muốn đạt được sự bất ngờ thì cần phải có 2 điều: một là không để bị người ta dò tìm được lực lượng của mình ở đâu , và hai là cho người ta có cảm tưởng rằng lực lượng của mình hiện ở đâu đó xa lắm. Trong hiện tại các cuộc hành quân dự trù có một cái tên rất dản dị không văn hoa: chiến dịch 275.

    Từ các đơn vị tác chiến hiện đang có mặt ở trong Nam cho đến báo chí ở Hà Nội , người ta không tiên đoán được chiến thắng. Các mục tuyên truyền chỉ nhắm vào “năm” làm mốc. Tờ báo của đảng là tờ Nhân Dân lập lại là “năm 1975 là một năm đánh dấu những bước quan trọng của cách mạng Việt Nam : đảng chúng ta vừa tròn 45 tuổi, đất nước chúng ta 30 tuổi, và năm nay chúng ta tổ chức ngày sinh nhật thứ 85 của người đã sáng lập đảng và khai sanh nước Cộng Hòa Dân Chủ Việt Nam của chúng ta .”

    Người ta không thấy được hình của Hồ chí Minh ở tiền tuyến cũng như ở hậu phương. do đó làm cho người ta nghĩ rằng ở chỗ khác cũng không có. Nhưng người ta chỉ nghe thôi về sự tôn sùng cá nhân ở Mạc tư Khoa hay ở Bắc Kinh . Những câu châm ngôn và thơ phú của bác Hồ nhiều khi còn mạnh hơn là vấn đề tôn sùng cá nhân. Tất cả binh sĩ, hạ sĩ quan và sĩ quan đều nghe mãi một câu được nhắc đi nhắc lại cả ngàn lần : “Không có gì quý hơn Độc Lập Tự Do “. Hồ chí Minh được sanh vào tháng 5 dương lịch.

    Tổng Thống Gerald Ford có một định kiến rất là Mỹ: nhất là cho các thành viên của Quốc Hội, ông tin rằng nếu người ta trình những sự kiện dưới một ánh sáng mới, các sự kiện đó có thể làm thay đổi dư luận và kế đó là thay đổi luôn số phiếu bầu. Ông Ford đặt tin tưởng vào phái đoàn các nghị sĩ và dân biểu quốc Hội đang đến SàiGòn để có thể chuyển đổi tư tưởng của một số lớn dân cử trong Quốc Hội.Thơ mời được ông Philip Habib, Phụ tá Tổng Trưởng Ngoại Giao đặc trách Đông Nam Á Châu gởi đi. Ông nầy dự trù một phái đoàn khoảng 20 vị. Thông thường thì các vị được người dân bầu lên ở Hoa Kỳ cũng như các nơi khác trên thế giới, đều thích đi chơi đó đây với ngân khoản của những người đóng thuế, nhưng sau nhiều vòng đàm phán tay ba giữa Bộ Ngoại Giao, Nhà Trắng và Quốc Hội, thì người ta chỉ chấp thuận một phái đoàn 10 người gồm : 1 nghị sĩ Dân Chủ ông Dewey Barlett, hướng dẫn phái đoàn, và các dân biểu gồm 1 chủ tịch, ông John Flynt và các thành viên Bella Abzuzg, William Chappel, Donald Fraser, John Murtah, Samuel Straton thuộc đảng Dân Chủ, và Millicent Fewnwick, Jack Kemp, Paul McCloskey thuộc đảng Cộng Hòa. Đối với Nhà Trắng thì đây không phải là một thành phần lý tưởng. Vì trong số 9 vị dân biểu, đã có 4 vị thuộc đảng Dân Chủ đã cùng ký vào một cái văn bản với 78 vị khác để đòi hỏi phải giảm dần viện trợ cho Việt Nam .

    Tại SàiGòn, ở Dinh Độc Lập và Tòa Đại sứ Mỹ, người ta nhìn phái đoàn Quốc Hội Hoa Kỳ như là một cơ may cuối cùng cho 300 triệu mỹ kim mà Tổng Thống Ford đã đòi hỏi. Ông Philip Habib và đại sứ Martin không mấy ưa nhau. Ông Graham Martin không vui vẻ gì lắm khi được biết là ông Habib đi theo phái đoàn với Eric Von Marbod.

    Ông Thiệu chuẩn bị đón rước và tiếp tân phái đoàn với tất cả sự lưu tâm và lo lắng. Ông đọc cẩn thận các phiếu tiểu sử của từng thành viên do Tòa Đại sứ Hoa Kỳ cung cấp. Bà Bella Abzug, dân biểu của tiểu bang Nửu Ước, là một người khó nuốt, rất nặng ký và thiên về “hòa bình”, bà Millicent Fenwick, một người to con mà hút một ống điếu quá nhỏ…

    Hội đồng nội các nhóm để bàn về phương cách đối phó với phái đoàn. Thủ tướng Khiêm thì muốn tổ chức một chuyến đi thăm viếng xã ấp rất thiết thực. Nhưng ông Thiệu không chịu, và quyết định là mình sẽ đáp ứng mọi đòi hỏi của các thành viên phái đoàn. Để đùa giỡn chơi, ông tiến cử luật sư Vương văn Bắc , Tổng trưởng ngoại giao, một người vui tính và bảnh trai hảy theo sát và o bế bà Abzug, làm mọi người đều cười ầm lên.

    Theo tinh thần của bức thư mà ông Ford vừa gửi tới cho ông, ông Thiệu vẫn còn nhận thấy sự cam kết của Hoa Kỳ . Ông không biết được là Tổng Thống Ford không đọc hết các bức thư của ông Nixon. Ông không nắm được câu chuyện Watergate ở Hoa Thạnh Đốn đã làm tổn thương quyền lực và sức mạnh của Tổng Thống Hoa Kỳ đến mức độ nào. Ông Thiệu không thấy được việc Quốc Hội muốn lấy lại một số quyền hạn của Nhà Trắng, liên quan đến lãnh vực chánh trị đối ngoại, ông cũng không biết là các cố vấn của ông Ford mong muốn tách rời Tổng Thống của họ ra khỏi bài toán Việt Nam . Vượt ra ngoài các sự kiện nêu trên của các giới chức Mỹ, ông Thiệu tiếp tục đặt niềm tin mù quáng quá dễ dàng : ông Ford là ông Nixon, người nào cũng như người nào, ai cũng đại diện và cam kết cho Hoa Kỳ .

    Ông Thiệu không biết ông có cần trưng ra những bức thư của ông Nixon và ông Ford hay không ?Ở sứ quán Hoa Kỳ cuộc viếng thăm bắt đầu không được tốt đẹp lắm. Có vẻ không được trôi chảy. Có trên một chục vị phụ tá hộ tống phái đoàn. Ngoài chương trình do các phòng sở của ông Martin bố trí, các ông phụ tá trẻ nầy chạy lăng xăng khắp SàiGòn lục soát lung tung. Một số người tìm gặp các nhân viên của sứ quán không lạc quan lắm về lãnh đạo. Có những người thuộc cơ quan CIA như Frank Snepp, từ lâu đã nghĩ rằng Hiệp Định Paris là một sự thất bại của Hoa Kỳ, một sự thất bại mà người ta che đậy không khéo. Hơn nữa, anh Snepp nầy không tin là Miền Nam Việt Nam thiếu súng đạn.

    Đại sứ Martin có cảm tưởng là nhiều thành viên của phái đoàn đã có định kiến rồi, điều nầy đôi khi được chứng thực. Họ đã biết trước những gì mà họ đến tìm kiếm rồi, đặc biệt là bà Bella Abzug hung tợn nầy. Họ không có tính cởi mở. Ngay như những dân biểu diều hâu đều thấy ông Martin sắc bén nhưng kém thực tế. Đương nhiên các phòng sở của sứ quán phải có nhiều buổi thuyết trình cho phái đoàn, kể cả Đại Sứ và Phó Đại sứ cũng vậy. Có nhiều chuyện không hay thường xảy ra trong các buỗi thuyết trình. Có một lần vào lúc bắt đầu buổi hội, bà Bella Abzug vừa xuất hiện vừa to tiếng vì muốn gặp trưởng cơ quan tình báo :

    – ” Anh Polgar là anh nào ?

    Ông Đại sứ bực mình khó chịu. Ông không thích người ta điểm danh thuộc cấp của ông như thế. Ông thừa biết là các phụ tá của cả ông nghị sĩ và mấy vị dân biểu muốn tìm gặp những người khác hơn là những người mà sứ quán đã dự trù. Ở văn phòng của Tùy viên Quân lực, phái đoàn đã gặp ông đại tá William le Gro. Ông nầy trao cho phái đoàn một tài liệu làm cho phái đoàn chú ý. Tài liệu nầy đánh giá về sự đe dọa của Bắc Việt . Tài liêu nầy vượt quá những sự dè dặt. Đó là điều18 : “người ta chờ đợi một chiến dịch tổng tấn công trên toàn lãnh thổ Miền Nam trong những ngày sắp tới. Một số lớn “nguồn tin” (1) đã cho biết là các sư đoàn trừ bị chiến lược Bắc Việt sẽ được gởi vào Miền Nam” Các vị dân cử hình như đã quen quá với những bản phân tách và đánh giá bi quan , nhất là của giới quân nhân. Họ đã quen thuộc với loại kỷ thuật nầy ở Hoa Kỳ quá rồi, mấy tuần trước khi bàn cãi về ngân khoản quốc phòng, vô tình người ta thấy trong báo một số bài đánh giá quá cao về mối đe dọa của Liên Xô. Người ta mãi đặt vấn đề tại sao mối đe dọa của Bắc Việt ở đây lại không giống như vậy ? Mà người ta không nghĩ rằng nếu tình hình thật sự đúng như vậy thì có cần phải viện trợ cho Miền Nam hay không ? Phúc trình của đại tá Le Gro nói rõ quan điểm của ông . Điều 46: “Trong ngắn hạn, cộng sản Việt Nam chắc chắn sẽ đạt được nhiều chiến thắng khi họ chiếm giữ được một số quận hay thị xã, nhưng về lâu về dài sự tổn thất của Miền Bắc cũng có thể sẽ là một trở ngại cho họ…”

    Khi ra khỏi SàiGòn vốn có không khí yên tỉnh, các nhà điều tra muốn tìm thú vui ở chiến trường, cũng không thể nắm được những nhận xét rõ ràng và chính xác hơn giới quân nhân đâu. Ông Paul McCloskey dân biểu California, một cựu sĩ quan hải quân, người vậm vở, đi ra ngay vùng chiến trường mà ông ta đã từng biết được ở Miền Trung. So sánh với tình hình mà ông ta đã từng được biết thì ông nghĩ là tình hình bây giờ có vẻ sáng sủa hơn. Điều nầy không ăn khớp chút nào với những dự đoán của một anh Frank Snepp.

    Khi phải đánh giá về thế lực của ông Thiệu đối với xã hội Việt Nam thì phái đoàn không theo ông Martin hay Lehmann hay Polgar. Những người nầy xác nhận là ông Thiệu nắm vững mọi vấn đề . Bà Bella Abzug và Dewey Bartlett thì quan tâm đến các tù nhân chánh trị và sự việc bắt bớ các nhà báo. Họ đã được trả tự do hết chưa ? ông Martin thẳng thắng xác nhận là ở Miền Nam Việt Nam không bao giờ có tù chánh trị. Ông nói là ở SàiGòn hệ thống Tư Pháp ít nhất cũng hữu hiệu không thua gì ở Nữu Ước. Người ta nói với ông Martin về những cái gọi là “chuồng cọp” trứ danh để nhốt tù ở Côn Sơn. Ông khẳng định rằng trong vùng khí hậu nhiệt đới, thì các phòng giam nầy rất sáng sủa và sạch mát hơn những buồng tối. Khi Sứ quán không đồng ý về con số 35.000 tù hình sự ở Miền Nam thì ông McCloskey trả lời rằng :

    – “Hơn phân nửa số tù bị nhốt mà không có bản án. Như vậy thì phải coi như số nầy là tù chánh trị”(2)

    Sứ quán Hoa Kỳ mở tiệc khoản đãi phái đoàn. Một số thành viên của phái đoàn tẩy chay không dự. Bà Bella Abzug lớn tiếng tung ra những chỉ trích mà báo chí ghi nhận:

    – “Chánh Phủ nầy là Chánh Phủ thối nát, Bà nói. Vì thế không còn ai muốn chiến đấu hết. Phải tính toán thế nào để loại trừ ông Thiệu đi.”

    Được một số nhà ngoại giao cấp trung gian khuyến khích, các thành viên của phái đoàn thố lộ với giới báo chí Hoa Kỳ :

    – ” ông Martin quá nghiêng về ông Thiệu nên không thể đánh giá một cách khách quan không khí chánh trị ở đây.

    Hay là :

    – ” Ông Đại sứ nầy là một thảm họa !”

    Bà Bella Abzug đi lại nhà bà Ngô Bá Thành (3), có nhiều phóng viên báo chí tháp tùng. Bà Thành là một thành viên đối lập không cộng sản thuộc lực lượng thứ ba. Cảnh sát không cho bà ra ngoài nhưng người ta có thể nói chuyện với bà trong nhà . Chánh phủ SàiGòn đã có biện pháp phạt “trọng cấm” bà.

    Một cách bất thần, không thông báo trước , bà Bella Abzug đến trụ sở của “Ủy Ban Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến”. Cảnh sát giữ an ninh tại đó không cho bà vào. Nhưng cuối cùng sau một vài rắc rối khác, rồi bà cũng gặp được hai sĩ quan thuộc phái đoàn Hung gia Lơi và Nam Dương. Nhưng hai sĩ quan nầy không cò gì để phải “khai báo” với bà hết.

    Biết được việc nầy ông Martin phát cáu:

    – ” Thật là bẽ mặt !

    Dai như đỉa, hai ông Bartlett và McCloskey được gặp một số nhà báo đã từng bị bắt. Cảnh sát trưởng SàiGòn bám sát hai ông nầy. Ba nhà báo nhìn nhận rằng họ là Việt Cộng nằm vùng. Hai ông giận lắm, đòi phải cho hai ông gặp riêng những người nầy. Một người đã nói nhỏ rằng: ” Họ đánh chúng tôi dữ lắm”

    Phái đoàn có nhiều cuộc tiếp xúc với một số chánh trị gia. Linh mục Thanh, người tranh đấu chống tham nhũng tuyên bố :

    – ” Một phần ba tiền viện trợ mà quý vị chấp thuận sẽ bị ăn cắp. Quân Đội sẽ bị bán cho kẻ thù cộng sản. Ngân khoản sẽ được dùng để trả lương cho lính ma ! số binh sĩ chỉ có tên trên giấy tờ.” (4)

    Cuộc thăm viếng ở Thủ Tướng Phủ còn chán hơn nữa. Tướng Khiêm và Tổng trưởng ngoại giao của ông có mặt ở buỗi tiếp xúc, đều cảm thấy bị đứng tim. Ở tư gia của ông Vũ văn Mẫu, Bella Abzug và Donald Fraser gặp những người phật tử thuộc nhóm chủ trương hòa hợp hòa giải với ba nghị sĩ và 5 dân biểu đối lập. Các phật tử nhấn mạnh:

    -” Quý vị không nên bỏ phiếu chấp thuận viện trợ để họ xây cất nhà tù ! (4)

    Bà Bella Abzug lầm bầm :

    -” Tôi chỉ bỏ phiếu cho viện trợ nhân đạo mà thôi.”

    Thiếu tướng Không quân, cựu Thủ tướng Nguyễn cao Kỳ tiếp nghị sĩ Bartlett. Ông chỉ nói nhẹ nhàng:

    – ” Cho đến khi người ta tìm được một giải pháp đúng đắn, chúng tôi rất cần được có viện trợ của Hoa Kỳ “

    Các ông Flynt, Chappel, Fraser và Fenwick đã tiếp xúc rất lâu với ông Trần quốc Bửu, Chủ Tịch Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam, một loại Công đoàn như của ông André Bergeron chống cộng tới cùng từ năm 1945, khi mà Hà Nội đã đuổi, bắt, cầm tù và giết một số thành viên của liên đoàn. Ông xác nhận là Tổng Liên Đoàn của ông là tổ chức duy nhất có thể thực hiện một cuộc đình công ở Việt Nam . Đối với ông Trần quốc Bửu thì những người như Cha Lãng hay Vũ văn Mẫu không đại diện cho bao nhiêu người . Ông Thiệu phải tìm cách thử đưa họ vào guồng máy chánh trị , nếu không thì họ sẽ rơi ngay vào tay của cộng sản. Theo ông Bửu, tìm cách bứng ông Thiệu đi, đó không phải là một giải pháp :

    – ” Sau khi chúng tôi loại được Tổng Thống Diệm thì chúng tôi đã phải chịu một loạt khủng khoảng chánh trị . Chúng tôi cần có một sự liên tục và một số thay đổi quan trọng về chánh trị nội bộ.”

    Ông trao cho các thành viên nầy những bản văn được quây “rô nê ô”. Đó là bản diễn văn mà ông đã đọc năm tháng trước trong đó ông vạch trần và tố cáo cái mà người ta gán cho là tham nhũng.

    Ông cũng nghĩ rằng một số nhà báo bị bắt có dính líu đến cộng sản . Ông không chắc rằng họ đã có bị đánh đập. Ông thở dài và nói :

    – ” Tất cả các nơi trên toàn thế giới nầy, cảnh sát đâu có hiền đâu !

    Về bà Ngô Bá Thành, ông Bửu tỏ vẽ giận dữ :

    – ” Tôi biết bà nầy lâu rồi. Tôi đã từng yễm trợ bố của bà vào chức vụ Tổng Trưởng Lao Động từ năm 1954. Bà cũng giống như các phụ nữ khác, thích đi từ thái cực nầy đến thái cực khác.

    Ông Bửu không phải là một ứng cử viên vào chức vụ Tổng Thống. Ông nói :

    – ” Người Việt Nam chúng tôi ai cũng sớm chọn một hướng đi và một mục đích cho đời sống của mình. Chúng tôi phải giử vững nó mới được . Khuynh hướng của tôi thiên về Nghiệp Đoàn chớ không thiên về chánh trị . “

    Phái đoàn thực hiện một chuyến viếng thăm chớp nhoáng 12 tiếng đồng hồ thủ đô Phnom Penh. Tình hình đã bắt đầu tan rả ở thủ đô Cam Bốt nầy. Trong khi phái đoàn đang dùng cơm trưa, một hỏa tiển rơi và phát nổ ở cách họ khoản 800 thước. Ông Đại sứ Hoa Kỳ John Dean tỏ vẻ rất bi quan. Theo ông thì Thủ tướng Lon Nol sẽ từ chức “nếu người ta ước tính ông là một hàng rào ngăn cản con đường dẫn tới hòa bình” : Ông nói thêm rằng:

  14. – ” Hoa Kỳ chúng ta không nên dính vào một cá nhân nào hết.”

    Và cách Phnom Penh 200 cây số, ở SàiGòn liệu Hoa Kỳ có dính với ông Thiệu hay không ?

    Chiều ngày 1 tháng 3, ông Thiệu đãi cơm tối phái đoàn. Trong khi nâng ly chúc mừng phái đoàn, ông nhắc tới nhiều vị Tổng Thống Hoa Kỳ đã từng cam kết yễm trợ và giúp đỡ Việt Nam trong cuộc chiến chống cộng. Nhưng ông Thiệu không nói gì đến các bức thơ của ông Nixon. ông Thiệu nói thật chậm rãi:

    – “Sự long trọng cam kết đó đã được nhắc lại trong dịp ký kết Hiệp Định Paris,. Liệu những lời cam kết đó của Hoa Kỳ có còn giá trị hay không ? Liệu chúng tôi có tin vào lời nói của Hoa Kỳ hay không ? Đó là thông điệp mà tôi rất vui mừng khi được thấy quý vị chuyển giùm đến Quốc Hội thứ 94 của Hoa Kỳ .”

    Ông Thiệu ghi nhận thái độ chống đối đương nhiên của bà Bella Abzug. Trong khi ông Thiệu nâng ly chúc mừng phái đoàn, bà ta giả bộ không nghe. Các câu chuyện trao đổi có vẻ ngượng ngùng, giữ kẽ với nhau, không được vui, trong một không khí khó thở. Nghị sĩ Bartlett cảm thấy có cảm tình với Việt Nam Cộng Hòa, nhưng ông cũng nói tới sự việc ông đã tiếp xúc với các nhà báo bị bắt. Có người cho ông Thiệu là quá vụng về, có người cho là ông quá cộc cằn.. khi ông gạt phắt nhận xét đó bằng một câu:

    – ” Đương nhiên! những người cộng sản lúc nào cũng phải nói là họ bị tra tấn…

    Do đó mà cả Sứ quán và Dinh Độc Lập, hình như không thể chuyển ” thông điệp” của ông Thiệu được

    Cho tới năm 1973, một trong những lo âu của dư luận chánh trị ở Hoa Kỳ là số phận của các tù binh Mỹ ở Bắc Việt. Bây giờ thì họ đã được trở về Hoa Kỳ rồi nên dư luận đó lại nghĩ tới nhiều hơn cho số phận các binh sỉ, hạ sĩ quan và sĩ quan bị ghi nhận lá mất tích trong chiến đấu, một đề tài mà các thành viên của phái đoàn đã có dự định là nói thẳng với đại diện của chánh quyền Miền Bắc và CPLTCHMN ở trong trại Davis , trong sân bay Tân sơn Nhứt. Đối với một số đại diện nầy, điều tốt nhất là có thể dùng ngay báo chí của họ trong vùng chiếm đóng hay trong quốc gia của họ để nói về số quân nhân mất tích nầy. Cứ hai năm Hoa Kỳ lại cử một người để thường xuyên thực hiện công tác quảng bá nầy.

    Ngay lúc họ đến trại Davis, phái đoàn Hoa Kỳ có cảm tưởng rằng các phát ngôn viên của Hà Nội chuyển một cuộc bàn cãi có tính cách xây dựng thành một sự tuyên truyền quảng cáo cho khoảng 70 nhà báo, phóng viên, toán quây phim, và các chuyên viên về âm thanh có mặt hôm đó. Các sĩ quan cộng sản ngồi ờ đầu bàn dài dưới bức tượng bán thân của Hồ chí Minh hình như tạc từ một khối mỡ heo bóng loáng. Một trung tá Bắc Việt phó trưởng đoàn Hà Nội lập tức châm ngay ngòi lửa. Ông ta thích đưa ra một câu trả lời chung chung hơn là trả lời tuần tự ngay vào các câu hỏi. Thế là có một sự tranh luận về thủ tục phải theo. Ông trung tá nầy đọc một bản văn dài dòng trong hai mươi phút:

    -” Chánh Phủ Ford phải chịu trách nhiệm về sự đeo đuổi tiếp tục cuộc chiến, điều nầy làm cho không thể áp dụng được điều 8 B của Hiệp Định, liên quan đến những người mất tích. “

    Để cắt đứt những lời tổng quát rổng tuyếch nầy, nghị sĩ Bartlett đưa một tấm thẻ bài ghi tên họ của đại úy Clifford Fieszel, số quân 462-56-6781, phi công bị bắn rớt trên không phận Bắc Việt và được ghi nhận là mất tích ngày 30 tháng 9 năm 1968.

    Nghị sĩ Bartlett muốn biết về số phận của vị đại úy nầy. Vì theo một quyết nghị của Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc thì Chánh Phủ Cộng Hòa Nhân Dân Việt Nam phải cung cấp những chi tiết chính xác.

    Trung tá cộng sản từ chối, không trả lời.

    – Tôi phải trả lời sao cho bà đại úy Fieszel đây ? Tôi sẽ có mặt ở OKlahoma trong 2 tuần nữa. Tôi phải nói gì với bà ta đây ? khi mà Chánh Phủ Hoa Kỳ chúng tôi phải cung cấp mỗi tuần một chuyến bay liên lạc giữa SàiGòn và Hà Nội ? những sĩ quan trên chuyến bay đó có nhiệm vụ trước hết là thảo luận với chánh quyền Miền Bắc về công tác tìm kiếm liên quan đến những quân nhân mất tích.” nghị sĩ Bartlett nói. Rồi ông nghị sĩ Hoa Kỳ chấm dứt bằng một câu kết luận của ông :

    – ” Ở Oklahoma chúng tôi , có một danh từ .đó là “hogwash” ! cốt để nói lên đặc tính của những nhận xét của ông.

    Trong số các nhà báo có ông Cao Giao hỏi ông bạn Xuân Ẩn của ông ta hogwash nghĩa là gì . Xuân Ẩn dịch ngay :

    – ” Có nghĩa là “đồ bỏ”, đồ bá láp không ra gì , đồ cặn bả để cho heo ăn !

    Ông Bartlett nhìn người trung tá cộng sản kết luận:

    – ” Cũng tốt thôi ! sự im lặng của ông chứng tỏ là ông từ chối không trả lời cho tôi .”

    Ông dân biểu Millicent Fenwick trở lại những từ ngữ trong bài diễn văn của trung tá cộng sản . Ông ta đã có nói là Chánh Phủ của ông sẳn sàng giải quyết mọi bài toán qua thương lượng. Bằng cách nào đây ? Trung tá cộng sản nầy trả lời cho các câu hỏi là :

    – ” Tôi sẽ chuyển các đòi hỏi của quý vị cho Chánh Phủ của chúng tôi “

    Gay gắt và vô ích, cuộc thảo luận tiếp tục trong sự ồn ào gần như bất tận. Những cuộc cải vả nầy đáng được thu hình lắm đấy, và người ta nghe tiếng máy quay phim chạy rào rào với vài chỉ thị của các nhà báo, và thỉnh thoảng những tiếng than phiền của ông Milicent Fenwick:

    – ” Ông ta có trả lời câu hỏi của tôi đâu? ông ta không có trả lời câu hỏi của tôi !”

    Ông Mc Closkey cố giải thích cho ông trung tá cộng sản nầy là có vài dân biểu trong Quốc Hội không muốn tiếp tục giúp cho Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng nếu Chánh Phủ Miền Bắc cứ chống lại công tác tìm kiếm những người Mỹ mất tích, thì ngọn gió có thể đổi chiều thổi ngược lại .

    Nhưng đây là một cuộc đối thoại giữa những người điếc, mặc dầu vậy ông Frasier cứ tuyên bố là cuộc nói chuyện nầy rất hữu ích.

    Trng tá cộng sản vẫn giữ vững đường hướng tuyên truyền đến cùng:

    – ” Quý vị phải trở về Mỹ để khuyến khích nhân dân và Quốc Hội Hoa Kỳ hãy bác bỏ dường lối chánh trị của ông Ford, tức là phải chấm dứt sự ủng hộ tập đoàn Nguyễn văn Thiệu.”

    Ông dân biểu Chappel, với một giọng nói thật chẩm rải và cương quyết tuyên bố:

    – ” Cá nhân tôi, tôi đến Việt Nam với một tinh thần và một chủ đích là xem xét tận mắt “tình hình cụ thể” ở đây để lúc về tôi có thể bỏ phiếu “thật đúng đắn” cho bài toán quan trọng: đó là viện trợ cho Miền Nam Việt Nam . “

    Để cho trung tá cộng sản nầy dễ hiểu, ông Chappel dùng ngay những danh từ cộng sản mà ông nầy đã dùng như ” tình hình cụ thể” , “thật đúng đắn”….. Và ông nói tiếp:

    – ” Bây giờ khi đã gặp được các ông rồi, thì tôi đã đi tới được một vài kết luận.. Tôi tin rằng cộng sản các ông không bao giờ có ý định tôn trọng lịnh ngừng bắn… Các ông cũng không tôn trọng nghĩa vụ của các ông liên quan tới tin tức của những người bị mất tích. Các ông than phiền, các ông nói rằng ở đây người ta không tôn trọng quyền đặc miển ngoại giao của các ông, Các ông nói là ở SàiGòn nầy người ta cúp nước cúp điện của các ông, nhưng tôi thấy là các ông sống ở đây rất là thoải mái và đầy đủ tiện nghi.”

    Ông dân biểu đưa tay chỉ cây quạt máy trên trần nhà (đang chạy), chỉ các cây cối và sân cỏ chung quanh trại, rồi nói tiếp:

    – ” tất cả những thứ nầy đều do hai Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ đài thọ….

    Khi tôi về đến Hoa Kỳ … tôi có ý định sẽ bỏ phiếu chấp thuận 300 triệu mỹ kim viện trợ bổ túc cho Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa. “

    Nhưng các nhà báo Việt Nam đều lấy làm thích thú mà ghi nhận rằng người thông dịch cộng sản không có thông dịch lại câu nói sau cùng nầy của dân biểu Chappel.

    Bà Bella Abzug muốn cho không khí bớt găng, buông ra một câu :

    -” Sự trao trả 23 hài cốt của quân nhân Hoa Kỳ chết trong thời gian bị bắt ở Bắc Việt và sự việc mà trung tá Bao đã chấp nhận hỏi lại Chánh Phủ của ông về tin tức của đại úy Fieszel cũng đã chứng tỏ được tinh thần khả dĩ có thể an ủi được nổi đau của các gia đình có con em quân nhân bị coi là mất tích ở đây..”

    Bà ước mong rằng Chánh Phủ Bắc Việt sẽ cung cấp thêm tin tức liên quan đến các quân nhân bị mất tích…

    – ” Đó sẽ là một bước tiến lớn, Thiện chí tốt.. Bình thường hóa quan hệ….

    Tất cả những gì mà cả Sứ Quán Hoa Kỳ và Dinh Độc Lập cho tới giờ nầy không thể đạt được đối với phái đoàn, thì giờ đây một cách không chủ tâm chỉ trong vòng một tiếng rưỡi đồng hồ họ đã đạt được với thái độ của một số dân biểu và vì thái độ của những người cộng sản. Các thành viên của phái đoàn Hoa Kỳ tỏ ra rất giận dữ.

    Họ đi qua trại của CPLTCHMN, cách đó 50 thước.

    Tướng Hoàng anh Tuấn, thuộc Ban Liên Hợp Quân Sự 2 Bên, ra tiếp phái đoàn. Thấy đã quá trể như đã dự trù , ông hỏi phái đoàn:

    ” Chúng ta có nên họp trong một giờ hay không ?

    Hai ông Barlett và Flint bàn với nhau:

    – Có lẽ nửa giờ cũng quá đủ rồi.

    Tướng Hoàng anh Tuấn sẽ đọc một bản văn. Đã nghe một lần bên kia cũng quá đủ rồi. Nghị sĩ Barlett ngắt lời ông Tuấn:

    – Tại sao CPLTCHMN không chịu làm gì hết, đúng theo điều mà Hiệp Định Paris đã có ghi rõ, liên quan đén những người mất tích ? (điều 8 B trong Hiệp Định)

    Nhưng tướng Tuấn vẫn cứ tiếp tục đọc:

    – “Người Mỹ phải chịu trách nhiệm về sự không thi hành Hiệp Định Paris và về điều mà người ta không thể giải quyết được bài toán của những người mất tích”

    Phái đoàn Mỹ đưa ra những câu hỏi thật chính xác. Nhưng cũng giống như đồng chí cộng sản Bắc Việt của ông lúc nãy, tướng Tuấn cũng chỉ nói chung chung. Ông Flynt muốn có thêm chi tiết liên quan đến 41 xác chết của người Mỹ không được trao trả cho Hoa Kỳ.

    Tướng Tuấn nói:

    – ” Sau khi ký Hiệp Định Paris, Hoa Kỳ vẫn tiếp tục theo đuổi cuộc chiến. Không thể thi hành Hiệp Định được …. Mỗi tuần đã có hằng ngàn người Việt Nam chết ….”

    Ông Flynt ngắt lời:

    – “Tôi không muốn nghe chuyện đó, Tôi muốn biết 41 xác chết đó bây giờ đang ở đâu ?”

    Tướng Tuấn đáp:

    – “Không ai bắt buộc tôi phải trả lời cho câu hỏi nầy, và tôi tưởng rằng nhân dân Hoa Kỳ sẽ hiểu tại sao.”

    Nói xong ông ta nhìn đồng hồ

    – “Ba chục phút của chúng ta hình như đã hết rồi !”

    Vừa nói ông ta vừa đứng dậy và bỏ đi

    Trên đường ra xe đi về, bà Millicent Fenwick tâm sự với các nhà báo rằng : bây giờ thì bà ta sẽ bỏ phiếu cho cả viện trợ nhân đạo và viện trợ quân sự nữa.

    Ngay sau đó đài phát thanh Hà Nội và đài phát thanh Giải Phóng đều lên tiếng là “’phái đoàn nghị sĩ và dân biểu Hoa Kỳ đã có những lời tuyên bố không đứng đắn và không xứng đáng với địa vị của họ.”

    Người ta ghi nhận là không có một sự giao tranh nào trong thời gian phái đoàn Quốc Hội Hoa Kỳ có mặt ở Việt Nam. Người ta không thấy có một cuộc hành quân nào trên cấp đại đội hay ít nhất cũng không có một cuộc chạm súng nào quan trọng hết.

    Ngày chúa nhật 2 tháng 3, trước khi đáp phi cơ về Hoa Thạnh Đốn, nghị sĩ Barlett mở một cuộc họp báo tại phi trường. Thêo ông : “Muốn chấm dứt cuộc chiến, phái đoàn sẽ khuyến cáo Tổng Thống Ford nên thúc đẩy ông Kissinger tiếp tục thương lượng với Liên Xô ,Trung Cộng và Bắc Việt .” Ông Nghị Sĩ Barlett có biết đâu rằng ông Tổng trưởng Ngoại Giao không có một chút hứng thú nào khi phải đàm phán với cộng sản trong tư thế yếu.

    Khi phái đoàn sửa soạn lên phi cơ thì Đại sứ Martin chạy tới :

    – Tôi có thể tháp tùng với quý vị về Hoa Thạnh Đốn hay không ?

    Nghị sĩ và các vị dân biểu đã gặp ông Martin nầy quá nhiều trong những ngày gần đây rồi. Viễn cảnh có thêm vài giờ nữa với ông cũng không mấy ai thích thú nhưng làm sao từ chối cho được đây ?

    Sau khi phái đoàn rời khỏi Sài Gòn, nhân vật số 2 của sứ quán Hoa Kỳ gởi một điện tín về cho Bộ Ngoại Giao, có đoạn kết luận như sau :

    – Sứ quán nghĩ rằng ít nhất cũng có một số đông thành viên của phái đoàn đã được thấy một khía cạnh có ích lợi, tổng quát về sân khấu chánh trị ở Việt Nam, dù chuyện đó rất là mới mẻ đối với họ. (ký tên Lehmann)

    Đến Hoa Thạnh Đốn, ông Martin nhận thấy một không khí bất lợi khắp nơi, cho đến ngay cả các phòng sở trong Bộ Ngoại Giao. Bản phân tách tin tức sau cùng của Cơ Quan Tình Báo Trung Ương và của Bộ đều xác nhận rằng:

    ” Quân đội Bắc Việt ở phía Nam vùng phi quân sự, dù có mạnh hơn lúc nào hết, nhưng không có khả năng đánh bại quân lực VNCH một cách dứt khoát được.”

    Chỗ nào cũng thấy có ý kiến tương tự:

    ‘’Quân Lực VNCH sẽ không dễ gì bị đánh bại trong mùa khô nầy’’

    Ông Martin ở nhà của cô con gái, đường 42, và bắt đầu đi vận động. Bộ Ngoại Giao cấp cho ông một chiếc xe, các nhân viên trẻ trong khối Đông Nam Á Sự Vụ đi lấy hẹn cho ông.

    Ở Sài Gòn ông là nhân vật số 2 của thủ đô, sau ông Thiệu. Nhưng ở Hoa Thạnh Đốn thì ông chỉ là một ông Đại sứ như những người đại sứ khác thôi, không có tiền hô hậu ủng. Ngay ở Bộ, ông có cảm tưởng là những người công chức đều biết rằng ‘’dính vào vấn đề Việt Nam không có lợi cho việc thăng quan tiến chức được đâu.’’ Ông Martin tự nhủ: ‘’chắc chắn là họ không muốn đưa đầu ra cho Jane Fonda tát đâu’’.

    Ông Martin không muốn mất thì giờ để mà thuyết cho các vị dân biểu của đảng Công Hòa theo hướng đi của ông. Vậy mà ở đó ông cũng đụng phải những sự im lặng. Robert Gialmo, một dân biểu Cộng Hòa trong tiểu bang quan trọng nhất là tiểu ban Ngân Sách, hình như đang lưỡng lự:

    Vậy có những ai sẽ là đồng minh của ông Martin đây? Trong hàng nghị sĩ thì có Barry Goldwater. Từ lâu rồi, ông Graham Martin không hy vọng thuyết phục được một trong những người bạn già của ông, Mike Mansfield, lãnh tụ khối đa số Dân Chủ ở Thượng Viện. Ông Martin thấy thật là cả một sự khó khăn để cho người ta nghe và hiểu được mình ! Và coi như ông hoạt động xuyên qua một bãi mìn ! Tất cả những người trẻ, cộng sự viên hay làm việc cho các nghị sĩ và dân biểu đều là những người chủ bại, chủ trương ‘’hòa bình’’, cho nên ông Martin nghĩ là mình đang bơi ngược dòng !

    Ông biết là nhiều thành viên trong phái đoàn đã loan truyền những chỉ trtích gay gắt về cá nhân ông như Doinald Fraser đã nói công khai và thẳng thừng:

    – ‘’Chừng nào mà Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn vẫn còn đi với Chánh Phủ của ông Thiệu, chừng đó khó mà nhận thức được đâu là thực chất quyền lợi của Hoa Kỳ .’’

    Ông Graham Henderson Martin vốn là một người có ý thức nghiêm trọng về nhân phẩm và những đặc quyền của mình nên ông cảm thấy mình bị lăng nhục ở Hoa Thạnh Đốn . Vào tháng 3 năm 1973 khi nhận nhiệm sở ở Sài Gòn, ông đến Việt Nam chậm hết mấy ngày vì muốn có được một chuyến bay chánh thức đưa ông thẳng đến thủ đô VNCH, Vì riêng chuyện đó thôi đã thừa nhận rằng ông Đại sứ Mỹ là đại diện của cá nhân ông Tổng Thống Hoa Kỳ .

    Ông là một người cao lớn, 63 tuổi, tóc ngâm đen, có cái nhìn sắc bén, sức khỏe hơi kém, hút thuốc mỗi ngày phải đến vài gói, có dáng điệu của một người quý phái mà có một số người cho đó là kiêu căng, và một số người khác thì thấy đó là kiểu cách đứng đắn. Ông Martin gốc ở tiểu bang Bắc Carolina, thuộc một trong những gia đình lớn ở bờ biển Miền Đông Hoa Kỳ như họ tộc Cabot, họ tộc Lodge, Kennedy…Ông rất hãnh diện về người cha của mình, một ông mục sư, người đã từng dạy ông rằng : ‘’ Nói thật là một điều rất dễ và rất là hữu ích hơn là nói dối..’’ Đứng trước các nghị sĩ và dân biểu, Đại sứ Martin sẳn sàng cho thấy lòng ngay thẳng chân thật của ông hon là sự thông minh hiểu biết của cá nhân mình.

    Ông không phải xuất thân từ những trường đại học danh tiếng như Harvard, Princeton, hoặc Yale, mà từ trường Wake Collège không có tiếng tăm gì hết. Ông nghĩ rằng môn Lịch Sử, La tinh, và Hy Lạp đã giúp ông có một ‘’ quan niệm rõ ràng về quá khứ’’

    Lên Hoa Thạnh Đốn , ông là nhà báo trong một thời gian ngắn, chưa đủ lâu để hiểu rõ về nghề nầy nhưng cũng lâu vừa đủ để thấy ‘’không ưa’’ được nghề nầy . Ở Sài Gòn ông chia giới truyền thông ra làm 2 nhóm. Một phần lớn trong số nầy (nhóm thứ nhứt) là những người không thích nghi với đường lối chánh trị chánh thức của sứ quán. Số ít còn lại thuộc nhóm thứ hai. Ông Martin khẳng định rằng một người làm báo có lương tâm thì không được làm hại gì đến quyền lợi của Hoa Kỳ . Nếu có cảm thấy một sự thật không thuận lợi cho mình thì cũng phải nín lặng mới đúng.

    Ông Martin là hiện thân của những giao tiếp thường trực và đối nghịch lẫn nhau giữa một nhà báo và một nhà ngoại giao, và đôi khi giữa các thế hệ nữa. Ở Việt Nam cũng như ở các chỗ khác, những Đại Sứ có tuổi ít khi nào hòa hợp được với các phóng viên trẻ. Ngắn gọn hơn, ông tin rằng rằng hầu hết các nhà báo ở Sài Gòn và Hoa Thạnh Đốn dù là dị đồng, họ vẫn ‘’thiên về Hòa Bình của Hà Nội ‘’, nếu không muốn nói là ‘’chống Thiệu’’. Giờ đây, ông Martin không có được bao nhiêu người là đồng minh trong giới báo chí. Trước kia thì có Cyrus Sultzberger, một nhân vật quan trọng của tờ New York times là bạn của ông. Bây giờ thì tờ Times đó lại quay ra chống phá sứ quán của ông, đó là điều mà ông Martin trung thực nghĩ như vậy. Ở Sài Gòn ông chấp nhận tiếp một nhà báo, ông George McArthur, phóng viên của tờ Los Angeles Times, bạn thân của một nữ nhân viên sứ quán. Ông Martin có thể chứng tỏ là mình cùng đứng về phía tự do báo chí để có dịp bênh vực cho giới truyền thông. Lúc ông James Markham đi vào khu Việt Cộng, ông Martin đã kịp gặp ông Thiệu để bênh vực cho phóng viên nầy, nếu không thì ông ta đã bị ông Nhã trục xuất rồi. Đến giờ nầy thì ông Martin không còn thấy hứng thú chút nào để mà bênh vực những người phóng viên ‘’bẩn thỉu’’ loại đó nữa.

    Ông đã cho lệnh dứt khoát: không lẩn tránh mà cũng không liên lạc dù là bán chánh thức với báo chí. Ở Sài Gòn thuộc cấp của ông đã phản bội ông trong lúc phái đoàn của Quốc Hội Hoa Kỳ viếng thăm Việt Nam và do đó giờ đây ở Hoa Thạnh Đốn sứ quán mới phải nhận lấy những hậu quả đó.

    Ông Martin bước vô nghề vào thời ông Roosevelt, ông lo về An Sinh Xấ HộI . Ông tự nhận mình thuộc đảng Dân Chủ. Vì trong thời chiến ông là Đại tá, một sĩ quan tình báo chuyên viên đặc trách về Đông Nam Á , thường hay lui tới với ông Alan Dulles, sáng lập viên của Cơ Quan Tình Báo Trung Ương (CIA), nên ông Martin tự hào rằng mình hiểu biết nhiều trong lãnh vực tranh tối tranh sáng của “tin tức” hơn hẳn một Polgar hay một Snepp. Tất cả những bản phúc trình không rõ ràng nói trên về dự tính của Bắc Việt đã làm cho ông bực mình. Nhưng cuối cùng về tình hình thì riêng ông cũng có một cái nhìn tổng hợp rồi.

    Là một người có trách nhiệm về hành chánh của sứ quán Hoa Kỳ ở Paris từ năm 1947 đến 1955, ông biết rõ về những tay cộng sản Việt Nam nầy. Ông Martin theo dỏi sát về ông Phạm văn Đồng ở Genève năm 1954. Nhất là ông đã thấy Chánh Phủ Pháp thương thuyết và nhượng bộ với Việt Minh. Ở Paris, ông đã có liên lạc chặt chẻ với những cơ quan tình báo đặc biệt. Nhờ sự liên lạc thân hữu với ông Roger Wybot mà ông Martin mới có được những tin tức mà CIA không lượm lặt được về những người Mỹ chủ trương “hòa bình” và những hoạt động của họ khắp nơi ở Âu Châu. Trong lần thăm viếng sau cùng của Phái đoàn Quốc Hội Hoa Kỳ, niềm vui đầu tiên và duy nhất của Đại Sứ Martin là được biết Chánh Quyền Sài Gòn đã từ chối không cho một thành viên của phong trào đòi hòa bình là ông Don Luce được tháp tùng nghị sĩ và các dân biểu Mỹ.

    Ông Martin vẫn còn phần nào là một người thân Pháp. Sự thiết lập bang giao của Hoa Kỳ sau bài diễn văn của tướng De Gaulle ở Phnom Penh là một điều không bình thường. Là một con người ít giao du, nên ở Sài Gòn ông Martin chỉ tới lui với Đại sứ Pháp là ông Jean Marie Mérillon mà thôi.

    Ông rất thành công trong nghề: Đại sứ ở Thái Lan từ năm 1963 đến 1967, ông giành được cho Hoa Kỳ một quân cảng và 6 phi trường mà không hề ký một văn kiện chánh thức hay môt khế ước nào. Ông khinh ra mặt những người có óc quân sự thiển cận, nên đã từng chống Ngũ Giác Đài về dự án đưa quân vào Thái Lan, và ông đã yêu cầu cho triệu hồi tướng William Stillwell về, vì ông nầy không chia xẻ quan điểm của ông Martin. Cũng ở ngay tại Bangkok, ông Martin đã gặp ông Thiệu.

    Một người con nuôi của ông Martin là phi công lái trực thăng, đã tử trận ở Việt Nam . Từ dạo đó nhiều người cho rằng ông Martin đã trở nên cứng rắn hơn. Khẳng định rằng Hoa Kỳ không nên xử dụng Hải Quân của mình ở Thái Lan – và những nơi khác -, ông Martin đã gởi về Bộ Ngoại Giao nhiều công hàm “khó ngửi” mà TổngTrưởng Ngoại Giao lúc đó là ông Dean Rusk không thể chấp nhận được, nên ông Martin phải rời khỏi nhiệm sở Bangkok, trở về Bộ với chức vụ Phụ Tá đặc biệt phụ trách về di cư và những người tỵ nạn. Một chức vụ trong tủ kính ! Nhưng may mắn cho ông là lúc còn ở Bangkok, ông đã từng trải thảm đỏ tiếp rước một luật sư của hảng Coca Cola, một người đã từng là chánh trị gia của đảng Cộng Hòa, ông Richard Nixon.

    Khi đã trở thành Tổng Thống, ông Nixon nhớ tới những sự lưu ý của ông Martin và gửi ông sang Rô Ma (Ý). Ở đó ông Martin không nói tiếng Ý mà chỉ nói tiếng Pháp của thành phố Ba Lê, nhưng với tư cách trưởng phái bộ ngoại giao, ông theo sát và chỉ huy hết các phòng sở, kể cả cơ quan tình báo CIA, giám sát sự phân phối ngân khoản cho các đảng phái của người Ý, trong đó có đảng xã hội của Bettino Craxi. Tin chắc rằng chính ông đã ngăn cản không cho đảng cộng sản Ý nắm được chánh quyền, ông Martin cũng sẽ làm như vậy đối với những người cộng sản Việt Nam . Nhưng kìa! Hảy xem lại coi, ai là người thật sự va chạm với tính chất phức tạp và tế nhị của người Việt Nam hơn ông ở Sài Gòn hay ngay cả ở Hoa Thạnh Đốn ? Có thể là ông Kissinger, người mà ông đã từng phục vụ như một trong những phụ tá trong thời gian thương thuyết ở Ba Lê. Ngồi đối diện với Lê đức Thọ, ông Martin nhận rõ ông nầy là người có một lòng tin mảnh liệt vào đảng cộng sản , kiên định hoàn toàn, khó mà lay chuyển nổi. ” Những người cộng sản khẳng định rằng họ là những người thừa kế của quả địa cầu nầy.” Ông Martin đã từng nói như vậy. Trong những lúc nghỉ giải lao uống trà ở Ba Lê, ông Martin và Lê đức Thọ đã có nói chuyện với nhau về những đứa cháu của họ. ông Martin đánh giá cao Lê đức Thọ nhưng ít hơn ông Kissinger.

    Ông đã có mua một trang trại ở Tostane, sửa soạn để về hưu. Vào tháng 12 năm 1972, ông Alexander Haig báo cho ông biết là ông Nixon muốn chỉ định ông đến Sài Gòn . Nhưng ông lưỡng lự. Ông muốn chấm dứt nghiệp vụ. Ở Sài Gòn sẽ chịu nhiều búa rìu lắm, nhưng ông Haig nhắc tới Nhiệm Vụ và Danh Dự:

    – ” Nếu Tổng Thống đã nói là ông ta cần đến ông, thì ông nên đi. Ông không thể làm việc 8 năm ở Ba Lê và 4 năm ở Rô Ma, để rồi sau đó lại từ chối một nhiệm sở khó . “

    Và ông Martin đã nhận lời. Vào tháng 6 năm 1973, trong lúc Thượng Viện chấp thuận sự bổ nhiệm nầy, ông Martin đã tuyên bố :

    – ” Chúng ta phải chấm dứt sự cam kết của Hoa Kỳ ở Việt Nam càng sớm càng tốt, nhưng bằng cách nào, đó là một điều cực kỳ quan trọng. Chúng ta phải chấm dứt ở đó nhưng phải để lại một nước Việt Nam sống được với nền kinh tế vững chắc.”

    Ngay trên chuyến bay về Hoa Thạnh Đốn ngày 2/3 nầy nhà biện luận Martin vẫn tán tụng với phái đoàn Quốc Hội về tương lai sáng lạng của nền kinh tế ở VNCH.

    Ngay tại thủ đô cũng vậy, ông cứ nhắc đi nhắc lại chuyện nầy khi thì ở chỗ nầy khi thì ở chỗ khác, nhưng xem chừng như không có kết quả gì lắm. Dư luận và tin đồn được các nhà báo và các nhơn viên ngoại giao ở Sài Gòn được loan truyền từ trước đã bao vây ông và vô hiệu hóa ông. Người ta không bao giờ cáo buộc là ông không làm việc, nhưng đã làm việc không đúng. Người ta biết ông đã đọc tất cả các công điện, rất chính xác và rất tỷ mỷ. Có người đã nói là ông chỉ nhìn thấy cây mà không thấy được đám rừng. Người khác thì nhấn mạnh là ông đã bao che cho ông Thiệu và Chánh Phủ của ông nầy quá nhiều, mặc dầu ông biết Thủ Tướng Khiêm là một người quá xoàng. Khi người ta nhắc tới vấn đề tham nhũng thì ông Martin gợi ý “đó là chất dầu trong tiến trình phát triển kinh tế” hay là “trong thời chiến chuyện đó cũng khó tránh được “. Ông nói tới việc xuất cảng dầu, ngư hải sản… có thể giúp cho Miền Nam Việt Nam cơ hội tốt để sống còn.

    Ông Martin thường nhắm vào Hoa Thạnh Đốn trong những tháng gần đây. Theo ông, đây là mặt trận thứ hai của cuộc chiến ở Việt Nam .

    Trong khi ông Martin vắng mặt, ông giao quyền xử lý thường vụ cho ông Wolfgang Lehmann, vị phó dại sứ tín cẩn của ông. Ở Hoa Thạnh Đốn Đại sừ Martin mở mặt trận chiến đấu ở hậu phương, mà theo ông là chính yếu và rất quan trọng, đó là 300 triệu mỹ kim viện trợ bổ túc cho VNCH. Quá mệt mỏi, lả người vì bị quá nhiều thử thách, lại bị đau răng, ông phải về nhà ông ở Bắc Carolina để nhờ người em họ chửa cho mình.

    Đối với ông Hoa Thạnh Đốn đã xa, mà Sài Gòn còn quá xa hơn nữa !

    CHÚ THÍCH của Dịch Giả

    (1) “Nguồn tin” : danh từ “nguồn tin” được giới tình báo định nghĩa là những người cho tin, hoặc do họ cài cấy vào lực lượng địch quân, hoặn nhân viên tình báo đi săn tin tức ở những vùng xôi đậu. Nói cách khác “nguồn tin” là “người” chớ không phải là “tin tức”.

    (2) “tù chánh trị”: Côn Sơn và Biên Hòa là nơi giam giữ các tù binh cộng sản bắt được tại mặt trận, hoặc những cán bộ đảng viên cộng sản ở cơ sở do Phòng Nhì của các Tiểu Khu bắt được , có quy chế riêng, khác với tù hình sự. Phái đoàn Quốc Hội Hoa Kỳ có ác ý gọi đó là tù chánh trị. Số tù cộng sản nầy (trên 7000) được trao trả cho Bắc Việt và CPLTCHMN như Hiệp Định Ba Lê đã quy định.

    Dịch giả biết rõ nhờ may mắn được phục vụ trong Phái Đoàn Quân Sự VNCH thuộc Ban Liên Hợp Quân Sự 4 Bên Trung Ương, nên đã được đi thăm các trại tù cộng sản nầy trước khi trao trả họ cho cộng sản Bắc Việt .

    (3) Bà Ngô Bá Thành: Bà nầy là vợ của luật sư Ngô Bá Thành. Tiếng là thuộc “lực lượng thứ ba” nhưng bà là một thành phần thân cộng, hoạt động phản chiến ngay trong nước, xách động dân chúng bằng mọi hình thức (biểu tình hay bất hợp tác với chánh quyền), đòi hỏi Việt Nam Cộng Hòa phải ngưng chiến đấu, đơn phương chấm dứt cuộc chiến để có “hòa bình”. Dĩ nhiên bà không bao giờ đòi hỏi Bắc Việt và Việt Cộng cũng phải làm như vậy. Thời gian trước 30/4/75 bà thường đi vào các vùng của MTGPMN, liên lạc với cộng sản , nên Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa phải có biện pháp “cấm cung” bà. Sau 30/4/75 bà là dân biểu Quốc Hội của CSVN suốt mấy khóa cho tới ngày nay (2001). Do đó xếp bà vào thành phần đối lập không cộng sản là hoàn toàn không đúng sự thật.

  15. Chương 9

    “Đầu teo đít to”

    (1)

    Tướng Văn tiến Dũng, Tổng tư lệnh quân đội Bắc Việt chọn một lùm cây xanh rậm rạp kế cận một đám rừng kè để đặt Bộ Chỉ Huy của mình, cách 35 cây số về hướng Tây của thành phố Ban mê Thuột, và chỉ cách biên giới Cam Bốt có 10 cây số.

    Ở vùng Cao nguyên nầy, người ta che dấu dễ dàng một đội tuần tiễu, một trung đoàn và ngay cả một sư đoàn nữa. Cảnh vật tưởng chừng như man rợ, bát ngát dọc theo một bình nguyên rộng lớn cao từ 400 đến 1200 thước, có nơi cao đến 2598 thước với ngọn núi Ngọc Ninh, gần tỉnh Kontum, nơi đó quân lực Hoa Kỳ đang chờ một cuộc tấn công. (2)

    Sông rạch, hồ, thác nước được thấy rải rác khắp Cao Nguyên, còn đường sá thì chạy dọc theo các thung lũng.. Nếu không chiếm giữ thì cũng phải kiểm soát các con đường cũ nầy của Pháp vì đây là những trục lộ chiến lược. Vùng nầy tuyệt đối không có dân cư, nhưng rất giàu về gỗ, về tre nứa, một vùng rất thơ mộng và cũng rất hùng vĩ..Từ nhiều thế kỷ rồi, người dân ở đây được gọi là dân Thượng (3) . Họ đã từ vùng đồng bằng chạy lên đây trồng bắp trồng khoai, sắn, họ không có cùng ngôn ngữ quốc gia với người dân Việt Nam . Khi đã ổn định rồi thì họ trồng lúa, chăn nuôi và săn bắn, nhưng sống từng cộng đồng riêng lẻ xa lạ đối với đất nước.. Người Việt Nam dù là Nam hay Bắc đều có “vấn đề” với đồng bào Thượng nầy.

    Tướng Dũng rất thích phong cảnh quá thơ mộng ở đây. Ông thích nghe tiếng lá vàng khô xào xạt dưới chân ông. Các lá vàng nầy đẹp thiệt nhưng rất nhạy lửa.. Các anh bộ đội thì không như ông tướng của mình, vì mỗi lần có cháy ở đâu đó, là các nhân viên truyền tin lại phải đi thiết lập các đường dây điện thoại lại .

    Trong cánh rừng nầy thường có nhiều đoàn voi đi, nên người ta phải đi dây thật cao. Đoàn voi thường lôi các đường dây xa đến vài trăm thước. Trong khu rừng nầy người ta cũng gặp vài con cọp. Để dấu kín 3 sư đoàn không cho ai dò tìm được, tướng Dũng đã cho lệnh liên lạc với nhau toàn bằng điện thoại, tuyệt đối không dùng máy vô tuyến.

    Ông ta so sánh thử tương quan lực lượng của chiến trường. Bộ binh của ông không có ưu thế tuyệt đối. Nhưng nếu ông tập trung được tất cả vào một điểm chính thì ưu thế không thể chối cãi được :

    – bộ binh thì 5,5 chống 1 ,

    – chiến xa thì 1,2 chống 1;

    – pháo binh nặng thì 2,1 chống 1.

    Trong quyển nhật ký của ông, tướng Dũng không thấy nghĩ đến những khó khăn của mình như : chiến xa và pháo binh sẽ bị lầy, thiếu thợ máy lành nghề, vài đại đội đi lạc mà không được dùng vô tuyến của họ. Ông phàn nàn về một vài khuyết điểm : khả năng hợp đồng tác chiến không đồng đều của các sư đoàn . Bộ đội chánh quy Miền Bắc lại không có kinh nghiệm “tác chiến trong thành phố” và đối với một vài nhóm sự “hợp đồng binh chũng” trong một bình diện lớn là một chuyện quá mới mẻ.

    Tướng Dũng rút được kinh nghiệm trong hai cuộc tấn kích năm 1968 và 1972.

    Năm 1968, mặc dầu có thừa can đảm, bộ đội, nhất là Việt Cộng, không có giữ được thị trấn mà họ đã chiếm được ..

    Năm 1972, không có sự phối hợp chặt chẽ giữa bộ binh, chiến xa và pháo binh.

    Cộng sản thường hay tự phê bình, nên trong suốt 3 năm qua Bộ Tổng Tham Mưu Bắc Việt đã tiến hành phê bình và tự phê bình các trận hành quân vừa qua.

    Trong năm 1972 và nhất là năm 1968 các đơn vị cộng sản gặp những khó khăn về định hướng. Họ đến từ Miền Bắc và thường đi lạc trong những thành phố xa lạ đối với họ. Còn các tân binh Việt Cộng phần lớn là nông dân nên không quen với địa hình địa vật của các thành phố.

    Trong năm 1975 nầy, dù là Sài Gòn hay Ban Mê Thuột , Bộ Tham Müu Bắc Việt chỉ có nhiều chiến cụ tối tân của Liên Xô nhưng không có được bản đồ tham mưu. Để biết rõ hơn về Ban Mê Thuột, tướng Dũng đã gởi một cán bộ, sĩ quan mặc thường phục và vài người với nhiệm vụ trà trộn vào thành phố. Họ đã trở ra với một nét mặt kinh hoàng. Người cán bộ sĩ quan có vẻ hoa mắt, nói:

    – “Thành phố quá lớn, lớn như Hải Phòng vậy.”

    Các anh bộ đội trong toán tiền sát bị xúc động khi nhìn thấy các tòa nhà lầu cao ngất trời sáng rực với ánh đèn nê-ông ở ngoại ô.

    Ở ngay Bộ Tham Mưu tại Hà Nội, người ta đã nói sai hết. Sự phân biệt không đứng vững. Ban Mê Thuột có nhiều nhất 150.000 dân. Hải Phòng có ít nhất 1 triệu dân. Những tin tức nầy được các báo cáo của các nhân viên thuộc hệ thống nhân dân cách mạng bổ túc , đôi khi cũng do phỏng vấn tù binh.

    Đã có ưu thế về nhân số, tướng Dũng muốn thêm vào yếu tố “bất ngờ” nữa. Ông giới hạn số lượng các toán tuần tiễu để không ai có thể nhận ra sự hiện diện của quân đội của mình. Tướng Dũng cũng ghi nhận là địch quân ở Ban mê Thuột dù yếu và lẽ loi, nhưng đã chiếm một vùng rộng lớn gồm các nhà cửa ở ngoại ô, và đó là một trở ngại lớn cho bộ đội Bắc Việt vì đâu đâu họ cũng đã có tổ chức phòng ngự. Cộng sản đã chiếm và giữ Phước Bình. Bây giờ ở Ban mê Thuột một thành phố lớn hơn nhiều chắc rồi họ cũng phải làm như vậy,

    Tướng Dũng chấp nhận là : “tấn công một thành phố lớn và hợp đồng tác chiến trong một phạm vi rộng lớn .. đều là những điều quá mới mẻ đối với bộ đội cộng sản” và ông tạm quên là trong năm 1972, bộ đội Bắc Việt đã từng tiến chiếm các thành phố lớn mà chưa từng giữ được bao giờ. Tướng Dũng cũng lo ngại về con số quá nhiều chướng ngại vật, những sông rạch hay những vị trí phòng thủ mà pháo binh nặng và các đơn vị chiến xa phải vượt qua.

    Người tổng chỉ huy phải có một mục tiêu chiến thuật: “Trong một trận chiến, điều hay nhất để chấm dứt trận đánh nhanh chóng là phải giải quyết và bắt ngay Bộ Chỉ Huy địch” Do vậy tướng Dũng muốn đưa ngay các đơn vị xung kích cơ giới tiến tới thật nhanh. Trong một bình diện (đẳng cấp) khiêm nhường, đây là lần đầu tiên, chiến lược của Blitzkrieg được đem ra áp dụng ở Việt Nam. Là thành viên của Bộ Chánh Trị, tướng Dũng suy nghĩ đến những bài toán của “Giải Phóng” hay đúng hơn là “Chiếm Đóng”: Ban mê Thuột là một trung tâm chánh trị, kinh tế quốc gia và tôn giáo của Cao Nguyên. Sự hiện diện của dân tộc thiểu số người Thượng, của những người Ky Tô giáo, Tin Lành, Phật Giáo, của gia đình đại tư bản, của những nhà trồng tỉa, của ngoại kiều. .. đã từng sống nhiều chục năm trong cái khí hậu bán thuộc địa nầy, tất cả đều là những bài toán rất phức tạp. Bộ đội Bắc Việt phải “có một thái độ đứng đắn” mới được . Và người ta cho lệnh hướng dẫn tất cả mọi cấp trong mọi đơn vị. Tướng Dũng dự kiến là “đối với tài sản của giới tư bản” sẽ cho áp dụng đúng đắn “chương trình của mình”. Ở điểm nầy tướng Dũng cũng còn mơ hồ lắm. Trái lại, ông dự kiến phải “xử dụng ngay những tù binh chiến tranh cho dịch vụ chiến trường” . Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa chưa bao giờ ký văn kiện quốc tế nào có liên quan đến lãnh vực nầy.

    Ban mê Thuột là thủ phủ của một trong 12 tỉnh thuộc Vùng II ChiếnThuật của Miền Nam Việt Nam, một vùng tương đối rộng bằng cả 3 Vùng khác nhập lại. Nhưng cũng là một Vùng có ít dân cư nhất. Sự tùng phục của dân chúng với Sài Gòn không được vững chắc lắm. Ở Phước Bình các đơn vị Địa Phương Quân có đồng bào Thượng, Trong cuộc chiến ở Việt Nam gần như có một cái lệ: càng xa thủ đô hay các đô thị lớn bao nhiêu thì dân chúng càng ít trung thành với Chánh Phủ bấy nhiêu . Những người nông dân chất phác thường “bị đưa đi” đào đường ban đêm dưới sự giám sát của Việt Cộng, và ban ngày thì lại “phải đi” lắp lại theo lệnh của binh sỉ Miền Nam.

    Tất cả những chuyện sau đây đều xem ra có lợi cho tướng Dũng: địa thế hiểm trở, với những ngọn núi dựng đứng, những thung lũng hẹp, với những hố trũng ăn sâu khắp nơi trong rừng.. tất cả không giúp gì được cho công cuộc phòng ngự của địch, hay các cuộc phản công yểm trợ của Không Quân địch. Người ta có thể ẩn nấp dễ dàng và thoãi mái ở đây hơn là ở vùng đồng ruộng ở Miền Nam .

    Thật là một lợi thế quân sự cho Dũng ! trước mặt ông ta là sư đoàn 23 bộ binh và 6 liên đoàn Biệt Động Quân của Miền Nam. Còn phía ông ta có cả 3 sư đoàn : sư đoàn 320, 316 và sư đoàn 10, dàn trận đánh thẳng vào Ban mê Thuột theo thế gọng kềm. Tướng Dũng rất mến sư đoàn cũ của ông ta, sư đoàn 320. Với sư đoàn nầy hồi năm 1952, ít người hơn, ông ta cũng đã hành quân giống như hôm nay, tấn chiếm thị trấn công giáo Phát Diệm, ở Bắc Việt . Ông đã len lỏi xuyên qua các đồn của người Pháp, đi vào tận trung tâm của thành phố và làm nổ tung Bộ Chỉ Huy của địch, chiếm giữ thị trấn trong 24 tiếng đồng hồ. Trên đường rút lui các đơn vị của ông ta đã quấy rối các đồn Pháp chung quanh thành phố trong suốt 20 cây số. Lần nầy, ông ta không có ý định phải rút lui, nhưng ông ta sẽ tái diễn lại kiểu hành quân mà ông gọi là “theo lối nở của hoa sen”

    Cũng như mọi tổng tư lệnh đều phải để lại một cái gì đó cho đời sau, trước khi trận chiến bắt đầu, tướng Dũng có một bài diễn văn lịch sử ngắn cho sĩ quan và binh sĩ thuộc sư đoàn 316:

    – “Tôi muốn đọc lại mấy câu thơ mà tôi không nhớ là của thi sĩ nào, những vần thơ nói lên một sự cay đắng trong lòng người Việt Nam chúng ta mà chúng ta phải vứt bỏ:

    Từ 30 năm rồi khi chúng ta biết cầm súng
    Vành trăng đã bị cắt làm đôi
    Nửa trên đất Bắc, nửa ngồi phía Nam !

    Để cho địch tin chắc rằng ông ta sẽ tấn công Pleiku, nơi đặt Bộ Tư Lệnh Vùng II Chiến Thuật, tướng Dũng có 3 cuộc hành quân “Dương Đông Kích Tây” để đánh lạc hướng địch.

    – Thứ nhất là Cảnh sát Miền Nam nhận được tin tức sai lạc do CPLTCHMN tung ra, theo đó thì quân kháng chiến đang chuẩn bị những cuộc biểu tình ở Pleiku và Kontum để đón mừng “giải phóng quân”

    – Thứ hai là tướng Dũng muốn cho địch biết là sư đoàn 968 từ Lào đang tiến về Pleiku, nên đã cho lệnh làm ồn ào tối đa để cho địch phải “chú ý”

    – Thứ ba là ông ta tổ chức hành quân trên làn sóng vô tuyến: cho người ta có cảm tưởng rằng sư đoàn tinh nhuệ 320 đang đóng quân gần đâu đây, ém quân trong một góc nào đó. Chỉ cần có một đài phát tuyến, một máy phát điện và vài người là quá đủ để bày ra một hệ thống liên lạc vô tuyến quan trọng giữa các đơn vị rồi !

    Ở Sài Gòn cơ quan tình bào CIA cũng biết được nhiều tin tức lắm. Phân tích gia Frank Snepp theo sát tình hình, ông ta biết rõ là có một sự điều quân quan trọng của Bắc Việt ở phía Tây và phía Bắc của Ban mê Thuột . Ông ta chỉ dự kiến là cộng sản sẽ cô lập thành phố Ban mê Thuột . Trong lúc nầy cơ quan tình báo CIA có rất ít tin tức liên quan đến các cuộc điều quân ở vùng Cao Nguyên. Trước đó hơn một năm rưởi, nhân viên đặc trách vùng nầy phạm lỗi về ngân quỹ nên giờ nầy họ không có đủ tiền trả cho các điệp viên. Hơn thế nữa vì muốn tiết kiệm nên họ đã bỏ cơ quan ở Ban mê Thuột , và người ta chỉ còn trông cậy vào những người Việt ở cơ quan tình báo của Miền Nam . Trong vùng Cao Nguyên nầy có rất nhiều nhân viên tình báo nhị trùng, nhưng cuối cùng thì họ chỉ phục vụ cho Hà Nội và CPLTCHMN. Chính Frank Snepp nhìn nhận là phúc trình của ông ta ngày 7/3 là một “sai lầm to lớn”. Không phải chỉ có một Frank Snepp mà còn có những người khác nữa, không ai để ý hay chịu tin vào những tin tức của một bộ đội Bắc Việt đào ngũ, hắn ta xác quyết là sư đoàn 320 thật sự đã di chuyển từ Pleiku đến Ban mê Thuột.

    Trong số các nhân viên CIA ở Việt Nam , Snepp là một nhân vật quan trọng. Cũng giống như ông Martin, Frank Snepp là dân của tiểu bang Bắc Carolina. Anh ta theo học ở Đại học Columbia , khoa bang giao quốc tế. Năm 1968, một trong những giáo sư của anh ta, ông Philip Mosley thuộc khoa Nga ngữ, đã nói với Snepp rằng:

    ” Con ơi, con thiếu sự linh hoạt để có thể làm việc ở Bộ Ngoại Giao, Cơ quan tình báo CIA hợp với con hơn.”.

    Giáo sư Mosley đã nhận thấy như vậy trong khi chính anh ta lại nghĩ rằng cách hay nhất để khỏi phải sang phục vụ ở Việt Nam là nên cột chặc số phận của mình với CIA. Ngay buổi chiều khi anh ta được thu nhận vào CIA, anh đi xem phim James .Bond (007 chống bác sĩ No) thì anh tự nhũ: “rồi thì ta cũng sẽ lái những xe kiểu thể thao như vậy thôi !” Sự tình cờ trong vấn đề bổ nhiệm đã đưa anh ta sang Việt Nam sống nhiều năm ở Sài Gòn.

    Trẻ, đẹp trai, có một trí nhớ tốt, nói cũng hay mà viết lách cũng giỏi, anh là người mà cả ông Polgar và ông Martin đều rất thích. Họ thườg dùng anh ta trong các buỗi thuyết trình. Ông Martin cũng thấy đôi khi anh có vẻ hài hước, nhưng từ lâu rồi ông rất tin tưởng anh ta. Ông Martin thường mời Snepp dùng cơm với ông. Snepp chơi thân với một người con gái của Martin, cô Ginette, đã ly dị rồi nhưng còn đẹp. Snepp không mấy thiên về chánh trị nhưng anh vẫn biết rằng trong lãnh vực tình báo, con người càng có tinh thần đạo đức bao nhiêu càng nguy hiểm bấy nhiêu. Snepp không chống đối đường lối chánh trị chánh đáng của Hoa Kỳ đối với Việt Nam .

    Trước sự điều quân của cộng sản Bắc Việt, các nhà quân sự của Miền Nam Việt Nam rất hoang mang và không có cùng một nhận định. Cũng như người Mỹ ở Sài Gòn, tướng Phú (tư lệnh Vùng II) nghĩ rằng mục tiêu chính của Bắc Việt là Pleiku. Tin tức từ Sài Gòn cho biết là nổ lực chính của Miền Bắc sẽ nhằm vào Ban mê Thuột. Tin tức thu lượm được từ cơ quan tình báo, từ kiểm thính, từ các tài liệu tịch thu được, từ các lời khai của tù hàng binh.. .. quá nhiều nhưng không giống nhau. Cuối cùng tướng Phú sau khi phân tích lần chót đã khẳng định là Bắc Việt sẽ tấn công vào Pleiku. Hơn nữa một số công điện của Sài Gòn đã khuyến cáo rằng : “cuộc tấn công vào Ban mê Thuột chỉ là một khả năng có thể xảy ra mà thôi”. Do đó tướng Phú nói với các sĩ quan tham mưu của ông:

    – “Có quá nhiều mục tiêu, Ban
    Mê Thuột rồi Pleiku, rồi Kontum !”

    Theo ông, thường thì thì địch tập trung nổ lực chính vào điểm trọng yếu nhất. Mà điểm trọng yếu ở đây là Pleiku.

    Tại đây quân lực Miền Nam có sẳn cơ sở Tổng hành dinh của người Mỹ đã để lại. Trước kia người Pháp đã chọn Ban mê Thuột , một vị trí trung tâm của vùng Cao Nguyên để đặt Tổng hành dinh. Còn người Mỹ không đặt nặng vấn đề địa lý, họ thích Pleiku hơn, dù đó là một thành phố nằm ở chệch xa về hướng Bắc. Nhưng họ có quá nhiều trực thăng, họ có khả năng di động cao, nên xa hay gần không còn là vấn đề đối với họ nữa.

    Tướng Phú là Tư lệnh Vùng II từ năm 1994. Lúc bấy giờ ông Thiệu đã thay đổi một số tướng tá, trong đó có 3 vị Tư Lệnh Vùng. Tướng Phú xuất thân từ Quân Đội Pháp. Ông đã từng là tù binh của cộng sản Bắc Việt ở Điện Biên Phủ, cho nên ý nghĩ sẽ bị cộng sản bắt lại một lần nữa đã luôn ám ảnh ông. Lúc nào ông cũng tự xem mình là một sĩ quan tham mưu. Trong trường hợp nầy, người sĩ quan tham mưu lại một lần nữa có vẻ do dự. Ông không muốn vì Ban mê Thuột mà phải rút bớt lực lượng phòng ngự của Pleiku. Trên phương diện quân sự, Pleiku là một vùng bằng phẳng, rất có lợi cho chiến xa địch. Trên phương diện chánh trị, mất Pleiku là một điều tai hại khủng khiếp. Vì tướng Dũng đã cho lệnh tấn công một số đồn bót chung quanh Pleiku và Kontum, nên tướng Phú càng tin chắc là Pleiku sẽ là mục tiêu chính của Bắc Việt . Nếu Ban mê Thuột có bị đánh thì ông ta sẽ xin không trợ và sẽ dùng trực thăng gởi quân đến đó tăng cường, tướng Phú luôn luôn nghĩ đến chiến thuật trong khuôn khổ hành quân theo kiểu của người Mỹ ,là người ta có thể điều động một số đơn vị quan trọng đi xa bằng trực thăng,

    Nhưng thong thả nghĩ lại, tướng Phú có cảm giác là địch đang đánh lạc hướng mình. Nhưng ở đâu đây ?

    Trưa ngày 9/3, tướng Dũng tin cho Chánh Trị Bộ, Quân Ủy Trung Ương, và tướng Giáp, bộ trưởng Quốc Phòng: “chúng tôi sẽ tấn công Ban mê Thuột ngày 10/3”.

    Ông ta nói là từ quân số , tiếp liệu, chiến cụ, súng ống đạn dược của ông ta tất cả đều rất là khả quan . Tinh thần binh sĩ theo ông cũng là tuyệt hảo. Cũng trong ngày đó lúc 19.00 giờ, ông đã dùng điện thoại liên lạc với các chỉ huy trưởng đơn vị chính của ông để được biết chắc chắn là họ đang nằm ở tuyến xuất phát. Người ta đã giải quyết xong các bài toán cuối cùng về tiếp liệu. Họ đã dùng các bè tre lớn để đưa pháo binh vượt qua sông Sre Pok. Trong sự yên tĩnh của đêm tối trùm khắp núi đồi, hàng chục ngàn bộ đội tiến tới mục tiêu của họ. Các đơn vị trưởng mà nhiều người tóc đã bạc, duyệt lại lần chót kế hoạch hành quân của đơn vị trên bản đồ,

    Trước hết tướng Dũng cho cắt hết các trục lộ chính dẫn đến Ban mê Thuột, và nhất là đường 14 nối liền giữa Ban mê Thuột và Pleiku. Để tránh một cuộc không trợ hữu hiệu của Không Lực VNCH, và tận dụng đêm tối có lợi cho bộ đội tấn công hơn quân phòng ngự, tướng Dũng cho lệnh tấn kích lúc 2 giờ sáng. Nhờ có pháo binh bắn dọn đường yểm trợ, bộ binh và chiến xa thuộc sư đoàn 10 tiến quân rất thoải mái.

    Tướng Dũng có 25.000 quân, còn quân trú phòng Ban mê Thuột chỉ có 1200.

    Đến 7g. 30 sáng các chiến xa đầu tiên của Bắc Việt đã xuất hiện ở vùng phía Bắc và Tây Bắc của thành phố. Họ đã nhanh chóng chiếm và phá hủy ngay một phần của kho đạn dược và một nhà xe của đơn vị thiết giáp, để bọc vòng qua đài phát thanh. Bốn mươi lăm phút sau đó, các chiến xa bắn trực xạ vào Bộ Tư Lệnh sư đoàn 23 bộ binh . Các toán quân thuộc trung đoàn 53 (QLVNCH) đã giữ vững phi đạo chính nằm về phía Tây của thị trấn. Tướng Dũng cho áp dụng chiến thuật “hoa sen nở”, bọc vòng phi đạo chính nầy và tiến chiếm phi đạo nhỏ hơn nằm về hướng Bắc của thị trấn.

    Không quân Miền Nam Việt Nam bắt đàu đến can thiệp. Bắc Việt vẫn không bao giờ xử dụng không quân của họ. Lực lượng Phòng Không Bắc Việt hoạt động rất mạnh. Các phi công Miền Nam vẫn còn bay thật cao và họa vô đơn chí bom họ lại thả lầm xuống trung tâm truyền tin của Bộ Tư Lệnh sư đoàn 23 bộ binh . Và do đó đã làm xáo trộn hết công tác phòng thủ thị trấn Ban mê Thuột, mất hẳn liên lạc vô tuyến với Bộ Tư Lệnh Vùng II Chiến Thuật. Lúc bấy giờ Pleiku mới biết đâu là mục tiêu chính của Bắc Việt . Tướng Phú quyết định gởi quân tiếp viện đến Ban mê Thuột , trước hết là trung đoàn 44 là trung đoàn trực thuộc của sư đoàn 23 bộ binh . Để chuyển 2 tiểu đoàn, tướng Phú mới biết được là mình chỉ còn có 7 chiếc trực thăng Chinooks. Mỗi chiếc chỉ chở được 40 người , nhưng sau đó có 2 rồi 3 rồi 5 chiếc bị trục trặc kỹ thuật không thể xử dụng được .

    Tại sứ quán Hoa Kỳ ở Sài Gòn , không khí quá căng thẳng, người ta dự trù cho tướng Phú mượn 2 chiếc trực thăng của CIA, thuộc Hàng Không Air America. Nhưng đó là một hành động vi phạm rõ rệt Hiệp Định Paris.

    Dĩ nhiên không thể nào gởi viện quân đến Ban mê Thuột bằng đường bộ rồi. Mà chuyển quân với 2 trực thăng cũng là điều rất khó khăn. Bài toán tiếp vận nầy xem ra tướng Phú không thể giải quyết được .

    Hầu hết các đơn vị chánh quy của Miền Nam Việt Nam từ sĩ quan đến binh sĩ thường có thói quen là đem gia đình theo sống gần họ, ở hậu cứ của đơn vị. Từ lâu rồi Ban mê Thuột là hậu cứ của sư đoàn 23 bộ binh , nhất là các đơn vị có nhiệm vụ phòng thủ thị trấn như trung đoàn 53, và các đơn vị ở Pleiku như trung đoàn 44. Chỉ trừ những đơn vị thuộc binh chủng Nhảy Dù, Biệt Động Quân và Thủy Quân Lục Chiến thì họ không mang theo gia đình lúc họ có nhiệm vụ từ tỉnh nầy sang tỉnh khác hay từ Vùng nầy sang Vùng khác. Các cố vấn Hoa Kỳ đã chấp nhận sự có mặt của gia đình quân nhân, trước hết vì lương bổng của họ quá thấp. Một binh sĩ Miền Nam chỉ lãnh 25.000/ tháng (khoản trên dưới 400 quan Pháp, hay trên dưới 25 mỹ kim), nên gia đình họ phải sống gần họ thì họ mới nuôi được.

    Viện quân từ Pleiku được trực thăng đổ xuống chung quanh thị trấn Ban mê Thuột. Một số binh sĩ chỉ lo chạy đi tìm cha mẹ vợ con và những người thân của họ. Khi họ gặp được rồi thì có khi họ vứt cả súng ống quân phục và tìm cách rời khỏi thị trấn. Chỉ có các đơn vị Biệt Động Quân là còn giữ được kỷ luật và còn chiến đãu.

    Tướng tư lệnh sư đoàn 23 bộ binh Lê trung Tường quen lối chỉ huy kiểu Mỹ, nên đã ngồi trên một chiếc trực thăng để điều động các đơn vị. Kỹ thuật nầy chỉ giúp người chỉ huy nhìn thấy rõ chiến trường, nhưng không giúp ông ta gần gũi binh sĩ của mình . Vợ con của tướng Tường đang đợi ông ta ở trung tâm huấn luyện, nằm về phía Đông Nam của thị trấn. Ông cho lệnh cho tiểu đội Biệt Động Quân chuẩn bị bãi đáp cho ông ở gần trung tâm huấn luyện. Và như vậy là chính ông tướng nầy cũng lo cho gia đình hơn là lo cho các đơn vị đang chiến đấu với cộng sản . Một tràng tiểu liên đã bắn trúng chiếc trực thăng. Ông Tường bị thương nhẹ ở gò má. Và ông tự tản thương về nằm luôn ở bệnh viện.

    Viên Tổng tư lệnh Bắc Việt đã dự trù là ông sẽ phải tốn cả tuần lễ mới hoàn toàn chiếm được Ban mê Thuột . Nhưng đại khái thì ông coi như ngày 10/3 lúc 17g.30 là bộ đội Bắc Việt đã chiếm xong thành phố Ban mê Thuột.

    Ngày đầu tiên, các đơn vị Bắc Việt đã phải chịu gần 200 cuộc không tập của Không Lực VNCH. Và những ngày kế tiếp cứ mỗi ngày khoản 60 lần. Một vài đại đội và nhất là Biệt Động Quân, vẫn còn tiếp tục chiến đấu. Các phi công Miền Nam không có tin tức đày đủ nên không biết vị trí các đơn vị Bắc Việt ở đâu nên không thể yểm trợ được, vì quân hai Bên đối diện nhau rất gần. Hoặc là họ rụt rè không dám thả bom vào thành phố hay những vùng ngoại ô đang có quá nhiều thường dân lánh nạn. Các đơn vị Địa Phương Quân người Thượng ít tham gia vào công tác phòng thủ thị trấn. Một vài người thuộc tổ chức FULRO, một phong trào trung lập đòi tự trị, không mạnh như Hà Nội đã tưởng, đã được Bắc Việt dùng như trinh sát dẫn đường cho các đơn vị . Trong vùng Ban mê Thuột cũng như ở Cao Nguyên, các đơn vị chánh quy Miền Nam Việt Nam coi thường người Thượng, có dùng trong các đơn vị phụ lực thì cũng không tin cẩn họ lắm.

    Tổng thống Thiệu cho lệnh tướng Phú chiếm lại Ban mê Thuột. Ông còn cho lệnh cho Lê vĩnh Hòa, Giám đốc đài truyền hình gởi một toán quay phim lên Ban mê Thuột để thu hình trận tái chiếm thị trấn nầy. Trong lúc tướng Phú lại có kế hoạch khác.

    Tại Ban mê Thuột , bộ đội Bắc Việt bắt giữ 8 nam nữ mục sư người Mỹ, 1 người Úc, 1 người Phi luật Tân, và một nhân viên thuộc Lãnh Sự quán Hoa Kỳ là ông Paul Struharik. Tuy họ được đối xử tử tế nhưng họ được đưa ngay về Miền Bắc.

    AFP là cơ quan truyền thông duy nhất có một văn phòng tại Sài Gòn và một tại Hà Nội. Tại thủ đô Sài Gòn trưởng văn phòng là ông Jean Louis Arnaud. Trong thời gian trận chiến xảy ra ở Ban mê Thuột thì ông Arnaud đang ở Bangkok. Một điện tín do Paul Léandri gởi đi từ Sài Gòn giải thích rằng một số người Thượng thuộc lực lượng Fulro đã dẫn đường cho các đơn vị Bắc Việt. Báo chí quốc tế đã cho đăng lại bản tin nầy, nên bức điện tín của Léandri làm cho cả Tổng thống Thiệu và Thủ tướng Khiêm không vừa lòng. Dưới nhãn quan của họ,bức điện tín nầy coi như gợi ý cho lực lượng đối lập ở Cao Nguyên Trung Phần hợp tác với lực lượng xâm lăng Bắc Việt .

    Ở Việt Nam đã hơn một năm rồi, ông Léandri thường hay chỉ trích Chánh Phủ VNCH. Léandri săn tin từ một phóng viên được yêu cầu dấu tên. Hai ông cảnh sát trưởng đến văn phòng của AFP. Họ muốn biết tên của người linh mục đã đưa tin cho Léandri. Ông nầy từ chối. Cảnh sát khẻ cho lịnh Léandri trình diện ở Sở Di Trú. Léandri báo cho sứ quán Pháp và bạn bè của anh ta biết việc nầy.

    Anh Léandri là một người Pháp gốc Corse, 38 tuổi, mặt mày cũng dễ coi, nhưng cứng đầu, dễ nổi giận. Chiều hôm đó, anh lái chiếc Peugeot của hảng thông tấn AFP, cùng với người tài xế, anh đi vào sở Di Trú ở Chợ Lớn. Chỗ mà anh đến trình diện và Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia nằm đối diện nhau. Một người cảnh sát trưởng mà anh đã gặp ban sáng vẫn còn đòi hỏi Léandri phải cho ông ta biết tên của “nguồn tin”. Leandri phản đối và đòi cho gặp một cấp trên. Đại tá Phạm kim Quy, Chánh sở Cảnh Sát Tư Pháp ? Dĩ nhiên là có thể lắm, tại sao không ? Ông đại tá không có mặt ở văn phòng trong Bộ Tham Mưu Cảnh Sát, ở ngay phía bên kia đường. Không biết ông ta có ở trong Sở Di Trú hay không ? Leandri không biết mình phải đi đâu, lòng vòng quá, anh trở về văn phòng AFP của mình, xong trở lại sở Di Trú. Cũng chưa gặp được đại tá Quy. Leandri lái qua lộ, vào đậu xe trên một con đường nhỏ trong Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát. Vào lúc 19 giờ, Lảnh sự Pháp, ông Patrice Le Carruyer Deuvais đến sở Di Trú. Người ta không có nói cho ông nầy biết là Léandri đang còn đợi cách đó chỉ vài trăm thước, ở ngay Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát.

  16. Léandri lúc đầu còn bình tỉnh đi đi lại lại trong sân, rồi không bình tỉnh được nữa, đâm ra cáu kỉnh: 21 giờ rồi . Người ta sẽ giữ anh suốt đêm ở đây chăng ?. Anh leo lên xe, đóng cửa lại, cho nổ máy , lui lại và chạy ra cổng. Trong đêm tối, có tiếng kêu báo động của cảnh sát, có vẽ náo động. Léandri nhấn ga. Ngay tại cổng, một cảnh sát bắn một phát vào xe Peugeot, xe lủi vào tường. Léandri chạy được 300 thước, đạn trúng ngay màng tang, chết tại chỗ. Sau đó, các luận cứ của người Pháp, của người Mỹ và của Việt Nam đều không giống nhau. Dưới con mắt của người Việt Nam anh Leandri là một Việt lai Pháp. Cảnh sát có thật dám bắn anh ta hay không khi nghĩ rằng Leandri là một người da trắng ? Thà là anh Leandri có cảm tình với chánh quyền Miền Nam.

    Tin anh Leandri chết được loan đi thật nhanh. Tất cả các nhân viên của sứ quán Hoa Kỳ đều được lệnh không nên xen vào việc đáng tiếc nầy. Dù vậy, Thomas Polgar cũng phải có một công hàm cho Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Việt Nam để được giải thích rõ hơn nội vụ. Cảnh Sát thì thề rằng họ đã có lên tiếng cảnh cáo trước và người lính gát đã bắn vào lốp xe. Cái chết của anh Léandri gây mất cảm tình ở Hoa Thạnh Đốn , Ba lê và ngay cả Sài Gòn . Nhiều người coi đó là một sự thanh toán của cảnh sát đối với anh Léandri. Hoặc đối với báo chí nói chung, hay đối với nước Pháp.

    Mối giao hảo của ông Thiệu và những người quốc gia với nước Pháp hay với cộng đồng người Pháp ở Việt Nam không được tốt đẹp lắm. Những người quốc gia cùng thế hệ với Tổng thống thì thân Pháp hơn là thân Mỹ. Nhưng trên phương diện chánh trị thì ông Thiệu không có thân Pháp. Các vị Tổng Thống Pháp theo sự ước tính của ông đã không nâng đỡ ông. De Gaulle thì quá chống Mỹ, gần như thù nghịch. Ông Pompidou thì đã gởi trả lại quân đội trước kia một vị đại sứ đương nhiệm ở Sài Gòn . Còn bây giờ Tổng Thống Valery Giscard d’Estaing và các nhà ngoại giao của ông ta rõ ràng đang chơi lá bài “lực lượng thứ ba”, mà theo ông là một lực lượng thân cộng trá hình. Ông Thiệu và những công chức trong guồng máy hành chánh và quân sự của ông không hiểu được cái nhìn thù nghịch của các nhà báo trong vùng. Các phóng viên thật ra nếu không phải là cộng sản thì vô Việt Nam rất dễ dàng, muốn đi đâu thì đi rất là tự do. Các đơn vị thuộc QLVNCH còn giúp chuyên chở họ trong khả năng phương tiện mà họ có được tuy ít hơn quân đội Mỹ trước kia. Đối với báo chí ngoại quốc thì không có kiểm duyệt, vậy mà các nhà báo nầy cứ chỉ trích chế độ Miền Nam trong khi họ hết sức khoan dung đối với Hà Nội . Họ ca tụng nào là sự can đảm, nào là sự bền chí của Việt Cộng mà họ quên rằng những người đó chính là bộ đội chánh quy của Bắc Việt. Họ không bỏ lở một cơ hội nào để nêu lên những sự yếu kém và hơn thế nữa còn bình luận về sự nhát gan của binh sĩ Miền Nam Việt Nam. Họ luôn luôn nêu lên những sự đào ngũ ở Miền Nam mà không bao giờ nói đến hành động nầy ở Miền Bắc. Tuy nhiên ông Thiệu rất hãnh diện về quân đội của ông, họ thường đánh rất hăng. Có mấy ai đã từng tỏ lòng kính trọng binh sĩ của Miền Nam ? Năm 1972, họ đã từng tái chiếm Quảng Trị sau 45 ngày chiến đấu. Hoàng đức Nhã thường khuyến khích ông Thiệu nên có hành động lấy lòng báo chí quốc tế, nhất là báo chí Pháp. Thường thì ông Thiệu rất là thất vọng với giới báo chí..

    Mối giao hảo với những người Pháp cư ngụ tại Việt Nam tốt hơn là với giới báo chí ở Pháp, tuy nhiên cũng vẫn còn phức tạp lắm. Các chủ hãng xưởng, như ông Patrick Hays của hãng Michelin, đều là những người chộng cộng. Nhưng phần đông thường tỏ thái độ không thích chánh trị khi nói đến tình hình nội bộ của Việt Nam. Tuy vậy vẫn có một vài người Pháp còn có thái độ chống Mỹ khi họ nhấn mạnh đến các phúc trình của tướng Quang trình lên cho ông Thiệu. Kẻ thù của bạn tôi là kẻ thù của tôi ! Tất cả đều qua đi giống như những người Pháp chống cộng đó đã từng nói: “chúng tôi không thắng được Việt Minh thì không có lý nào người Mỹ lại thắng được Việt Cộng và bộ đội Miền Bắc . Ông Thiệu tự cho mình là một người chống thực dân và ông ta nghi ngờ người Pháp muốn trở lại đô hộ Việt Nam. Những người khờ dại đó tưởng rằng họ có thể tính toán được với cái gọi là CPLTCHMN và với Hà Nội !!

    Sự việc Léandri đương nhiên tạo ra một sự đoàn kết công khai rộng lớn trong giới truyền thông, và điều nầy đã gây bối rối cho ông Thiệu. Đã từng có nhiều phóng viên ngoại quốc chết ở Việt Nam rồi, nhưng đây là lần đầu tiên cảnh sát Miền Nam bắn chết một nhà báo Pháp.

    Đại sứ Pháp xin được vào gặp Tổng Thống. Ông Thiệu tiếp ông Jean Marie Mérillon. Ông có vẽ buồn, ông thấy đây là một sự hiểu lầm đến ghê sợ. Đối với ông Mérillon, ông Thiệu gần như nói lên lời xin lỗi. Ông không có lợi lộc gì để mà có hành động không tốt với nước Pháp. Ông Mérillon ghi nhận là ông ta có một trái tim nhạy cảm. Bằng cớ là không bao giờ ông giải quyết việc cho lệnh hành quyết các tử tội.

    Báo chí và đài phát thanh Hà Nội bình luận về cái chết của anh Léandri rằng; “những người Miền Nam Việt Nam là bọn phát xít !”

    Tờ “Nhân Dân” của Hà Nội cho đăng một bài phóng sự về “cuộc giải phóng Ban mê Thuột “:

    – ” Cờ xí , biểu ngữ, hình ảnh và thông cáo được treo, dán khắp các đường phố trong thị trấn. Khắp các dường phố, dân chúng tiếp đón chánh quyền mới, giáo sư và học sinh các trường trung học, sinh viên trường kỹ thuật và sư phạm tập họp vui vẻ trong trường. Họ nói với nhau :”Không còn vui nào bằng !!” Thật vậy, sự tuyên truyền của Sài Gòn khác hẳn với thực tế như ngày với đêm ! Có nhiều học sinh và dân chúng ra quét đường phố, gở bỏ hết các tàn tích văn hóa Mỹ.. .. và đi lùng sục địch quân còn ngoan cố phá rối trật tự, Ở trường trung học Bồ Đề hàng ngàn sĩ quan, binh sĩ và công chức của bộ máy bù nhìn ra trình diện.. ..” (20/3)

    Ngày 11/3, trong bữa ăn sáng, ông Thiệu có một phiên họp với 3 tướng lãnh, tướng Khiêm, Thủ tướng, tướng Viên, Tổng Tham mưu trưởng và tướng Quang, cố vấn an ninh. Bữa ăn sáng được dọn ra ở lầu 3 Dinh Độc Lập. Theo ông Thiệu thì nơi đây tránh được sự kiểm thính hay nghe lén của Hoa Kỳ . Ông Thiệu hình như không mấy xúc động đối với diễn tiến trận tấn công của Bắc Việt vào Ban mê Thuột :

    -” Với lực lượng mà chúng tôi đang có, chúng ta không thể phòng thủ hết lãnh thổ của chúng ta được . Nếu chúng ta cứ khăng khăng muốn giữ từng đồn lẻ tẻ thì lãnh thổ của chúng ta sẽ bị gậm nhấm hết.”

    Trên một bản đồ Việt Nam, ông Thiệu phác họa một chiến lược mới: Cần phải giữ và tăng cường một “Việt Nam hữu ích”, đại cương là Vùng IV Chiến Thuật ở Đồng bằng sông Cữu Long, và Vùng III Chiến Thuật, chung quanh Sài Gòn . Ở đây có đủ tài nguyên của đất nước, như lúa gạo và các mỏ dầu ở ngoài biển. Tổng thống giải thích :

    -“ Phải ấn định lại trận tuyến, ở hướng Bắc, nhất là ở Vùng 2. Chúng ta sẽ bỏ phần đất phía trên cao , cũng rộng lắm. Nhưng chúng ta giữ lại một số cứ điểm thật mạnh như Hué, Đà Nẵng, Chu Lai. Những cứ điểm nầy có một giá trị tượng trưng hơn là chiến lược. Cứ điểm Đà Nẳng sẽ là một cứ điểm quan trọng. Ở đó quân đội Hoa Kỳ đã đổ bộ hồi năm 1965. Nếu họ có trở lại trong một tháng hay một năm nữa, thì họ cũng phải tính đến căn cứ nầy.

    Lạ lùng chưa? ông Thiệu so sánh các cứ điểm nói trên với những đầu cầu mà Hoa Kỳ đã dùng để đổ bộ trong trận chiến ở Normandie (Thế chiến 2 ở Pháp). Không biết ông có lẫn lộn giữa kẻ xâm lăng với người bị xăm lăng hay không ?

    Ông Thiệu yêu cầu Thủ Tướng Khiêm và Tổng Tham mưu Trưởng Viên nghiên cứu một kế hoạch phòng thủ: tuyến phòng ngự mới mà ông đã chọn, đi từ Tây Ninh và Dalat, xuống đến bờ biển Nha Trang.

    Thủ tướng Khiêm không còn lạ gì với điều nầy. Ý định “tái phối trí” nầy Tổng thống Thiệu đã có nói qua mấy ngày trước rồi, thoáng qua thôi, cho tướng Ngô quang Trưởng,Tư lệnh Vùng 1 Chiến Thuật. Trước đó 3 tháng, tướng Charles Timmes và Đề đốc Chung tấn Cang cũng đã nghĩ tới giải pháp nầy rồi. Bây giờ để thay đổi một chút, Tổng thống gợi ý lại khả năng hành động mới nầy, một “chiến lược mới” trong khuôn khổ một cuộc “duyệt xét lại chiến lược” với các tướng lãnh của ông. Một trong những cố vấn bất ngờ của ông là tướng hồi hưu người Úc, Ted Sarong, một người mà nhơn viên sứ quán Hoa Kỳ cho là không đáng tin cậy, đã đề nghị một ít thay đổi trong kế hoạch rút quân tái phối trí nầy.

    Để trung thực gọi đây là một cuộc “tái phối trí”, ông Thiệu đưa ra những chứng minh về mặt ngân sách. Ông đã tính toán với Thủ Tướng và Tổng Tham mưu trưởng của ông: Trước kia với 1, tỷ rưởi mỹ kim chúng ta có thể phòng thủ được 4 Vùng Chiến Thuật. Như vậy với 700 triệu chúng ta chỉ có thể giữ được 2 Vùng mà thôi là Vùng III và Vùng IV. Ông cũng giã thiết hay hy vọng rằng khi phải bỏ đi một nửa lãnh thổ cho cộng sản, ông có thể tạo ra hai xúc động tâm lý. Bị báo động, người Mỹ sẽ sẳn sàng bỏ phiếu thuận để viện trợ bổ túc cho Miền Nam Việt Nam . Tổng trưởng kế hoạch Nguyễn tiến Hưng bảo đảm với ông Thiệu là Hoa Kỳ có một số tiền khá lớn thuộc “quỹ đen” còn chưa xài tới, như Ngũ Giác Đài còn dự trử 850 triệu.

    Ở Sài Gòn có nhiều người lẫn lộn giữa ngân sách quốc gia của Việt Nam với kế toán công khai của Hoa Kỳ . Dư luận của người dân Mỹ có thể thay đổi. Phải có một loại biến cố như Trân Châu Cảng mới có thể lật ngược được thế cờ. Một cú sốc cần thiết khác : Miền Nam Việt Nam có mất hồn thì phải trấn tỉnh lại. Hậu quả lớn lao là bỏ đất, trái ngược với nguyên tắc “bốn không” của chính mình : “không nhượng một tấc đất nào cho cộng sản “

    Theo dự kiến mới nầy, ông Thiệu nghĩ là phải rút các đơn vị ưu tú về Sài Gòn. Đó là sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến và sư đoàn Dù, cả hai đang trấn giữ phần đất phía Nam vĩ tuyến 17, ở Vùng I ChiếnThuật.

    Binh chủng Dù được người Pháp thành lập và binh chủng Thủy Quân Lục Chiến được người Mỹ thành lập.

    Ý định nầy được nhen nhúm trong đầu các tướng lãnh Việt Nam ở Sài Gòn , nhưng người Mỹ thì không biết gì cả. Nhiều tướng tá nghĩ là ông Thiệu muốn có sẳn trong tay, tại thủ đô, các đơn vị tinh nhuệ của ông để làm nản lòng những ai có ý muốn đảo chánh ông ta. Ông Thiệu muốn có một sự ổn định cả về chánh trị lẫn quân sự, Trên phương diện quân sự, kế hoạch của ông cũng không có gì gọi là vô lý. Ông sẽ có lợi thế là có thể tập trung lực lượng đối phó với các sư đoàn Bắc Việt càng ngày càng đông. Dài hạn thì kế hoạch nầy cũng có lý. Còn ngắn hạn, cấp bách hơn là có thể tiến chiếm lại Ban mê Thuột , vì Ban mê Thuột nằm trong phần lãnh thổ của một “Việt Nam hữu ích”

    Ý kiến hay chiến thuật “cứ điểm” nầy đã từng được tướng Hoa Kỳ là James Gavin tung ra từ lâu. Ông dùng cứ điểm như là nơi đồn trú cho binh sĩ Mỹ để tránh rải các đơn vị ra quá rộng.

    Ông Thiệu không có nói ra cho người Mỹ biết kế hoạch nầy. Cũng có thể ông cho ông Martin biết nếu ông nầy có mặt ở Sài Gòn. Đại sứ là người duy nhất mà ông Thiệu thường hay trao đổi và thích trao đổi vì ông gần như không có chút tin tưởng nào đối với những người khác trong sứ quán Hoa Kỳ. Ở đó có quá nhiều người chống lại ông. Hơn nữa ông không muốn kế hoạch của ông bị tiết lộ ra ngoài.

    Ông Dan Ellerman, cố vấn kinh tế của sứ quán Hoa Kỳ phân tích tình hình với ông Nguyễn văn Hão, Phó Thủ Tướng đặc trách về kinh tế. Ông Hão trong một thoáng đã nói qua về kế hoạch thu hẹp hệ thống bố phòng của Miền Nam Việt Nam. Ông Ellerman đã từng làm việc ở Việt Nam trong các cơ quan tình báo Hải Quân, cho nên những sự tiết lộ của ông Hão có liên hệ đến tình hình chánh trị và quân sự không lọt khỏi ông được.(9/3). Lập tức ông báo cáo mọi việc cho ông Wolfgang Lehmann. ÔngPhó Đại Sứ xin một phúc trình chi tiết của Dan Ellerman và gởi thẳng cho ông Martin ở Hoa Kỳ . Rất tiếc là ông Đại sứ Martin lại không chú ý chút nào đến sự kiện nầy (4)

    Ngày 12 tháng 3, ông Thiệu gọi ông Nguyễn bá Cẩn đến gặp ông. Ông Cẩn thuộc đảng Dân Chủ của ông Thiệu và hiện là Chủ tịch Quốc Hội. Ông Thiệu muốn lưỡng viện Quốc Hội tuyên bố “tình trạng khẩn cấp” trên toàn quốc để khích động mạnh vào dư luận quần chúng ở Miền Nam .

    Rồi ông Thiệu trở lại biến cố quân sự tối khẩn của Miền Nam . Ông sẽ đi ngay đến Bộ Tư Lệnh Vùng II Chiến Thuật ở Pleiku. Cố vấn an ninh của ông can ngăn ông: Phòng không của Bắc Việt rất nguy hiểm , chúng ta không biết hết vị trí của chúng ở đâu, Và ai mà biết được là phi cơ củaTổng Thống có thể bị chiến đãu cơ của Bắc Việt tấn công, xuất phát từ căn cứ Không Quân nằm ngay phía Bắc của vĩ tuyến 17 ? Do vậy ông Thiệu đi gặp tướng Phú ở Cam Ranh, nằm trên bờ biển giữa Pleiku và Sài Gòn .

    Sáng ngày 14 tháng 3, ông Thiệu lên chíếc phi cơ DC 6 cùng với Thủ tướng Khiêm, tướng Viên, Tổng Tham mưu trưởng và tướng Quang, cố vấn an ninh của ông. Ông gặp Tướng Phú tại Cam Ranh, không có sự hiện diện của bất cứ một sĩ quan nào khác. Phiên họp được diễn ra trong một ngôi nhà trắng mà người ta đã từng sửa soạn , dự trù để đón tiếp ông Lyndon Johnson năm 1966.

    Ở Cam Ranh, người ta cảm thấy xa được không khí chánh trị ồn ào của Sài Gòn và không khí xôn xao của Pleiku. Cam Ranh đã từng là một căn cứ Hải Quân và Không Quân quan trọng của Hoa Kỳ, là một vị trí chiến lược hai chìu. Với Cam Ranh, người ta kiểm soát được một phần lãnh thổ của nước Việt Nam . Trên bình diện quốc tế, tuần tự Nhật Bản, Hoa Kỳ và Liên Xô ai cũng ngấp nghé Cam Ranh. Hải cảng Cam Ranh có bến nước sâu cho tàu bè vào đậu. Ở Việt Nam, người Mỹ đã xây cấy 55 phi cảng quan trọng, mà phi cảng Cam Ranh là một trong những phi cảng được trang bị tốt nhất. Trong hiện tại, một phần của Cam Ranh không còn được hệ thống ra đa bảo vệ: hệ thống nầy bắt đầu từ Ban mê Thuột . Đây là một vị trí hùng vĩ nhưng rất yên tịnh, tuyệt đẹp với những bãi cát trắng dài hàng cây số và san hô dưới biển. Người Mỹ đã có một trung tâm nghĩ mát và giải trí cho binh sĩ của họ tại đây . Họ có thể trượt nước, xem chiếu bóng, thưởng thức món bít tết ngon tuyệt có khi nặng cả nửa kí lô, và các món ăn hải sản như tôm hùm, cua bể, sò huyết v.v.. và sau đó nghỉ ngơi thoãi mái trong những phòng ngũ sang trọng trang bị đày đủ tiện nghi, từ máy điều hòa không khí đến hệ thống truyền thanh truyền hình, phòng tắm, nhà vệ sinh,.. Từ sau ngày Hoa Kỳ rút quân về nước, các trung tâm nầy đã không còn như xưa nếu không muốn nói là đã gần như hoang tàn, nhưng nhìn chung Cam Ranh vẫn còn có một không khí yên tĩnh tuyệt diệu !

    Trước hết tướng Phú có vẽ mất tinh thần , nóng nảy, trình bày trên bản đồ, vị trí đóng quân của các đơn vị thuộc Vùng II Chiến Thuật của ông. . Ông nói:

    – ” Tình hình rất xấu trên khắp vùng Cao Nguyên. Tất cả các trục giao thông chính đều bị cắt đứt. Ban mê Thuột thì đã bị mất rồi. Bây giờ thì Pleiku coi như đang bị bao vây và uy hiếp. Được thấy có thêm nhiều sư đoàn Bắc Việt khác đang xuất hiện. Chúng tôi không có khả năng giữ được Pleiku trong vòng một tháng hay 6 tuần lể nữa.”

    Ông Thiệu nghĩ ngay đến chiến lược mới của ông, chiến lược mà ông gọi là “ đầu teo đít to” . người Mỹ dịch lại là “Nhẹ ở trên, Nặng ở dưới”. Ông Thiệu hỏi tướng Phú:

    – – ” Giờ nầy chúng ta có thể tái chiếm Ban mê Thuột được không ?

    Tướng Phú trả lời quanh co, đòi viện binh, phương tiện chuyển vận và đạn dược. ông Thiệu quay sang tướng Viên. Tổng Tham mưu trưởng không có quân trừ bị, và thiếu trực thăng. Trên giấy tờ, ông có 430 trực thăng, nhưng đã có hơn phân nửa bất khiển dụng, vì thiếu phụ tùng thay thế. Phần còn lại thì có một số bị hỏa tiển Strella, một loại hỏa tiển mới của Liên Xô, bắn hạ hay bị hư hại trong trận chiến ở Phúc Long , Ban mê Thuột và một vài chỗ khác.

    Theo ông Thiệu thì: nếu Miền Nam tái chiếm được Ban mê Thuột và nếu ông thực hiện được cuộc lui quân lớn theo chiến lược “tái phối trí” của ông thì chúng ta có thể đóng quân lại ở Pleiku và Kon Tum, tạm thời đang được triệt thối .

    Một cuộc bàn cãi bắt đầu , trong mơ hồ và lộn xộn. Ông Thiệu thì có cảm tưởng rằng mình đã cho lệnh tướng Phú tái chiếm Ban mê Thuột . Tướng Phú thì đinh ninh rằng người ta đã cho lệnh ông rút khỏi Pleiku và Kon Tum.

    Các cuộc nói chuyện với ông Thiệu được biết là thiếu sự chính xác. Thông thường ông Thiệu có thói quen hay dùng những câu trả lời mơ hồ như: Sẽ coi lại; Tại sao không ? Đâu phải là không được ?

    Có điều chắc chắn là cuộc triệt thoái khỏi Pleiku đã được quyết định. Cả Thủ Tướng và Tổng Tham mưu trưởng không có ai phản đói. Ông Thiệu chấp nhận phải mất Pleiku để cứu Ban mê Thuột , tướng Phú thì chấp nhận mất Pleiku để cứu Bộ Tư Lệnh Vùng II mà ông sẽ chuyển đến một nơi khác.

    Người ta tìm một con đường để rút quân. Con đường tốt nhất là quốc lộ 19 nối liền Pleiku và bờ biển không còn xử dụng được nữa. Quân Bắc Việt đã cắt đứt nó rồi. Hai bên đường là nơi tập trung pháo binh, các đội phòng không, hỏa tiển, và các toán chống chiến xa . Tướng Phú đề nghị dùng một liên tỉnh lộ cũ, đường 7 B. Con đường nầy dài 200 cây số ngoằng ngoèo lên núi xuống ghềnh, trước kia được thợ rừng xử dụng để đi đến Tuy Hòa, một thị trấn nằm sát bờ biển. Bắc Việt không có kiểm soát và chưa từng kiểm soát con đường nầy. Lần nầy quân lực Miền Nam được yếu tố “bất ngờ”. Người ta sẽ cho công binh đi trước. Họ sẽ sửa chửa hay tăng cường vài chiếc cầu. Một lợi thế khác là vùng nầy không có bao nhiêu cư dân. Và Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa sẽ không bao giờ gặp khó khăn nào với dân chúng ở đây. Các đơn vị Địa Phương Quân và Nghĩa Quân sẽ phải ở lại để tiếp tục nhiệm vụ phòng thủ Pleiku và Kon Tum. (5) Và sau cùng các công chức cũng phải được giữ lại để tránh một sự hoảng loạn cho dân chúng và kế hoạch không bị tiết lộ.(6).

    Trong bộ đồ lớn màu xanh đậm, với sơ mi xanh và chiếc cà vạt màu đỏ mà vợ ông quả quyêt đó là màu đem lại may mắn cho ông, Thủ tướng Khiêm không có một phản ứng nào về điều nầy dù là công chức là những người mà ông phải có bổn phận đối với họ. Như thường lệ, ông có vẻ hờn rỗi, bực tức điều gì đó, trong khi ông rất thận trọng, không thích và không bao giờ muốn nói lên ý kiến của mình, thậm chí đến ra lệnh cũng không . Ông rất chậm chạp trong công việc, hay thoái thác và trầm ngâm bất động đến khó hiểu như đang chờ thời vậy. Người ta gán cho ông có tham vọng làm Tổng Thống. Nhưng ông chỉ thích vai trò của nhân vật thứ hai, núp sau lưng Tổng thống mà thôi. Ở đây thực sự ông là một tướng lãnh với 4 sao trên vai, nhưng ông lại có cái mũ của một ông Thủ Tướng. Hai câu trả lời mà ông thích dùng là : ” Anh hảy trình thẳng với Tổng Thống đi ” hay là ” Anh hảy xét việc đó với người Mỹ đi ” Do đó mà cả Dinh Độc Lập và sứ quán Mỹ đều thích ông.

    Tướng Tổng Tham mưu trưởng trình bày với những sự dè dặt thường lệ của ông. Ông nhắc lại:

    – ” Ở Đông Dương nầy, người Pháp luôn luôn gặp khó khăn trong các cuộc hành quân triệt thối. Cuộc lui binh ở Lạng Sơn được kết thúc bằng một cuộc tàn sát. Hai cánh quân vừa binh sĩ vừa quân xa dưới quyền của hai đại tá Lepage và Charton đều bị tiêu diệt dưới các ngọn đồi dọc theo quốc lộ số 4. Trên một địa hình gần giống như con đường rừng 7 B, một đơn vị thiện chiến của người Pháp là “chiến đoàn lưu động 100″ (GM 100) cũng đã bị đánh tan. Họ bị tiêu diệt trên quốc lộ 14, ở đèo Chu Drek.”

    Tướng Phú bàn cãi:

    “Dĩ nhiên là bất cứ một thiếu úy nào cũng biết rằng lui binh là một cuộc hành quân khó khăn nhất. Nhưng địa hình địa vật ở trên con đường 7 B xem chừng như thuận lợi hơn trên con đường 19. Hơn nữa, còn có sự yểm trợ của Không Quân .”

    Thật ra, họ không còn sự lựa chọn nào khác, không còn có con đường nào khác.

    Phiên họp sắp kết thúc. Tướng Phú khẩn khoản xin cho một trong những sĩ quan phụ tá của ông là đại tá Phạm văn Tất, Liên đoàn trưởng Liên đoàn Biệt Động Quân, được thăng cấp thiếu tướng. Người sĩ quan nầy chưa bao giờ tỏ ra là một sĩ quan có khả năng đảm trách một nhiệm vụ chỉ huy quan trọng nào hết. Tướng Viên không biết anh ta. Ông Thiệu lưỡng lự. Tướng Phú là người được tướng Khiêm che chở, và đại tá Tất thì được tướng Phú đở đầu. Cần phải để cho ông tướng Tư Lệnh Vùng II có một chút tự do trong quyết định của ông ta, cho nên cả Tổng Thống và Tổng Tham Mưu trưởng đều đồng ý.

    Ngay chiều hôm đó, sau khi rời khỏi Cam Ranh, về đến Sài Gòn ông Thiệu dùng cơm tối với Hoàng đức Nhã. Ông phác họa chiến lược mới của ông, với những lợi và hại của nó cho ông Nhã nghe. Ông nói:

    -’Tướng Phú có xin tôi một lữ đoàn Dù và một lữ đoàn Thủy Quân Lục Chiến. Về lực lượng trừ bị, chúng ta chỉ có non một lữ đoàn Dù. Tướng Phú phải tự xoay sở lấy với những gì ông ta đang có.”

    Hoàng đức Nhã không thích ông Khiêm và không bao giờ đánh giá cao tướng Phú là người do tướng Khiêm đỡ đầu.

    Rất mệt mỏi, ông Thệu thú nhận:

    – ” Phú là một tướng lãnh tốt nhưng chỉ tới cấp sư đoàn thôi, tôi không biết ông ta xoay sở thế nào trong nhiệm vụ chỉ huy trưởng của một quân đoàn.”

    Ngày hôm sau, ông Thiệu tiếp ông Wolfgang Lehmann và ông không nói gì tới quyết định trọng đại trong phiên họp ở Cam Ranh. Ông muốn dùng chiến trường Ban mê Thuột để tiêu diệt những đơn vị chủ yếu của địch.

    Lehmann hỏi:

    – ” Liệu ông có thể tập trung đủ lực lượng cho vùng Ban mê Thuột mà không để trống các Vùng khác ?”

    – ” Dĩ nhiên đây là một bài toán thật khó. Phải bỏ trống phần chủ yếu phía Bắc của Cao Nguyên.”

    Điều bất ngờ nầy đã làm cho nhân vật số 2 của sứ quán Mỹ lo ngại.

    – Chiến trận ở Ban mê Thuột sẽ rất là ác liệt, Nó có thể được kéo dài lâu lắm.”, ông Thiệu nói tiếp.

    Từ sau ngày ký Hiệp Định Paris, tất cả những người có trách nhiệm ở Miền Nam đều có xu hướng tiết kiệm đạn dược. Ông Thiệu cho ông Lehmann biết là ông đã ra lệnh cung cấp cho tất cả các đơn vị đang chiến đấu ở Vùng II Chiến Thuật, đầy đủ đạn dược mà họ đang cần. Ông cũng đang chờ đợi một cuộc tấn công trực diện nặng nề của Bắc Việt vào khu vực Huế và Đà Nẵng. Và hình như ông cũng thấy là Bắc Việt sẽ tấn công tỉnh Tây Ninh, cách Sài Gòn khoảng 150 cây số về hướng Tây Bắc .

    Về đến sứ quán, ông Lehmann yêu cầu vị sĩ quan tùy viên quân lực Hoa Kỳ đến gặp vị Tổng Tham Müu trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, để biết nhu cầu thực sự của Miền Nam .

    Trong một công điện gởi cho tướng Brent Scowceroft ở Nhà Trắng, ông Lehmann báo cáo về cuộc hội đàm vừa qua với Tổng Thống Thiệu. Ông cũng đã có dự liệu trước trong báo cáo là: “Kontum có khả năng sẽ thất thủ nếu bị Bắc Việt tấn công, và Pleiku cũng vậy nếu bị 2 sư đoàn Bắc Việt tấn kích. Ông Lehmann nói rõ là tướng Phú đã triệt thoái Bộ Tham Mưu của ông về Nha Trang.

    Ông Lehmann đã có biện pháp để tất cã những người Mỹ ở Pleiku và Kontum được đưa về Nha Trang. Một điểm chiến lược chót trong công điện : ” Các tù binh Bắc Việt trong đó có một thượng sĩ, đều được nhận diện thuộc sư đoàn 341, một trong những sư đoàn trừ bị chiến lược của Hà Nội “

    Về phía mình, ông Thomas Polgar cũng có một công điện cho cơ quan tình báo trung ương CIA ở Hoa Thạnh Đốn :

    – ” Miền Nam Việt Nam đang đứng trước một trong những khủng khoản trọng đại về quân sự cũng như về tâm lý. Không thể so sánh được với năm 1972. Vì lúc đó Miền Nam Việt Nam còn được sự yểm trợ của quân lực Hoa Kỳ . Bây giờ thì Bắc Việt có quá nhiều phương tiện hơn trước, nên có thể đạt được nhiều kết quả hơn , Và họ đang đạt được nhiều kết quả hơn, với nhiều phương tiện hơn đây. Sức tiến quân của Bắc Việt nhanh hơn và có ảnh hưởng mạnh hơn lúc nào hết, so với bất cứ thời điểm nào của năm 1972.”

    Ông Polgar đã có gặp tướng Nguyễn khắc Bình, Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia, kiêm Chỉ Huy Trưởng Cơ Quan Tình Báo Trung Ương CIO, một cơ quan hoàn toàn Việt Nam nhưng tương đương với CIA và FBi của Hoa Kỳ . Tướng Bình xác nhận là không tránh khỏi là Bắc Việt sẽ kiểm soát toàn bộ Vùng Cao Nguyên Trung Phần. Theo tướng Bình thì cả ông Thiệu và Chánh Phủ của ông “dù là đã được cải tổ như trong hiện tại, không ai có thể nuốt nổi sự mất mác nầy. Một suy sụp tinh thần toàn diện đang ló dạng ở chân trời… “

    Ông Polgar nói thêm rằng:

    -“Mới có một tuần lể đầu của cuộc tổng tấn công mà kế hoạch tồn trử đạn dược và xăng dầu đã bị xáo trộn rồi. Dự trử đạn dược đã khô cạn trước khi năm tài chánh chấm dứt.”

    Năm tài chánh của Hoa Kỳ bắt đàu từ tháng 10 năm nay đến tháng 10 năm tới. Ông Polgar nghĩ tới những cuộc tranh luận và quyết định của Quốc Hội về viện trợ bổ túc cho Việt Nam :

    -” Miền Nam Việt Nam sẽ có những khó khăn lớn lao vì quyết tâm của Bắc Việt muốn tìm một giải pháp quân sự, và vì thái độ của Quốc Hội Hoa Kỳ muốn đơn phương chấm dứt hay hạn chế sự viện trợ cho Miền Nam Việt Nam mà không cần biết tới hành động của cộng sản Bắc Việt”.

    Không còn nghi ngờ gì nữa về kết quả cuối cùng bởi vì Miền Nam Việt Nam không thể tồn tại được nếu không có viện trợ quân sự của Hoa Kỳ bao lâu mà khả năng của bộ máy chiến tranh của cộng sản Bắc Việt đã chẳng những không được Liên Xô và Trung Quốc hảm lại mà còn được họ thúc đẩy mạnh tới nữa, Vì họ là cấp trên, là cấp chỉ huy trực tiếp của Bắc Việt ”

    Tất cả người Mỹ ở Sài Gòn dù là dân chính hay quân nhân, đều không một ai được chánh thức thông báo về quyết định của ông Thiệu. Khi họ thấy mình được đặt trước một việc đã rồi thì tướng Homer Smith than phiền với tướng Viên. Ông Tổng Tham mưu trưởng chỉ còn nước giải thích:

    – “Đó là lệnh của Tổng Thống. Ông ấy muốn giữ kín các cuộc hành quân.

    CHÚ THÍCH của Dịch Giả:

    (1) Tác giả dùng chữ Việt không dấu chữ nghiêng, nguyên tác “ dau be dit to”.

    Dịch giả xin dịch lại cho đúng hơn : “Đầu teo đít to”

    (2) Đây là luận điệu của cộng sản Bắc Việt, cho đúng với chiêu bài “Chống Mỹ Cứu Nước” mà họ đã tuyên truyền để khích động người dân Miền Bắc . Tác giả Olivier Todd vẫn dư biết điểm này sai hoàn toàn, nhưng có lẻ tác giã muốn nói lên tư tưởng và quan niệm về cuộc chiến của người cộng sản Miền Bắc lúc bấy giờ. Tác giã vẫn biết rất rõ là quân lực Hoa Kỳ đã rút hết về nước ngay từ sau ngày 28 tháng giêng năm 1973, sau khi Hiệp Định Paris có hiệu lực. Thời điểm mà tướng Dũng đặt Bộ Chỉ Huy tại Cao Nguyên cho chiến dịch 275 để tiến chiếm Miền Nam là tháng 3 năm 1975, tức là thời điểm không còn một binh sĩ Hoa Kỳ nào trên khắp lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa vì họ đã rút hết quân về nước từ hơn 2 năm mấy trháng rồi !

    (3) Người dân Miền Nam gọi họ là “Đồng Bào Thượng” hay “Dân Tộc Thiểu Số”, trong khi người dân Miền Bắc thì gọi họ là “Dân Tộc Ít Người”

    (4) Theo tác giả Olivier Todd thì cuộc tiếp xúc giữa Phó Thủ Tuớng Nguyễn văn Hão và ông Dan Ellerman xảy ra vào ngày 9/3/75, còn ý định “tái phối trí chiến lược” của ông Thiệu chắc chắn phải có từ trước ngày 9/3, nên cả Thủ tướng Khiêm và Phó Thủ tướng Hão mới biết được . Có nghĩa là trước ngày Ban mê Thuột bị tấn công (10/3/75) ?

    (5) Bắt các đơn vị Địa Phương Quân và Nghĩa Quân (phần lớn là đồng bào Thượng) phải ở lại với trách nhiệm phòng thủ Pleiku và Kontum là một điều đáng bị phê phán, nếu không muốn nói là quá vô trách nhiệm của Vùng II .

    (6) Bắt buộc các công chức người Việt Nam phải ở lại mới chính là nguyên nhân tạo sự hoảng loạn.

  17. Chương 10

    Con đường 7B

    Ngày 8 tháng 3, trước ngày Ban Mê Thuột bị tấn công, ông Kissinger đang ở tại Bruxelles, thủ đô của nước Bỉ, để cùng ông Tổng Trưởng Ngoại Giao Dimitrios Bitsios của Hy Lạp, xem xét vấn đề của đảo Chypre.

    Ngày 15 tháng 3, tại Damas (thủ đô của Ai Cập) Hoa Kỳ đã biết là trận chiến đã kết thúc khi Tổng Thống Assad nói với Kissinger:

    – ” Các ông đã bỏ rơi Cam Bốt, các ông đã chọn Bắc Kinh và buông Đài Loan, Các ông đã nhượng bộ trước Do Thái….

    Chuyến du thuyết của ngoại trưởng Kissinger coi như đã thất bại hoàn toàn. Trên chiếc phi cơ “Không Lực 1” của Tổng Thống Hoa Kỳ, mà ông Kissinger đã dùng nó để đi Caire (Ai cập) và Tel-Aviv ( Do Thái), các nhà báo đã nói tới số phận của Ngoại Trưởng Hoa Kỳ . Ông ta đã không còn là một người của “phép lạ” nữa rồi. Người ta xầm xì với nhau rằng người có nhiều triển vọng thay thế ông ở Bộ Ngoại Giao sẽ là ông Elliot Richarson, Đại sứ Mỹ ở Anh Quốc. Trong suốt chuyến công du nầy, ông Kissinger không hề để tâm đến những biến cố đang xảy ra ở Việt Nam:

    Ban Mê Thuột ư? Một giai đoạn đã nằm ở ngoài lề rồi !

    Để củng cố vị trí của ngoại trưởng Mỹ, Tổng Thống Ford tuyên bố là ông ta còn lưu giữ Kissinger cho tới tháng giêng năm 1976

    Ở Sài Gòn ông Polgar chờ kết quả tranh luận của Quốc Hội. Ông rất tin tưởng ông Kissinger.

    Ông Thomas Polgar có một tước hiệu kêu lắm, “Phụ Tá đặc biệt của Đại Sứ”. Mọi người đều biết và nhận ra ông trưởng cơ quan CIA nầy ngay khi ông ta đến chơi ở Câu Lạc Bộ Thể Thao Sài Gòn , hay đến Trụ sở của Ủy Ban Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến (CICS) hay khi ông đi dự các cuộc tiếp tân. Một nhà báo Hung Gia Lợi, thành viên chánh thức của Ủy Ban nầy đã nói:

    – “Ông Polgar là người Mỹ mà chúng tôi thích….”

    Năm nay ông Polgar được 53 tuổi, có thân hình béo tròn, trán hói, thường hay đeo kiếng đen gọng đồi mồi. Ông là người sanh trưởng ở Budapest, thủ đô Hung Gia Lợi, nên còn giữ được vài giọng nói của người Hung trong tiếng Anh trau chuốt của mình. Người ta có cảm tưởng , dù là không đúng lắm, rằng ông cố giữ giọng riêng của mình cũng như ông Kissinger giữ giọng Do Thái của ông ta vậy.

    Là một giám đốc ngân hàng ở Budapest, người cha của ông đã cho ông đi Hoa Kỳ lúc ông được 16 tuổi. Ở đó ông vào một trường đại học nhỏ, nơi đào tạo các sinh viên trong giới “áp phe”. Nhờ đi giao hàng cho một ông chú chuyên nghề đóng sách, ông Thomas Polgar học được địa hình của New York. Chiến tranh không cho ông tiếp tục học hành. Và ông trở thành người lính bộ binh trong quân đội Hoa Kỳ lúc ông được 20 tuổi. Ông nói tiếng Đức nên cũng giống như trung sĩ Kissinger, nên người ta hướng anh vào Dịch Vụ Tin Tức Tình Báo, lúc bấy giờ là cơ quan O S S (Office of Special Services: Văn phòng Dịch Vụ Đặc Biệt) tiền thân của CIA trong tương lai. Nhiệm vụ có phần vui thích hơn là ở trung đoàn 310 bộ binh. Đến khi quân Đồng Minh chiếm nước Đức, thì Polgar lùng sục tài sản và chương mục ngân hàng của nhà kỹ nghệ IG. Farben. Tại Bá Linh, Polgar làm việc với những người mà ông ta thường ngưỡng mộ, như Allen Dulles, trưởng cơ quan tình báo CIA Hoa Kỳ tại Đức và ông Helms, trưởng toán CIA tại Bá Linh.

    Được giải ngũ năm 1946, Polgar nghĩ tới việc làm báo, một nghề khá bận rộn. Nhưng anh vẫn ở trong ngành tình báo trong suốt những năm thích thú nhất của chiến tranh lạnh vào lúc Bá Linh bị phong tỏa. Chưa đến tuổi 30, anh đã thuộc các cơ quan tình báo bí mật, với cấp bậc tương đương của một đại tá.

    Ở Sài Gòn anh thường hay gặp đại tá Toth, thành viên Hung Gia Lợi thích nhất của anh. Ông Polgar đã biết nói chuyện với những “người đối diện” từ lâu rồi. Trong thời gian căng thẳng ở Bá Linh, anh đã mời trưởng cơ quan Mật Vụ Liên Xô đến và đã thỏa thuận thẳng với ông nầy :

    -“Nếu có gì xảy ra thì chúng ta không nên đụng tới đàn bà và trẻ con nhé”

    – “Đồng ý”, người bạn Liên Xô trả lời.

    Trong giới tình báo quốc tế, trên một đẳng cấp nào đó, nghề nghiệp trở thành một trò chơi. Họ ấn định với nhau một vài luật lệ và tuân thủ với nhau, trừ trường hợp ngoại lệ không kể.

    Ở Hoa Kỳ trong nghề nầy mọi thành công thường được tưởng thưởng. Polgar đã theo đuổi nghề nầy một cách tốt đẹp cả ở Đức và Áo Quốc. Sang Á Căn Đình anh rất thân với trưởng cơ quan của anh. Có một lần bọn không tặc cướp một phi cơ ở sân bay Buenos Aires. Ở xứ nầy Cảnh sát đã có một nguyên tắc: không thương lượng với kẻ cướp. Khi được hỏi ý kiến, Polgar đề nghị cho anh ta điện thoại cho Tổng Thống Á Căn Đình. Đến 3 giờ sáng, Tổng Thống đành phải chấp nhận đề nghị của anh thôi:

    – ” Chúng tôi không muốn thương lượng, nhưng ông, Polgar, ông là người Mỹ, ông có thể làm được chuyện đó. Hãy làm đi”

    Polgar leo lên chiếc phi cơ và mời mấy anh không tặc uống Coca Cola có bỏ thuốc ngủ trong đó. Không tặc ngũ mê man, và ngày hôm sau Polgar thức dậy, trở thành một người nổi tiếng.

    Anh tự hào rằng anh rất thực tế, không có chút nào mơ hồ đối với bản chất của con người , và thích nói về Kipling: “Những người độc thân trong trại lính ít khi sống như những ông thánh lắm.”

    Đến khi ông Helms được Hoa Thạnh Đốn đề bạt lên làm trưởng cơ quan tình báo trung ương CIA thì ông nầy gởi ngay cho Polgar một công điện vào tháng 7/ 1971. Khi trao bức công điện cho Polgar người nhân viên mật mã nói đùa :

    “Vì ông đang ngồi, nên tôi trao cho ông công điện nầy mà không cần phải giải thích” .

    Nội dung công điện : “Trừ trường hợp mà tôi không được biết, anh có thể thay Ted Schakley giử chức vụ trưởng toán của cơ quan CIA ở Việt Nam hay không? , từ ngày 1 tháng10 nầy ? ”

    Bà Polgar có vẻ không vui lắm, trong 3 đứa con trai của họ, đứa lớn phải vào đại học ở Hoa Kỳ. Hơi lưỡng lự, Polgar điện trả lời : “Tốt nhất là ông cho tôi đến nói chuyện với ông.”

    Gặp Helms, Polgar nói thẳng:

    ” Đối với Đông Nam Á Châu tôi không thành thạo lắm đâu. “

    – ” Nó sẽ giúp anh có một tầm nhìn mới “ Helms trả lời và nói thêm : ” Anh đừng lo, anh không có thì giờ đâu mà để tâm vào chi tiết của công việc. Anh còn phải lo chú ý tới những gì xảy ra ở Quốc Hội, ở giới truyền thông, ở Bộ Ngoại giao, và trong Quân lực Hoa Kỳ . Anh còn phải bận tâm nhiều về những nơi đó.”

    Vào tháng 3 năm 1975, với diễn biến tình hình quân sự ở mặt trận như thế mà mối bận tâm lo lắng hàng đầu của Polgar là Quốc Hội. Ông trưởng lưới tình báo CIA nầy ước tính rằng Hoa Kỳ bị dính sâu vào tình hình trầm trọng ở Việt Nam . Việt Nam đang quá yếu và là một gánh quá nặng cho Hoa Kỳ . Theo Polgar, không thể nào có vấn đề một chiến thắng hoàn toàn bằng quân sự đối với Hà Nội. Trong hiện tại, trận chiến chắc chắn không ở một mức độ “có thể chấp nhận được”. Rõ ràng là Tổng Thống Gerald Ford cũng như Richard Nixon hay Lyndon Johnson, ông không hề rung động vì vấn đề Việt Nam. Polgar có dự vào những cuộc gặp gở ở San Clemente, nơi đó anh đã gặp được Graham Martin lần đầu.

    Ông Nixon thật đã có tuyên bố với ông Thiệu rằng : ” Cho tới khi nào tôi còn là Tổng Thống, ông có thể tin chắc là Việt Nam sẽ có 1 tỷ 600 triệu đô la viện trợ quân sự hàng năm, và viện trợ kinh tế sẽ từ 600 triệu đến 1 tỷ đô la.”

    Từ ngày ông Martin đến Sài Gòn, sự liên lạc giữa Đại sứ và ông Polgar rất tốt. Ông Graham Martin thuộc khối người da trắng gốc Anh Cát Lợi lại theo đạo Tin Lành, nên có thiện cảm với người trưởng lưới, di cư gốc Do Thái, vô thần nầy. Polgar đã chứng tỏ năng lực của mình.. Trong hệ thống công chức cao cấp, Polgar nằm ở đẳng cấp GS 17, tương đương với cấp tướng tư lệnh Quân đoàn.

    Bây giờ thì đại tá Janos Toth, người Hung Gia Lợi của Polgar và cố vấn chánh trị của Anton Tolgyes không có một tin tức nào mới để trao cho Polgar. Anh bạn Ba Lan cũng vậy. Có một lần vào một ngày nào đó, sau một chiến thắng của QLVNCH, Polgar chọc người bạn Ba Lan của mình :

    -“Các bạn VNCH của tôi đánh đấm cũng không tệ lắm hả bạn ?”

    Người bạn Ba Lan phản ứng lại ngay :

    – ” Đúng vậy, nhưng mà các bạn sẽ bị thua to ở Hoa Thạnh Đốn kia !

    Ở Hoa Thạnh Đốn tài khoản cho những dự án của Chánh Phủ Hoa Kỳ liên quan đến Việt Nam đều không được một ai chú ý tới. Hai tuần lễ đầu của tháng 3 / 75 là thời gian thất vọng nhất của những người chủ trương viện trợ cho VNCH. Dư luận dân chúng Mỹ không có gì lạc quan hết. Cuộc thăm dò của viện Gallup cho thấy 78 % công dân Hoa Kỳ chống lại mọi viện trợ bổ túc cho Việt Nam và Cam Bốt. Cử tri của đảng Cộng Hòa cũng chống đối như cử tri thuộc đảng Dân Chủ.

    Thơ phản đối chồng chất ở văn phòng các nghị sĩ và dân biểu. Người ta hết điện thoại đến viết thơ để thăm dò từ phiên họp nầy đến phiên họp khác. Không ai muốn bỏ rơi đồng minh Việt Nam của mình ở Đông Dương, nhưng cũng không ai muốn sẽ bị cử tri bỏ rơi mình!

    Đối với Cam Bốt cũng như Việt Nam , người ta có một số “khả năng hành động” như sau:

    1.- Chấp thuận cho Tổng Thống Ford toàn bộ hay một phần ngân khoản mà ông nầy xin.

    2.- Chấp thuận yêu cầu của Tổng Thống Ford về khoản viện trợ quân sự và viện trợ nhân đạo, nhưng có điều kiện kèm theo.

    3,- Chỉ chấp thuận viện trợ nhân đạo mà không chấp nhận viện trợ quân sự.

    4.- Chỉ chấp nhận viện trợ quân sự bổ túc.

    5.- Bác bỏ hết yêu cầu viện trợ của Chánh Phủ .

    Rất có phương pháp và rất thận trọng, các nghị sĩ và dân biểu tách rời vấn đề Cam Bốt ra khỏi bài toán Việt Nam . Thông thường ở Sài Gòn cũng như ở các nơi khác, người ta không biết là các vị dân cử đang trở về khuynh hướng tự nhiên của họ: đó là chủ trương “biệt lập”.

    Chủ trương chống lại đường lối chánh trị của Tổng Thống Ford thể hiện rõ ràng ở Hạ Viện. Các đơn xin viện trợ của Chánh Phủ phải qua sự duyệt xét của các ủy ban hay các tiểu ban. Ông Philip Habib, Phụ tá Tổng trưởng Ngoại Giao đặc trách về Đông Nam Á, bị chất vấn khi ra điều trần ở Quốc Hội. Ông nầy hết giải thích với nhóm nầy tới nhóm nọ rằng cả Hoa Kỳ và Cam Bốt đều không mưu tìm một chiến thắng bằng quân sự. Vã lại đây là một chuyện quá khó. Trên giấy tờ, quân đội Cam Bốt có 240.000 người . Tuy nhiên có chăng chỉ là trên 50.000 quân tham chiến mà thôi. Vấn đề chỉ là cầm cự trong vài tháng nữa thôi đến tháng 9. Lúc đó nước sông Cửu Long sẽ dâng lên thì Phnom Penh sẽ không còn bị vây hảm nữa. Lực lượng Khmer Đỏ sẽ không còn phục kích dễ dàng trên các trục lộ cũng như trên sông rạch được nữa.

    Đối với giới chánh trị ở Hoa Thạnh Đốn , dân biểu Don Fraser, một thành viên của phái đoàn Quốc Hội Hoa Kỳ vừa viếng thăm Sài Gòn đã xác nhận là chiến tranh ở Cam Bốt coi như đã chấm dứt rồi. Hoa Kỳ chỉ còn một cách để rút chân ra khỏi nơi đó: đó là phải liên lạc với Chánh Phủ Pháp và Tổng Thơ Ký Liên Hiệp Quốc và hỏi Khmer Đỏ xem họ muốn chấm dứt cuộc chiến với điều kiện nào ? Có thể chấp nhận cho Cam Bốt một khoản viện trợ nhân đạo. Dân biểu Paul McCloskey cũng là một thành viên của phái đoàn Quốc Hội Hoa Kỳ đến Sài Gòn nói rằng quan điểm của ông đã thay đổi hẳn sau chuyến viếng thăm Phnom Penh. Ông ta chống mọi viện trợ quân sự. Không còn trường hợp đó nữa. Ông ta nói :

    – ” Ở Cam Bốt, bên nào cũng giết tù binh hết. Nếu phía Chánh Phủ Phnom Penh hết đạn, thì sẽ có những sự trả thù ghê gớm lắm. Những người tỵ nạn đã xác nhận với ông là bọn Khmer Đỏ đã dùng toàn là phương tiện thô sơ để hành quyết dân làng khi họ chiếm được làng mạc. Đó là sự thật hay là tuyên truyền ?”

    Ông Mc Closkey đứng về phía những người muốn có một viện trợ quân sự nhưng phải có giới hạn .

    Đơn xin viện trợ của Tổng Thống Ford đi theo hệ thống thông thường. Muốn cho một dự án của Chánh Phủ được chấp thuận thì dự án đó phải đến Hạ Viện trước, qua các ủy ban và các tiểu ban. Ở Thượng Viện cũng vậy. Nếu Hạ Viện và Thượng Viện bất đồng ý kiến thì một ủy ban hổn hợp sẽ tìm một biện pháp dung hòa.

    Ngày 10 tháng 3, ông William Colby, Giám Đốc CIA đã điều trần ở Hạ Viện rằng :

    – ” Tôi không nghĩ rằng Cam Bốt sẽ tồn tại được dù có được viện trợ quân sự bổ túc.”

    Một số dân biểu sẳn sàng bỏ phiếu thuận, nếu Chánh Phủ chịu tiến tới một giải pháp ngoại giao. Bằng cách nào ? Ở Hạ Viện người ta nói tới kế hoạch Manac’h.

    Étienne Manac’h lúc còn là Đại sứ Pháp ở Bắc Kinh đã từng giúp đỡ Hoa Kỳ, VNCH, Bắc Việt và Việt Cộng trong thời gian thương thuyết Hiệp Định Paris1973. Ông đã từng có sáng kiến đề nghị một kiểu bàn hội nghị để cho các phe ngồi lại với nhau. Theo Hoa Thạnh Đốn thì kế hoạch của ông ta là : Hoa Kỳ phải đưa ông Lon Nol đi và để cho ông Sihanouk trở về Phnom Penh lại. Về chấp chánh ở Pnom Penh, ông Sihanouk sẽ lập một Chánh Phủ Liên Hiệp, có cả Khmer Đỏ trong đó . Chỉ có một điều hơi khó: Theo người ta biết được thì Khmer Đỏ không có một ý định nào để thương lượng hết. Chiến thắng đã ở ngay mũi súng và họng bách kích pháo của họ rồi..Ngoài ra, ông Sihanouk không có nuôi một ảo tưởng nào về ảnh hưởng hay uy tín của ông đối với phía Khmer Đỏ. Kế hoạch giả tưởng nầy đã chết trong trứng nước từ lâu rồi nên chỉ còn có những người dốt hay ngây thơ mới chú ý tới nó. Ở Quốc Hội Hoa Kỳ vẫn còn vài người như vậy. Ý kiến thành lâp một Chánh Phủ Liên Hiệp đã được nghĩ tới cho Miền Nam Việt Nam , vì đó là do Việt Cộng gợi ý . Còn ở Cam Bốt thì khái niệm về Liên Hiệp không có dựa vào nền tảng nào hết, vì phía Khmer Đỏ chưa bao giờ nói tới danh từ nầy. Ông Đại Sứ Hoa Kỳ ở Phnom Penh từ lâu rồi đã tuyên bố là mọi giải pháp tìm được cần phải có “biện pháp kiểm soát”. Các nghị sĩ và dân biểu Mỹ đều có cảm tưởng rằng ở Cam Bốt Hoa Kỳ chẳng có kiểm soát được bao nhiêu. Đó không phải là trường hợp ở Việt Nam .

    Sáng ngày 12 tháng 3, nhóm Caucus, gồm các dân biểu thuộc đảng Dân Chủ ở Hạ Viện bỏ phiếu cho một nghị quyết do 5 dân biểu Dân Chủ đệ trình, trong số nầy có bà Bella Abzug, người mà vài ngày trước đây đã đả kích ông Martin và ông Thiệu. Nhóm Caucus nầy tuyên bố “chống lại tất cả mọi viện trợ quân sự cho Việt Nam và Cam Bốt trong năm tài chánh 1975”, nghị quyết nầy được chấp thuận với 189 phiếu thuận và 49 phiếu chống.

    Ở Thượng Viện người ta cũng muốn “vứt bỏ” Cam Bốt, nhưng người ta tự hỏi làm sao dung hòa được danh dự của Hoa Kỳ với sự chán ngán của cử tri và số phận của một đồng minh. Tiểu ban ngoại giao của Thượng Viện đặc trách về viện trợ cho ngoại quốc và chánh trị kinh doanh đã bỏ phiếu thuận cho một ngân khoản tối đa là 25 triệu đô la viện trợ vũ khí đạn dược cho Cam Bốt. Kết quả bỏ phiếu rất khít khao 4 phiếu thuận và 3 phiếu chống.

    Ngoài những vấn đề về Đông Dương, trong các cuộc thảo luận và các tu chính án, rất nhiều vị dân cử tìm mọi cách để giới hạn quyền hạn của tất cả các vị Tổng Thống về chánh trị quốc ngoại và về quân sự. Không cần biết vì lý do gì, miễn là người ta lấy lại được quyền hành đã mất.

    Người ta chưa có nói tới vấn đề Việt Nam khi giải quyết xong bài toán Cam Bốt.bằng cách bỏ phiếu triển hạn, theo cách nói của Quốc Hội. Những người quyết tâm chống đối đã tìm được một phương cách mà họ cho là một chiến thuật tuyệt diệu: cứ chiếu theo lịch trình của Quốc Hội . Quốc Hội nghỉ lễ Phục Sinh từ ngày 27 tháng 3. Tiểu ban phải bỏ phiếu quyết định bài toán quan trọng nầy có 33 thành viên. Bỏ phiếu “triển hạn bàn cãi”: 18 phiếu thuận và 15 phiếu chống. Trong số các vị bỏ phiếu thuận – hay tạm ngâm lại (nguyên tác: chôn) bài toán Cam Bốt có 8 vị thuộc đảng Cộng Hòa. Đối với một vị Tổng Thống thuộc đảng Cộng Hòa như ông Ford thì quả là một đòn quá nặng. Tám vị thuộc đảng Dân Chủ đã bỏ phiếu chống triển hạn. Các vị dân cử không hành động theo đảng chánh trị của họ mà theo “linh hồn” và lương tâm của họ, trong sự nghi ngờ và lo âu. Trong giai đoạn quan trọng nầy mà các vị dân cử thuộc đảng Cộng Hòa không ủng hộ cho Tổng Thống của đảng họ về một dự án mà ông nầy cho là tối quan trọng, đó là điều cần nói ở đây!

    Trong lúc đó thì trong Chánh Phủ người ta đổ trách nhiệm lẫn cho nhau. Ở Bộ Ngoại Giao người ta xác nhận là những người thân cận của Tổng Thống ở Nhà Trắng không đo được tinh thần của Quốc Hội. Còn ở Nhà Trắng thì người ta than phiền Bộ Ngoại Giao quá quan liêu,, không dứt khoát trình lên cho Quốc Hội những đề nghị và đòi hỏi của Tổng Thống một cách mạnh dạn.

    Là một người quá quen về thể thức của Lập Pháp, ông Ford biết hết các phương thức vận động nên ông lại tiếp tục tấn công. Những người của Bộ Ngoại Giao đã cho các nghị sĩ và dân biểu thấy cảm tưỏng dường như Chánh Phủ đã hết lối đi rồi. Nhưng ông Ford cho biết thật sự không phải như vậy, hoàn toàn không phải như vậy. Ông chủ trương “được cả hay ngã về không ” . Ông tình nguyện chấp nhận cho CamBốt một ngân khoản viện trợ quân sự cấp thời là 82 triệu 500 ngàn đô la. Để cho công việc được dễ dàng , vũ khí và đạn dược sẽ được trích ra từ kho dự trử, như vậy ngân sách trong năm tài chánh 75 sẽ không bị thặng chi.

    Ngày 15 tháng 3, hai ông Charles Percy và Jacob Jacits đề nghị với tiểu ban ngoại giao của họ, một tiểu ban mạnh nhất của Thượng Viện, nên chấp thuận một ngân khoản viện trợ cho Cam Bốt là 82 triệu rưởi đô la. Đề nghị được chấp thuận với 9 phiếu thuận / 7 phiếu chống. Nhưng tiểu ban nầy xác định là mọi viện trợ quân sự phải được chấm dứt sau ngày 30 tháng 6 / 1975.

    Cũng trong ngày 15 tháng 3 nầy, ở Hoa Thạnh Đốn người ta biết được là VNCH đang sửa soạn cho những cuộc hành quân lạ lùng lắm ở Cao Nguyên Trung Phần, chính xác hơn là trên con đường tỉnh lộ 7 B.

    Tại Sài Gòn , một thời gian sau kỹ sư Văn mới biết được là quân Bắc Việt đã tấn công và chiếm Ban Mê Thuột .

    Ở Bộ Giao Thông Công Chánh, ông bộ trưởng không họp các cộng sự viên lại nữa. Các quân nhân bạn của kỹ sư Văn quả quyết với ông rằng các chiến sĩ đang thiếu cả vũ khí, đạn dược và lương thực. Ông không nghi ngờ gì về lòng can đảm của các bạn của ông, họ cũng có nói về các cuộc hành quyết ở Ban Mê Thuột. Kỷ niệm các vụ hành quyết ở Huế hồi Tết Mậu Thân năm1968 hảy còn sờ sờ đây. Sĩ quan và binh sĩ chạy về Sài Gòn trách dân chúng ở đây đã có một đời sống quá đẹp. Ông Thiệu đã cho lệnh đóng cửa các “nhà tắm hơi”, âu cũng là một niềm an ủi tối thiểu cho các chiến binh.

    Kỹ sư Văn tin rằng sẽ có một giải pháp chánh trị . “Người ta” sẽ đưa ra một giải pháp “Trung Lập.” Kỹ sư Văn nghĩ rằng đứng trước thử thách mới nầy, người Mỹ sẽ không “khoanh tay đứng nhìn ” đâu. Cả người Liên Xô và Trung Quốc cũng vậy nữa. Dù sao năm 1973 người Mỹ đã ép ông Thiệu nhượng bộ, bắt buộc ông Thiệu phải ký vào Hiệp Định Paris. Bây giờ năm 1975 thì đến lượt Liên Xô và Trung Quốc phải ép Hà Nội mới là đúng . Ở Sài Gòn có nhiều người đã nhớ rằng hồi 1956, Liên Xô đã từng muốn cho hai nước Việt Nam được vào Liên Hiệp Quốc, nhưng lúc đó Hoa Kỳ lại chống đối. Không phải chỉ có ở Sài Gòn người ta mới thường đánh giá cao sức ép của Liên Xô đối với Hà Nội .

    Hòa Thượng Thích Thiện Hoa không thấy ưu tư gì khi được nghe tin trên báo chí và đài phát thanh về việc các tỉnh và thị trấn bị thầt thủ, dù tin tức có hơi muộn. Từ lâu rồi người ta đã quen nghe nói về các trận đánh lớn. Chắc cũng giống như các trận đánh hồi năm 1972, rồi thì quân lực Miền Nam phải tái chiếm phần đất vừa bị mất thôi. Không còn nghi ngờ gì nữa chắc việc Ban Mê Thuột và Phước Long phải di tản cũng chỉ là một phần của chiến lược chung mà thôi. Quân đội quốc gia Miền Nam chắc phải tái chiếm lại tất cả các tỉnh và thị trấn đó lại.

    Cũng gìống như kỹ sư Văn, nhà văn Duyên Anh nghĩ rằng Sài Gòn sẽ có một thỏa hiệp với Hà Nội . Và cộng sản Bắc Việt phải dừng quân lại ở đâu đó, có thể ở Qui Nhơn chẳng hạn . Rồi người ta sẽ thiết lập một “khu trái độn” giữa phần đất đã bị Bắc Việt chiếm cứ và phần lãnh thổ Miền Nam còn lại. Sau đó người ta sẽ thiết lập một Chánh Phủ “Hòa Hợp Hòa Giải” đúng theo tinh thần của Hiệp Định Paris 1973. Người Việt Nam dù là ở Miền Nam hay ở Miền Bắc đều đã thường nghe nói tới Hiệp Định nầy.

    Nhà văn tự tin chắc rằng người Mỹ đã bỏ quá nhiều tiền để đầu tư ở Việt Nam nên chắc chắn họ không muốn mà cũng không thể bỏ Việt Nam được . Khi tin Ban Mê Thuột bị Bắc Việt chiếm được xác nhận ở Sài Gòn thì nhà văn rất phân vân khó nghĩ. Và nếu Miền Nam Việt Nam của chúng ta bị mất thì sao đây ? Chúng ta đã tùy thuộc quá nhiều vào Hoa Kỳ . Dĩ nhiên ở một vài tỉnh cũng có chuyện bất công do tham nhũng gây ra. Vì nghĩ tới đó nên dân chúng mới bị đẩy vào thế phải dựa vào cộng sản . Chánh Phủ bỏ quên dân chúng quá. Lớp thanh niên thì chỉ được dùng để bổ sung cho hàng ngũ quân lực mà thôi.

    Tập san “Cách Mạng Xanh” mà nhà văn đã tốn bao nhiêu công sức vào đó sẽ không có dịp được xuất bản nữa, đó là một tin không mấy vui cho nhà văn Duyên Anh. Rồi ngày tổ chức kỹ niệm “Người Cày Có Ruộng” cũng phải bị bỏ luôn. Có nhiều tin đồn đải là quân lực của ta sắp rút khỏi Vùng II Chiến Thuật. Người ta nói đến một sự rút lui. Một cuộc rút lui tức là một sự tháo chạy. Tháo chạy tức là mất đất… Hồi năm 1954 trước khi ký Hiệp Ước Genève, lúc quân đội Pháp rút quân thì người ta đã nói đó là cuộc rút lui chiến lược. Để rồi sau đó có sự kiện Điện Biên Phủ, một lòng chảo trong đó đã có gần một phần mười quân đội viễn chinh của Pháp.

    Nhà văn cho thế là cũng đủ quá rồi…. Một sự thất trận không ra gì trên bình diện quân sự đôi khi sẽ trở thành một tai họa về chánh trị . Và Tổng Thống Thiệu thì giải thích là cần phải có hàng trăm triệu mỹ kim viện trợ. Nhà văn cảm thấy tức giận lắm, ông làm việc cho Chánh Phủ nhưng không mấy thích ông Thiệu. Ông cũng không ưa gì người Mỹ và những người Nga Sô Viết những người đang tích cực hổ trợ cho Bắc Việt . Nhà văn hy vọng…. rồi lại đâm ra thất vọng…

    Ở về phía Bắc Sài Gòn khoản 300 cây số là thành phố Dalat. Ở đó hầu hết dân chúng không có vẻ gì lo âu hết.

    Ngay trung tâm thành phố trên đỉnh một ngọn đồi, các hàng cà phê, các quán ăn và rạp chiếu bóng Hòa Bình lúc nào cũng đầy người . Học sinh và sinh viên sau giờ học thì hấp tấp bu quanh các bàn bi da và các bàn bóng đá. Có rất nhiều thanh niên nam nữ của Sài Gòn sống ở đây trong niên khóa cả trung học và đại học. Người ta nhận ra các nữ sinh của trường nhà Dòng với củn màu xanh đậm của nước biển và sơ mi xanh nhạt. Còn đây là những cậu thanh niên thuộc giới khá giả của thủ đô Sài Gòn , nội trú của trường trung học Yersin thường ra chơi ở đây vào cuối tuần, với các sinh viên sĩ quan trường Võ Bị Liên Quân và trường Chiến Tranh Chánh Trị. Họ đi dạo chơi quanh bờ hồ, chơi quần vợt, hay mướn thuyền đạp trên mặt hồ. Đến chiều thì họ lại gom về lại các quán cóc, ở đó họ say sưa thưởng thức ca nhạc, có cả thơ phổ nhạc của Trịnh công Sơn. Các hàng quán thường bán đến tối, cả một vùng nực mùi gia vị của thức ăn, và cả mùi thơm của trái cây Dalat. Lúc nào cũng có người nhất là về đêm ở các gian hàng của người Ấn, bán các loại nước hoa và tơ lụa đủ màu sặc sở.

    Vốn là một người có vóc dáng nhỏ thó như người Việt Nam , Linh mục Jean Mais thuộc Dòng Truyền Giáo ngoại quốc, khoản 40 tuổi, là giáo sư dạy ở trường Đại Học Công Giáo mà đứng ở khu chợ người ta có thể nhìn thấy rõ trên đỉnh đồi. Khoa Kinh Tế Chánh trị ở Dalat có rất nhiều sinh viên đến học từ khắp nơi trong nước. Đến Việt Nam từ 7 năm rồi, nói thông thạo tiếng Việt, đang dạy tiếng Pháp, Linh mục đã có nhiều mối giao hảo với các sinh viên đủ mọi tôn giáo và tiếp xúc thân tình với họ. Đã là giáo sư thì phải biết khuyên bảo, mà một giáo sư người ngoại quốc phải là người không có định kiến. Cho nên các sinh viên rất nghe theo Cha Mais, dù có nhiều em tự hỏi không biết làm sao giáo sư người Pháp nầy có thể hiểu nỗi mình. Một số không ít các em chú ý tới Phong Trào chống tham nhũng của cha Thanh, một phong trào đã nói nhiều về cá nhân linh mục nầy. Một số các em khác thường là con cháu của các công chức hay quân nhân thì nói với giáo sư Mais rằng cha Thanh là con cờ của cộng sản . Linh mục Mais nghĩ rằng những cảm tình viên của cha Thanh đều thuộc các gia đình có liên quan đến Mặt Trận Giải Phóng, hay với cái CPLTCHMN của cộng sản. Người Việt Nam thường nói tới Mặt Trận Giải Phóng hơn là cái CPLTCHMN nầy. Linh mục Mais không phân biệt được những người nào thuộc “lực lượng thứ ba” mà không thích Mặt Trận Giải Phóng với những người có liên hệ mật thiết với Mặt Trận nầy. Ông nghĩ rằng ông nên tránh không nên theo bên nào cả. Nhưng làm sao được khi ông kể chuyện có tánh cách lịch sử về những năm của thập niên 50 ngoài Bắc, nói về cuộc di cư vào Nam của những người công giáo , về chuyện “cải cách ruộng đất”….Ông cố tìm hiểu những sự lo âu và những sự não lòng của các em sinh viên. Nhưng theo ông thì dường như về phương diện chánh trị sự chọn lựa của cha mẹ các em mới là phần quyết định. Ông nghĩ rằng tình cảm gia đình phải luôn luôn được đặt trên tinh thần ý thức hệ. Linh mục cũng có đặt vấn đề với các đồng nghiệp của ông. Người phụ tá dạy Pháp văn của ông là anh Ngữ đã cho ông biết là gia đình anh có cảm tình với Mặt Trận Giải Phóng.

    Sau kỳ nghỉ Tết, các sinh viên ngoan ngoản trở lại Dalat. Nhưng từ lúc đó, phụ huynh các em nhất là những người ở Sài Gòn gởi điện tín lên thúc hối các em trở về Sài Gòn . Đối với các em thuộc gia đình dư ăn dư để thì ý nghĩ đi ra ngoại quốc càng ngày càng lảng vãng trong đầu. Có nhiều sinh viên đến từ giã linh mục Mais. Cô sinh viên cuối cùng đến từ biệt Linh Mục là một cô gái con của một dược sĩ ở Nha Trang. Ngày 1 tháng 3 Linh mục Jean Mais giảng về thuật ẩn dụ trong một lớp vắng chỉ còn môt nửa sinh viên. Ông nghĩ rằng Ban Mê Thuột chỉ cách Dalat hơn trăm cây số đường đèo chắc rồi cũng sẽ được tái chiếm.

    Cha Darricault, người linh mục có trách nhiệm của Dòng Truyền Giáo, tập hợp các linh mục lại ở nhà giảng. Gần đây ở Việt Nam có hai giáo sĩ đã được lệnh trở về Pháp. Những vị giáo sĩ khác được tự do hành động theo ý riêng của mình. Nhưng phần đông đều sẽ rời Việt Nam .

  18. Những người quan trọng trong bộ máy hành chánh lần lần biến mất khỏi Dalat. Một vài vị giáo sư đến Trung Tâm Văn Hóa Hoa Kỳ . Người Mỹ lảng tránh và lần lần cũng biến mất lúc nào không ai biết cả. Khi Viện trưởng Đại học đến gặp ông tỉnh trưởng để xin phép đóng cửa trường đại học thì sau vài ngày lần lựa ông được câu trả lời:

    – Ông cứ làm những gì ông muốn.

    Thấy chánh quyền không muốn nhận trách nhiệm, Viện trưởng quyết định: “tạm thời” cho đóng cửa trường. Ông cho gọi Linh mục Mais vào và nói:

    – ” Cha là người Pháp. Nước Pháp của Cha đang có nhiều giao hảo tốt với Hà Nội. Vậy nếu được thì Cha nên ở lại đây để duy trì sự hiện diện của Cha, của một người Pháp ở viện đại học nầy.”

    Các sinh viên ai cũng sửa soạn hành trang. Những em có thế lực hay chạy chọt được thì đi nhờ các chuyến bay quân sự. Phi trường quân sự chỉ ở cách trung tâm thành phố khoản 15 phút. Có nhiều em mua vé của hảng Hàng Không Việt Nam và đi ở phi trường dân sự ở cách Dalat 30 phút. Các em khác thì dồn lên các xe đò và chạy ra bờ biển. Chiếc xe Citroen 3 ngựa của Cha Mais lúc nào cũng đầy người. Ông phụ tá của Cha không đi. Cô Chủ Tịch sinh viên Pháp cũng là người đứng đầu Hiệp Hội Sinh Viên Phật Tử cũng không đi. Hầu hết những người nào không thuộc giai cấp trung lưu hay khá giả, không thuộc gia đình công viên chức hành chánh, những người làm thuê hay công nhân, thợ thuyền.. ở Dalat hay ở các nơi khác đều ở lại tại chỗ. Từ lâu rồi, ba mươi năm nay họ có thói quen chờ đợi…

    Và họ vẫn tiếp tục chờ…..

    Ngày 15 tháng 3, thứ bảy, vào lúc 10 giờ sáng, ông Polgar đang ở trong phòng làm việc tại sứ quán Hoa Kỳ . Ông nhận được điện thoại của một người nhân viên từ Pleiku gọi về, báo cho ông :

    – ” Quân Đoàn 2 đang rút đi.”

    Người trưởng lưới CIA lúc nào cũng tự hào rằng mình luôn luôn biết trước những cuộc điều quân của Quân Lực VNCH. Thế mà hôm nay ông bàng hoàng hoảng hốt gởi ngay một trong những người phụ tá của ông đến ngay Dinh Độc Lập, và một anh khác đến Bộ Tổng Tham Mưu.

    Ở Dinh Độc Lập, tướng Quang tuyên bố:

    – “Không có gì xảy ra ở Pleiku hết.”

    Tướng Quang hé lộ cho người nầy người khác nghe rằng ông Thiệu không hơn không kém đã lệnh cho tướng Phú soạn kế hoạch.

    Ở Bộ Tổng Tham Mưu thì các Phòng đều vắng tanh. Nhân viên của ông Polgar chỉ tìm được Thiếu Tướng Thọ, trưởng phòng 3 , hỏi ngay:

    -” Chuyện gì đang xảy ra ở Pleiku đó Thiếu tướng ?

    – ” Chẳng có gì xảy ra cả” tướng Thọ trả lời.

    Ông Polgar đang có những ý nghĩ đen tối trong đầu.. Sự vắng mặt của Tổng Tham Mưu Trưởng có nghĩa là gì đây ? Chẳng lẽ tướng Cao Văn Viên vắng mặt cả ngày ở văn phòng chỉ để ngồi thiền hay sao ?

    Trong thời gian ông Martin đi vắng, ông Wolfgang Lehmann xử lý thường vụ sứ quán. Người ta đi tìm ông khắp nơi. Ông đang ở phòng mạch của nha sĩ. Phải nói gì với Hoa Thạnh Đốn đây? Nơi mà từ đầu năm tới nay không có người nào chịu chú ý tới tình hình nghiêm trọng của Việt Nam . Trên Vùng II Chiến Thuật vẫn còn một số người Mỹ. Không thể phí phạm đến độ phải để cho những công dân nầy rơi vào tay cộng sản ?. Ông Polgar chỉ là người chịu trách nhiệm đối với các nhân viên và người làm việc cho CIA mà thôi, không có trách nhiệm đối với các công chức người Mỹ khác .

    Dalat là một danh từ có một âm thanh nghe dịu dàng, Còn danh từ Pleiku dù nói bằng tiếng Việt, tiếng Pháp hay tiếng Anh nó cũng nghe cứng ngắt và nó gợi lại nhiều kỹ niệm không hay. Mười năm về trước, trên đó bộ đội Bắc Việt đã tấn công vào cư xá của các cố vấn Mỹ gây cho 76 người vừa chết vừa bị thương. Từ đó Không Lực Hoa Kỳ đã mở các cuộc oanh tạc vào cơ sở của Bắc Việt nằm về phía Bắc của vĩ tuyến 17. Và sau đó mới có những cuộc đổ bộ hàng trăm ngàn binh sĩ Mỹ vào Miền Nam Việt Nam .

    Ở Pleiku, tướng Phú soạn thảo kế hoạch triệt thoái kéo dài trong 4 ngày:

    – ngày 16 tháng 3: các đơn vị Công Binh; Đạn dược, Xăng Dầu; một số pháo đội đầu tiên của Pháo Binh; 200 xe vận tải và Thiết Giáp Binh (hộ tống)

    – ngày 17 tháng 3: các pháo đội còn lại của Pháo Binh; Công Binh; các toán quân y lưu động; 250 xe vận tải, và Thiết Giáp.

    – ngày 18 tháng 3: Bộ Tham Mưu Vùng II Chiến Thuật và TiểuKhu/ Tỉnh; Quân Cảnh: 200 binh sĩ thuộc Trung Đoàn 44 bộ binh, và Thiết Giáp.

    – ngày 19 tháng 3: Bộ phận hậu tập, một Liên Đoàn Biệt Động Quân và phần còn lại của Thiết Giáp Binh.

    Nhưng từ ngày 15 tháng 3, đã có vài chiếc xe Jeep và xe vận tải rời Pleiku từng toán 5 chiếc một. Tin triệt thoái không dấu ai được từ đó.

    Ở Sài Gòn Hội Đồng Nội Các nhóm họp dưới sự chủ tọa của Thủ Tướng Khiêm. Một vị Bộ Trưởng nói về biến cố ở Pleiku với một giọng trách móc:

    – ” Tôi biết được tin nầy nhờ tôi nghe các đài phát thanh ngoại quốc loan báo, đài BBC và đài “Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA)”

    Phó Thủ Tuớng, Bác sĩ Nguyễn Lưu Viên ngồi bên cạnh Thủ Tướng Khiêm, nghe ông nầy nói nho nhỏ:

    – ” Tôi cũng vậy”

    – ” Sao ? Ông cũng vậy à ?

    – ” Đúng vậy, Thủ Tướng Khiêm thở dài…, tôi không được thông báo trước “.

    – ” Như vậy thì ai là người quyết định tất cả việc nầy ?

    – ” Người ta quyết định ở trên đó,” Thủ Tướng vừa trả lời vừa đưa ngón tay chỉ về hướng Dinh Độc Lập.”Chỉ có 3 người biết việc nầy thôi .”

    – ” Ai vậy thưa Thủ Tướng.

    – “Tổng Thống, đại tướng Cao Văn Viên và tướng Phú.

    Tổng Thống Thiệu tiếp ông Bùi Diễm, cựu Đại sứ ở Hoa Thạnh Đốn và Đại Sứ Lưu Động từ hai năm nay. Xuất thân từ Đại Học Hà Nội ông là một người trí thức có tài, từng là giáo sư về toán học khi xưa ở trong vùng Việt Minh. Ông chạy khỏi cộng sản vô Sài Gòn, và đứng về phía những người quốc gia chống cộng, đã tham dự vào các cuộc thương thuyết ở Genève năm 1954. Ông đã từng giữ chức vụ Tổng Trưởng Ngoại Giao, là thành viên của nhiều phái đoàn Việt Nam, từng giao dịch với các Tổng Thống Johnson, Nixon ở Honolulu, Manila, Guam, Midway và San Clemente. Ở Hoa Thạnh Đốn ông Bùi Diễm biết gần hết mọi người và mọi người đều biết ông. Không mệt mỏi ông cố gắng đi giải thích cương vị của Chánh Phủ VNCH khắp mọi nơi, ở Mã Lai Á, ở Tân Gia Ba, ở Nam Dương, Nhật Bản. ở Ấn Độ và nhất là ở Pháp và ở Hoa Kỳ . Ông và ông Hoàng Đức Nhã là hai trong số rất hiếm những người Việt Nam đã hiểu rõ được bộ máy Hành Pháp và Lập Pháp của Hoa Kỳ . Tại Hoa Thạnh Đốn trong lúc người ta dè dặt đối với ông Nhã thì trái lại người ta rất tin tưởng ông Bùi Diễm dù bề ngoài ông có vẻ là một người công chức cao cấp và khoa bảng hơn là một chánh trị gia.

    Ông Bùi Diễm đến trình diện Tổng Thống Thiệu có cả ông cựu Tổng trưởng Ngoại Giao Trần Văn Đỗ và ông Chủ Tịch Tổng Liên Đoàn Lao Động Trần Quốc Bữu cùng đi theo.

    -” Đã đến giờ rất nghiêm trọng rồi, chúng ta phải tập họp thành phần “quốc gia” lại thôi !.

    Ông Thiệu lắng nghe và trả lời với phái đoàn đã đến đây mật cách bất thình lình:

    – ” Xin các anh viết hết ra cho tôi và trở lại gặp tôi với danh sách tên tuổi chính xác..”

    Đây không phải là lần đầu tiên mà người ta đề nghị với ông vấn đề hết sức tế nhị nầy: cải tổ Chánh Phủ . Nhưng Tổng Thống hình như không bao giờ bị thuyết phục. Vì hai vấn đề thường trực: Ông Thiệu phải mở rộng nền tảng chánh trị của ông, nhưng dưới nhãn quan của ông mọi sự mở rộng, mọi sự dung hòa với phía đối lập đều là một sự nhượng bộ cho cộng sản . Tuy nhiên ông tự nhủ là ông vẫn sẵn sàng đối thoại.

    Du thuyết mãi có một vấn đề mà không bao giờ được toại nguyện , ông Bùi Diễm đành phải trở về Ba Lê và Hoa Thạnh Đốn . Ông Thiệu còn dặn vói theo:

    – ” Chuyện chánh yếu là Anh nên cố “giật” cho được viện trợ của Hoa Kỳ cho Việt Nam “

    Ngày hôm sau ông Bùi Diễm đến thăm tướng Cao Văn Viên, một người bạn cũ. Ở thủ đô nước nào ông Bùi Diễm cũng có bạn. Ông Tổng Tham Mưu Trưởng có vẻ lo âu :

    – ” Chúng tôi chỉ còn hơn một tháng đạn dược. Sau đó khó mà bắt các binh sĩ của mình phải chiến đấu được .”

    Ông Bùi Diễm biết là có rất ít cơ may để có được viện trợ quân sự bổ túc của Hoa Kỳ . Ở Sài Gòn người ta nghĩ tới những nguồn tài trợ khác, hay đúng hơn là một sự giúp đỡ từ các quốc gia Á Rập ôn hòa. Có thể vay tiền trả dài hạn để mua vũ khí đạn dược. Trong hệ thống dân sự cũng như quân sự ở Miền Nam Việt Nam , người ta chỉ cho là thiếu vũ khí và đạn dược mà người ta không bao giờ nghĩ đến tầm quan trọng của yếu tố tinh thần.

    Ngày đó, không biết vì không ý thức được hay vì đóng kịch giỏi mà Tổng Thống Thiệu có vẻ rất là tự tin. Ông nhìn thấy tướng Võ Nguyên Giáp “không phải là một Nã phá Luân thật sự” vì thế ông tin rằng thực ra mình lui binh như tướng Koutouzov người Nga, để địch quân phải mở rộng hệ thống giao thông rồi họ sẽ bị sa lầy không phải sa lầy vì mùa đông tuyết lạnh như ở Nga sô, mà sa lầy vì gió mùa và bùn sình của Việt Nam . Quân lực Miền Nam sẽ gom lại cố thủ và bộ đội Miền Bắc sẽ không sao giải quyết nỗi tất cả các bài toán về tiếp vận của họ.

    Ông Wolfgang Lehmann cố nắm chặt lại sứ quán Hoa Kỳ . Ông điện về Tổng Trưởng Ngoại Giao ở Hoa Thạnh Đốn :

    – ” Tôi đã cho lệnh tòa Lãnh Sự Nha Trang phải rút tất cả nhân viên người Mỹ từ KonTum, Pleiku và Quảng Đức. Tất cả sẽ đến Nha Trang sau buổi trưa nầy.”

    Mọi tin tức đã chính xác: Đặc công Bắc Việt đã phá nổ một kho đạn dược ở KonTum. Bắc Việt đã bắn hỏa tiển vào phi trường của tỉnh và phi trường không còn xử dụng được nữa.

    Cùng ngày hôm đó tại Hà Nội Chánh Trị Bộ và Quân Ủy Trung Ương chấp thuận một đề nghị của tướng Văn tiến Dũng: Vị Tổng Tư Lệnh Chiến Trường đề nghị tiếp tục cuộc tiến quân.

    Có được Hà Nội bật đèn xanh rồi, tướng Dũng cho lệnh các đơn vị:

    – “Lúc trước vào những năm 1968 và 1972, Quân Đội Nhân Dân ta cũng đã có nhiều trận tấn công trong vùng. Nhưng theo tôi (tướng Dũng), những chiến thắng của chúng ta không bao giờ nhanh chóng mà cũng không oanh liệt, không quyết định như năm nay. Sau những cuộc tấn công quy mô đó cuối cùng rồi quân lực Miền Nam vẫn nắm phần chiến thắng. Giờ đây, trong tháng 3 năm1975 nầy, các căn cứ tiếp vận, hệ thống đường xá, các ống dẫn dầu của quân đội ta v.v.. tất cả đều đã hoàn bị hơn và quan trọng hơn….”

    – ” Phải làm sao hoàn thành sự nghiệp trước mùa mưa” Dũng nhắc lại..

    Tại Pleiku, trong 3 ngày liền từ ngày 15 đến 18 tháng 3, cuộc triệt thoái của Quân Đoàn II dĩ nhiên vấp phải nhiều khó khăn, nhưng nói chung cũng được diễn tiến khá tốt. Di chuyển cả một Quân Đoàn đâu có phải là chuyện nhỏ đâu? Nào là nhân sự, nào là quân xa và thiết giáp, nào là 20 tấn đạn pháo binh, nào là một tháng rưởi xăng dầu và 2 tháng lương thực… Tất cả đều phải được đưa xuống tận bờ biển Nha Trang. Ở đó người ta đang chuẩn bị cho kế hoạch phản công tái chiếm Ban Mê Thuột . Bấy giờ người ta mới vỡ lẻ ra tại sao tướng Phú nằng nặc xin thăng cấp chuẩn tướng cho đại tá Lê văn Tất. Vừa mới nhận được “một sao” là tướng Tất được tướng Phú giao ngay trọng trách chỉ huy cuộc hành quân triệt thoái nầy. Một ông tướng khác thâm niên hơn phải giám sát toàn thể cuộc hành quân. Do đó mà lệnh lạc rất mơ hồ, lộn xộn khó hiểu, gây ra “nhiều hiểu lầm ” lệnh nầy chỏi lại lệnh kia.

    Bộ Tham Mưu Quân Đoàn không có gởi thám sát có khả năng để dò trước con đường 7B vốn đã hư vì các ổ sình lầy, xe thường không thể đi được . Các đơn vị đầu tiên rời khỏi Pleiku với Liên Đoàn 20 Công Binh dẫn đầu. Tức khắc họ bị đoàn người tỵ nạn từ Pleiku và Kontum bám vào, vì Kontum chỉ cách Pleiku có khoản 40 cây số về hướng Bắc. Trên một con đường mà từ bao nhiêu năm qua không được tu bổ, các chiến xa M48 nặng 47 tấn di chuyển rất khó khăn. Lực lượng Địa Phương Quân nhận được nhiều lệnh trái ngược và mâu thuẩn nhau. Tướng Phú thì nói : “Thôi thì cho các binh sĩ đồng bào Thượng trở về buôn làng của họ cho rồi, không cần phải cho họ biết làm gì.” Trong lúc các sĩ quan khác thì yêu cầu họ giữ vài đoạn trên con đường liên tỉnh 7 B. Nhưng biết là mình bị bỏ rơi, các binh sĩ người Thượng thường “rã ngũ” . Có một số cầu đã bị phá sập từ lâu cần phải được bắt lại, Công tác nầy tốn rất nhiều thời gian, nhưng dù muốn dù không tất cả đoàn xe đều tiếp tục tiến tới.

    Ở Bộ Tổng Tư Lệnh Chiến Trường của Bắc Việt, cho tới ngày 16 tháng 3, người ta phân tách sai tình hình. Các đài phát thanh Tây Phương đã vô tình cung cấp tin tức mà theo tướng Dũng thì dù là từng đoạn tin không đầy đủ lắm nhưng thật sự có một giá trị “tối ư quan trọng”. Có nhiều chi tiết “báo động” quân đội Bắc Việt . Đây nhé, thông tấn xã UPI của Hoa Kỳ loan tin là “giá vé máy bay từ Pleiku đi Sài Gòn lên đến 40.000 đồng.” Tại sao lại có chuyện đua nhau chạy ra phi trường như thế ? Tại sao giá vé lại bất thần tăng vọt lên vùn vụt vậy ?

    Trưa ngày 16 tháng 3, Bắc Việt lại bắt được những câu trao đổi giữa những phi công của Không Lực Miền Nam . Họ cất cánh từ Pleiku và đáp xuống luôn ở phi trường Nha Trang luôn mà không trở về căn cứ Pleiku nữa dù phi trường nầy chưa bị Bắc Việt pháo kích. Tại sao vậy ? Văn tiến Dũng hiểu ngay: tướng Phú về đóng ở Nha Trang. Tướng Dũng cũng biết được là 450 người Mỹ và nhân viên người Việt của họ tất cả đều rời khỏi Pleiku. Một cầu không vận bằng trực thăng được thiết lập từ trung tâm thành phố đến phi trường. Từ đó phi cơ vận tải C- 47 và C-46 nối tiếp cầu không vận đến Nha Trang. Đối với người dân thường ở Pleiku cũng như đối với các điệp viên của tướng Dũng thì không còn nghi ngờ gì nữa : “người ta đang triệt thoái hết”.

    Ở Pleiku, nhân viên CIA không mấy bình tỉnh. Họ bỏ quên một số nhân viên người Việt, trong số đó có một trong những nhân viên tình báo chinh thức của họ. Và nhất là họ quên không đốt hết được các hồ sơ.

    Các thành viên của một tổ Ủy Ban Quốc Tế cũng được rời khỏi Pleiku trong những điều kiện thật lạ lùng. Người Mỹ tự coi mình có bổn phận đối với các thành viên người Nam Dương và người Ba Tư, những người nầy không có ai ở chung với toán người Hung Gia Lợi và Ba Lan . Những người Ba Lan, “những người chó má nầy”
    (1) đã liên lạc vô tuyến với CPLTCHMN và Bắc Việt , theo mật văn đã ấn định trước:” Trời tốt…bầu trời sáng sủa.. Bạn của chúng tôi thức dây sớm.”(2) Thành viên Nam Dương hiện đang là Chủ Tịch Ủy Ban Quốc Tế ở Sài Gòn (nguyên tắc luân phiên Chủ Tịch giữa 4 thánh viên). Ông này được người Mỹ cho biết nội vụ và ông chỉ thông báo cho hai toán Nam Dương và Ba Tư mà thôi. Nhưng cuối cùng rồi hai toán Ba Lan và Hung Gia Lợi cũng được CIA dùng phi cơ của hảng Hàng Không Air America bốc đi, vì họ không muốn ở lại chờ các đồng chí Bắc Việt của họ. Hoan nghênh CIA !

    Ngày 16 tháng 3, vào lúc 19 giờ. một cuộc tranh cải dử dội đã xảy ra tại Bộ Tham Mưu Hành Quân Bắc Việt . Người ta có cảm tưởng rằng “địch quân đang toan tính chuyện gì đó trên Vùng Cao Nguyên, sau khi quân Bắc Việt chiếm xong Phước Bình và Ban Mê Thuột . Bộ Tham Mưu của tướng Dũng hơi bối rối. Tướng Dũng tự hỏi : Phải chăng tất cả Quân Đoàn II ở Pleiku đang tìm cách rút đi ? Nếu họ rút đi thì họ phải hành quân ra sao ? Đi bằng con đường nào ? Khởi thủy lúc đầu ông ta định có 2 ưu tiên trong hành động:

    1.- “trước hết là phải diệt mọi lực lượng phản công của địch ” Cũng như tướng Thiệu, tướng Dũng nghĩ là phải có phản công,

    2.- “Mặt khác phải nhanh chóng chuẩn bị tái phối trì lực lượng để tiến về hướng Bắc và thanh toán Pleiku”

    Thành phố càng về lâu càng trống vắng… Tướng Dũng đã cắt hết các con đường chiến lược trong vùng nầy, từ quốc lộ 19, 14 đến quốc lộ 21. Ông không hề nghĩ tới con đường liên tỉnh 7 B. Nó không còn xử dụng được nữa, người ta bảo đảm rằng các cây cầu trên đường nầy đều hư sập hết rồi và dọc đường cũng không có phà. Thình lình, vào lúc 21 giờ Tổng Tư Lệnh Bắc Việt biết được là lịnh triệt thoái khỏi Pleiku được ban ra cho tất cả các đơn vị. Tin tức đã xác nhận rồi. Như vậy là không có thành lập cứ điểm ở thành phố Pleiku để tử thủ như tin tức tình báo từ Hà Nội đã tiên liệu. Bây giờ tướng Dũng cũng đã biết được rằng hầu hết Quân Đoàn II của Miền Nam đã rời khỏi Pleiku được 48 tiếng đồng hồ rồi trên con dường liên tỉnh 7 B mà người ta đã quả quyết với ông là không còn xử dụng được . Giận quá, tướng Dũng đã sỉ vả thậm tệ tướng Kim Tuấn Sư trưởng sư đoàn danh tiếng 320. Ông sư trưởng nầy cũng đã từng khẳng định là không có một đơn vị nào dù là của Miền Nam hay Miền Bắc có thể dùng con đường nầy được với cả pháo binh và chiến xa của họ. Tướng Dũng nói qua điện thoại:

    –” Sơ suất và xao lảng nầy không thể tha thứ được . Trong giờ phút nầy, mỗi một sự dè dặt tối thiểu nào, mỗi một sự lơ đểnh tối thiểu nào, mỗi một sự đánh giá các khó khăn nào, mỗi một sự chậm trể nào… tất cả sẽ hỏng hết. Nếu địch vuột khỏi đây, thì đó là một trọng tội mà bản thân ông sẽ hoàn toàn gánh chịu hết trách nhiệm“

    Đây là lần đầu tiên cả một Quân Đoàn của VNCH rời bỏ một vị trí chiến lược trong lúc tình hình đánh nhau đang nóng bỏng và rút đi trong những điều kiện thật là xấu.

    Là một chiến binh lâu đời, tướng Dũng ngày hôm đó sực nhớ lại kỷ niệm 30 năm chiến trận của mình. Cũng như tướng Tổng Tham Mưu Trưởng của Miền Nam ông nghĩ tới cuộc triệt thoái của quân đội Pháp. Và cuộc rút lui ra khỏi Khe Sanh của Thủy Quân Lục Chiến Mỹ năm 1968 . Cuộc rút lui nầy không phải một thảm trạng mà chắc chắn cũng không phải là một chiến thắng đối với người Mỹ. Gần đây hơn là cuộc lui binh của quân lực Miền Nam trên Quốc lộ 19, ở Lào năm 1971, một thảm họa đối với quân lực Miền Nam . Và cuộc rút lui của Sư Đoàn 3 bộ binh của QLVNCH ở Quảng Trị năm 1972. Nhưng ở đây Miền Nam lại trở lại tái chiếm thành phố . Tướng Dũng ghi nhận: “mỗi lần mà địch quân rút đi vội vàng để tránh các cuộc tấn công của chúng ta là y như rằng họ đều có mưu lược để đảm bảo an toàn cho người của họ”. Lần nầy cái bẩy ở chỗ nào đây ? Mưu lược của ông Thiệu ra sao đây ? Chắc chắn phải có một mưu lược gì đây.

    Trong đêm 16 và 17 tháng 3, sư đoàn 320 Bắc Việt tiến quân. Các đơn vị đi tắt đường rừng, Họ chuẩn bị đánh thẳng vào đoàn quân đang triệt thoái. Chiến xa và pháo binh của sư đoàn tới ngày 18. Trong lúc đó sư đoàn 968 được lệnh của tướng Dũng đi về hướng Pleiku, vượt qua khỏi thành phố Pleiku đi xuống phía Nam để đánh từ phía sau của Quân Đoàn 2 đang rút đi.

    Bầu trời Pleiku đang có đầy những cột lửa màu xanh và màu cam. Quân đoàn 2 lúc rút đi đã bỏ lại và đốt đi một sớ lớn xăng dầu dự trử.

    Trên con đường 7 B, xe tư nhân và xe vận tải dân sự chen lẩn lộn vào đoàn xe quân sự, chiếc nầy dính sát chiếc kia, chẻ đoàn xe của quân đội ra làm nhiều đoạn, nhiều mảnh. Các quân xa chở đầy binh sĩ và gia đình của họ với bàn tủ ghế, thúng mủng, gà vịt …Các chiến xa và xe thiết giáp thì trợt lên trợt xuống, chiếc xe cứu thương thì lại chạy theo mấy khẩu pháo binh. Các tiểu đoàn, các đại đội thì kéo dài lê thê rồi tan dần…Các sĩ quan thì mất liên lạc hẳn với binh sĩ của họ. các ông đại úy thì gọi các thiếu tá của họ đòi quyền ưu tiên, các ông thiếu tá thì không nghe lịnh các ông trung tá, đại tá. Các công điện thường không thể hiểu nổi, rất khó nghe được vì tiếng kêu của xích xe đang tiến thật chậm. Các máy vô tuyến bắt đầu hư không còn làm việc được nữa. Người ta nghe đâu đây những tràng súng tự động, những tiếng bắn bách kích pháo, tiếng réo của đạn đi và tiếng chạm nổ lúc rơi xuống…Ngày 18 tháng 3, qua đài phát thanh các sĩ quan nghe được tin mất An Lộc, một thị trấn chỉ cách Sài Gòn khoản 100 cây số về hướng Bắc cách tỉnh lộ 7 B khoản 300 cây số về hướng Đông Nam. Và nhiều tin không tốt từ Vùng I Chiến Thuật ở xa về hướng Bắc. Cuộc hành quân rút lui biến thành một cuộc tháo chạy, một sự tản cư, tan rã…trong hổn loạn. Ban ngày thì dân chúng đi trong một lớp bụi đỏ và dưới một sức nóng khô gay gắt. Ban đêm thì họ lại bị một khí lạnh ẩm ướt, một mùi mốc meo của rừng rậm trong đó các bộ đội Bắc Việt luôn luôn rình rập họ. Các ông thì mệt đừ, các bà thì quá chán nản, trẻ con và người già thì khờ khạo hết. Người ta thiếu thức ăn và nước uống. Người ta từ từ bước qua khỏi trạng thái “sấp chết” và biến thành các thây ma với cặp mắt ruồi bu kiến đậu . Còn những ai còn sống thì làm mồi cho muỗi.

    Lúc rời khỏi Pleiku và Kontum thì quân nhân còn có kỷ luật, sau đó thì họ mất hết tinh thần. Tuy nhiên họ vẫn còn giữ vũ khí. Binh sĩ và dân chúng bị vây hảm trong tình trạng nghi ngờ sợ hải, hồ đồ và hỗn loạn. Một vị sĩ quan bị lạc hết binh sĩ của mình trong sự lộn xộn của đêm hôm tâm tối lại bị nghi ngờ và bị cáo buộc là ông ta bỏ binh sĩ của mình để mà đào ngũ. Dọc hai bên lề đường người ta thấy những tấm ni lông bọc xác người nhơ nhớp vì mưa và bụi, bùn đất. Có những mùi khét do sắt thép bị cháy, mùi mỡ, mùi xăng bao trùm cả đoàn di tản. Ai cũng trông cho mau sáng để trực thăng có thể đáp xuống tản thương hay bốc những bà mẹ có con nhỏ, và trông cho mặt trời chóng lên để các oanh tạc cơ có thể oanh kích các đơn vị bộ đội Bắc Việt . Nhưng thường buỗi sáng chỉ giúp phá tan sương mù xám xịt mà thôi. Người ta khám phá ra các cây cầu, chùa, miễu tan hoang trong hư, sập, đổ nát. Người ta gặp các người bị thương,người ta bước qua các xác chết mà không một ai có thì giờ chôn cất hay mang ra xa xa khỏi con lộ. Thường thường thân thể người chết bị co quấp lại trong nhiều tư thế lạ lùng và thiểu não lắm . Nhìn cảnh tượng bi thảm đó ai mà không sửng sờ muốn vụt chạy xa thật nhanh ra khỏi nơi nầy?

    Tuy nhiên, ngày hay đêm cũng có nhiều lúc có một sự yên tĩnh bất thường lạ lùng phủ chụp xuống đoàn người di tản. Người ta không còn nghe tiếng pháo binh tác xạ từ xa nữa, người ta không còn thấy những cột khói của các hỏa châu nữa, tai không còn nghe những tiếng ơi ới gọi nhau, cả những tiếng dơi kêu, hay chim chóc nữa… Những rể cây lòng thòng từ trên cao có thể cho vài giọt nước ấm lòng…những tiếng rì rào xào xạt của côn trùng trên lá khô…Ở chỗ nầy người ta nhóm tý lửa để hâm nóng cơm nếp, ở các chỗ khác các sĩ quan chạy đi tắt lửa và ra dấu nên che bớt ánh đèn.. Không thể để cho người ta dò thấy mình. Tuy nhiên người ta cũng thấy được một vài ánh đèn pin và một và anh tài xế quên không tắt đèn xe của mình. Tất cả các khuôn mặt đều hốc hác vì mệt mỏi, vì đói, vì khát. Tất cả đều hy vọng đi tới được bờ biển. Và sau đó ? đến được Sài Gòn . Và sau đó nữa thì sao?

    Có những hạ sĩ quan đi ngược lại để tìm trung đội của họ hay tìm gia đình. Đoàn xe cứ tiến tới, ở chỗ nầy phải đi vòng qua một chiếc xe vận tải, một xe Jeep hay một chiếc xe Citroen cũ kỹ nào đó đang bốc cháy , ở chỗ kia những chiếc mô tô, Vespa, Lambretta hoặc đang cháy hoặc bị chủ vứt bỏ vì hết xăng. Pháo binh và bách kích pháo của Bắc Việt lại tiếp tục nả tới càng lúc càng gần. Họ đặt quan sát viên ở ngay cạnh đường để điều chỉnh tác xạ. Nếu một đoạn nào đó nằm giữa hai đoạn đang bị tấn công, thì đó là chiến thuật của Bắc Việt muốn tạo ra nhiều đoạn ngổn ngang từng chặn cốt làm nghẻn đường tiến của đoàn xe. Đoàn xe, đoàn người càng bị ùn tắt càng bị dồn lại thì họ càng dễ tàn sát, và tàn sát được số đông hơn, càng nhiều càng tốt..

    Đi trong đoàn di tản nầy phần đông dân chúng đều là dân ở thành phố, nhưng cũng có một số nông dân. Tại sao họ lại phải chạy đi như vậy ? Họ rất sợ, họ kinh sợ kỷ luật của cộng sản . Người dân ở vùng Cao Nguyên Trung Phần nầy không ưa người Bắc Kỳ (3), họ biết là những người ở Miền Bắc tàn nhẫn lắm. Những người chạy đi tỵ nạn nầy nghi ngờ Chánh Phủ VNCH không còn giữ đúng đường lối chánh trị trước kia nữa. Từ hai chục năm nay, Chánh Phủ VNCH chủ trương giữ từng tấc đất của lãnh thổ. Các công chức thì đinh ninh rằng họ sẽ bị trừng trị, bị hành hạ vì dầu muốn dầu không họ cũng đã có một sự hợp tác với người Mỹ. Còn các người buôn bán thì họ thấy trước cảnh hàng hóa của họ sẽ bị tịch thu, các kho hàng của họ sẽ bị quốc hữu hóa. Những người khác thì vì họ nghe nói tài sản sẽ bị tịch thu, đất điền sẽ bị cưỡng đoạt, những cuộc nỗi dậy của nông dân sẽ bị đàn áp, những tòa án nhân dân và những cuộc hành quyết dân chúng bằng phương tiện thô sơ (4). Người nầy người kia đều e rằng tỉnh của họ bị quân Bắc Việt chiếm rồi lại còn có thể sẽ bị Không Lực VNCH oanh tạc, hoặc nếu Hoa Kỳ cho B.52 dội bom xuống thì sẽ ra sao ? Một số dân là người Ki Tô giáo trong số đó phần lớn đều đã bõ Miền Bắc bỏ các họ đạo thuộc các địa phương có nhiều giáo dân như Phát Diệm , Bùi Chu .. chạy cộng sản, di cư vào Miền Nam, giờ đây họ lại phải di cư lần thứ hai. Những người khác là các Phật tử, họ tin chắc rằng cộng sản không bao giờ cho họ được tự do trong việc hành đạo (5).

    Hồi năm 1954, nói về những người đã bỏ Miền Bắc chạy vào Miền Nam , không biết thành thật hay vô liêm sỉ, Thủ Tướng Phạm văn Đồng trưởng phái đoàn thương thuyết của Chánh Phủ Hà Nội ở Genève đã tuyên bố rằng :

    – “Chúng tôi đến, đem hạnh phúc lại cho họ mà họ chạy đi! Các ông có hiểu chuyện đó không ?” Năm 1954, các chuyến di cư vào Miền Nam được tổ chức hẳn hòi, có các tàu thủy của Pháp và Mỹ tham gia giúp đỡ đưa người di cư vào tận Miền Nam an toàn. Bây giờ trong năm 1975 nầy, Chánh Phủ VNCH bất cập không có dự trù được gì hết để giúp cho người dân trên con đường liên tỉnh 7 B nầy.

    Ngày 20 tháng 3, các xe vận tải chở quá sức và các chiến xa đã làm cho con đường vượt qua Sông Ba không còn xử dụng được nữa. Đoạn đầu của đoàn xe đứng khựng lại, không thể tiến lên được . Tất cả đều phải chờ. Trực thăng chở những tấm vỉ sắt đến để thiết lập một chỗ qua sông mới. Trong lúc đó từng tốp 3 tốp 5 các xe vận tải ùn lên sát nhau chiếc nầy cạnh chiếc kia gây hoàn toàn tắt nghẻn không thể kiểm soát nỗi.

    Để bảo vệ con đường, người ta xin Không trợ. Bộ đội Bắc Việt thì cứ bắn cả đại liên hạng nặng và đại bác vào đoàn xe và vào dân chúng. Các phi công Việt Nam trong tư thế chúi xuồng để oanh kích và tác xạ lại nhầm mục tiêu và gây thiệt hại rất nặng nề cho tiểu đoàn 7 Biệt Động Quân. Các tài xế chiến xa muốn đi cho nhanh , không muốn vượt Sông Ba ngay ở địa điểm vừa mới đặt các vỉ sắt,nên các chiến xa nầy bị sa lầy trong một vùng cát di động, tạo ra một cảnh vô trật tự khủng khiếp khắp nơi. Còn các binh sỉ thì cố lội thử qua sông nên có một số bị chết đuối.

    Tại Sài Gòn ông Polgar không biết diễn tiến cuộc hành quân trên đường 7 B ra sao hết. Không có một tin tức nào của phía VNCH. Mà cũng không thể nào có được tin tức từ các vệ tinh: những người kiểm soát vệ tinh ở Hoa Thạnh Đốn từ lâu rồi không còn coi VNCH là một ưu tiên hàng đầu nữa. Mà ông Polgar cũng không thể đòi hỏi một phi cơ SR 71, một loại phi cơ thám thính bay thật cao giống như loại U.2 cải tiến vậy. Một tấm ảnh chụp từ SR 71 có thể cho thấy một chiến xa bị hỏng đang bít hết lối đi qua một chiếc cầu. Chỉ thấy được như vậy thôi chớ không như nhiều người dám quả quyết là thấy được nhân viên của chiến xa đó đang hút thuốc lá Wilston hay thuốc lá Điện Biên Phủ. Mà nếu toán CIA ở Việt Nam có được những phi cơ thám sát loại đó thì cũng phải đợi đến mấy tuần lễ họ mới nhận được không ảnh. Và hơn nữa vị Tùy Viên Quân sự Hoa Kỳ của sứ quán cũng không thể gởi một trong những phi cơ loại đó được vì Hiệp Định Paris cấm mọi can dự như vậy. Riêng cơ quan CIA thì lại có được đặc quyền, một quyền có sáng kiến trong phạm vi pháp lý mà quốc tế cho phép, có ghi rõ trong Hiệp Định Paris. Cho nên ông Polgar phái một chiếc phi cơ của hãng Hàng Không Hoa Kỳ lên chụp ảnh trên đường liên tỉnh 7 B.. Các Không Ảnh cho thấy là diễn tiến của cuộc triệt thoái không còn gì xấu hơn nữa. ÔngPolgar nói với các cộng sự viên rằng :

    – “Người ta có thể nói đó là một cuộc diễn hành của đoàn xiếc đang lên cơn điên. Các con voi thì giành nhau đi trước và những con thú khác thì đang dậm chân trên đóng phân của chúng ở đằng sau !”

    Ông Polgar đi gặp Thủ Tướng Khiêm. Ông vừa nhờ Thủ Tướng chuyển các tấm Không Ảnh cho Tổng Thống xem vừa nói :

    – ” Nói về các đơn vị hành quân, và trên phương diện chiến cụ thì Quân Đoàn 2 coi như không còn nữa rồi.”

    Ngay như trong các cuộc tấn công quy mô của Bắc Việt hồi năm 1968 hay 1972, người ta cũng không thấy thảm cảnh như vậy. Trên con đường 7 B, các quân xa thì bốc cháy, bên cạnh đó thì các tử thi đầy rẩy, chồng chất lên nhau. Trời nóng như thiêu đốt làm nám cả mặt mày tay chân nhưng tiếp theo đó lại có những cây mưa lạnh buốt làm cho cả binh sĩ và dân di tản run lên cầm cập. Bây giờ thì trời quá xấu làm cho Không lực không thể can thiệp gì được nữa. Có nhiều đơn vị phải vứt bỏ vũ khí nặng để xài vũ khí nhẹ.. rồi đến lượt vũ khí nhẹ cũng phải vứt luôn. Những đơn vị hậu tập có nhiệm vụ giữ hai bên sườn của đoàn xe thì vẫn còn tiếp tục hăng say chiến đấu; nhưng rồi họ cũng không thấy được rõ đâu là phần cuối và đâu là hai bên sườn của đoàn xe.. .

    Ngày 21 tháng 3, hầu hết đoàn xe tập trung chung quanh các bãi vượt sông và các cây cầu ở về phía đông của Cung Sơn. Các tiểu đoàn thuộc sư đoàn 320 Bắc Việt ngắt đoàn xe ra từng đoạn, chẻ các tiểu đoàn 6, 7 và 22 Biệt Động Quân ra, những đơn vị mà binh sĩ chiến đấu rất hăng say mãnh liệt.. Bộ đội Bắc Việt tiến nhanh hơn và chận đoàn xe lại ở một điểm khoản 40 cây số cách bờ biển. Hai tiểu đoàn 35 và 51 Biệt Động Quân được 15 chiến xa nhẹ M 41 và 8 chiến xa hạng trung M 48 yễm trợ, đã đẩy lui mấy trận tấn công ác liệt của trung đoàn 64 Bắc Việt đêm 23 tháng 3 . Trời lại sáng sủa nên 2 chiếc trực thăng CH.47 tiếp tế được một số lương thực và đạn dược cho các đơn vị Biệt Động Quân. Họ phải bay vượt qua chiến tuyến của địch quân. Rồi trời lại âm u trở lại. Biệt Động Quân lần lượt tiến chiếm vị trí của quân Bắc Việt phía trước mặt, từng cái một , vị trí sau cùng chiếm xong ngày 15 tháng 3. Và từ đó dẫn đầu đoàn xe đi luôn đến Tuy Hòa ở sát bờ biền.

    Có khoản 200 ngàn dân chúng đi theo đoàn xe. Chỉ còn khoản 60 ngàn đến được Tuy Hòa. Đại tá Lê khắc Lý Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn 2 ước tính rằng trong số binh sĩ rời khỏi Pleiku yễm trợ cho đoàn xe đã có 5000 đến được mục tiêu cuối cùng của cuộc triệt thoái. Có một số đơn vị đã bị mất khoản phân nữa quân số, chết hay bị thương.

    Bộ Tổng Tham Mưu ở Sài Gòn tổng kết : bị thiệt hại nặng, mất đi gần một lữ đoàn Thiết Giáp và 7 tiểu đoàn bộ binh . Tổng Thống Thiệu đổ cho tướng Phú.Ông xác nhận rằng tướng Phú không có nhận được lệnh di tản. Về sau, ông lại nói rằng lẽ ra vị Tư Lệnh Quân Đoàn 2 phải sửa soạn kỹ lưỡng hơn cho cuộc hành quân triệt thoái. Tướng Tham mưu Trưởng ở Sài Gòn có một bản phân tách hợp lý hơn: tướng Phú chỉ có 48 tiếng đồng hồ để sấp xếp các đơn vị, người ta cũng thiếu sót không dự liệu được khối quá đông dân chúng lại chạy theo bám vào binh sĩ và chiến cụ làm tê liệt hết mọi cuộc hành quân phản công. Nhất là có thể người ta không ước tính được hay ước tính thấp khả năng ứng phó của Tư Lệnh quân Bắc Việt . Người ta tưởng ông nầy đắn đo, không có khả năng ứng biến khi phải điều động một số lớn đơn vị chánh quy, trong một trận chiến tranh quy tắc.

    Một số binh sĩ và sĩ quan cấp úy của QLVNCH đã có nhiều hành động rất ngoạn mục, thật là xứng đáng, mặc dầu họ không được chỉ huy đúng mức. Ngoài ra nhiều tin tức và một số lệnh lạc không bao giờ được truyền đến cho đơn vị . Hơn nữa hồi năm 1973, quân đội viễn chinh Đại Hàn đã có gài một số mìn ở một vài đoạn dọc theo hai bên đường 7 B mà người ta không bao giờ gỡ đi.

    Một cuộc thất trận đôi khi cũng vì lý do không may mắn hay vì tinh cờ may rủi, nhưng trước hết phải nói là do cấp chỉ huy , vì nhiệm vụ vượt quá sức mình hay vì không đủ khả năng.

    Các đơn vị còn sống sót về quy tụ ở Tuy Hòa. Họ thuật lại cho nhau nghe từng chiến công của họ và an ủi lẩn nhau. Trong chiến trận dù thắng hay bại, các quân nhân thường sống với nhau trong tình thương huynh đệ, còn đau khổ là những người chết và bị thương, thường họ bị coi như bị lãng quên, vì họ đã bị liệt vào thành phần bất khiển dụng rồi. Ở Tuy Hòa, các nhóm binh sĩ lẻ loi cố đi tìm lại đơn vị gốc của họ nhưng làm gì còn nữa mà tìm ! Cuộc triệt thoái đã trở thành một cuộc tháo chạy, tán loan.., như một chuyến mộng du…

    Tôn Tử có nói: Trật tự hay hổn loạn tùy thuộc vào cách tổ chức, tùy theo tình hình và trạng huống, có lòng can đảm hay không , tùy theo sức mạnh và sự yếu thế, tùy theo phẩm chất của con người . Khi con ó đánh bắt con mồi, thì hay dỡ ở chỗ chọn được đúng thời cơ và thật đúng lúc”

    Còn Clausewitz thì có nhận xét: Tất cả mọi cuộc thất trận đều tạo ra yếu tố suy yếu và tan rả . Nhu cầu cấp thiết nhất là phải tập trung nỗ lực để vãn hồi lại trật tự, gầy lại lòng tin, lòng can đảm và sức mạnh đã mất”

    Chú Thích của Dịch Giả

    (1) nguyên văn tiếng Pháp của tác giả “ces salauds”

    (2) Từ lâu rồi (theo tác giả) thì: “cơ quan CIA có nhận xét rằng khi nào các toán Ba Lan và Hung Gia Lợi thuộc Ủy Ban Kiểm Soát Quốc Tế đóng ở thị trấn nào mà vừa bỏ đi là y như rằng Bắc Việt sẽ tấn công chiếm thị trấn đó ngay. Vì thế nên mới có câu mà các nhân viên Lãnh Sự Quán Hoa Kỳ thường hay nói : “Ba Lan đi là Việt Cộng tới ” (The Poles are leaving, the VC arriving). Trong trận tấn công vào Cao Nguyên, các bạn Bắc Việt không thông báo gì cho các đồng chí Ba Lan và Hung Gia Lợi hết nên các toán nầy bị kẹt lại…

    (3) nguyên văn của tác giả : “Tonkinois”

    (4) sự thật đã xảy ra ở Miền Nam Việt Nam đúng như vậy từ 30/4/75 cho đến cuối năm 86 với các chiến dịch tịch thu “chiến lợi phẩm” của đoàn quân chiến thắng (như tịch thu nhà cửa đất đai ruộng vườn, tài sản ,vàng bạc, nhất là ở khắp các tỉnh), với đủ các chiến dịch cốt làm cho mức sống của dân chúng Miền Nam xuống ngang bằng mức sống đói nghèo khổ sở của nhân dân Miền Bắc (như đổi tiền, lập hộ khẩu và cấp phát tem phiếu lương thực thực phẩm và ngăn sông cấm chợ, đánh tư thương, công thương nghiệp, hợp tác hóa nông nghiệp, đánh tư sản tư doanh, đánh tư sản mại bản, lùa dân chùng đi vùng Kinh Tế Mới, bắt cả triệu quân cán chính và đảng phái đi tù khổ sai , v.v…)

    (5) tất cả những gì tác giả ghi nhận ở đây đều rất đúng với tâm trạng của người dân trong Miền Nam lúc bấy giờ. Mà sự thật đã cho thấy rõ ràng là cho tới giờ nầy (2001) cộng sản vẫn tìm đủ mọi cách để bóp nghẹt hay tiêu diệt các Tôn Giáo, bất kể là Kitô Giáo, Tin Lành, Phật Giáo, Cao đài hay Phật Giáo Hòa Hảo.
    —>Chương 11-15

  19. Chương 11

    Mạc Tư Khoa và Bắc Kinh

    Trước hết Tổng Thống Thiệu muốn giữ Sài Gòn trong một hệ thống phòng thủ bảo đảm thật chặt chẽ nằm trong lãnh thổ của một “Việt Nam thật sự hữu ích”, đại khái gồm cả Vùng III và Vùng IV Chiến Thuật.

    Với tin tức tình báo của cả VNCH và Hoa Kỳ , Tổng Thống Thiệu đã chờ đợi nhiều tuần nay một cuộc tấn công của Bắc Việt từ phía Tây Bắc của thủ đô, trong vùng Tây Ninh. Cuộc tấn công nầy có thể là mũi dùi chính của cuộc tổng tấn công của Bắc Việt . Còn trận chiến ở Ban mê Thuột, PleiKu, Kontum và trên đường liên tỉnh 7 B có thể chỉ là những cuộc tấn công phụ, dương Đông kích Tây nhằm đánh lạc hướng mà thôi. Đôi khi Bắc Việt cũng có những cuộc tấn công cấp đại đội hay tiểu đoàn để thăm dò hệ thống phòng thủ của Sài Gòn nằm khoảng 50 cây số ở ven biên. Với tư cách là Tổng Tư Lệnh, ông Thiệu muốn lúc nào cũng có lực lượng trừ bị trong tay. Các đơn vị thiện chiến của ông là sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến, lực lượng Hải Quân, và sư đoàn Nhảy Dù mà Tư Lệnh là tướng Lê quang Lưỡng, một sĩ quan ưu tú. Hai sư đoàn nầy từ lâu nay đang đóng ở Vùng I Chiến Thuật, phần lãnh thổ tận trên hướng Bắc của Việt Nam Cộng Hòa.

    Vùng I Chiến Thuật nầy được đặt dưới quyền của một tướng lãnh có nhiều thành tích, tướng Ngô quang Trưởng. Vừa có khả năng vừa được kính nể,, tướng Trưởng là một người mảnh khảnh nhỏ con, khoản 46 tuổi, ốm, mặt xương, đen đúa, lại có một nốt ruồi duyên to dưới mắt bên phải, ông luôn luôn có một cái nhìn xa xăm, như vào chỗ trống vắng…. Khi cần phải nói gì, ông chỉ dùng những câu ngắn gọn, nhẹ nhàng không nhấn mạnh và dùng những từ thật giản dị dễ hiểu. Nếu thấy cần phải nhấn mạnh một điểm quan trọng nào đó thì ông mới nói nhanh hơn. Nếu ông mặc thường phục thì người ta tưởng ông là một người thợ. Còn ở đồng quê thì người ta cho ông là một nông dân… Có rất nhiều sự kiện mà Lịch Sữ đã chứng minh rằng ông là một người rất bình dân đối với các cấp nhất là hạ sĩ quan và binh sĩ. Trong chiến trận ở Huế năm 1972, tướng Trưởng đã giữ được thành phố trong nhiều tuần lễ. Lúc đó một số binh sĩ lại có hành động lấy đồ của dân chúng. Tướng Trưởng lập tức kêu gọi trên đài phát thanh:

    – ” Binh sĩ và đồng bào thuộc Vùng I ChiếnThuật ! Đây là đích thân trung tướng Trưởng nói đây, Tôi đã nhận chức Tư Lệnh Vùng. Tôi mong rằng ngày mai các binh sĩ đào ngũ hãy trở về ngay đơn vị của mình. Và hãy chấm dứt ngay hành động cướp giật của đồng bào!”

    Và chỉ giản dị có thế ông đã chấm dứt được tình trạng lộn xộn ở Huế. Và tướng Trưởng tái chiếm Quảng Trị với 3 sư đoàn trong lúc Bắc Việt có đến 6 sư đoàn chánh quy.

    Từ tuần lễ thứ hai của tháng 3/ 1975, cứ bị tấn công lẻ tẻ kiểu quấy rối mãi, tướng

    Trưởng tin chắc rằng mình có thể giữ vững được Vùng I, vì ở đây ông có tới 5 sư đoàn . Ông rất tin tưởng sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến và sư đoàn Dù. Còn sư đoàn 1 là một trong những sư đoàn ưu tú nhất; sư đoàn 3 thì không tệ lắm. Duy có sư đoàn 2 ở Chu Lai thì có hơi yếu. Tướng Trưởng và Bộ Tham Mưu của ông hy vọng sẽ cầm cự được với mọi cuộc tấn công của Bắc Việt , dù Hà Nội có đưa hết lực lượng trừ bị của họ vào cũng vậy. Khác với tướng Phú, ông Trưởng có sẵn kế hoạch rút lui từ điểm phòng thủ nầy đến cứ điểm mạnh khác cả ở Huế, Đà Nẵng và Chi Lai.

    Ngày 12 tháng 3, Tổng Thống Thiệu đòi hỏi tướng Trưởng phải sẵn sàng để đưa sư đoàn Dù về Sài Gòn. Tướng Trưởng phản đối ngay với Bộ Tổng Tham Mưu. Đại tướng Viên vừa quá bận rộn vừa mệt mỏi đã trả lời :

    – “Tổng Thống không muốn trở lại vấn đề nầy nữa.”

    Tướng Truởng lấy phi cơ bay ngay về Sài Gòn để đòi hỏi xét lại vấn đề nầy. Ông Thiệu nhất định không buông:

    – “Các ông tướng nầy khó chịu thật ! Họ chỉ nhìn thấy Vùng Chiến Thuật của họ mà thôi, họ không nhận thức được quyền lợi tối thượng của đất nước!”

    Ông Thiệu quên không báo cho tướng Trưởng biết là ông sẽ rút tiếp sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến của Vùng I về Sài Gòn.

    Do đó khi về đến Bộ Tư Lệnh Vùng I, tướng Trưởng nghĩ tới việc xin từ chức.

    Tuy nhiên ông cũng phải tái phối trí và tổ chức lại hết tất cả hệ thống phòng thủ của Vùng I.

    Quyết định mới của ông Thiệu bắt buộc tướng Trưởng phải bỏ trống những vị trí đối diện với Vùng Phi Quân Sự, dọc theo vĩ tuyến 17 ở phía cực Bắc của Vùng I Chiến Thuật.

    Tướng Trưởng được biết là lực lượng chánh quy Bắc Việt mà ông sắp phải đối đầu sẽ mạnh hơn bao giờ hết, quan trọng hơn ông đã dự trù.,, Vùng I sẽ đương đầu với những sư đoàn xung kích Bắc Việt như sư đoàn 325 C, 324 B, 304, sư đoàn 711 và sư đoàn 2., sư đoàn 341, một sư đoàn trừ bị, cũng sẽ xuống phía Nam. Và cuối cùng là những đơn vị hỗn hợp, gồm bộ đội chánh quy Bắc Việt và Việt Cộng của CPLTCHMN… đang tập hợp ở hai đầu Nam Bắc của Vùng I , một số ở chung quanh thị xã Quảng Trị và số còn lại đang nằm ở phía Nam, gần Chu Lai. Ở đây Việt Cộng được trang bị và huấn luyện tốt hơn tất cả các nơi khác. Nếu hai sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến và sư đoàn Dù bị rút đi thì ông có nguy cơ sẽ đối diện với một lực lượng tương đương với 6 sư đoàn chánh quy Bắc Việt trong lúc ông chỉ có võn vẹn 3 sư đoàn . Địch quân sẽ có khả năng “tập trung” dài theo chiều sâu để tấn công Vùng I. Ông ở vào cái thế bị bắt buộc phải cho các sư đoàn của ông trải dài ra , phân tán mỏng….. loảng ra hết.

    Ngày 15 tháng 3, trong lúc Pleiku đang bắt đầu triệt thoái thì Lữ đoàn 369 Thủy Qyân Lục Chiến cũng rời khỏi Quảng Trị,

    Dọc theo biên giới trên đó, Thủy Quân Lục Chiến tượng trưng cho một sự có mặt vững chắc , một lực lượng hùng mạnh và một chiến thắng, (đúng hơn là chiến thắng Quảng Trị năm 1972). Binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến có kỷ luật, rắn rỏi, lại không mang theo vợ con, bàn ghế khi di chuyển.. Cho nên sự ra đi rời khỏi Quảng Trị của họ làm cho tinh thần dân chúng xuống kinh khủng. Trong tỉnh Quảng Trị cũng như ở các chỗ khác, dân chúng thường nghe đài phát thanh ngoại quốc, nhất là đài BBC và đài “Tiếng Nói Hoa Kỳ” (VOA) , hai đài dễ bắt nhất. Từ sau ngày 16 tháng 3 các đài nầy đã phát ra những câu chuyện rất chính xác và rất hãi hùng đã xảy ra dọc theo con đuờng Liên Tỉnh 7 B. Từ chỗ đó, dân chúng trong những thành phố, thị trấn thuộc Vùng I Chiến Thuật từ lo âu đâm ra hoảng hốt bỏ chạy, trong số đó lại có một số công chức và viên chức xã ấp. Ngay như tại Quảng Trị, Trung Tă Tỉnh Trưởng Đỗ Kỳ lại khuyên công chức của mình hãy cho gia đình tản cư trước đi. Dân chúng Quảng Trị chạy xuống Huế, còn dân chúng Huế thì lại chạy xuống Đà Nẵng. Trong có mấy ngày mà dân số của thành phố nầy từ 600 ngàn vọt lên trên một triệu.

    Ngày 18 tháng 3, Thủ Tướng Khiêm gặp tướng Phú ở NhaTrang, ở một Bộ Tư Lệnh mới, vô tổ chức, của Vùng II, Bận túi bụi, tướng Phú gần như không có khả năng nói chuyện được cho có mạch lạc. Ông ta đã từng là một trong những người mà tướng Khiêm đỡ đầu ! Thủ Tướng đề nghị cách chức tướng Phú, nhưng ông Thiệu không đồng ý. Vả lại để làm gì ? vì Quân Đoàn 2 có còn gì nữa đâu ?

    Thủ Tướng đi Đà Nẵng sau đó. Với những thành phần dân chính có trách nhiệm ông hứa là Chánh Phủ sẽ lo cho làn sóng người tỵ nạn, ông sẽ giải tỏa ngân khoản để lo việc đó. Ông đã gặp tướng Trưởng tại Bộ Tư Lệnh Vùng. Dĩ nhiên không có vấn đề giữ lại Thủy Quân Lục Chiến và Nhảy Dù, tệ hơn nữa là cũng không có tăng cường được cho tướng Trưởng một lực lượng nào hết.

    Tướng Trưởng lại quay về Sài Gòn . Ông không hiểu nổi chiến lược của ông Thiệu. Chủ trương thành lập các cứ điểm mạnh đã đi đến đâu ? Hình như ông phải cố thủ Huế. Nhận thức được sự thất bại của việc triệt thoái ở Vùng II, ông Thiệu do dự khi muốn tính tới một cuộc triệt thoái khác ở Vùng I.

    Ngày 19 tháng 3 lúc 11 giờ, Tổng Thống họp với Thủ Tướng, tướng Viên Tổng Tham Mưu Trưởng và tướng Quang cố vấn an ninh của ông . Lần nầy lại có thêm Phó Tổng Thống Trần văn Hương, và tướng Trưởng (được gọi về). Người ta nói về hai hay ba cứ điểm. Tướng Trưởng tuyên bố sẽ có thể cố thủ được Huế và Đà Nẵng. Ông Thiệu sẽ đợi tướng Trưởng về đến Đà Nẵng rồi mới đọc một bài diễn văn trên đài phát thanh nói về sự cố thủ của thành phố Huế.

    Vừa đến Đà Nẵng, tướng Trưởng biết là cộng sản Bắc Việt đang tấn công mạnh vào Huế. Ông gọi ngay tướng Viên ở Sài Gòn . Trung thành với chính mình ông Viên lại chyển đường dây qua ông Thiệu. Tướng Trưởng nói ngay:

    – “Tốt hơn hết là Tổng Thống hoãn lại đừng phát thanh vội bài diễn văn nói về Huế của Tổng Thống. Thành phố nầy sẽ không thể cố thủ được .”

    Cũng trong ngày 19 tháng 3 nầy, ông Wolfgang Lehmann điện về ông Brent Sceowcroft ở Nhà Trắng. Ông nhờ chuyển bức công điện đến cho ông đại sứ Martin hiện vẫn còn đang chửa răng ở Bắc Carolina. Bức công điện viết:

    – “Ở đây mọi việc tiến triển nhanh quá. Chiều nay Tổng Thống Thiệu phải nói chuyện với dân chúng trong nước để giải thích về chiến lược của Chánh Phủ . Mặc dầu chuyện đó chưa được tuyên bố ra,nhưng tất cả đều cho thấy là Chánh Phủ đã có quyết định bỏ Quảng Trị.”

    Theo ông Lehmann thì người ta cũng sẽ bỏ luôn Huế. Bằng chứng là các đơn vị chiến xa đang bắt đầu rút đi…..

    Ông Lehmann nhờ tướng Homer Smith (Tùy Viên Quân Sự Hoa Kỳ ) đến đo thử nhiệt độ của Bộ Tổng Tham Mưu. Ông nầy báo cáo lại là:

    – “các sĩ quan đều rất bất bình về “quyết định hấp tấp triệt thoái khỏi PleiKu và KonTum. Không những họ cằn nhằn về quyết định (có một số sĩ quan hình như còn bênh vực ) mà còn chỉ trích lề lối và tiến trình thi hành quyết định đó nữa… vì người ta đã bỏ lại hoặc phá hủy quá nhiều đạn dược và chiến cụ.”

    Ông Lehmann còn thêm rằng:

    – “người ta còn nghe thấy cả dân chúng và quân nhân Việt Nam đang có một khuynh hướng trách móc Hoa Kỳ. Khuynh hướng nầy càng ngày càng lớn mạnh thêm ra. Chúng tôi đang theo sát vấn đề nầy và sẽ có những biện pháp cần thiết để tránh những biến chuyển có hại”

    Ông ta đã có đề nghị với ông Sceowcroft là “không có gì là quá sớm để chúng ta nghĩ đến việc di tản một số lớn nhân sự bằng đường biển.. Người tỵ nạn đang đầy nghẹt ở Đà Nẵng..”(ngày 18/3). Đó là nhiệm vụ của ông Lehmann, ông nghĩ tới đám con chiên của ông. Các viên chức người Mỹ ở Huế không còn ngủ đêm ở trong thành phố nữa. Cứ đến chiều là họ ra nghỉ đêm ở gần sân bay, ở trên chục cây số về phía Nam. Từ đó trong trường hợp khẩn cấp người ta sẽ đến bốc họ đi. Riêng những người thuộc tổ chức từ thiện thì họ cho biết là nếu có gì thì họ cũng vẫn sẽ ở lại tại chỗ. Các viên chức Hoa Kỳ thường quan tâm đến các công dân của họ nhưng nếu những người nầy không phải là công viên chức của Chánh Phủ thì họ không bao giờ ra một lệnh nào cả.

    Báo cáo của ông Lehmann còn cho thấy là ông không còn tin ở bất cứ một cuộc phản công nào nữa của phía VNCH:

    – “Bây giờ thì dường như Chánh Phủ đã bỏ mọi ý định về một trận chiến quy mô nào ở vùng Ban mê Thuột .”

    Đây là một phương trình quân sự rất thú vị:

    Hoa Kỳ không biết VNCH sẽ có hành động gì ? và VNCH không biết ý định của cộng sản Bắc Việt ra sao . Còn Bắc Việt thì đang ngạc nhiên về chiến thắng quá nhanh của mình .

    Tướng Dũng viết:

    – “Chiến thắng của chúng ta ở Cao Nguyên thật là to lớn, vượt quá sự dự trù của chúng ta ”

    Rõ ràng là trong nhiều trường hợp như câu chuyện trên đường liên tỉnh 7 B, vị Tổng Tư Lệnh Bắc Việt đã đặt Bộ Chánh trị và Quân Ủy Trung Ương của đảng trước những việc đã rồi, và vượt quá lệnh của họ. Không có gì thành công hơn sự thành công nầy, cho nên tướng Dũng muốn đi xa hơn nữa. Ông ta hỏi lệnh Hà Nội để được tiếp tục tấn công. Ông ta đang có nhiều lợi thế. Mặc dầu cũng có một số trục trặc trong các đoàn xe, nhưng không có bài toán quan trọng nào về quân số, về lương thực, về vũ khí và đạn dược. Ông có thể chuyên chở các đơn vị nhanh hơn với các quân xa cơ hữu hoặc bằng các phương tiện chuyển vận còn nguyên vẹn tịch thu được của Miền Nam Việt Nam .

    Khối kỹ thuật tổng quát ở Hà Nội đã biệt phái cho tướng Dũng 300 kỹ sư, thợ máy và các thợ chuyên môn để sửa chửa hàng trăm xe vận tải. Các chuyên viên nầy lại gặp khó khăn trong công tác sửa chửa các chiến xa hay các khẩu pháo binh đã tịch thu được . Tướng Dũng cũng đã kiểm soát được các trục lộ chính dẫn từ Cao Nguyên xuống bờ biển. Mặc dầu có sự thận trọng và có sự dè dặt từ những người có trách nhiệm ở Hà Nội sợ ông có thể bị rơi vào một cạm bẩy , tướng Tổng Tư Lệnh vẫn muốn tiến tới. Thật là quá hấp dẫn ! Các sĩ quan tham mưu của ông có nói đùa một câu mà đâm ra thành sự thật:

    – ” Chúng tôi không thể theo kịp các trung đoàn của mình trên bản đồ nữa !”

    Ngày 19 tháng 3, ông Polgar tự hỏi không biết Thủ Tướng Khiêm có chuyển cho Tổng Thống Thiệu mấy tấm không ảnh cho thấy một sự thất bại kinh khủng trên con đường 7 B hay không ? Ông gởi một công điện về Hoa Thạnh Đốn cho ông Giám Đốc Trung Ương Tình Báo CIA, trong đó ông giải thích và tiên đoán rằng:

    -” Tình hình ở đây đang xuống một cách “thảm não” ở Vùng I cũng như ở Vùng II. Ông Thiệu sẽ mất luôn cả Huế nữa.”

    Trong các công điện của ông, Polgar thích tỏ ra mình là con người thấy rõ được mọi chuyện, nhìn thấy trước các biến cố, dĩ nhiên ông cố sấp xếp lại cho rõ ràng hơn. Vì ở Hoa Thạnh Đốn người ta hình như không nắm được sự thật của tình hình , nên không còn nghi ngờ gì nữa đây là một điều cần thiết “phải nói rõ”:

    – ” Trên quan điểm địa dư, VNCH là một quốc gia được thành lập sau Hiệp Định Genève 1954, và quốc gia nầy đứng vững từ đó nhờ có được viện trợ dồi dào của Hoa Kỳ, nay quốc gia nầy sẽ không còn tồn tại nữa rồi…!!.”

    Ông Polgar nghĩ tới cuộc tranh luận quỷ quái của Quốc Hội ở Hoa Thạnh Đốn về viện trợ. Ông muốn trao thêm đạn cho vị Giám Đốc CIA để ông William Colby có yếu tố mà tranh đấu được qua điều trần trước các ủy ban một cách chánh thức hoặc nói chuyện riêng với các nghị sĩ hay dân biểu quan trọng một cách bán chánh thức, ông nói tiếp:

    – “Sự sống còn của Miền Nam Việt Nam độc lập tùy thuộc phần lớn vào hành động của Hoa Kỳ. Mọi sự thiếu quyết tâm của Hoa Kỳ sẽ giết chết một quốc gia mà Hoa Kỳ đã từng giúp đở từ ngày quốc gia nầy thành hình (1954). Ngân khoản viện trợ là tối cần thiết.”

    Tại Hoa Thạnh Đốn , người ta luôn luôn vẫn không để tâm chú ý tối đa tới Việt Nam . Người ta bị vấn đề Cam Bốt ám ảnh. Các quan chuyên nghề cạo giấy thì ngã theo bản chất tự nhiên của họ, thích nhận lấy thành quả khi họ nhúng tay vào, còn nếu có gập khó khăn hay thất bại thì họ đổ lỗi lẫn nhau: chuyện đó là việc của Nhà Trắng, chuyện nầy là của Bộ Ngoại Giao, chuyện kia là do Bộ Quốc Phòng.. Ở Ngũ Giác Đài, các sĩ quan ngành Quân Sữ so sánh sự thảm bại của QLVNCH trên con đường 7 B với cuộc tháo chạy của ông Nã Phá Luân trước Mạc tư Khoa vào năm 1812, hay với cuộc lui quân của Pháp năm 1940, hoặc với sự tan rã của quân đội quốc gia Trung Quốc vào năm 1949 .

    Không một người nào ở Sài Gòn hay ở Hoa Thạnh Đốn biết được rằng để trả lời cho đề nghị của tướng Dũng, một quyết định căn bản được Hà Nội thông qua ngày 20 tháng 3:

    – ” Bộ Chánh Trị và Quân Ủy Trung Ương đều đồng ý với Tổng Tư Lệnh. Phải tiếp tục tấn công. Tướng Dũng phải tránh không cho ông Thiệu có thể tiến hành một sự co cụm hệ thống phòng thủ của ông ta, là tập trung được lực lượng trong vùng Sài Gòn và một phần của Vùng đồng bằng sông Cửu Long… Chúng ta phải thực sự chạy đua với thời gian, thực hiện kế hoạch giải phóng Sài Gòn nhanh hơn ta dự tính, “

    Ông đại tá Quân Y Jean Fourré, một chuyên viên ngành giải phẩu, một người ngay thẳng và chánh trực, một người đã có 3 năm phục vụ ở Lào, vừa tới nhận bệnh viện Grall, một cơ sở quý báu nói lên sự hiện diện của Pháp ở ngay Sài Gòn . Bệnh viện Grall tự túc về ngân sách điều hành, riêng những vị bác sĩ người Pháp thì do Paris đài thọ. Ông Fourré rất ngạc nhiên khi thấy rằng cộng đồng người Pháp ở đây rất là bình tỉnh.

    Ông nói chuyện với Đại tá Yves Gras, Tùy Viên Quân Sự ở Tòa Đại sứ Pháp.Ông nầy giải thích cho ông biết là:

    “Việt Cộng và bộ đội Bắc Việt sẽ tập trung lại chờ lệnh. Họ có thể tiến chiếm được thử đô Sài Gòn nhưng họ sẽ không làm chuyện đó. Vậy đó, ông nên biết rằng ở Á Châu nầy người ta không biết mất thể diện đâu. Vậy đó. Hà Nội không muốn làm nhục Sài Gòn đâu. Vậy đó. Cũng có thể họ tấn công trở lại sau mùa mưa “

    Đại tá Fourré tự nhủ rằng dù sao những người của sứ quán của mình cũng theo dỏi được tình hình. Đại tá Gras nầy cũng thuộc loại có tuổi của thế hệ già. Hơn nữa vị Tùy Viên quân sự nầy thuộc loại đấm đá, chắc không bao giờ có cảm nghĩ qua tiên đoán liên quan đến chánh trị và quân sự của các trung tâm tình báo ở Sài Gòn đâu – trừ những người Ba lan.

    Trung tướng Tổng Thống Thiệu, với một diễn tiến quân sự có cơ tan rã của Vùng II và Vùng I, chắc phải tính tới một cuộc đấu tranh trên mặt trận chánh trị .

    Ngày thứ ba 25 tháng 3, vào lúc 16 giờ rưởi, ông Thiệu họp Hội Đồng Bộ Trưởng trong phòng họp nhỏ cạnh văn phòng của ông, trên lầu 1 của Dinh Độc Lập.

    Tướng Quang, cố vấn an ninh, báo cáo về tình hình chánh trị nội bộ. ông mô tả hoạt động của các đảng, và các phong trào đối lập. Vài cuộc họp ở đây vài cuộc biểu tình ở đó… Sau đó ông Nguyễn văn Hảo, Phó Thủ Tướng đặc trách về Kinh Tế trình bày về vấn đề tiếp tế, giá cả, những mặt hàng thực phẩm và săng dầu. Tổng Thống ngồi nghe và có ghi chú vài điểm.

    Ông day qua phía bên trái nói với Thủ Tướng:

    – “Tôi nghĩ là đã đến lúc phải cải tổ nội các của Anh đi để đối phó với tình hình. Phải là một nội các chiến tranh.(1) gồm những thành phần yêu nước thực sự, có quyết tâm và hăng say hoạt động.”

    Như vậy là thành phần nội các hiện tại không phải là những người như vậy sao ?

    – ” Tôi sẽ tuyên bố chuyện nầy ngay chiều hôm nay,. ông Thiệu nói tiếp. Phải thực hiện nhanh để làm “hỏng chân” những người khác. Chúng ta không nên để mất thì giờ…”

    Tổng Thống không có một lời nhắc tới tình hình quân sự ! Có phải ông cho đó là lãnh vực của riêng ông ? Còn ông Khiêm thì không bao giờ nói ngược lại ý của ông Thiệu. Lần nầy thì khác, ông lớn tiếng nói lên những gì mà tất cả các vị Bộ Trưởng hiện diện đều nghĩ tới:

    – ” Trước hết chúng ta phải chận đứng các cuộc tấn công của cộng sản , ổn định và củng cố mặt trận, và giúp đỡ những người dân tỵ nạn.”

    Ông Khiêm không phải là một người nặng về tình cảm, nhưng sau khi ông nhìn thầy tận mắt những gì đã xảy ra ở Đà Nẵng, tất cả những thường dân trước bờ vực thẳm đã làm cho ông cảm động.

    Ông Hảo cũng tuyên bố:

    – ” Thưa Tổng Thống, chẳng lẻ chúng ta cứ phải lùi hoài như vậy sao ? Phải chận đứng sự tiến quân của Bắc Việt lại chứ ? Tổng Thống nghĩ là chúng ta chận đứng họ ở khoảng nào ?

    Ông Thiệu bước đến bản đồ Việt Nam treo trên tường với một cây bút chì mỡ trong tay. Ông vẻ hai vòng và một đường thẳng trên tấm plát tít trong bọc bản đồ rồi với một giọng chắc nịch ông nói:

    – ” Không lui nữa. Ở Vùng I, chúng ta có một cứ điểm ở đây, Đà Nẳng. Ở Vùng II, một cứ điểm khác ở chỗ nầy, Qui Nhơn. Chúng ta thiết lập một tuyến ổn định theo đường thẳng từ Đèo Cả phía Bắc của Nha Trang đến phía trên của Da Lat Các ông sẽ thấy Đà Nẵng sẽ là Stalingrad của chúng ta , Còn tốt hơn Stalingrad nữa vì rất dễ phòng thủ và tiếp tế cũng dễ.”

    Ông Thiệu lẫn lộn trong những so sánh của ông ta, dĩ nhiên ông quên rằng quân Đức nằm trong cứ điểm Stalingrad đã bị thất thủ.

    Ông ngồi xuồng và nói tiếp:

    – ” Hơn nữa, tôi sẽ cho lệnh quân đội từ đây phải tử thủ tại chỗ”

    Ông Thiệu có vẻ hình như rất tin vào những lời tuyên bố của ông. Ông có dùng những lời tuyên bố nầy thay cho hành động hay không ? hay những động từ của ông thay cho chiến thắng ? Với một cây viết, ông thảo ra một diễn văn hay tuyên bố ngắn rồi ông đọc nó to lên, Vốn là một giáo viên, Phó Tổng Thống Hương đề nghị sửa lại vài danh từ. Tổng Thống cho gọi Đại tá Cầm, chánh võ phòng của ông và ra lệnh gởi bản văn nầy đến tất cả các Tư Lệnh Quân Đoàn, sư đoàn và các đại tá Tỉnh Trưởng, không chậm trể

    Ngay chiều hôm đó, đài phát thanh và đài truyền hình đều nói lên quyết tâm của Tổng Thống :

    -” Động viên tất cả các lực lượng của đất nước; Chận đứng các cuộc tấn công của cộng sản và cứu trợ những người tỵ nạn.”

    Trong một tuần lể, Thủ Tướng Khiêm tham khảo và tiếp kiến khoảng 30 nhân vật, cũng giống như mọi cuộc cải tổ trong thời bình, lúc sóng lặng gió êm. Ông hành động giống như ngài Thủ Tướng của Đệ Tứ Cộng Hòa Pháp một ngày sau khi có khủng khoảng trong nội các. Phó Thủ Tướng Nguyễn lưu Viên thảo một bản tường trình đúc kết hết mọi quan điểm của những nhân vật vừa được Thủ Tướng tiếp xúc.

    Ông Thiệu không tin vào dư luận quần chúng ở Miền Nam nhưng ông lắng nghe nhận xét của một số thân hào nhân sĩ.

    Ông Nguyễn Lưu Viên đánh bóng 4 đề mục rất cần thiết:

    ‘’ – phải lấy lại lòng tin của dân chúng

    “- phải thực hiện một sự đoàn kết quốc gia thật rộng rãi

    “- phải canh tân phương pháp làm việc của Chánh Phủ

    “- phải mở rộng cửa cho hòa bình nhưng đồng thời phải củng cố quân đội để chận đứng các cuộc tấn công của cộng sản .

    Có 3 khả năng hành động:

    1,- thứ nhất: Nếu quân đội, vì một lý do nào đó – thiếu chiến cụ , vũ khí đạn dược, hoặc mất hết tinh thần – không thể chận đứng được cuộc tổng tấn công của cộng sản , thì VNCH phải mất về tay cộng sản Bắc Việt, và cả thế giới được đặt trước một việc đã rồi.

    2.- thứ hai: Nếu cuộc tổng tán công của cộng sản Bắc Việt bị chận đứng lại, trong lúc chúng ta vẫn quá yếu về chánh trị, một Chánh Phủ Liên Hiệp thân cộng sản có thể được thành hình, thì việc cộng sản hóa Miền Nam Việt Nam chỉ còn là một vấn đề thời gian mà thôi.

    3.- thứ ba: Nếu cuộc tổng tấn công của Bắc Việt bị gián đoạn, và nếu chúng ta mạnh trên phương diện chánh trị, thì có thể có một nước Việt Nam thứ ba. Đây là giải pháp ít bất lợi nhất..

    Toan tính chiếm lại các tỉnh bị mất là một điều không còn thực tiển nữa . ‘’

    Ở đây Phó Thủ Tướng Viên viết một câu rất lạ kỳ: ‘’ Trái lại, một câu nói như thế có thể sẽ làm cho người Mỹ kinh hoàng và đóng hẳn cánh cửa lại đối với người cộng sản ‘’

    Trong tháng rồi, trên bình diện chánh trị, tình thế của ông Thiệu không có xấu lắm. Thực tế cho thấy ông hy vọng có được sự ‘’vùng lên’’ của những phần tử cơ hội chủ nghĩa. Hầu hết những người không thích ông Thiệu và chế độ của ông ta vẫn không bao giờ tin người Miền Bắc và không bao giờ muốn bị cộng sản hóa. Mặc dầu đài phát thanh Hà Nội và đài MTGPMN lúc nào cũng xác nhận nhưng cho tới giờ nầy chưa từng bao giờ có một cuộc nổi dậy nào gọi là để hổ trợ cho cuộc tiến quân tổng tấn công của cộng sản Bắc Việt . Người ta bắt đầu nghe thấy những tin đồn mơ hồ về cung cách người cộng sản Miền Bắc đối xử với dân chúng ở Miền Nam khi họ chiếm được các thị trấn và làng mạc.

    Những người dân tỵ nạn bỏ chạy từ Phước Long, Ban Mê Thuột và những xã bị chiếm đều nói là ‘’chung chung bộ đội Miền Bắc chưa có đối xử tệ lắm đối với người nông dân cũng như dân ở thành thị. Người ta chưa ghi nhận được những hành động cướp bóc và hảm hiếp, tuy nhiên khi người dân tiếp xúc với đại diện của MTQPMN hay CPLTCHMN thì họ được yêu cầu tìm bắt các công viên chức của VNCH đặc biệt là cảnh sát và an ninh tình báo. Có nhiều trường hợp được xác nhận rõ ràng là các người bị bắt được đem đi hành quyết. Ở đâu cũng vậy, họ kiểm kê dân chúng rất kỹ. Ở Cao Nguyên thì đồng bào Thượng bị tách ra khỏi người Việt Nam, trong công tác thanh lọc. Rồi người ta giao cho một anh Việt Cộng phải coi chừng 3 hay 5 gia đình, tùy theo quân số của Việt Cộng có đủ người hay không . Rồi người ta khuyến khích dân chúng ‘’tự phê bình’’ và ‘’phê bình’’ kẻ khác, từ đó tố cáo hăy tố khổ với nhau. Người ta dự trù những buỗi học tập để ‘’tẩy não’’ hay ‘’hướng dẫn chánh trị ‘’. Vệ sinh là mối ưu tư của người Miền Bắc , họ động viên dân chúng quét dọn từ các xã ấp đến đường phố trong thị trấn, làm như họ có nhiệm vụ phải ‘’làm sạch’’ cả tỉnh về phương diện vật chất lẫn tinh thần. Có nhiều nơi họ bắt đàn ông và đàn bà phải ra sửa chửa và xây dựng lại một cái gì đó theo nguyên tắc tình nguyện, nhưng thật ra là bị bắt buộc và bị chỉ định.

    Các tù binh thì phải bị thanh lọc kỹ hơn: ở chỗ nầy là binh sĩ, ở chỗ kia là hạ sĩ quan, ở chỗ khác xa hơn là sĩ quan. Đối với hàng binh sĩ không có tỉnh nào đói xử giống tỉnh nào. Họ được thả ra, bị nhốt trong các trại tạm giam, hay đưa đi từ nhóm nhỏ về Miền Bắc . Họ giữ lại các sĩ quan và các cấp chỉ huy của lực lượng Địa Phương Quân và Nghĩa Quân. Số phận của các tù binh tùy thuộc vào ý muốn cá nhơn của cán bộ Bắc Việt hay những cán bộ của CPLTCHMN nếu họ có mặt ở đó. Cán bộ thường là người của Miền Bắc . Những người dân tỵ nạn xác nhận là cán bộ người Miền Nam thường tỏ ra mềm mõng hơn người cán bộ người miền Trung và Miền Bắc. Có nhiều cán bộ người Nam khuyên dân chúng và nhất là các công chức cấp nhỏ hãy lánh mặt đi và tìm cách đừng cho người ta biết mình . Ở Ban Mê Thuột sau chiến thắng của Bắc Việt , trên 3000 người được tập trung tại chợ. Cán bộ của CPLTCHMN đi rảo qua rảo lại, để tìm bắt được 300 công viên chức VNCH, trong đó có một số cảnh sát. Họ bị tố cáo là ‘’kẻ thù của dân tộc, đày tớ và gián điệp của Mỹ’’ . Người ta đưa hết những người nầy ra khỏi thành phố, nhiều người bị hành quyết. Mặc dầu có những trường hợp như vậy nhưng chưa thấy có ‘’cuộc tắm máu’’ quan trọng nào như người ta đồn đoán. Trong hiện tại hình như ngoài một sự trừng trị, tra khảo, nhục hình nào đó thì Hà Nội ít nhất tạm thời vẫn tự chế, chưa để lộ vẻ gì gọi là sắt máu . Sài Gòn đang khai thác tối đa những tin tức nói trên trong mục đích tuyên truyền rĩ tai về hành vi trả thù độc ác của cộng sản ở các vùng vừa bị Bắc Việt chiếm đóng.

    Một số dân chúng bỏ chạy trước cuộc tấn công của cộng sản nhưng không có bao nhiêu người tình nguyện vào quân lực VNCH. Cho nên sự ‘’vùng lên’’ mà ông Thiệu chờ đón sẽ không xảy ra.

    Ngày 22 tháng 3 tại Hà Nội , Thủ Tướng Phạm văn Đồng thết tiệc đãi Ngoại Giao đoàn. Đúng vào giữa bữa ăn, một tuy viên đến nói nhỏ với Đại Sứ Pháp:

    – ‘’ Bây giờ Thủ Tướng muốn nói chuyện với ông.’’

    Phạm văn Đồng kéo ông Philippe Richer riêng ra. Ông Thủ tướng nầy biết xử dụng nhiều trò hay lắm, từ chuyện nói về Victor Hugo hay Émile Zola đến ‘’mối tình thắm thiết’’ giữa Pháp và Việt Nam . Ông có biệt tài đi dây khéo léo lắm, như trong hiện tại ông muốn cho ông Richer một số tin tức về diễn tiến của tình hình ở Miền Nam . Cuộc nói chuyện với một cấp lãnh đạo của Miền Bắc lúc nào cũng quanh co khúc khuỷu lắm, đầy sáo ngữ. Muốn sàn lọc hết để hiểu được những điểm chánh yếu thì phải biết cách bóc cái lưỡi bằng cây của họ mới được .

    Đại sứ Richer hỏi:

    -‘’Ông nghĩ gì về lực lượng thứ ba ở Miền Nam ?

    -‘’ Họ là bạn của mấy ông đó”, Phạm văn Đồng trả lời.

    Sau đó ông tuyên bố:

    -‘’Bây giờ thì tình hình không thể đảo ngược được nữa rồi. Nước Pháp phải nhúng tay vào thôi. Thiệu phải ra đi mới được “.

    Hoa Thạnh Đốn và Sài Gòn đã đạt được một sự nhượng bộ của Hà Nội trong cuộc thương thuyết để đi tới Hiệp Định Paris : ông Thiệu được ở lại.

    Làm thế nào để diễn dịch những lời tuyên bố nầy của Phạm văn Đồng đây ? Dĩ nhiên nó có nghĩa là người Pháp phải hành động, nếu không thì sẽ quá trể cho họ. Quá trể để tìm lại mối giao hão tốt với Hà Nội .

    Philippe Richer phải lập đi lập lại trong đầu những lời nói của Phạm văn Đồng mãi trong 48 tiếng đồng hồ trước khi gởi một công điện về Quai d’Orsay cho Thủ Tướng Pháp.

    Mặc dầu không có đông dân bằng hai thủ đô Sài Gòn và Hà Nội hay Đà Nẵng, nhưng Huế là thành phố quyến rũ nhất nước Việt Nam sau Sài Gòn và Hà Nội . Là thủ đô của Miền Trung, nơi có một nền văn hóa cao, Huế lúc nào cũng vẫn là biểu tượng của quyền quý. Khi xưa lúc Việt Nam còn chưa bị chia cắt thì Huế là thủ đô của Việt Nam. Năm 1972, quân lực VNCH chiếm lại thị trấn nầy . Người ta chỉ thấy chết chóc và mồ mã, một hành động mà Hà Nội không bao giờ thừa nhận . Họ đổ những phương pháp và việc làm đó lên đầu của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam .

    Trong một đất nước bị tàn phá vì chiến tranh và vì sự canh tân, Huế vẫn giữ được vẻ đẹp duyên dáng của một đế đô cũ. Những người Việt Nam nào chưa từng nhìn thấy Huế, tưởng tượng đây là một thành phố đa tình, lúc nào cũng lấm tấm có mưa phùng. Ngay như trong mùa khô, thường có sương mù trên đỉnh Núi Ngự hay trên giòng nước lững lờ của con Sông Hương .Thành phố được xây cất quanh con sông nầy. Bên bờ phía Tây là kinh thành, một khu vuông vức có tường cao 6 thước bao quanh lăng tẩm của các nhà vua, một số đền đài lăng miếu lỗ chổ vết đạn bách kích pháo. Bờ bên trái là thành phố cổ, đầy dân tỵ nạn đang lăng xăng dọc theo các con đường bao quanh chợ, đi tìm các thuyển đò mà lúc bình thường người ta hay dùng để qua đêm.

    Nhiều đoàn xe đủ loại, vận tải lớn nhỏ, xe nhà, quân xa, mô tô, xe bò, xe máy, xe đạp … ngổn ngang trên cầu, họ thả người xuống đi bộ qua tòa hành chánh dài dài tới khu của người Âu Châu bên phía Đông. Ở khu nầy quy tụ các lãnh sự quán ngoại quốc và nhà của các nhân viên người Âu. Bây giờ thì những người ngoại quốc nầy nhất là người Mỹ, những công chức cao cấp, và những nhà quý phái trong thị trấn, từ hôm đầu tháng tới nay không còn lui tới Câu lạc Bộ Bơi Lội, các sân quần vợt và bãi biển nữa. Người dân tản cư chiếm luôn hết các bồn cỏ, lẫn lộn với một số binh sĩ mà người ta không biết đó là lính của những đội tuần tiểu hay của nhóm chạy trốn nào. Binh sĩ và dân chúng chiếm hết khu đại học.

    Không có gì chắc chắn để quy trách nhiệm cho ông Thiệu về chuyện để mất tỉnh Phước Long, Ban Mê Thuột, hay thất bại thảm não trong cuộc hành quân triệt thoái khỏi Pleiku và Kontum. Nhưng chắc chán là ông phải gánh chịu hoàn toàn trách nhiệm về việc để mất Huế.

    Còn tướng Trưởng, sau khi gặp Tổng Thống ở Sài Gòn, ông về ngay Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 1 của ông ở Đà Nẵng, cách 65 cây số về phía Nam của Huế. Ngay từ lúc đó tin tức dồn dập thật là xấu. Chiến xa của cộng sản Bắc Việt đã quét hết lực lượng Địa Phương Quân ở Quảng Trị, cách Huế chỉ có 50 cây số về hướng Bắc.

    Tướng Trưởng bay ngay ra Huế ngày 20 tháng 3. Ở đây ông ra lệnh cho tướng Lâm quang Thi chuẩn bị phòng thủ Huế đồng thời cũng chuẩn bị di tản về Đà Nẵng chiến cụ nặng gồm phào binh 175 ly vận hành, và các chiên xa M48. Vào hồi 13 giờ 30 ông nghe bài diễn văn của ông Thiệu :bằng mọi giá phải cố thủ Huế. Đến 19 giờ 30, khi về đến Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 1 ở Đà Nẵng tướng Trưởng lại được một công điện do đích thân Tổng Tham Mưu Trưởng Cao văn Viên ký tên : sẽ không cố thủ Huế . Nhưng mĩa mai thay ngay trong lúc đó đài phát thanh quốc gia vẫn còn tiếp tục phổ biến oang oang bài diễn văn lịch sữ của ông Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu kêu gọi cố thủ Huế. Tổng thống phủ quên không chuyển lệnh cho Giám Đốc đài phát thanh Lê vĩnh Hòa và phòng lưu trử phim ảnh.,

    Nguyên văn bức công điện được mã hóa :

    Khẩn

    Chuyển giao tận tay

    số: 20/54 H/3 -1975 T. 20/3/758.

    Nơi gởi : Bộ Tổng Tham Mưu / Tổng Tham Mưu Trưởng’

    Nơi nhận: Tư Lệnh Quân Đoàn 1 / Vùng I Chiến Thuật

    Bản văn: số 9428 / F 341

    Tham chiếu: công điện số 9.424/ Tổng Tham Mưu / F 342 hay 20/ 145 ngày 11/3/1975 của Tổng Tham Mưu

    Tiếp theo công điện nói trên, Bộ Tổng Tham Mưu trân trọng gởi đến quý Tư Lệnh những chỉ thị sau đây của Tổng Thống VNCH.

    Thứ nhất: Phương tiện Không Quân và Hải Quân còn khiển dụng được chỉ có thể yểm trợ cho một ( 1 ) cứ điểm mà thôi. Do vậy , ông phải hành quân (nguyên văn trong công điện là tiếng Pháp: ‘’mener’’ ) trì hoản chiến đến Đèo Hải Vân, nếu tình thế bắt buộc.

    Thứ hai: Xin đáp nhận chỉ thị nầy.

    Đại tướng Cao văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực VNCH.

    Hơn thế nữa, cơ quan tình báo của Quân Lực VNCH lại phổ biến tin tức về lực lượng tham chiến của quân đội Bắc Việt ngày hôm đó. Năm trong số bảy sư đoàn trừ bị của Bắc Việt sẽ được gởi vào Miền Nam và theo tin tức của cơ quan tình báo Sài Gòn thì họ có trên 800 chiến xa với một số dự trử cho 19 sư đoàn trong đó có 14 sư đoàn bộ binh . Không còn nghi ngờ gí nữa, bây giờ thì người ta tin chắc rằng quả là một điều quá lý tưởng cho Hà Nội .

    Ông Thiệu thì có cảm nghĩ rằng ông đã cho tướng Trưởng một mức độ uyển chuyển hay tùy nghi nào đó rồi trong hành động. Trong lúc tướng Trưởng quá mệt mỏi, nóng ruột, hút hết điếu thuốc nầy tới điếu khác, thì tin chắc rằng ông Thiệu không có cho lệnh gì như vậy hết. Một sự mơ hồ lẫn lộn rất tai hại, vì thiếu sự phối hợp giữa Tổng Thống Phủ, Bộ Tổng Tham Mưu và Bộ Tư Lệnh Quân đoàn 1.

    Ông Thiệu thì đinh ninh rằng tướng Trưởng đã nói với ông ta là không có cách nào khác hơn là phải cố thủ Huế, bởi vì con đường số 1 chạy dọc theo bờ biển giữa Huế và Đà Nẵng đã bị cắt đứt rồi. Tổng Thống đã phải cho lệnh bỏ Huế là vì thiếu sự bảo đảm của tướng Trưởng. Trong lúc đó tướng Tư Lệnh sư đoàn 1 thì lại bỏ Huế mà không báo trước cho tướng Trưởng hay tướng Viên hay Tổng Thống Thiệu biết. Hết người nầy đến người khác thi nhau đổ thừa cho những “lệnh và phản lệnh” và các phản ứng dây chuyền kế tiếp sau đó.

    Đêm 23 trung tướng Lâm quang Thi đến viếng Đức Cha Nguyễn Kim Điền, tại Tòa Tổng Giám Mục Huế. Đức Tổng Giám Mục vừa từ một chủng viện ở Vatican về hai ngày trước . Không có điện, Đức Tổng Giám Mục phải tiếp tướng Thi trong phòng khách dưới ánh sáng của một ngọn nến. Họ chỉ dùng trà.

    Đức Tổng Giám Mục nói ;

    -‘’Tôi không lấy làm ngạc nhiên chút nào khi được biết người ta sẽ bỏ Huế. Tôi biết được từ một nguồn tin chinh xác rằng Vùng II và Vùng I Chiến Thuật sẽ được giao cho cộng sản . Miền Nam Việt Nam mới sau nầy chỉ gồm có Vùng III và Vùng IV mà thôi.”

    Tướng Thi có cảm tưởng rằng các nguồn tin tức chính xác đó bao gồm luôn cả từ Tòa Thánh Vatican.

    Hai ngày sau đó lại đến lượt tướng Thi tiếp Đức Giám Mục Phạm ngọc Chi tại Đà Nẵng . Ông nầy đến để phản đối ý định ‘’tử thủ Đà Nẵng’’. Thật là vô ích. Vị Giám Mục nầy cũng vẫn đinh ninh rằng đã có một thỏa thuận nào đó với cộng sản rồi. Vậy tại sao lại phải đánh đấm với nhau làm gì cho những mãnh đất hay thành phố mà mình đã có thỏa hiệp là sẽ giao cho cộng sản ? Trong giới dân sự cũng như một phần trong giới quân nhân, những tin đồn chủ bại nhất như loại nói trên đã biến thành tin tức chinh xác.

    Rõ rệt nhất là các vị Giám Mục coi như các quân nhân tự biến mình thành những người sát nhơn một cách vô ích khi họ cố gắng làm tròn chức năng và nhiệm vụ của mình trong quân đội.

    Ngày 24 tháng 3, hồi 6 giờ, tướng Trưởng cho lệnh di tản khỏi Huế. Ông ta đang hình thành một kế hoạch hơi táo bạo.

    Ở về hướng Đông của thị xã Huế có cù lao Vĩnh Lộc, một cù lao lớn dài khoản 30 cây số. Các binh sĩ thuộc Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân và sư đoàn 1 bộ binh sẽ đi xuống bờ biển, và băng qua hòn đảo nầy, bỏ lại chiến cụ nặng mà họ không thể đem lên phà hay tàu chiến được . Giữa phần đất phía Nam của hòn đảo và đất liền, công binh sẽ thiết lập một cây cầu tạm để họ có thể trở lên bờ và về Đà Nẵng . Đồng thời cây cầu nầy cũng sẽ giúp di tản binh sỉ bằng đường biển. Từ Sài Gòn đề đốc Cang đã gởi ra một số tàu hùng hậu để có thể tùy nghi chở binh sĩ hay dân chúng di tản.

    Lúc đầu, mặc dù pháo binh Bắc Việt bắn dữ dội, nhưng cuộc điều động diễn tiến không xấu lắm. Các đơn vị bảo vệ đã trì hoãn được cuộc tiến quân của cộng sản . Nhưng đến ngày 25 thì giống như lúc triệt thoái khỏi PleiKu, dân chúng lẫn lộn vào với binh sĩ . Các binh sĩ thuộc sư đoàn 1 bộ binh thì lại dắt theo gia đình của họ. Sư đoàn từ đó tan rã lần lần. Sĩ quan và binh sĩ đều biết rằng tướng Nguyễn duy Hinh đã từng nói là:

    -‘’ Chúng ta sẽ bỏ Huế , chúng ta đã bị phản bội rồi!

    Trên hai bờ của hòn đảo , có nhiều người đang chờ tàu đang còn đậu ở ngoài khơi. Một số khác thì tiến về phía Nam nơi mà Công Binh đang phải thiết lập một cây cầu tạm. Biển đang động. Kỷ luật trở thành Vô kỷ luật rồi biến luôn thành nổi loạn. Quá hốt hoảng, có một số binh sĩ cướp tàu, kể cả những chiếc tàu đang dùng làm chân cầu nổi. Một số khác thì tìm cách bơi vô đất liền và chết đuối vì nước biển đang lên. Các tàu đổ bộ thì đôi lúc không thể vào sát bờ được , hoặc vì người lái không biết cách điều hành, hoặc vì họ sợ pháo binh của Bắc Việt . Cũng có một số khác bị chết đuối vì họ tìm cách lội ra tàu.

    Ngày 23 tháng 3, ông Thiệu nhận được một bức thơ của Tổng Thống Ford. Ngay như để nâng đở tinh thần của Tổng Thống VNCH, ông Ford cũng không bao giờ dùng điện thoại. Bức thư nầy, là bức thơ cuôi cùng, chứa đựng một sự mơ hồ kheo léo, nói chuyện chung chung đến vô nghĩa. Bức thư viêt:

    -‘’ Theo quan điểm của tôi thì cuộc tổng tấn công của Hà Nội không còn gì chứng minh hùng hồn rằng đây là một sự phá hoại bằng võ lực Hiệp Định Paris..không hơn không kém.’’

    Ông Ford nói rằng ông theo sát các biến cố. Người ta không chờ mong gì được ở ông chút nào hết. Ông ta muốn tuyên dương trách nhiệm của Hoa Kỳ . Nhưng bằng cách nào đây ? Ông ta sẽ thử làm tất cả để thỏa mãn ‘’nhu cầu vật chất trên chiến trường’’ . Ông Thiệu gạch đít vài hàng ở chỗ nầy, vài câu ở chỗ khác mà dưới nhãn quan của ông, một lần nữa Hoa Kỳ đã cam kết qua vị Tổng Thống của họ như :

  20. – ‘’Quyết định của Hoa Kỳ phải nâng đở một người bạn…’’

    hay : ‘’Hoa Kỳ sẽ đứng vững sau lưng VNCH trong giờ phút quyết định nầy…’’

    Đối với ông Thiệu, bức thư nầy là một điềm lành đem tới cho ông. Bởi vì ông Ford nói về trách nhiệm của Hoa Kỳ, tức là mình phải nói rõ những gì mình đang cần. Ông Thiệu nhờ một trong những vị Bộ Trưởng của ông soạn một bức thư trả lời để sẽ được gởi đi ngày mai . Đó là ông Nguyễn tiến Hưng , nhà kinh tế lỗi lạc của ông.

    Ông Thiệu nhắc ông Ford rằng:

    ” VNCH đã ký vào Hiệp Định Paris không phải vì Miền Nam Việt Nam ‘’tin tưởng một cách ngây thơ’’ vào thiện chí của kẻ thù cộng sản , mà vì VNCH đặt hết tin tưởng vào sự cam kết long trọng của Hoa Kỳ.”

    Hữu ý hay vô tinh, ông Thiệu dùng lại những từ ngữ của ông Nixon và của Kissinger như ‘’lời hứa chắc chắn’’, ‘’những biện pháp trả đủa nhanh chóng và quyết liệt’’. Đối với ông Thiệu, lời nói của Tổng Thống Hoa Kỳ là chủ yếu. Ông Nixon đã có tuyên hứa, đã có lời cam kết, nói lên lòng thành thật và một danh dự. Không có lúc nào mà ông Thiệu tách rời Hiệp Định Paris, một hiệp định chánh thức và công khai ra khỏi những bảo đảm riêng của ông Nixon mà ông Ford sẽ phải là người thừa kế. Sau ba tháng tổng tấn công của cộng sản Bắc Việt, đây là lần đầu tiên Tổng Thống VNCH đòi hỏi Tổng Thống Hoa Kỳ phải có quyết định. Theo ông Thiệu thì ông Ford phải ra lệnh cho ‘’một cuộc oanh tạc ngắn nhưng thật dữ dội bằng B.52 vào những điểm tập trung và những căn cứ tiếp vận của địch trên lãnh thổ Miền Nam Việt Nam ‘’.

    Sau khi ký tên vào bức thư nầy ông Thiệu cho mời các vị Phó Tổng Thống, Thủ Tướng, Bộ Trưởng Ngoại Giao, Tổng Tham mưu Trưởng và Phụ tá an ninh của ông đến, để thông báo cho họ lúc 9 giờ 30 sáng.

    Sứ quán Hoa Kỳ nhận được bức thơ của ông Thiệu vào lúc trưa. Ông Ford không trả lời trực tiếp cho ông Thiệu về bức thư nầy,

    Ngày 25 tháng 3, ông Gerald Ford và ông Kissinger tiếp một phái đoàn của Sài Gòn do Đại Sứ VNCH ở Hoa Thạnh Đốn là ông Trần kim Phượng hướng dẫn. Phái đoàn đã ghi nhận được tất cả những lời tốt đẹp của ông Ford. Ông Ford sẽ làm tất cả ‘’những gì mà ông có thể làm được’’ để Quốc Hội chấp thuận một ngân khoản viện trợ bổ túc. Ông Ford sẽ gởi tướng Tham Mưu Trưởng Lục Quân Hoa Kỳ đến Sài Gòn.

    Ra khỏi Nhà Trắng, các thành viên của phái đoàn VNCH đều tỏ ra bi quan . Đã có một sự kiện: đêm hôm trước , trong khuôn khổ viện trợ cho ngoại quốc nói chung, Thượng Viện đã chấp thuận một đạo luật là 3 tỷ, 700 ngàn mỹ kim, mà trên bình diện quân sự, không có VNCH, tức là Miền Nam Việt Nam coi như đã bị loại. Dù là ông Ford có thiện ý nhưng không thể chống lại quyết định của Quốc Hội được .

    Tổng Thống Hoa Kỳ tìm những sự nâng đở quốc tế hay nói đúng hơn là ông ta muốn làm yên lòng các quốc gia đồng minh và quốc gia bạn. Ông viết thư cho lãnh đạo của các quốc gia ở Đông Nam Á Châu và những nơi khác. Ông viết cho ông Souvanna Phouma, Thủ Tướng Lào, cho ông Tun Razak, Thủ Tướng Mã Lai Á, cho ông Lý quang Diệu, Thủ Tướng Tân gia Ba, cho ông Suharto ở NamDương, cho ông Marcos ở Phi luật Tân, cho ông Bạch sùng Hy ở Nam Hàn, cho ông Tưởng kinh Quốc ở Đài Loan, cho ông Kukrit Pramodj ở Thái Lan, và nặng ký hơn, cho hai ông Thủ Tướng Úc Châu và Tân Tây Lan. Tất cả các thư tín đó đều dựa trên một mẫu chung, không có tính cách cá nhân. Trong thư, Tổng Thống Ford cam đoan với các vị lãnh đạo nói trên là:

    -‘’ Vì Bắc Việt công khai xâm chiếm Miền Nam Việt Nam …. nên Hoa Kỳ vẫn phải quyết định cung cấp cho Miền Nam Việt Nam chiến cụ, dụng cụ (nguyên văn :the tools) mà VNCH đang cần để chống lại cuộc xăm lăng đó’’

    Danh từ ‘’dụng cụ’’ (tools) rất mơ hồ tối nghĩa hay là một vụng về cố ý ? Nó ám chỉ ngân khoản, vũ khí hay đạn dược ? Ông Ford không hề nghĩ tới các cuộc oanh tạc của B.52 như ông Thiệu. Ở Hoa Kỳ rất hiếm có những người đòi hỏi một cuộc tái oanh tạc như tướng Westmoreland, cựu Chỉ Huy Trưởng quân lục Hoa Kỳ tham chiến ở Miền Nam Việt Nam.

    Trong thư gởi cho các bạn đồng viện ở Quốc Hội, ông Ford thông báo là tướng Frederic Weyand, Tham Mưu Trưởng Lục Quân Hoa Kỳ sẽ đến Sài Gòn.

    Đối với những người mà vấn đề an ninh tùy thuộc vào Hoa Thạnh Đốn, ông Ford cam kết ‘’một cách phân minh’’ rằng Hoa Kỳ sẽ tôn trọng những điều mà họ đã cam kết. Hoa Kỳ sẽ vẫn trung thành với truyền thống và những bổn phận của mình đối với các đồng minh và bạn bè. Cái lối hành văn trịnh trọng nầy không gây cảm xúc được ai trong số những người nhận được thư của ông ta, nhất là Thủ tướng Thái Lan, ở tuyến đầu, đang theo dõi và rất am tường tình hình diễn tiến ở khắp Đông Dương.

    Những chánh trị gia và những người dính líu vào con đường chánh trị của Hoa Kỳ như Tổng Thống chẳng hạn, thường nhắc tới vấn đề ‘’khả tín’’ của Hoa Kỳ , thiện chí của một siêu cuờng: là phải tôn trọng những gì họ đã cam kết trong khuôn khổ của các đồng minh của mình. Trong vùng Đông Nam Á, rất nhiều quốc gia coi vấn đề Việt Nam như một bài học trắc nghiệm. Rồi họ cũng sẽ thấy thôi !

    Trong số các quốc gia đã ký vào Hiệp Định Paris có nước Trung Hoa cộng sản. Để tăng trọng lực và bổ túc cho bức thư của Tổng Thống Ford, ông Kissinger cũng có một công hàm tương tự để phản đối với Bắc Kinh và Mạc tư Khoa, gởi cho Thứ Trưởng Ngoại Giao họ Hứa của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa và cho cả ông Gromyko của Liên Bang Xô Viêt:.

    “Kính thưa Ngài Tổng trưởng Ngoại Giao,

    Tôi viết thư nầy để thông báo cho Ngài rằng chúng tôi hết sức quan tâm và bối rối vì những hoạt động quân sự gần đây của chánh quyền Bắc Việt . Sự hoàn toàn thiếu tự chế của họ chỉ có thể cho thấy một quyết định cứng rắn của họ:đó là họ quá coi thường Hiệp Định Paris về Việt Nam “

    Ông Kissinger không bao giờ tin rằng Hà Nội có biểu lộ một sự tự chế nào, chẳng những thế mà họ còn đã vượt qua khỏi lằn ranh của sự khoan dung nữa. Bây giờ ông Kissinger mới khẳng định ràng chánh quyền Bắc Việt đang lao mình vào một hành động quân sự với một quy mô rộng lớn. Ngay những danh từ mà ông dùng trong thư của ông đã cho thấy rõ ý nghĩ của ông là cuộc tổng tấn công của Bắc Việt không phải bắt đầu từ Phước Long mà từ Ban Mê Thuột :

    – ” Bắt đầu từ ngày 10 tháng 3 1975, lực lượng quân sự Bắc Việt ở Miền Nam Việt Nam đã mở những cuộc tấn công vào các căn cứ quân sự , các thị trấn quận lỵ và tỉnh lỵ. “

    Sau khi ông trở về đến Hoa Thạnh Đốn , ông Kissinger hay những người đã viết ra dự thảo của những bức thư nầy đã xem kỹ tất cả những báo cáo và phúc trình về tin tức của các cơ quan tình báo. Ông Kissingerdlại còn thêm :

    – “Bắc Việt cũng đã cho 3 sư đoàn quân trừ bị vượt qua vùng phi quân sự.. “

    Ông Tổng trưỏng ngoại giao Hoa Kỳ đã viết cho những vị Tổng trưởng ngoại giao Trung Quốc và Liên Bang Sô Viết rằng:

    đây là một “hành động leo thang quân sự” mà theo tin tức của các các cơ quan tình báo của chúng tôi thì Bắc Việt đã quyết tâm tiếp tục các hành động xâm lăng và tiến hành các cuộc tấn công vào cố đô Huế (ông Kissinger có lý) và trong tỉnh Tây Ninh gần Sài Gòn (ông Kissinger lộn rồi). “

    Sáu ngày trước đó, Bắc Việt đã có những cuộc hành quân loại “dương Đông kích Tây” trong vùng Tây Ninh. Ông Kissinger đặt ông Tổng trưởng ngoại giao Trung Quốc trước trách nhiệm của ông nầy:

    – ” Những cuộc tấn công gần đây của Bắc Việt được sự yểm trợ của các chiến xa và vũ khí chống chiến xa do các thế lực ngoại quốc cung cấp , mà một trong các thế lực nầy có tham vọng bá quyền ở Á Châu (nhắm vào Liên Xô) nhằm phá bỏ hoàn toàn Hiệp Định Paris mà ông đã ký… Các diễn tiến đó làm cho cuộc chiến ở Đông Dương biến trở lại thành một bài toán quốc tế trọng đại “.

    Ông còn nhấn mạnh :

    “Các cuộc tấn công nầy đã được tiến hành sau cuộc viếng thăm Hà Nội gần đây của một phái doàn quân sự Trung Quốc.”… Nhiều câu hỏi rất nghiêm trọng được đặt ra liên quan đến thiện chí của các thế lực ngoại quốc đó trong việc thúc đẩy chánh quyền Hà Nội đến một sự tự chế… người ta phải khuyên can Bắc Việt để họ đừng leo thang thêm nữa và trở về với cuộc ngưng bắn ..”

    Ông Kissinger đã thiết lập nhiều mối giao hảo với Bắc Kinh. Khi ông ký thư nầy, có bao giờ ông ta nghĩ tới khả năng mà Trung Quốc có thể kềm hảm được Hà Nội trong giai đoạn nầy hay không ? Mạc tư Khoa đã cung cấp vũ khí nặng cho Bắc Việt như chiến xa, pháo binh và một lực lượng phòng không đáng sợ. Trong nhiều năm Bắc Kinh cũng đã cung cấp cho Bắc Việt vũ khí cho bộ binh , súng AK.47, lựu đạn, súng liên thanh, bách kích pháo và các quân xa (không bọc sắt) và những dụng cụ thay thế. Trung Quốc cũng giúp Hà Nội sống còn khi họ tiếp tế cho Bắc Việt gạo thóc, vải sồ và tất cả các thứ cần dùng khác, thượng vàng hạ cám, liên quan tới sinh hoạt của đời sống hằng ngày như chén bát, kim chỉ, đèn bấm, bóng đèn v.v……

    Theo ông Kissinger,khi ông đặt vấn đề Việt Nam với các nhà lãnh đạo Bắc Kinh thì là họ cũng đã “nêu lên một vài ba điều có lợi cho Hà Nội” , nhưng đó hoàn toàn chỉ là một hình thức nghi lễ mà thôi. Nội dung các cuộc nói chuyện của ông Kissinger với Trung Hoa cộng sản luôn luôn nằm trong khuôn khổ 4 nước Đông Dương: hai nước Việt Nam , một Cam Bốt và một Lào. Đối với Bắc Kinh , Hoa Kỳ không bao giờ chấp nhận một sự chiến bại ở Việt Nam. Một siêu cường phải hành động như một siêu cường. Một nước Việt Nam thống nhất không có lợi lộc gì cho cộng sản Trung Quốc hết. Sự chống đối giữa Trung Hoa và Việt Nam đã có hàng thế kỷ, và những mâu thuẩn giữa các lý thuyết gia của Hà Nội và Bắc Kinh càng ngày càng sâu rộng. Mao đã từng chủ trương đối đầu lúc trước . Nhưng theo phân tách của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ thì người “lãnh đạo vĩ đại” hình như đã thay đổi quan diểm vào những năm của thập niên 60. Vã lại ảnh hưởng và thế lực của ông đã xuống. Người ta đã không thấy ông ở đại hội đảng mấy tuần trước vào tháng giêng 1975. Người Trung Hoa đã có nhận xét là cộng sản Việt Nam mặc dầu lúc nào cũng khoa trương về các cuộc “nổi dậy của nhân dân ” , nhưng vẫn áp dụng một chiến lược quân sự quy ước theo Liên Xô. Cuối cùng thì đối với Bắc Kinh chiến cuộc ở Việt Nam càng kéo dài thì càng giúp cho Liên Xô có một thế đứng quan trọng trong vùng. Tất nhiên những người cộng sản Trung Hoa nầy có thiện cảm phần nào nghiêng về CPLTCHMN và Khmer Đỏ mà họ nghĩ đó là lực lượng đối trọng cấn thiết của họ ở Hà Nội . Nói tóm lại, để giữ được hình ảnh cách mạng ở thế giới thứ ba, người Trung Hoa hổ trợ các đồng chí Việt Nam chỉ bằng lời nói, nhưng không muốn thấy họ đặt chân lên Sài Gòn . Người dân Trung Quốc rất thương Việt Nam mà họ chỉ muốn giữ hai nước Việt Nam riêng biệt.

    Vào tháng 8 năm 1974, Trung Quốc tạo ra biến cố ở đảo Hoàng Sa với mục đích đi vào một cuộc thương lượng trực tiếp với Sài Gòn . Nhưng ông Thiệu không nắm được cơ hội mà Bắc Kinh đã trao cho ông vì một phần ông quá cảnh giác về ý định bất chánh của Bắc Kinh , một phần vì sợ Hoa Kỳ . Và ông Thiệu tiếp tục tin là thế giới cộng sản vẫn là một khối đoàn kết với nhau.

    Rất thận trọng, Bắc Kinh đã thử tìm cách bắt liên lạc với ông Thiệu. Qua trung gian của các người Tàu quốc gia thường qua lại giữa Bắc Kinh và Đài Bắc, cộng sản Trung Hoa đã tiếp xúc được với anh ông Thiệu lúc đó là Đại Sứ VNCH ở Đài Loan. Tại Hồng Kông, tháng 4 năm 1974, một sĩ quan thuộc Trung Ương Tình Báo của Miền Nam Việt Nam đã tiếp xúc với ông Jim Eckes, một người có trách nhiệm trong một hảng Hàng Không tư nhân ở Sài Gòn . Vị sĩ quan nầy được một công điện của một trong những nhân vật cộng sản của Hồng Kông. Ông Eckes biết rõ những người thân cậncủa ông Thiệu. Ngay như ông Vương văn Bắc, Tổng trưởng Ngoại giao cũng đã có giúp cho đường dây liên lạc thư tín loại nầy. Một người bạn của ông, cũng vẫn vào cuôi năm 1974, dân biểu thuộc đảng Bảo Thủ Anh Quốc, đã mở đường cho ông Thứ Trưởng ở Bắc Kinh . Cộng sản Trung Quốc đặt niềm hy vọng vào CPCHMNVN, nhưng không để lộ ý mình khi phải làm áp lực với Hà Nội.

    Ông Thiệu không bao giờ muốn nói chuyện với Bắc Kinh dù là trong vòng bí mật vì người Trung Quốc là cộng sản , cái CPLTCHMN chỉ là một công cụ của họ, và hơn thế nữa ông Thiệu lúc nào cũng sợ những đòn sấm sét của người Mỹ, một sự lo sợ chắc chắn là hão huyền !

    Đối với ông Kissinger thì người Trung Hoa coi vấn đề giao dịch với Hoa Thạnh Đốn quan trọng hơn là sự liên lạc với Hà Nội . Nhưng họ bị kẹt với hình ảnh ý thức hệ của họ và không thể chối bỏ Miền Bắc Việt Nam hay nói đúng hơn là “chưa có thể” được .

    Tại Hoa Thạnh Đốn người ta dư biết là có những căng thẳng giữa Bắc Kinh và Hà Nội . Bắc Việt luôn luôn phàn nàn về sự chậm trể trong dịch vụ giao hàng từ Trung Quốc. Vào cuối năm 1974 và đầu năm 75, người Trung Hoa không có cắt lương thực và đạn dược, nhưng các chuyến tàu hỏa của họ tới quá trể . Nhân công làm reo ? hay vô tổ chức trong bộ máy hành chánh ? Hay chỉ là môt cách để nói lên sự không thuận thảo giưã Bắc Kinh với Mạc Tư Khoa hay với Hà Nội ? Hay chỉ là tin vịt ? Dù gì đi nữa thì ông Kissinger thấy có bổn phận phải phản đối với Bắc Kinh cũng như đối với Mạc Tư Khoa .

    Thơ của ông gởi cho Ngoại Truởng Gromyko mở đầu bằng một câu rất nghiêm khắc:

    – “Tôi viết thư cho Ngài để “thành thật” bày tỏ sự lo âu sâu xa của tôi”

    Đối với người Sô Viết khi họ nói với nhau mà dùng danh từ “thành thật” thì có nghĩa là có một mối bất hòa sâu đậm. Họ sẽ hiểu ngay. Bức thư cho Liên Xô nầy chứa đựng một sự buộc tội rất nặng nề:

    – ” Vì các cuộc tấn công nầy được tiến hành ngay sau cuộc viếng thăm Hà Nội của Thứ Trưởng Feryubin (vị Thứ Trưởng của Ngài đó ông Gromyko ạ !) nên người ta không thể không đặt giả thuyết là Liên Bang Xô Viết đã ý thức được- và đã chuẩn thuận- những quyết định của Hà Nội . Do đó Chánh Phủ của ông phải chấp nhận một phần lớn trách nhiệm về những gì đang xảy ra ngay lúc nầy ở Miền Nam Việt Nam . Và cũng như về những hệ lụy rộng lớn hơn về sau. ”

    Vào tháng 3 năm 1975, ông Kissinger tin tưởng Bắc Kinh hơn Mạc Tư Khoa.

    Hai năm về trước, tháng 3 năm 1973, Đại sứ Liên Xô tại Hoa Thạnh Đốn, ông Anatol Dobrynine có bảo đảm với ông Kissinger -một sự bảo đảm có giá trị- rằng Liên Xô đã ngưng gởi vũ khí cho Hà Nội từ sau khi Hiệp Định Paris được ký kêt. Ông Dubrynine xác nhận hay khẳng định rằng các món hàng cung cấp của Liên Xô đang đến Việt Nam có thể là những món đã bị chậm trể trong quá trình chuyển tiếp ở Trung Quốc.

    Trong bức thư gởi cho ông Gromyko, ông Kissinger đã nói đến “trách nhiệm đặc biệt mà hai quốc gia chúng ta là phải làm tất cả để kềm hảm những sự tranh chấp hay những tình hình nào có thể gây ra thêm sự căng thẳng trên thế giới.” Dĩ nhiên ông cũng đòi hỏi ông Gromyko phải khuyên Bắc Việt nên cho ngưng ngay tất cả các cuộc tấn công.

    Quyền lợi của Liên Xô vào tháng 3 năm 1975 khác hẳn với tháng 3 năm 1973. Ngày hôm qua Liên Xô gặp phải một vị Tổng Thống mạnh và có quyết tâm là ông Nixon. Hôm nay là ông Gerald Ford, một Tổng Thống đang bị Quốc Hội và dư luận quần chúng Hoa Kỳ cầm cương . Từ sau ngày ông Nixon phải ra đi, thì mối giao hão giữa Hoa Kỳ và Liên Xô trở nên khác hẳn. Với chủ trương hòa hoản của mình, ông Kissinger bị Thượng Viện Hoa Kỳ kềm chế, từ chối không chấp thuận cho Liên Xô quy chế tối huệ quốc trong lãnh vực thương mại, và không ngừng thúc giục phải cho một số lớn người Do Thái được phép rời khỏi Liên Xô. Vào lúc nầy , hòa hoản không mang lại vừa lòng nào lớn lao cho lãnh đạo Liên Xô. Ở Trung Đông dù ông Kissinger có thất bại nhưng Liên Xô vẫn thấy mình lần lần cũng bị hất ra ngoài. Hoa Thạnh Đốn có nói gì đi nữa thì họ vẫn biết là Hoa Kỳ không còn hậu thuẩn cho ông Thiệu nữa. Trong năm 75 nầy Liên Xô đã sẵn sàng để nhận lấy phần lợi tức đầu tư của họ ở Việt Nam , đặc biệt trên lãnh vực chiến lược của hải quân. Họ có mắt để nhìn về căn cứ và những cơ sở của hải cảng Cam Ranh.

    Tất cả đường lối chánh trị của ông Kissinger về Việt Nam hình như bị hậu quả của vụ Watergate. Nếu ông Nixon còn ở trong chánh quyền thì ông không bao giờ chấp nhận cuộc tấn công của cộng sản Bắc Việt vào tỉnh Phước Long hay vào Ban Mê Thuột . Ông ta, phải , chính ông ta sẽ gởi oanh tạc cơ B.52 môt cách hợp pháp hay bất hợp pháp. Liên Xô cũng vẫn có quyền lợi khi cuộc xung đột được giãm bớt.

    Đã quá trể để hy vọng rằng lãnh đạo Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa có ý định ngưng, hay có thể hãm các cuộc tổng tấn công của Bắc Việt lại. Hơn nữa ông Kissinger nghi ngờ Hà Nội có đủ khả năng cưỡng lại áp lực của hai đàn anh lớn của mình.

    Ngày 25 tháng 3, ông Tổng Trưởng Ngoại Giao cũng kêu gọi thẳng Hà Nội trong một “công điện cho ông cố vấn đặc biệt Lê đức Thọ”, người đối thủ già trong cuộc thương thuyết ở Paris năm nào. Bức thư rất ngắn:

    – ” Thưa Ngài Cố vấn đặc biệt,

    Các cuộc tấn công của lực lượng quân sự của ông đã làm cho tôi khó chịu và tức giận. Quả là một cuộc xâm lăng thuộc loại quá rõ ràng. Nó nói lên một sự xé bỏ Hiệp Định Paris bằng vũ lực. Nếu ông còn tiếp tục, nếu ông còn mở rộng các cuộc tấn công đó ra thêm nữa thì đó là ông ngăn cản mọi thảo luận nhằm thi hành các điều khoản chánh trị của Hiệp Định Paris . Từ việc nầy và những hậu quả sẽ diễn ra sau đó, ông sẽ hoàn toàn lấy hết trách nhiệm.”

    Và ông Kissinger kết luận :

    – ” Ông không nên coi thường phản ứng của Hoa Kỳ cũng như hậu quả của những hành động của ông ở đây và trên toàn thế giới.”

    Sự đe dọa, những lời ám chỉ cần thiết và mơ hồ về một “phản ứng bất thần của Hoa Kỳ ” hình như là một trò chơi quá nghèo nàn. Lãnh đạo đảng ở Hà Nội còn có hơn 2 tháng nữa để cân nhắc những điều có lợi và những nguy cơ của việc tiêp tục tiến quân trong cuộc tổng tấn công. Qua những nhà ngoại giao của khối “dân chủ nhân dân” (cộng sản) đang ở Hoa Thạnh Đốn, và hơn thế nữa chỉ cần đọc qua các báo Mỹ được gởi tới Hà Nội … thì Bắc Việt cũng biết quá rõ là Hoa Kỳ không có một can thiệp quân sự nào nữa hết. Họ hoàn toàn tin chắc như thế cũng như họ đã không hề bị Mạc Tư Khoa và Bắc Kinh chánh thức phản đối họ vậy.

    Khi ông Lê đức Thọ nhận được bức công điện của ông Kissinger thì ông ta đang sẵn sàng để lên đường đi vào chiến trường Miền Nam Việt Nam . Ông Lê đức Thọ là người đã được giải Nobel về “hòa bình“, là tác giả chính và kỹ sư tạo dựng ra “Hiệp Định chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam” (tên chánh thức của Hiệp Định Paris – cũng do ông Thọ đặt ra), nhưng mỉa mai thay hiện ông đang đích thân đi giám sát và đôn đốc sao cho cuộc chiến phải được tiếp tục cho đến khi đạt được chiến thắng cuối cùng (hay hòa bình kiểu cộng sản cho nước Việt Nam) !!!

    Ngày 25 tháng 3 tại Hà Nội : Chánh trị Bộ cộng sản cho ra một bản tuyên bố quan trọng:

    – ” Cuộc tổng tấn công của chúng ta đã bắt đầu với chiến dịch tại Vùng Cao Nguyên. Thời điểm chiến lược chờ đợi đã đến. Tất cả mọi điều kiện đều được tập trung đầy đủ để thực hiện quyết tâm của chúng ta sớm hơn dự tính nhằm giải phóng Miền Nam, Bộ Chánh trị đã có chỉ thị phải thực hiện trong một thời gian ngắn nhất, một sự tập trung quân số, vũ khí và chiến cụ để giải phòng Sài Gòn trước mùa mưa”

    Tổ chức Quân Chánh đã sẵn sàng tại chỗ . Lê đức Thọ và tướng Văn tiến Dũng sẽ chỉ huy tổng quát toàn bộ chiến dịch. Phạm Hùng bí thư đảng ở Miền Nam và tướng Trần văn Trà chỉ huy các cuộc tấn công chiếm Sài Gòn. Tất cà các sư đoàn trừ bị của Bắc Việt được điều động vào hết cho cuộc tổng tấn công nầy.

    Trước khi rời khỏi Hà Nội, Lê đức Thọ đã có nhiều cuộc nói chuyện với Lê Duẫn. Ông ta rời Hà Nội bằng phi cơ ngày 28 tháng 3. Trong đêm “du lịch” đầu tiên, ông làm một bài thơ tặng Lê Duẫn :

    Lời anh khuyên : “chiến thắng mới trở về”
    Nói gì đây? Đôi lúc không mạnh miệng
    Qua lời anh, như nghe lời đất nước
    Đường ra trận, có tin vui dồn dập
    Vọng đâu đây, hò reo mừng chiến thắng
    Giục đi nhanh, để kịp tới đúng giờ
    Giờ thuận lợi đến rồi, ngay trước cửa ! (1)

    Tại Hà Nội, người ta đặt hết hy vọng vào anh bộ đội, còn ở Hoa Thạnh Đốn thì người ta đi tìm một con đường chánh trị và người ta đang lo tán tỉnh Quốc Hội trong lúc các nghị sĩ và dân biểu đang bận rộn lo đi nghĩ hè 10 ngày , kể từ ngày 27 tháng 3.

    Con đường chánh trị tối om, ông Kissinger lại tìm cách xuất hiện trước dân chúng trong một cuộc họp báo:

    – ” Chúng ta không nên đánh sập, tiêu diệt đồng minh của chúng ta . Chuyện đó sẽ tạo ra nhiêu hậu quả rất trầm trọng trên khắp thế giới”

    Chuyện đó sẽ chớ không phải chuyện đó đã . Có gì lẫn lộn không ? Đối với ông Kissinger thì trò chơi đã kết thúc rôi ! Nhưng với ông Ford, ông ta vẫn còn tiêp tục xin Quốc Hội một ngân khoản viện trợ bổ túc và tuyên bố là Chánh Phủ sẽ sẵn sàng chấp nhận một kế hoạch 3 năm cho Cam Bốt và Việt Nam . Không thể hơn được .Một nhà báo hỏi ông Ford phải chăng ông đang mua thời gian. Ông Kissinger trả lời cộc lốc:

    – ” Có nhiều bài toán không có thời hạn để giải quyết… Tình hình tùy thuộc vào hành động của Bắc Việt “

    Ông lại nói thêm :

    – ” Từ tháng 5 /1974, VNCH chỉ có nhận được đạn dược và xăng dầu, gần như không có một cơ phận thay thế nào, và không có một chiến cụ tối tân nào. Trong hoàn cảnh đó, tinh thần quân đội xuống thấp là điều không thể tránh khỏi, và những hậu quả mà chúng ta thấy được hôm nay không có chi lạ hêt.

    Nhà Trắng có phiên họp, có sự hiện diện của ông Kissinger, của tướng Brent Scowcroft, tướngTham Mưu Trưởng Lục Quân Frederic Weyand và Đại sứ Graham Martin. Ông Martin được lệnh phải về lại ngay Hoa Thạnh Đốn . Có một người có tầm cở, vắng mặt. đó là ông James Schlesinger, Tổng trưởng Quốc Phòng. Một người dự thính bất thần: David Kennerly, 28 tuổi,nhiếp ảnh gia đặc biệt của Tổng Thống Ford, được lệnh của ông Ford ở lại luôn trong phòng họp.

    Cuối cùng rồi người ta mới ý thức được tình hình tối nghiêm trọng trên toàn cõi Đông Dương. Tuy vậy, ông Martin vẫn còn khuyên nên có một mức độ khả tín nào đó đối với mọi tin tức từ Sài Gòn gởi tới.. Người ta sổ hai gạch tréo lên Cam Bốt. Một trong những công điện cuối cùng của ông Wolfgang Lehmann cho thấy thật là bi quan. Nhân vật số hai của sứ quán Mỹ ở Sài Gòn không có đòi hỏi một cuộc không trợ của Hoa Kỳ vì ông thừa biết là ông Ford không thể cho phép được .Ông đề nghị một “mẹo”, một “mánh khóe” (nguyên văn danh từ tác giả dùng là gimmick, tiếng Mỹ): quảng bá tối đa số phận của những người tỵ nạn Việt Nam, để cảm hóa dư luận dân chúng Mỹ, và do đó ảnh hưởng đến các nghị sĩ và dân biểu Quốc Hội . Không ai trả lời gì cho ông ta hết.

    Về những người tỵ nạn, người ta sẽ gởi tàu thuyền đến gần bờ biển Việt Nam , ngoài khơi trong vùng Đà Nẵng, với những chỉ thị rõ rệt: Các tàu thuyền sẽ phải ở cách bờ biển Việt Nam 3 gút, để tránh giao tranh với Bắc Việt và để tôn trọng luật lệ quốc tế.

    Tướng Weyand sẽ đi Sài Gòn với 2 nhiệm vụ: thảo một phúc trình về tinh hình

    quân sự , và nói với Tổng Thống Thiệu rằng Chánh Phủ Hoa Kỳ sẽ hậu thuẩn Việt Nam Cộng Hòa được chừng nào hay chừng nấy nhưng người Mỹ không chiến đấu ở Việt Nam nữa, cả trên bộ , trên không và trên biển.

    Vào cuối phiên họp, nhiếp ảnh gia Kennerly xin Tổng Thống cho phép anh tháp tùng tướng Weyand. Ông Ford chấp thuận ngay vì ông vẫn xem Kennerly như con của ông vậy. Kennerly tươi cười nói với ông Graham Martin :

    – ” Tôi rất vui mà được biết ông cũng cùng đi . Khi mọi việc kết thúc một cách tệ hại, thì ông Phil Habib có thể chỉ mặt thủ phạm- người đó là ông !

    Ông Martin không thấy câu nói đùa đó thật là kỳ quặc !

    Hà Nội không quên mặt trận ngoại giao. Họ xử dụng mặt trận nầy để đánh lạc hướng dư luận và để quấy rối kẻ địch nhất là người Mỹ. Họ có một hệ thống rất hữu hiệu để tấn công về ngoại giao ở Ba Lê, nơi diễn ra, trên lý thuyết, những cuộc đàm phán chánh trị giữa “các Bên ở Miền Nam Việt Nam ” từ năm 1973, chính xác hơn là ở La Celle- Saint-Cloud. Trên nguyên tắc người ta phải tìm ra một giải pháp chánh trị khả dĩ áp dụng được cho Miền Nam Việt Nam sau ngày ngưng bắn.(1/1973)

    Ông Đinh bá Thi, tạm thời đang cầm đầu phái đoàn của CPLTCHMN ở Ba Lê, mở một cuộc họp báo, có đủ mặt các nhà báo Mỹ, Anh, Pháp, Đức và Việt Nam . Trước hết, người thông dịch viên của ông Thi đọc một bản tuyên bố thật dài:

    – “Những cuộc hành quân của chúng tôi (cộng sản) ở Việt Nam là những hoạt động nhằm chống lại một cách hợp pháp và chánh đáng những vi phạm Hiệp Định Paris của Miền Nam Việt Nam và Hoa Kỳ “

    Trước kia, Hà Nội và CPLTCHMN chối không công nhận là họ có hành động tấn công. Bây giờ thì họ lại chứng minh cho hành động tấn công đó của họ:

    – ” CPLTCHMN đòi hỏi “ông Nguyễn văn Thiệu và những người của ông ta” phải ra đi. Và họ lập lại sự đòi hỏi mới nhất mà Thủ tướng Bắc Việt đã nói riêng với Đại sứ Pháp Philippe Richer ở Hà Nội . CPLTCHMN chỉ sẵn sàng mở những cuộc bàn thảo về tương lai của Miền Nam Việt Nam với một ” nền Hành Pháp mới, được thành lập ở Sài Gòn “, (họ lãi nhải tiếp) một nền hành pháp sẽ “giúp đỡ cho hòa bình, độc lập, dân chủ và hòa hợp quốc gia“.

    Người của CPLTCHMN ở Ba Lê thi hành chỉ thị do “chi bộ đặc biệt” ban hành. Chi bộ nầy được thành lập ở Hà Nội ngày 15 tháng 3 và đặc trách về “mặt trận ngoại giao”, gồm có Thứ Trưởng ngoại giao Nguyễn cơ Thạch, Phan Hiền Giám Đốc Báo Chí của Bộ Ngoại giao, Mai văn Bộ, cựu đại sứ Bắc Việt ở Ba Lê,và đại tá Hà văn Lâu, bạn của Thủ Tướng Phạm văn Đồng, một người từ lâu rồi được coi như một nhà ngoại giao hơn là một quân nhân. Ông đại tá nầy là nhân vật số 2 của công an mật vụ, thường được Bộ Chánh trị giao cho nhiều nhiệm vụ khó khăn. Liên lạc thẳng với Bộ Chánh trị, chi bộ đặc biệt nầy phải lợi dụng “tất cà các mâu thuẩn của địch” và chuồi cho đối thủ một cảm tưởng như là có một sự khác biệt hay bất đồng nho nhỏ giữa các vị trí của Cộng Hòa Dân Chủ Việt Nam (Bắc Việt) và CPLTCHMN.

    Sau khi đọc xong bản tuyên bố, người của CPLTCHMN ở Ba Lê tuyên bố anh ta sẵn sàng trả lời những câu hỏi. Người ta đặt một câu hỏi về sự hiện diện của các sư đoàn Bắc Việt tại Miền Nam Việt Nam . Người ta có thể nói là anh ta dùng một luận điệu cũ rích:

    – ” Đó là những “báo cáo sai sự thật và cố ý vu khống”

    Anh ta lại nói thêm rằng:

    – ” Hơn nữa Hiệp Định Paris “từ chối sự hiện diện của các loại đơn vị đó.”

    Lại đúng là Hiệp định, đừng nói tới nó nữa!… anh ta đâu có chối cải gì đâu !.

    Người ta hối thúc Đinh bá Thi về một giải pháp chánh trị . Không biết ông ta hiểu thế nào là “người của ông Thiệu” ? Phải chăng đó là ông Thiệu và những người thân cận của ông ta ? Hay là tất cả Chánh Phủ của ông ta ? Ông Thi để lộ cho biết là họ cũng chấp nhận một số người của Miền Nam Việt Nam . Người của ông Thiệu chỉ là “một số ít”. Sau đó ông tai khen ngợi lực lượng thứ ba. Trong mọi dàn xếp lực lượng nầy sẽ có một chỗ đứng, có một vai trò nào đó.. Ngay trong buổi họp báo, có một người của lực lượng thứ ba nầy phân phối một bản tuyên ngôn kêu gọi nên kết cuộc chiến bằng một giải pháp chánh trị .

    Sau cuộc họp báo, các nhân viên ngoại giao Bắc Việt và đại diện của CPLTCHMN và các phóng viên thuộc thông tấn xã Bắc Việt phân phối những bản chú thích. Vâng, Hà Nội và CPLTCHMN muốn đi tới một giải pháp chánh trị . Cuộc tổng tấn công trong hiện tại ư ? Chỉ là một phương tiện để đạt tới những cuộc thương lượng trong chìu hướng đó mà thôi !! Đại diện của CPLTCHMN , mà Đinh bá Thi là người đầu tiên, lúc tiết lộ tâm tình, có nới nhỏ là họ còn mong muốn nhanh chóng đi đến một giải pháp chánh trị còn hơn Hà Nội nữa. Đúng là công thức của người cộng sản Việt Nam “vừa đánh vừa đàm, vừa đàm vừa đánh” hay “đánh đánh đàm đàm” đã được thay thế bàng “đánh đánh mà không đàm đàm” nhưng vẫn cho người ta có cảm tưởng rằng họ muốn đàm”

    Trong tay của người cộng sản Việt Nam , ngoại giao chỉ là một phương tiện để kéo dài chiến tranh, dĩ nhiên phối hợp với những phương tiện khác nữa. Báo chí chỉ là một trong những phương tiện khác đó.

    Giữa Clausewitz, Lénine và cộng sản Việt Nam, ai đắc ý hơn ai ?

    Trưa ngày 26 tháng 3 trong hầm trú ẩn của Bộ Tư Lệnh chiến dịch , tướng Văn tiến Dũng duyệt lại kế hoạch của ông ta. Trước khi mở cuộc tấn công vào Sài Gòn, ông muốn Hà Nội cho ông ta một thời gian để thanh toán tất cả mọi ổ kháng cự trong Vùng I Chiến Thuật. Tổng tư Lệnh quân Bắc Việt không muốn để lại sau lưng mình dọc theo bờ biển bất cứ một cứ điểm phòng ngự nào.

    Ngày hôm đó, ông ta được người ta xác nhận là Huế đã được “giải phóng” (danh từ cộng sản). Tất cả mọi kháng cự đều bị bẻ gảy. Tướng Dũng đốt một điêu thuốc lá, tự nhũ: ” Mình đã bỏ thuốc từ lâu rôi, nhưng cứ mỗi lần có một bài toán nào khó khăn được giải quyết, hay đạt được một chiến thắng nào, cứ mỗi lần có một sự thành công nào gở bớt gánh nặng cho mình, thì mình phải hút một điếu..”

    Ngày 26 tháng 3, tại Nha Trang, tướng Phú đỡ mệt rồi nên mới có một tường trình về Vùng II Chiến Thuật. Ông đã không nhìn thẳng vào thực tế chút nào! Ông nói:

    – “Binh sĩ của Vùng II Chiến Thuật đã hoàn toàn phá tan danh tiếng của 2 sư đoàn Bắc Việt . “

    Lẽ ra ông định muốn nói đã đánh tan 2 sư đoàn đó . Tướng Phú trì hoản sự thất bại của ông qua những câu nói đầy nghi thức của mấy ông tướng thất trận như “điều quân” hay “chận đường tiến quân của lực lượng ….. v.v…”

    Căn cứ trên những tin tức từ tướng Phú, đài phát thanh Sài Gòn đổi sự thảm bại trên đường liên tỉnh 7 B thành cuôc triệt thoái khá thành công:

    – : “Cuộc di chuyển vĩ đại về hướng Đông của hai trăm ngàn quân dân thuộc các tỉnh Kon Tum và PleiKu, Phú Bổn và Ban Mê Thuột đã tiến hành trong khuôn khổ một cuộc tập trung lực lượng để phòng thủ phần lãnh thổ dọc theo bờ biển.”

    Tướng Phú cũng đích thân trinh bày trên đài phát thanh những chi tiết mà theo ông gần như một chiến thắng:

    – ” Dân chúng chạy tản cư tỵ nạn cộng sản đã được quân đội bảo vệ tối đa. Các đơn vị đã chống lại những cuộc tấn công của Bắc Việt ở phía trước mặt và phía đàng sau lưng. Trên tuyến đường dài như vậy, quân đội phải lần lượt bắc cầu, sửa đường. Các đơn vị Công Binh đã san bằng phẳng con đường và bắc lại 28 cây cầu đủ mọi kích thước. Tướng Phú gần như tin vào những điều ông nói, nhưng các đài phát thanh ngoại quốc không thấy lập lại những điều nầy. Ở Sài Gòn người ta ai cũng biết phải nghe theo ai rồi. Ở chỗ nầy phát ngôn viên quân đội Trung tá Lê trung Hiền trong ngày hôm đó đã phải long trọng cảnh cáo hai phóng viên của UPI và AP:

    – ” Họ đã phạm luật khi họ cho phổ biến tin tức liên quan đến tình hình quân sự ở vùng Huế. ”

    Các hảng thông tấn nầy dã loan báo ngày hôm qua rằng: “lực lượng của QLVNCH đã di tản khỏi thành phố Huế”. Phát ngôn viên không muốn đính chánh mà cũng không xác nhận tin nầy, Ông ta muốn các hảng thông tấn nên thận trọng. Ông ta là một người rất tốt , cho tới giờ nây có thể tin tưởng được lối 50 %. Trong trường hợp thật sự như vậy thì nhiệm vụ của một người phát ngôn viên quân sự gần như rất khó mà hoàn thành được . Trung tá phát ngôn viên nầy vì muốn che dấu sự thật mặc dầu sự kiện đã quá rõ ràng như vậy, nên mất bình tĩnh trong buổi thuyết trình hằng ngày của ông, trong 10 ngày trước . Ông đã nói với các nhà báo : ” Chánh Phủ không có quyết định bỏ Pleiku. Vì chỉ căn cứ trên lý luận nên điện tín của các ông đã tạo ra một sự kinh hoàng cho dân chúng của tỉnh nầy .”

    Theo quan điểm của một vài giới chức Hoa Kỳ trước năm 1973, chánh quyền VNCH sẵn sàng nhìn báo chí như một tác nhân chính của những sự thất bại của mình. Năm 1975 cũng giống như năm 1965, quan hệ giữa nhà báo và giới quân nhân ở cấp cao thường rất căng thẳng. Các nhà báo ngoại quốc đã gởi tin đi mặc cho những lời đe dọa của chánh quyền .

    Đối với báo chí ngoại quốc, chánh quyền Miền Nam Việt Nam đã có những luật lệ không rõ ràng lắm. Không ai được phép làm hại đến nền an ninh quốc gia, câu nầy bao gồm tất cả các tội của báo chí. Người ta không được nêu lên vị trí của các đơn vị đang lâm trận, vấn đề nầy dương nhiên là như vậy rồi. Thực tế thì không có một sự kiểm duyệt nào như đối với báo chí Việt Nam . Người Việt Nam trong guồng máy chánh trị quân sự và cảnh sát ai cũng đều nhạy cảm , nếu không muốn nói là bị khủng bố vì hệ thống và guồng máy truyền thông vĩ đại của Hoa Kỳ . Họ đều biết rằng mọi biện pháp trừng phạt như kiểu trục xuất một phóng viên người Mỹ đều nhanh chóng có những kích thước dị thường ở Hoa Kỳ . Mọi dị đồng giữa chánh quyền Sài Gòn và người phóng viên Hoa Kỳ đều có thể tạo nên một hiệu quả trái ngược mà phần xấu thường bất lợi cho chánh quyền Miền Nam Việt Nam .

    Có rất nhiều sự va chạm, công khai hay ngấm ngầm giữa sứ quan Hoa Kỳ và giới truyền thông báo chí Mỹ. Tuy nhiên khi sự va chạm đó xảy ra giữa báo chí Mỹ và chánh quyền VNCH thì sứ quán Hoa Kỳ lại nhanh chân bênh vực công dân của họ. Trong tất cả các bất đồng giữa Mỹ – Việt, thì phần lỗi gần như luôn luôn thuộc về phía người Việt Nam . Hoa Kỳ không có theo đuổi một cuộc chiến tranh kiểu thực dân đô hộ ở Việt Nam. Tuy nhiên, quy chế ưu đải cho giới truyền thông báo chí Mỹ và sự nể vì của các công chức Miền Nam Việt Nam đã tạo nên một tình trạng gần như bị đô hộ. Người dân Bắc Việt không biết gì về tình hình nầy. Hằng ngàn nhà báo và phóng viên ngoại quốc đã theo sát cuộc chiến ở Miền Nam, muốn đi đâu thì đi rất thong thả. Cón ở Miền Bắc thì người ta chỉ cấp phép rất hạn chế (bủn xỉn) cho những đại diện báo chí nào “chắc ăn”, cộng sản hay tiến bộ cảm tình viên. Và đặc biệt , những phóng viên chỉ ra khỏi Hà Nội với các hộ vệ thật chặt chẽ.. Cùng một lúc không bao giờ có hơn 15 phóng viên Tây Phương không cộng sản ở nước Cộng Hòa Dân Chủ Việt Nam, từ khi cuộc chiến bắt đầu. Trong trường hợp đó, bảo đảm là tin tức không lọt được ra ngoài, họ không có nguy cơ bị phao “tin tức giả” như ở Sài Gòn.

    Tại Đà Nẵng, tướng Trưởng tổng kết thiệt hại của Vùng I Chiến Thuật. Tình hình ở đây có vẻ ít lạc quan hơn ở trên tướng Phú. Cuộc di tản khỏi Huế tiến hành không được suông sẻ. Chỉ có một số rất ít quân nhân đến được Đà Nẵng cùng với đơn vị của họ.

    Riêng phần lớn binh sĩ của một trung đoàn thuộc sư đoàn 1 bộ binh và 600 Thủy Quân Lục Chiến đã đến được Đà Nẵng với vũ khí của họ. Các sĩ quan tham mưu đến từ Sài Gòn lại làm cho tình hình càng thêm lộn xộn thêm khi họ nhắc lại là Thủy Quân Lục Chiến phải được đưa về thủ đô.

    Tướng Trưởng không có thì giờ và phương tiện cần thiêt để tổ chức phòng thủ Đà Nẵng . Hơn nữa, báo cáo xác nhận là bộ đội Bắc Việt được điều động quá hay, cho thấy có nhiều tiến bộ hơn từ các trận đánh lớn hồi năm 1972, nhất là việc xử dụng các chiến xa. Năm 1972, họ cũng tiến vào Huế, nhưng lúc bấy giờ họ tiến dọc theo các thung lủng, chiến xa thì di chuyển riêng lẻ, không có sự phối hợp chặt chẻ với bộ binh và pháo binh. Các chiến xa Bắc Việt thì đóng kín hết cửa nên thiếu tầm nhìn chung quanh, cho nên chiến xa gần như bị mù. Do đó năm 1972 các chiến xa T. 54 dể trở thành miếng mồi ngon của các vũ khí chống chiến xa và pháo binh của VNCH . Bây giờ thì không còn chuyện đó nữa.

    Chú thích của người dịch :

    (1) nguyên văn bài thơ của tác giả viết bằng tiếng Pháp, không biết ông sưu tầm được bài thơ của Lê đức Thọ ở đâu ? Chúng tôi xin trích lại nguyên văn tiếng Pháp mà tác giả đã dịch từ bài thơ tiếng Việt của Lê đức Thọ để quý độc giả thấy rõ quyết tâm tiếp tục cuộc chiến , tiến hành cuộc tổng tấn công xâm chiếm Miền Nam của Bắc Việt và nhất là của một người cộng sản đã được giải Noel về “hòa bình” đang đi “thực hiện hòa bình” bằng cuộc tổng tấn công ở Miền Nam Việt Nam !:

    Ton dernier conseil: “ne reviens que vainqueur
    Que dire? A certains moments, les mots sont faibles
    Par ta bouche le pays tout entier me parlait
    Sur la route du front que d’heureuses nouvelles
    Partout les cris de joie célébrant nos victoires
    M’encouragent à presser le pas pour arriver à temps
    Le moment favorable est là qui frappe à la porte.

  21. Chương 12

    Đà Nẵng thất thủ

    Những người đang trương cờ gióng trống tiến hành cuộc xăm lăng đó là ai ?

    Đó là những anh bộ đội Bắc Việt , những người dân Miền Bắc những người lính dẻo dai, dản dị, bền bĩ, can đảm, lúc nào cũng giữ mình trong kỹ luật sắt. Họ từ Miền Bắc vào , không mang theo gia đình vợ con. Tuổi của họ vào khoảng từ 16 đến 35. Vì các tổn thất nặng trong những năm gần đây nên người ta thấy có nhiều khoảng cách lớn giữa các lớp tuổi trong quân đội Bắc Việt .

    Người lính VHCH thì nặng nề lỉnh kỉnh quá. Trong lúc người lính Bắc Việt chỉ ưu tiên mang theo đạn dược. Họ được qua một khóa huấn luyện căn bản 18 tháng. Người ta chỉ biết là họ bằng lòng với sự tối thiểu: vì họ đã quá quen với sự tối thiểu đó ở Miền Bắc rồi . Khẩu phần hằng ngày của họ chỉ có 600 hay 700 gram gạo, bánh lạt làm bằng đậu, đôi khi có được 50 gram cá khô hay thịt hộp của Trung Cộng, họa hoằn lắm mới được ăn gà. Thuốc lá thì là một đặc ân khi nào có thuốc về chớ không phải đương nhiên mà có. Sĩ quan – thường không đeo quân hàm- cũng có khẩu phần như vậy suốt thời gian chiến dịch cũng như khi ra mặt trận. Nhưng ở Miền Bắc các cán bộ đảng (dân chính) đều có những đặc ân theo từng cấp về nhà ở, về lương thực, và thuốc lá thì được thường xuyên. Họ biết và chấp nhận như vậy, coi như một định mệnh. Trong hàng ngũ quân đội không có một đặc quyền đặc lợi nào về vật chất, tất cả đều hoàn toàn mất hết khi bộ đội vượt qua khỏi vĩ tuyến 17 hay đến Miền Nam bằng đường mòn Hồ chí Minh. Dĩ nhiên là tướng Văn tiến Dũng không khi nào thiếu thuốc lá.

    Ngày trước người lính Bắc Việt phải đi bộ theo đường mòn Hồ chí Minh nầy để vào Miền Nam và họ biết là có rất ít cơ may để trở về cũng bằng con đường nầy trong vòng 2 hay 3 năm. Trường hợp bị thương nặng thì không bao giờ hy vọng được sống sót, trong khi người lính chiến VNCH khi bị thương thì hy vọng được tản thương bằng trực thăng.

    Bây giờ thì những tân binh của Bắc Việt ước đoán là chiến tranh sẽ chấm dứt. Trước kia thì họ phải đi bộ, mỗi ngày được chừng 30 hay 40 cây số, ngày nay thì họ được di chuyễn bằng ô tô.

    Tất cả những người nầy không bao giờ biết được tình hình cuộc chiến và sự tuyên truyền của đảng. Ngay như ở đẳng cấp sĩ quan, họ bị nhồi nhét ý thức hệ, dù thật là đơn giản. Trong thời gian tiến hành chiến dịch năm 1975 nầy, các chánh trị viên đơn vị không có thì giờ để giảng huấn. Trong thời gian ở cấp tiểu học và trung học và trong suốt khóa huấn luyện quân sự, hầu hết các binh sĩ đều được nhồi nhét vào đầu một vài nguyên tắc sơ đẳng:

    – ” Nước Việt Nam phải được thống nhất;

    – ” đồng bào Miền Nam rất nghèo khổ và bị áp bức;

    – ” Họ đang chờ chúng ta vào giải phóng họ.”

    Người lính Bắc Việt không đòi hỏi mà cũng không tự hỏi về quyền lợi mà họ phải có được hay không có được khi trung đội, đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn hay sư đoàn của họ phải đi vào Miền Nam . Tất cả đều là người Việt Nam , dù giọng nói có khác nhau. Là lính của chiến xa, họ không tự hỏi xem chiến xa của họ chạy bằng gì, tại sao trên pháo tháp lại có cây cờ xanh và đỏ của CPLTCHMN chớ không phải lá cờ đỏ sao vàng của nước cộng hòa dân chủ Việt Nam ? Nhất là sau khi chiếm được Ban mê Thuột , hầu hết các bộ đội Miền Bắc , phần lớn là nông dân chất phác, đều thấy ngày chấm dứt đời quân ngủ trong tầm tay. Tất cả đều mong muốn có được “hòa bình”, muốn đạt được hòa bình tất nhiên phải chấm dứt chiến tranh. Đâu có cần gì đến các chánh trị viên mới có thể giải thích việc đó cho họ ?

    Chánh trị viên có một nhiệm vụ không quan trọng lắm như trước kia. Một phần vì có sự tranh cải giữa các chuyên viên và người theo ý thức hệ (chuyên và hồng), và thường ngã về phía nhóm quân nhân chuyên nghiệp.Trong đảng và trong các bộ tham mưu người ta cũng đã có cuộc thảo luận: trong việc huấn luyện binh sĩ, câu hỏi được đặt ra là ý thức hệ chánh trị và kỹ thuật quân sự môn nào ưu tiên hơn? Câu hỏi nầy có thể có một ý nghĩa nào đó cho các đơn vị nhỏ của kháng chiến quân không có vũ khí tối tân đang đương đầu với các đơn vị Hoa Kỳ hay của VNCH, những đơn vị được võ trang thật hùng hậu trong vùng đồng lầy của sông Cữu Long hay trong vùng rừng rậm ở biên giới CamBốt.

    Khi người ta tiến hành một cuộc chiến tranh cổ điển, với những sư đoàn quy ước thì câu hỏi trên thật là vô nghĩa. Không có một trực giác Mác xít hay một loé sáng của ngôn ngữ nào có thể giúp hiểu được sự vận hành của một chiến xa T.54 hay của một Mig 21. Lãnh đạo Bắc Việt , đệ tử trung thành Lê Nin nít đôi khi cũng lo sợ rằng giới quân nhân của mình không nuốt nỗi cuộc cách mạng Việt Nam giiống như cuộc cách mạng Pháp hay nhiều cuộc cách mạng khác trên thế giới thứ ba. Đối với Chánh Trị Bộ Bắc Việt thì “đảng kiểm soát cây súng” . Ý chí cách mạng hay lương tâm chánh trị phải chăng là động lực của quân đội ? Đó là những chuyện phù phiếm rất tốt cho các đồng chí Trung Hoa. Người ta cố tránh những mâu thuẩn và căng thẳng giữa giới dân chính và giới quân nhân, hay tranh chấp giữa đảng và các Bộ Tham Mưu quân sự bằng cách đưa những quân nhân quan yếu vào Ban Lãnh đạo đảng. Tướng Giáp và tướng Dũng đều ở trong Ban Lãnh đạo. Họ đã biết rõ từ lâu là không thể phân chia quyền hành giữa người chỉ huy quân sự và chánh trị viên được, khi phải ;tiến hành cuộc chiến với những đại đơn vị. Trên lý thuyết thì vẫn có sự phân biệt, nhưng cũng nhẹ nhàng thôi khi thực hành.. Bây giờ thì các sĩ quan quyết định và chánh trị viên phải theo. Nhưng trên cao thì ngược lại vẫn có hai hệ thống kiểm soát, như Lê đức Thọ và Văn tiến Dũng hay Phạm Hùng và Trần văn Trà.

    Anh bộ đội Bắc Việt diễn hành không hay trên đường phố của Hà Nội hay Hải Phòng; ở thủ đô Tel-Aviv người lính chiến Do Thái cũng vậy . Những người cộng sản Việt Nam đã học rất lâu trong cuộc chiến ở bưng biền. Trong hiện tại thì họ đã biết thế nào là chiến tranh quy ước, và họ đã có nhiều tiến bộ trong mọi lãnh vực. Chỉ có Không quân của họ là bị chậm trể mà thôi.Anh bộ đội Bắc Việt và anh kháng chiến quân được nỗi tiếng hay đi vào truyền thyết là vì đôi dép được gọi là dép cụ Hồ làm bằng lốp xe ô tô, và khẩu súng xung kích AK.47. Không phải đôi dép râu và cây súng AK đã đem lại chiến thắng cho họ, mà là những súng đại liên, những hỏa tiển SA-7 đã giúp che chở cho các phi cơ, các khẩu đại bác thường hoạt động với những dàn ra đa, toàn là chiến cụ tối tân.

    Trong chiến tranh Tây ban Nha, Đức quốc xã và phát xít Ý đã có ý thử vũ khí đạn dược của họ để sửa soạn tiến hành Thế Chiến thứ hai. Ở Việt Nam Liên Xô cũng thử chiến cụ của họ – và nhất là các dụng cụ phòng chống phi cơ (DCA). Phải chăng họ muốn chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh quy ước ? một Thế Chiến thứ ba ? Họ thận trọng lắm, họ không có cung cấp cho cộng sản Việt Nam những dàn hỏa tiển loại mới nhất của họ. Họ không muốn các chiến cụ tối tân nầy rơi vào tay Miền Nam Việt Nam để rồi bị trao lại cho Hoa Kỳ . Những người lính Bắc Việt là những con vật thí nghiệm rất tốt giống như người Á Rập vậy.

    Đây không phải là những đơn vị kháng chiến quân đang tiến hành cuộc tổng tấn công xăm lược với vũ khí thô sơ hay nhặt nhạnh được , mà là những quân đoàn chánh quy Bắc Việt . Ở Miền Nam Việt Nam đã có không ít người dân và cả binh sĩ nữa đã nói rằng “Cơm đã nằm trong miệng họ rồi. họ sẽ nhai và nuốt dễ dàng thôi”

    Người Pháp gọi thành phố nầy là Tourane (Đà Nẵng). Sau Sài Gòn, Đà Nẵng là thành phố lớn thứ nhì ở Miền Nam . Cái tên của Đà Nẵng kêu như một tiếng chuông truy điệu ! Thành phố nầy có quá nhiều kỷ niệm quân sự và hy vọng cho người dân Sài Gòn, cho những người Việt quốc gia. Trên những bãi biển của Đà Nẵng mười năm trước, vì người ta thấy có 6.000 kháng chiến quân (việt cộng) ở gần căn cứ Không quân nên Tổng Thống Johnson đã quyết định đưa quân ồ ạt vào tham chiến ở Việt Nam . Bốn chục ngàn cố vấn Mỹ đã được nửa triệu quân thay thế, mà nhiệm vụ không còn hạn chế ở việc bảo vệ các căn cứ của Mỹ nữa.

    Năm 1965, Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ lội nước đổ bộ lên Đà Nẵng với nụ cười chiến thắng trên môi , với cờ xí kèn trống… Họ được cơ quan chiến tranh tâm lý đón tiếp với biểu ngữ, và các nữ sinh trẻ tặng hoa.

    Không có một thành phố nào trên toàn Đông Dương, kể cả Sài Gòn , có nhiều dấu ấn của chiến tranh bằng Đà Nẵng . Là một trung tâm chiến lược, Đà Nẵng có 2 quân cảng, 3 sân bay có thể tiếp nhận hằng ngàn phi cơ và trực thăng. Vẻ thơ mộng của thành phố biến mất với các kho đạn dược và kho nhiên liệu, với các trại đóng quân, quân y viện… được dụng lên quá vô trật tự. Rồi phải có chỗ cho quân nhân giải trí. Trên cái hổn độn đó lại mọc thêm những câu lạc bộ, các rạp xi nê và ngoài châu vi quân đội lại còn có các quán rượu, các quán cơm, các nhà thổ…

    Đà Nẵng có 600.000 dân. Cũng có một số dân tản cư tương đương như vậy đang cắm trại trong thành phố. Từng đoàn từng đợt nhập cư chậm chậm vào và chỉ trong có mấy ngày họ đã trở thành dân Đà Nẵng. Có một số người vào ở ngay trong cá trường học. Cũng may là không nhiều lắm, chỉ hơn trăm thôi. Lời hứa hôm nào của Thủ tướng không thấy được thi hành, Chánh Phủ không có đón tiếp ai hết. người dân tản cư tự lo và tự sấp xếp lấy cho họ với sự giúp đở của các cơ quan từ thiện. Người ta đem gạo và mền tới, nhưng không bao giờ đủ cho hằng nghìn người vừa già trẻ lớn bé đi bộ tới hoặc được các xe buýt cũ kỹ đổ xuống. Có một số binh sĩ thất trận chạy từ Huế về, từng toán nhỏ chen chút vào với dân tản cư. Thấy sĩ quan họ không buồn chào. Nhiều quân nhân lẻ loi không tìm tới đơn vị của họ nữa: một tấm bi kịch khác lại bắt đầu ? Binh sĩ, hạ sĩ quan và cả sĩ quan nữa đang lo đi tìm kiếm gia đình và thân nhân của họ.

    Tướng Trưởng có mấy bài toán phải giải quyết ngay tại Bộ Tư Lệnh của ông :

    – Người dân tản cư đổ dồn về Đà Nẵng không những từ hướng Bắc xuống mà từ hướng Nam lên nữa.

    – Quốc lộ số 1, con đường huyết mạch dọc theo bờ biển lại đang sôi động, bị cắt đứt nhiều chỗ.

    Do đó dân chúng và có khi binh sĩ nữa chỉ còn có đường biển may ra mới chạy thoát khỏi Đà Nẵng mà thôi. Trong lúc đó tin tức cho biết là các đơn vị Bắc Việt đang ở phía Nam và phía Tây cũng như ở phía Bắc của thành phố.

    – Thành phố đang thiếu lương thực. Các kho dự trử bị dân tấn công, các kho hàng bị mở tung. Muốn sống phải cướp giật thôi ! người ta đánh nhau giành giựt với nhau, giữa quân nhân với nhau, giữa dân và lính. Hàng Không Việt Nam báo là có trộm cướp từ phi trường ở về hướng Tây của thành phố. Vé tàu bay đi Sài Gòn từ 50 vọt lên đến 140 đô la.

    Bộ Tư Lệnh Bắc Việt chuẩn bị một cuộc hành quân bao vây. Rất là giản dị, ba mũi giáp công .

    – Các sư đoàn 324 B và 325 C, được 2 trung đoàn pháo binh và một trung đoàn thiết giáp yểm trợ sẽ tấn công trực diện Đà Nẵng từ hướng Bắc.

    – Các sư đoàn 404 và 711 tấn công từ phía Nam.

    – Hai cánh quân sẽ bắt tay nhau tại đèo Tượng, ở phía Tây của Đà Nẵng và từ đó họ sẽ tiến thẳng ra hướng Đông đưa hết những gì còn lại của Đà Nẵng ra biển. Tướng Dũng không biết ông Thiệu thiếu lực lượng trừ bị đến mức độ nào. Nhưng ông phải bảo đảm được là nếu có lực lượng trừ bị thì lực lượng nầy cũng không thể đến với Đà Nẵng được . Mà nếu ông Thiệu có chấp thuận tăng cường cho Đà Nẵng thì tướng Trưởng cũng không thể đón nhận lực lượng nầy từ trong đất liền được.

    Ngày 27 tháng 3, pháo binh Bắc Việt nã tới tấp vào Đà Nẵng tạo ra một sự hỗn loạn khắp nơi trong thành phố.

    Tướng Trưởng có 2 việc không thể làm được : vãn hồi trật tự trong thành phố, và tái tổ chức các đơn vị của quân đoàn.

    12 giờ trưa, Phòng nhì của Bộ Tổng Tham Mưu từ Sài Gòn điện ra Đà Nẵng : quân Bắc Việt sẽ tấn công thành phố vào ban đêm.

    14 giờ : các lực lượng địa phương quân có nhiệm vụ phòng thủ vòng đai của thành phố bỏ chạy tán loạn, nhân viên giữ các kho đạn và xăng dầu cũng bỏ chạy. Lệnh mới của Sài Gòn : “hãy di tản các trực thăng và phi cơ quân sự ” Có lẽ người ta lo cứu chiến cụ, vì không thể dùng phương tiện nầy để làm chậm trể bước tiến của quân Bắc Việt hay che chở cho công tác di tản bằng đường biển được . Các tàu thuyền đều tập trung ở ngoài khơi. Mặc dầu có một vài khẩu 175 cố gắng phản pháo nhưng pháo binh Bắc Việt vẫn tập trung bắn vào Bộ Tư Lệnh Quân đoàn và căn cứ Hải quân.

    Dưới một trận mưa pháo dữ dội, tướng Trưởng đang ở trong một căn hầm trú ẩn khoảng 100 thước vuông với và Bộ Tham Mưu của ông và đề đốc hải quân Hồ văn Kỳ Thoại, Chỉ huy trưởng Vùng Duyên Hải.

    22 giờ 30: tướng Trưởng lệnh cho Tư lệnh phó của ông, tướng Lâm quang Thi, hãy lên một tàu chiến của Hải quân đang ở ngoài khơi để thiết lập một Bộ Chỉ Huy hành quân mới. Tướng Trưởng đã có quyết định rồi. Ông không có được bao nhiêu người để thiết lập một cứ điểm phòng thủ mạnh ở trong thành phố. Có thể ông chỉ còn đủ thì giờ để cứu các đơn vị hiện còn đang chiến đấu. Ông dự trù một cuộc di tản, bắt đầu từ 6 giờ sáng.

    Ra khỏi hầm trú ẩn, tướng Thi nhận thấy ngay là căn cứ hải quân chính đang bị dân chúng chiếm rồi. Họ hy vọng sẽ lên được các tàu của Hải Quân . Trong số dân ở đây người ta khám phá ra được 3 quan sát viên của Bắc Việt với phương tiện truyền tin. Họ điều chỉnh tác xạ cho pháo binh Bắc Việt .

    Tướng Trưởng điện thoại về Sài Gòn cho Bộ Tổng Tham Mưu Liên Quân và cho Dinh Độc Lập. Ông đề nghị bắt đầu cuộc di tản bằng đường biển. Ông Thiệu lưỡng lự. Ông Thiệu không cho lệnh được .

    Trong lúc ông Thiệu và tướng Trưởng đang nói chuyện trên điện thoại thì trung tâm truyền tin ở Đà Nẵng bị trúng đạn pháo của Bắc Việt . Liên lạc với Sài Gòn bị mất.

    Kế hoạch di tản do tướng Trưởng và đề đốc Hồ văn Kỳ Thoại hoạch định có dự trù 3 điểm xuống tàu.

    Từ Sài Gòn phó Thủ Tướng VNCH ông Phan quang Đán gởi điện văn đến Liên Hiệp Quốc, đến Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ, Hội Hồng Thập Tự Quốc Tế, để yêu cầu sự giúp đở của các nơi nầy nhằm di tản mỗi ngày 100.000 người. Nhưng ngay tại Liên Hiệp Quốc, ông Tổng Thư ký cũng không chịu tiếp ông Nguyễn hữu Chì trong tư cách quan sát viên thường trực của VNCH.

    Ngoài số tàu thuyền của Hải quân Miền Nam Việt Nam, người ta còn thấy có cả tàu thuyền thuộc Nam Hàn, Đài Loan đang tập trung ngoài khơi Đà Nẵng . Úc, Anh Quốc và Phi luật Tân đều cam kết tham gia vào chiến dịch di tản nầy. Sáu phi cơ vận tải của Úc với đầy đủ lương thực và thuốc men đang chờ tại các sân bay của Mã lai Á.

    Tổng Thống Ford đã lệnh cho các tàu thuyền Hoa Kỳ, các tàu chở hàng thuộc công ty hàng hải và các tàu thuê bao như chiếc Dufresne, Ftrderick, Blue Ridge, Durham phải đến gặp chiếc Pionnier Contender và Andrew Miller . Một tuần dương hạm được lệnh ở gần đó, chiếc Lowestaff. Hoa Thạnh Đốn thông báo chánh thức là các tàu hàng hải nói trên đều không có võ trang. Nhiều lắm cũng chỉ có vài chiếc tàu chiến nhỏ thuộc Hải quân phải có mặt trong vùng để giữ trật tự. Họ được lệnh không được khiêu khích quân đội Bắc Việt .Vì cuộc hành quân di tản và cứu vớt là hoàn toàn nhân đạo.

    Hà Nội và CPLTCHMN đều tố giác có “một sự can thiệp quân sự mới của Hoa Kỳ”. Từ thủ đô Bonn (Tây Đức) ông Willy Brandt – người mà ai cũng biết là chống dường lối chánh trị của Hoa Kỳ tại Việt Nam- cho biết là “Chánh Phủ của ông đã cho Chánh Phủ Hoa Kỳ biết là Tây Đức sẽ sẳn sàng tham gia vào một sự giúp đở nhân đạo”. Tại Hoa Thạnh Đốn, ông Daniel Parker Giám đốc Cơ Quan Phát Triển Quốc Tế tuyên bố : ” Chúng tôi sẽ hành động hết sức thận trọng”. Điều nầy có nghĩa là các tàu thuyền không cập bến mà sẽ ở ngoài khơi, bên ngoài lãnh hải của Việt Nam. Để chắc ăn hơn Hoa Thạnh Đốn còn xác định rõ là công tác nhân đạo chỉ liên quan đến dân chúng mà thôi.

    Tại Đà Nẵng trên các đường phố cũng như ở ngoại ô và trên bến cảng, dân chúng và binh sĩ cứ chạy lòng vòng. Các gia đình của quân nhân thì không muốn rời khỏi thành phố mà không có con cháu của mình. Bộ trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ quyết định là quân nhân nào đã rời khỏi đơn vị của mình và không mang theo vũ khí cá nhân thì có thể được coi là một người dân thường. Nhưng theo chỗ riêng tư thì người ta giải thích là nếu cần thì các tàu Hoa Kỳ có thể chở một vài đại đội thuộc QLVNCH, nhất là khi các chiến hạm VNCH không đủ để chuyên chở hết. Các chiến hạm nầy do đề đốc Chung tấn Cang. Tư Lệnh Hải quân VNCH gởi tới. Dĩ nhiên các tàu thuyền thuộc Hải Quân VNCH đều có quyền cập bến.

    Sáng sớm ngày 28 tháng 3, sương mù dày đặt trùm khắp bờ biển làm cho các chiến hạm không thể ủi bãi hay cập vào bến được.

    Trong thành phố, vẫn còn một tình trạng hổn loạn, vô trật tự. Có nhiều toán quân nhân say rượu không tự kềm chế được bắn bừa bãi vào thường dân, hay tranh giành lương thực với dân trong các kho hàng. Ba người bộ đội quan sát viên của Bắc Việt bị bắt giữ với các máy truyền tin của họ, phát sanh ra triệu chứng của đạo quân thứ năm. Có nhiều binh sĩ Miền Nam đi lùng bắt các quan sát viên khác, thật hay giả cũng không cần biết.

    Trong tòa tổng lãnh sự Mỹ, nhơn viên tự hỏi không biết ông lãnh sự sẽ đi bằng cách nào ? Bằng đường biển hay bằng phi cơ ? Tại phi trường dân sự, chính ông lãnh sự Al Francis bị các binh sĩ Nam Việt Nam bắt giữ trong khi ông đang tìm cách cho một số nhân viên của ông lên phi cơ. Hai người Anh thuộc một tổ chức nhân đạo can thiệp và cứu được ông tổng lãnh sự Hoa Kỳ.

    Hành lý chất thành đống ngổn ngang trên phi đạo. Dân chúng và binh sĩ đi lang thang khắp nơi làm cho phi cơ không thể đáp xuống được . Và khi phi cơ đáp xuống được thì dân tản cư làm cho hành khách không làm sao lên phi cơ được. Người Mỹ ở Đà Nẵng quyết định dùng một phi trường nhỏ hơn, nằm trong núi Thạch Bàn. Ông Al Francis không làm sao thuyết phục được sứ quán Mỹ ở Sài Gòn là tình hình đã quá bi đát. Ông Martin vừa trở lại Sài Gòn cùng với tướng Weyand và một số nhân vật cao cấp Hoa Kỳ ngày 27 tháng 3 đã không dông dài : “Đừng có bi thảm hóa việc gì hết ”

    Nhân vật số 2 của sứ quán là ông Wolfgang Lehmann mất hết tin tưởng. Tuy nhiên trước đó chỉ vài ngày, chính ông Lehmann đã giải thích cho một nhóm thành viên của phòng Thương Mãi Sài Gòn gồm có từ những chủ quán rượu đến những thương gia, kỹ nghệ gia, những chủ ngân hàng… rằng ông Thiệu đang chuẩn bị một cuộc “phòng thủ lưu động”. Không nên bỏ đi để cho người dân Miền Nam khỏi bị mất tinh thần. Ông Lehmann cũng yêu cầu Thủ Tướng can thiệp :

    ” trật tự ở phi trường dân sự Đà Nẵng cần phải được vãn hồi. ” Ông Khiêm gọi điện thoại cho tướng Trưởng: ông nầy gởi đến đó 2 tiểu đoàn Biệt dộng quân. Người Mỹ thuộc tòa Tổng lãnh sự Đà Nẵng kín đáo ngồi trong các xe vận tải đi ra bến tàu. Họ còn để lại một số cộng sự viên, hầu hết là nhân viên CIA. Họ hứa là sẽ trở lại….

    Tại Sài Gòn, một người Mỹ vạm vở và hung hãn, Ed Daly, chủ của hảng Hàng không Wortd Airways nói là ông ta sẽ mở một cầu không vận ra Đà Nẵng . Là một người biết khai thác phi cơ, ông ta có một đội phi cơ vận tải Boeing 727 và đã kiếm được 21 triệu đô la trong năm 1974, nhờ chở vũ khí và gạo từ Sài Gòn lên giao cho Phnom Penh. Tin tức từ Đà Nẵng rất chính xác, phi trường chính nơi các phi cơ cần phi đạo dài để đáp xuống hiện không còn xử dụng được . Do vậy người ta cấm không cho phi cơ của hảng World Airways của ông ta cất cánh. Ed Daly tức tốc chạy lại sứ quán Mỹ, chỉa súng lục vào anh lính Thủy quân lục chiến đang đứng gác, vừa rống vừa chạy vào văn phòng Đại sứ.

    – ” Họ sẽ làm gì ở Tân sơn Nhứt nếu chúng tôi cất cánh ?

    – Dĩ nhiên họ sẽ bắn , ông Martin trả lời

    – Lúc đó ông sẽ làm gì , ông ?

    – Tôi sẽ vỗ tay hoan hô .”

    Ông Martin rất ghét lối ăn mặc và tính thô lổ của Ed Daly, và anh ta lại uống rượu nhiều nữa. Ông Martin không mong là những công ty tư loại World Airways chen vào các hành động thuộc lãnh vực của Tòa đại sứ. Dù vậy Ed Daly cũng vẫn quyết định đi Đà Nẵng với 2 chiếc Boeing 727. Trong chuyến ngao du nầy anh mang theo các nhà báo, trong số nầy có Mike Marriot chuyên viên quay phim của hảng CBS và Tom Aspell, một người Tân Tây Lan, vừa quay cho hảng ITN, vừa làm cho ABC. Như vậy có hai trong ba hệ thống lớn của Hoa Kỳ đã có mặt trên phi cơ. Sau 45 phút bay, hai chiếc Boeing đã ở trên không phận Đà Nẵng và đài không lưu cho phép họ đáp xuống. Phi đạo đầy xe Jeep, xe vận tải, đàn bà trẻ nít và binh sĩ. Chỉ cò thể đáp một chiếc Boeing được thôi. Nhiều toán người quá giao động bao quanh phi cơ, người ta tranh giành nhau để leo lên máy bay. Các binh sĩ nổ vài loạt M.16 . Có nhiều binh sĩ thuộc đơn vị “báo đen”, một đơn vị ưu tú của sư đoàn 1 bộ binh . Ed Daly bắn chỉ thiên mấy phát súng lục, tưởng là có thể sẽ gây ấn tượng với họ. Một nhà báo mang máy quây phim bước xuống phi cơ, nhưng sau đó anh không thể nào trở lên phi cơ được nữa. Về sau có trực thăng đến bốc anh đến phi trường nhỏ ở núi Thạch Bản. Trong vòng 10 phút, chiếc Boeing đã đầy người. Dàn bánh đáp bị hỏng, hệ thống nén hơi không hoạt động. Lúc phi cơ cất cánh có một số binh sĩ vẫn còn đeo theo bánh xe. Ở cao độ 200 thước, một người buông tay và rơi xuống, một người khác còn bị kẹt cứng gần bánh xe. Phi cơ bay thẳng về Sài Gòn với chiếc Boeing thứ nhì không đáp xuống được .. Trên đường bay, một nữ tiếp viên phải săn sóc một thương binh bằng cách lấy mạt cưa từ chiếc áo chống đạn của anh đang mặc để thấm máu cho anh ta. Đến Tân sơn nhứt, phi cơ thả xuống 259 binh sĩ, một người mẹ và 3 đứa con nhỏ. Có thêm 40 “hành khách” chui ra từ hầm chứa hành lý. người ta giải giới các anh “beo đen”. Ông Jim Eckes, một người có trách nhiệm của công ty Continental chở bà mẹ và 3 đứa con nhỏ của bà về căn cứ. Ngoài phi đạo, Ed Daly vênh váo lên giải thích rằng phi cơ bị một quả lựu đạn làm hư hại ở Đà Nẵng nhưng sau khi xem xét chỗ bị hư hại, Eckes có cảm tưởng là chiếc Boeing lúc đáp xuống có bị va chạm vào một vài vật trên phi đạo ở Đà Nẵng.

    Ed Daly chạy tuông vào sứ quán, đâm sầm vào văn phòng ông Đại sứ, trên đường đi đã vô ý làm bật lên hệ thống báo động của sứ quán, và khi ông Martin nói chuyện với ông ta thì ông đã ngũ khò !

    Không có được bao nhiêu bản tường thuật của báo chí về Phước Bình (Phước Long), về Ban mê Thuột , Kon Tum và Pleiku hay Huế. Nhưng nhờ hai chuyên viên quay phim, nhờ một số hình ảnh của phóng viên Viên Hương,người Việt Nam, nhờ vào phóng sự của phóng viên Paul Vocle thuộc UPI, mà cả thế giới mới thấy được những đoạn của một “chuyến đi từ địa ngục” ở Đà Nẵng. Trong năm 1975, những biến cố ở Việt Nam – và rất thường ở các nơi khác – được thấy ngay từ lúc biến cố đó được quay thành phim và được phổ biến. Dư luận dân chúng Hoa Kỳ mới biết được là tình hình ở Việt Nam càng ngày càng đi xuống. Bấy giờ họ mới “thấy” được sự lầm lẫn của Hoa Kỳ ! Nhưng đã quá muộn !!!

    Từ trụ sở của World Airway ở California, phó chủ tịch David Mendelsohn gởi một bức điện tín cho phi hành đoàn chiếc Boeing của Ed Daly : ” Chúng tôi nguyện cầu cho các anh. Các anh có nhớ lòi nói của thánh Francois hay không :Phải biết yên tâm chấp nhận những gì mà chúng ta không thể thay đổi được , phải có can đảm thay đổi những gì có thể thay đổi được , phải có chút thông minh để hiểu được sự khác biệt…” Chủ tịch Ed Daly phản đối ngay:

    – ” Tôi không đồng ý với thánh Francois. Và tôi không đồng ý với Dave Men delsohn vì ông ta là dân Do Thái. Chúng tôi có thể làm cho sự việc phải thay đổi. Tôi sẽ tiếp tục thử chừng nào tôi vẫn còn có thể…”

    Ed Daly còn có nhiều việc cần phải thanh toán:

    – Các cơ quan Hoa Kỳ và Việt Nam đã dậm chân tại chỗ trong 8 ngày trước khi có hành động, trước khi di tản bằng phi cơ một số trong từ 400 đến 600 ngàn dân tản cư đang bị kẹt cứng ở Đà Nẵng . Tôi không thể tha thứ được sự ngu dại, sự dốt tính của một số cơ quan của Chánh Phủ Hoa Kỳ , của tất cả bọn người chỉ biết ngồi nắn nót chiếc cà vạt…, những người không có khả năng…

    Trước chuyến bay chót bị cấm vừa rồi, sứ quán Hoa Kỳ đã hủy bỏ hợp đồng thuê bao công ty của Ed Daly. Với chuyến bay đó và những chuyến sắp tới, Daly phải xài tiền túi của ông ta.

    Cuộc di tản từ Đà Nẵng đã vượt quá những gì mà người ta đã thu hình hay quay phim được cho tới giờ nầy được mô tả như là là những màn vô cùng thảm khốc.

    Bây giờ thì không còn xử dụng được phi cơ hay trực thăng được nữa, ngay như để bốc người Mỹ ra khỏi đó. Tổng Lãnh sự ở Đà Nẵng đã van nài vị Tùy Viên quân sự Hoa Kỳ ở Sài Gòn để gởi ra cho ông ta 2 chiếc trực thăng. Tùy viên quân sự từ chối và chuyển đơn xin đó về Bộ Tư Lệnh của Không Đoàn 7 Hoa Kỳ ở Thái Lan. Trả lời :

    – thứ nhất là không thể vi phạm Hiệp Định Paris;

    – thứ hai là trực thăng tại Thái Lan đang là lực lượng trừ bị sẳn sàng cho cuộc hành quân di tản Phnom Penh không biết sẽ bị thất thủ lúc nào.

    Ở Đà Nẵng dân chúng và binh sĩ chỉ còn đi khỏi đây bằng đường biển mà thôi. Ở quân cảng người ta la ó, người ta khóc lóc, người ta tranh giành nhau lên các ghe thuyền, các tam bản, các ca nô hay các xà lan để có thể đi ra tàu. Bến tàu, bãi biển và hầm hố đâu cũng đều có vũ khí, các chiến xa mắc lầy, những thùng đạn dược kể cả của pháo binh, những va ly bị mở tung tóe, các trực thăng không còn xử dụng được. Trên mặt biển thì trôi lênh đênh những thùng to-nô, những ruột xe ô tô, những phao cấp cứu….

    Có tiếng chó sủa… Đó đây phất lên một mùi khai của nước tiểu, mùi hôi thúi của phân người và của thây ma…sình thối bị nước dâng đùa từ ngoài biển đưa vào cảng và bải biển… Vì gấp ra khơi tìm tàu một vài thuyền quá nhỏ bị lật úp làm cho một số đàn ông đàn bà và trẻ con bị chết chìm. Thủy Quân Lục Chiến đổ thừa cho dân tỵ nạn đã chiếm chỗ của họ trên ghe thuyền. Nhưng chính những binh sĩ đến được cảng sau cùng, đã dùng súng đuổi dân tỵ nạn xuống các xe đò, chiếm xe để chở họ ra bến cảng. Tất cả các đơn vị Quân Cảnh và Cảnh Sát của thành phố đều biến mất. Có nhiều xe đang bốc cháy..,và nhiều tiếng súng nổ khắp nơi.

    Có một vài xe cam nhông có loa phóng thanh chạy quanh trong các khu vực không còn bóng dáng một binh sĩ VNCH nào để tuyên truyền:

    -” Hãy yên tâm, tất cả rồi sẽ tốt hết. Bộ đội của sự hòa giải sẽ đến ngay đây thôi ! quân đội giải phóng sẽ đến. Hãy trang hoàng nhà cửa bằng những lá cờ Phật giáo.

    Không còn ai chỉ huy, mất hết tinh thần, không còn chút kỷ luật nào, vài trăm binh sĩ say sưa hay sợ hải đang gây hoang mang cho đồng bào. Các sĩ quan cũng không hơn gì. Một thiếu tá thuộc sư đoàn 1 bộ binh khi được một đại tá hỏi Bộ Tư Lệnh sư đoàn hiện ở đâu đã trả lời :

    – ” Bản thân tôi cũng không biết vợ con tôi hiện đang ở đâu. Tại sao tôi lại phải quan tâm đến Bộ Tư Lệnh sư đoàn nhỉ ?

    Dân tỵ nạn dồn cứng trên tàu, có khi khoản 8000 người trên một chiếc tàu chở hàng, không có phương tiện vệ sinh , dĩ nhiên không có đủ lương thực cho bằng ấy người . Dưới hầm tàu có nhiều quân nhân lột nữ trang hay lấy hết tiền của người dân tỵ nạn. Họ cướp của, hãm hiếp và có khi còn giết chết những người phản đối hay chống cự lại họ. Một ông cha vì muốn thử can thiệp liền bị giết ngay. Có một số các em bé, trẻ em và cả người lớn nữa bị ngộp thở mà chết.

    Nhiếp ảnh gia của ông Ford, David Kennerly, lúc bấy giờ cũng đến Việt Nam bay trên vùng trời Đà Nẵng ngay trên đoàn tàu đang cứu vớt dân tỵ nạn. Ngồi trên trực thăng của Air America, anh bay quan sát bên trên chiếc tàu Contender, trực thăng của anh đã bị lính Miền Nam bắn lên.

    Tướng Trưởng lội ra một chiếc ca nô và được một sĩ quan Hải quân đưa lên một chiến hạm Việt Nam . Nhiều dân tỵ nạn phải mất ít nhất 3 ngày mới tới được một hải cảng, Cam Ranh, hay Vũng Tàu hay một hòn đảo nào đó. Ông Thiệu đã có lệnh : không nên cho dân tỵ nạn vào Sài Gòn. Có nguy cơ là họ sẽ làm mất tinh thần quân đội và dân chúng.

    Người ta tính sổ lại: 50.000 dân và 16.000 binh sĩ đã chạy thoát khỏi Đà Nẵng . Trong thành phố hiện còn một triệu dân tính luôn cả người tỵ nạn.

    Ngày chúa nhật 30 tháng 3, nhằm lễ Phục Sinh, bộ đội Bắc Việt chiếm hoàn toàn Đà Nẵng. Tại trại Davis trong sân bay Tân sơn Nhứt, đại diện của CPLTCHMN xất xược xác nhận là thành phố đã bị chiếm từ ngày 29 tháng 3:

    – ” Cờ của chúng tôi đã bay phất phơi ở đó từ sau buỗi trưa!

    Bắc Việt đã bắt giữ được hàng ngàn tù binh. Họ không gặp một khó khăn nào để tìm bắt nhân viên cành sát hay tình báo đặc biệt của Miền Nam vì họ đã có sẳn danh sách do Chỉ huy trưởng Cảnh sát Đà Nẵng cung cấp. Việt Cộng nằm vùng?

    Bộ Chánh Trị đảng cộng sản Việt Nam họp ngày đó ở Hà Nội và đưa ra một bản nhận định:

    – ” Cuộc chiến tranh cách mạng ở Nam Bộ không những chỉ tiến tới một giai đoạn nhảy vọt, mà còn tiến tới một thời điểm chiến lược thuận lợi để bắt đầu một cuộc tổng tấn công và tổng nổi dậy vào sào huyệt của quân thù… Cuộc cách mạng của chúng ta tiến tới bằng những buớc đi của người khổng lồ., Tốc độ nhanh đến độ chỉ một ngày thôi đã bằng 20 năm dài.”

    Không thể phủ nhận được !

    Nhưng vẫn không thấy có một cuộc tổng nổi nào, đó là một yếu tố tối cần cho thần thoại của người cộng sản, không thể thiếu được. Tại Đà Nẵng cũng như ở những nơi khác, dù nghĩ gì thì dân chúng vẫn ở trong tư thế “chờ xem”.

    Trong cả hai miền Nam, Bắc ở Việt Nam, dân chúng bị không ít ảnh hưởng của cuộc chiến , nhưng từ mấy năm nay, trong hơn bốn chục triệu dân, chỉ có nhiều lắm là 3 triệu có dính líu hay trực tiếp can dự vào các trận chiến .

    Ngày 30 tháng 3 nầy, Chánh Trị Bộ cộng sản ở Hà Nội quyết định chủ trương “phải nắm lấy cho bằng được thời điểm chiến lược thuận lợi nầy” qua hướng dẫn : “tốc chiến, táo bạo, bất thần để tốc thắng” Bộ Chánh Trị muốn “giật lấy chiến thắng bằng mọi giá trong một thời gian nhanh nhứt, trong vòng tháng tư, không trể hơn nữa” Họ muốn “nhắm thẳng vào những mục tiêu trọng yếu ngay trung tâm Sài Gòn ”

    Ở Nam Bộ, ngày đó tướng Trần văn Trà di chuyển đến nơi mà ông dự trù đặt bản doanh, để từ đó chỉ huy các cuộc tấn công vào Sài Gòn. Chiếc “xe chỉ huy” của ông được ngụy trang thật kín đang tiến trong cánh rừng. “Các đường mòn và đường sá lúc nầy khô ráo và dễ đi. Tháng ba là tháng nắng.” Tướng Trà nghe tiếng đạn pháo binh nổ, ở hướng Sài Gòn. Hoa nở hắp nơi: đúng là mùa xuân. Tướng Trà lẩm bẩm:

    – ” Phong cảnh thật đẹp và hùng dũng, làm rung động lòng người …. Việt Nam vẫn còn là Việt Nam .”

    Ông ta nghĩ tới trận chiến hôm qua và trận chiến hôm nay. Trong nhật ký của ông ta, có ghi :

    – ” Mai vàng nở làm đẹp con đường

    ” Gió rừng thổi mạnh pha lẫn với tiếng súng

    ” Pháo binh đang nổ bao quanh thành phố

    ” Xưa hay nay cũng vậy, rừng núi sông ngòi vẫn thuộc về ta ! “

    Từ ngàn xưa, tháng ba là tháng chinh chiến ở Đông Dương. Năm nào cũng vậy , từ Việt Minh, rồi đến Việt Cộng, kháng chiến quân thuộc CPCMLTMN, và bộ đội chánh quy của Hà Nội … cứ đến tháng ba là họ mở những trận tấn công.

    Ngày 31 tháng 3, ở Hà Nội, thủ đô của Bắc Việt, tờ Nhân Dân đã đăng một bài bình luận với một luận điệu nhẹ nhàng hơn nhận định của Bộ Chánh Trị. Đối với tờ báo của đảng, sự tiến quân của quân đội Miền Bắc đã cho thấy “một kinh nghiệm quý báu đã giúp cho bộ đội và nhân dân ta đi tới”. Tờ báo loan báo những chiến thắng, nhưng chưa báo cho nhân dân chiến thắng cuối cùng. Tờ báo xác nhận là “có nhiều lính “Mỹ ngụy” đã bỏ ngũ, quay súng trở lại “bọn phản động, và đã trở về với nhân dân”

    Nhưng khắp mọi nơi, chưa thấy nói có một quân nhân nào nổi loạn quay súng trở lại bắn đồng đội hay chưa có một đại đội nào thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa “về với nhân dân” hết.

    Dưới danh nghĩa “giải phóng” Bộ đội Miền Bắc tự hỏi không biết phải giải thích thế nào với “nhân dân” của họ về làn sóng tỵ nạn của người dân . Thì đây, tờ Nhân Dân đã có lời bình rằng ” Bè lũ của Thiệu tranh nhau chạy vô trật tự. Mà họ còn bắt “nhân dân” chạy theo họ để đở đạn cho họ và để đánh lạc hướng dư luận quần chúng trên thế giới. ”

    Tại Hà Nội nhiều ủy ban hỗ trợ Miền Nam được thành lập. Ủy Ban “Nhân Dân Cách Mạng” của tỉnh Quãng Đà và thành phố Đà Nẵng không thấy lạc quan chút nào khi họ phân phát một bản tuyên bố kêu gọi “nhân dân Miền Nam” :

    – ” lực lượng giải phóng phải tấn công, “nhân dân” khắp nơi phải nổi dậy để giúp quân ta chiến đấu, sĩ quan và binh sĩ Sài Gòn phải quay về với “nhân dân”.. v.v và v.v………

    Ở Hà Nội anh Tiến, một thanh niên có nhiều cao vọng về phim ảnh, một người tài tử có hạng về sân khấu, thưởng thức trước những đoạn phim hay những màn trình diển mà anh nghĩ rằng mình sẽ được tham gia. Đến giờ nầy thì các đoạn phim dài được trình chiếu đều là của Liên Xô. Anh chàng trẻ nầy luôn luôn mơ ước có ngày anh sẽ đi Liên Xô hay Đông Đức để theo học môn nầy. Không ai nói tới chuyện bắt anh ta thi hành nghĩa vụ quân sự . Anh ta tiếp tục đi học và hưởng đặc ân của mình. Anh không có thiếu thốn hay bị hạn chế gì cả. Khẩu phần tháng 3 nầy không bằng của tháng giêng. Chánh Phủ đang mở chiến dịch: Nhịn ăn cho Miền Nam . Phải san sẻ lương thực cho đồng bào Miền Nam . “Hầu hết dân thủ đô chỉ có 250 gram đường mỗi tháng, nhưng anh bạn trẻ nầy nhận đủ 1 kí lô lại còn được kèm theo một hộp sửa đặc nữa. Tùy theo số hàng nhận được – rất thất thường mấy lúc nầy- người dân ở thủ đô chỉ có quyền có được một hay hai hộp thịt 120 gram của Trung Quốc. Nếu người Trung Quốc không giao hàng thì người ta phát bột trứng. Nhưng anh bạn trẻ thì được lãnh 1 kí lô thịt tươi, nhất là thịt heo. Người ta săn sóc cho người ưu tú. Anh Tiến nhận thấy là anh ta có nhiều thực phẩm hơn cha mình, một cán bộ trung cấp của CPLTCHMN. Trong tháng giêng và tháng hai, Chánh Phủ sợ là sẽ có sự tái oanh tạc của phi cơ Hoa Kỳ : công nhân phải dọn sạch các hầm trú ẩn cá nhân dọc theo lề đường. Nhưng sẽ không có ai dùng tới . Đối với anh bạn Tiến thì các hầm trú ẩn nầy sẽ không bao giờ được dùng tới nữa.

    Các giáo sư của anh bình luận về tin tức. Ngay như những người tranh đấu hăng say cũng không có một tư tưởng chiến thắng nào: người ta chỉ hy vọng thôi . Anh Tiến có một người bạn. Đó là con trai của ông Nguyễn hữu Thọ, Chủ Tịch của Chánh Phủ cách mạng lâm thời. Thỉnh thoảng anh nầy đến 69 đường Nguyễn Du, chỗ ở của ông Thọ, một biệt thự cũ của người Pháp. Có nhiều người dân Miền Nam cư ngụ trong khu nầy, gần hồ Giải Phóng. người bạn trẻ nầy không bao giờ có được quan điểm chánh trị rõ rệt. Hơn thế nữa, anh ta chỉ muốn về lại Sài Gòn thăm lại bà mẹ của anh còn ở lại Miền Nam và tìm lại bạn cũ. Những chiến thắng được loan báo cho anh thấy là đã sấp đến ngày về của anh rồi .

  22. Trong lúc anh Tiến đang theo một khóa học, người ta kêu anh ra khỏi lớp. Một đại úy đang chờ anh:

    – ” Anh có một nhiệm vụ đặc biệt..”

    Anh được lệnh thu xếp một vài món hành lý và người ta đưa anh vô Bộ

    Tham Mưu. Từ đó anh lại lên xe jeep đi vào một “trung tâm đặc biệt”. Ở đó anh gập lại khoảng 50 bạn trẻ, tất cả đều là người Miền Nam. Có vài người đã cùng đi với anh ra Bắc theo đường mòn Hồ chí Minh hồi năm1971.

    – ” Các anh sẽ tham gia chiến dịch Hồ chí Minh”

    Người ta cho anh xem bản đồ Sài Gòn in ở thủ đô Miền Nam Việt Nam và người ta hỏi anh :

    – Anh thấy đường phố hay đại lộ có thay đổi gì không? Có thêm nhà cửa hay dinh thự mới không ? Anh bạn Tiến nầy nhận là mình biết rất rõ khu vực phi trường.

    Anh đòi phải cho anh gặp cha anh. Tại bệnh viện nơi cha anh đang làm việc, Tiến nói là anh có thể chết và anh muốn cha anh phải báo cho mẹ anh biết nếu…..

    – ” Tôi được đưa đi công tác trong khuôn khổ của chiến dịch Hồ chí Minh.”

    Người sĩ quan đi theo anh, trách nhẹ:

    – ” Ngay với cha anh, anh cũng không cần phải nói anh sẽ làm gì ..”

    Trong suốt bốn ngày liền, anh Tiến xem kỹ lại các đường phố Sài Gòn trên các bản đồ không mấy tốt và cho ý kiến về địa hình của thành phố. Người ta trao cho anh một bộ quân phục không cổ lỗ lắm. Không phải của lính mà cũng không phải của sĩ quan. Anh Tiến nầy không ưa thích gì các hoạt động quân sự , nhưng anh cũng hiểu là anh sẽ là một trinh sát. Anh nôn nóng với ý nghỉ là sẽ được gặp lại Miền Nam .

    Không còn phim ảnh gì nữa, không còn màn hát nào nữa – nhưng trong thời gian bao lâu đây ? Thủ đô Hà Nội đang có trình diễn 3 vở tuồng . Tất cả đều nhằm vào Miền Nam Việt Nam : Lưỡi gươm và Biển cả, Dân chúng quanh thủ đô, và Tiếng hát của Tình Yêu. Và đây là tóm lược của vở tuồng thứ ba : Một sĩ quan Mỹ Ngụy đang thù ghét chiến tranh, đào ngũ để đi lánh nạn trong một vùng xa xôi ngoài bờ biển. Anh muốn trốn chạy trong tình yêu, nhưng cảnh sát và điệp viên không để cho anh yên. Cuối cùng anh chọn đúng con dường: Anh cùng nhân dân nổi dậy và đi ra trận, vừa đi vừa hát : “Anh em ơi Hãy đứng lên và tiến lên…”.

    Ở nước Cộng Hòa Dân Chủ Việt Nam tất cả đều hướng về cuộc chiến ở Nam Bộ, từ quân đội, đến thợ thuyền trong hảng xưởng và nông dân các hợp tác xã , từ nhà văn đến người nghệ sĩ. Trong cái xã hội “xã hội chủ nghĩa” chuyện không mấy thực tế chút nào, đó là người dân Miền Bắc phải là những người tiên phong.

    Một chiếc xe buýt đưa anh Tiến cùng với 17 người khác chạy qua cầu Paul Doumer để ra phi trường Gia Lâm. Tại đây toán người đặc biệt nầy có các sĩ quan vây quanh được nhà thơ Tố Hữu, thi sĩ chánh thức của chế độ và Ủy viên trung ương của đảng tiếp đón và chào mừng. Cũng như các tuớng lãnh tài ba, các nhà văn nhà thơ trác tuyệt được đưa vào guồng máy , ở đó người ta trở nên quan trọng vì người ta biết tự hội nhập với đảng. Với một giọng nói quan trọng, cảm động và đầy tình cảm ,Tố Hữu nói với nhóm trẻ :

    – ” Nhiệm vụ của các bạn rất quan trọng. Chúc các bạn may mắn ..!”

    Các người chụp ảnh chụp lia lịa. Tiến nghĩ thầm ” nếu mình chết, người ta sẽ cho đăng hình mình lên, hình của một vị anh hùng !”.

    Người ta đã trao cho anh một khẩu súng lục. Bây giờ anh lại được trao thêm cho một khẩu AK. 47 nữa.. Trong cả hai khẩu súng anh không biết xử dụng khẩu nào hết. Toán những người trẻ của anh Tiến với một số nhân vật của Chánh Phủ lớn tuổi, trầm lặng, cùng lên chiếc phi cơ C.119, một chiếc phi cơ cũ của Miền Nam Việt Nam . Đến khi trời sụp tối chiếc phi cơ mới cất cánh. Không ai nói với ai một câu nào, thời gian trôi qua.. phi cơ đáp xuống một phi trường nào đó. Các hành khách đều bước xuống. Tiến nghĩ rằng có lẻ đây là Cao Nguyên vì anh thấy đất ở đây màu đỏ. Người ta cũng không nói gì với anh.

    Anh lại tiếp tục lên đường bằng ô tô, cũng không hỏi gì cả. Người ta cũng không cho anh biết tin tức gì thêm. Anh chỉ biết là anh đang đi về Miền Nam . Chuyến đi nầy vui hơn là chuyến anh đi ra Miền Bắc, một chuyến đi thật là dài trên con đường mòn Hồ chí Minh. Lúc đó anh đang lên cơn sốt của bịnh rét rừng mà mỗi ngày phải đi 10 tiếng đồng hồ. Trong suốt 3 tháng như vậy. Đi trong cánh rừng anh buồn nhớ Sài Gòn . Anh nhớ lại một vài hình ảnh cũ , tấm biểu ngữ ở trạm 94 :”Ở đây ranh giới cuối cùng của MTGP, trước mặt là bắt đầu thuộc Miền Bắc , đường 559 của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam”….

    Có thể anh sẽ thấy lại được Sài Gòn . Người ta vẫn im lặng, không nói gì với anh hết. Gần như anh di dạo mát trên xe ô tô, bằng xe cam nhông, rồi lại bằng ô tô nữa, thích thú thật. Tiến nghe người ta nói về các tỉnh, các thành phố của Miền Nam bị Bắc Việt chiếm.

    Cuối cùng anh đến Bộ Tham Mưu ở Lộc Ninh, Có nhiều sĩ quan và bộ đội, nhiều cột ăn ten trên các nóc nhà tranh và trên chiến xa. Anh được cho vào một lều vải để ngủ. Người ta đối đãi anh như một cán bộ không có cấp bậc. Anh không có quyền nói chuyện với một anh bộ đội nào. Anh chờ đợi ở đây nhiều ngày, Và anh có dịp quan sát những chiên xa T.54 được nghi trang dưới các lùm cây và vài chiến xa M.48 của Miền Nam vẫn còn tốt.

    Một buỗi sáng nào đó , anh thấy Lê đức Thọ cùng đi với một trong những người anh của mình, tướng Đinh đức Thiên.

    Anh Tiến lại được lên xe ô tô. Sau vài tiếng đồng hồ lúc thì chạy theo đường mòn, lúc thì chạy trên đường tráng nhựa, anh đến một căn cứ cũ của Miền Nam Việt Nam ở một bìa rừng.

    Cách Hà Nội 30 cây số, trong xã Thiên Đồng, ông Ba, thợ mộc, trò chuyện với dân. Ông Ba không giống anh bạn trẻ tên Tiến mà cũng không giống nông dân ở đây. Ông không tin những tin tức qua hệ thống phóng thanh mà xã đã trực tiếp truyền lại từ đài phát thanh Hà Nội. Ông Ba không thể tưởng tượng được là một quân đội hùng mạnh như quân lực của VNCH, có sự hỗ trợ của quân lực Hoa Kỳ mà lại có thể bị bại trận được. Theo ông Ba thì các sĩ quan của Miền Nam là “những trí thức am tường nghề của họ” Ông chỉ so sánh một cách giàn dị giữa người lính – nông dân của Miền Bắc với những người sĩ quan trí thức của Miền Nam . Ở Miền Bắc , các đại tá và tướng lãnh đều luống tuổi. Họ ở vào trạc tuổi trên 40 hay 50. Thường thường những người nầy thuộc giai cấp tiểu tư sản hay trung lưu, có khi là giáo sư như Võ nguyên Giáp, được gởi đi học các trường quân sự ở Liên Xô hay Trung Quốc, dĩ nhiên dù được huấn luyện quá cứng ngắt nhưng họ cũng có học thức hơn các sĩ quan ở Miền Nam phần đông là hạ sĩ quan thuộc quân đội Pháp. Ở Miền Nam cũng có nhiều đại tá trẻ khoảng 34 tuổi. Dù có lạm dụng quyền hành hay tham nhũng, nhưng trong quân đội của Miền Nam vẫn có dân chủ hơn quân đội của Miền Bắc.

    Ông Ba là con người thích suy nghĩ. Ông không thích cộng sản . Nhưng ông phải im lặng và quan sát để mà sống, vì phải sống còn. Dù vậy nhưng ông Ba vẫn bị bối rối. Từ tháng giêng, trong xã đã có nhiều sự thay đổi. Cán bộ đi mộ phụ nữ tuổi 18. Người ta nói họ sẽ là nhân công đi sửa đường, đi tải vũ khí đạn dược. Dân chúng được lãnh thêm khẩu phần cho ngày Tết. Sau đó ít lâu cán bộ lại khuyên dân là phải tiết kiệm:

    – ” Các anh chị đều có con trai hay con gái đi ra trận địa. Nếu các anh chị muốn thấy họ trở về, thì mình phải chấp nhận hy sinh để giải phóng Miền Nam ”

    Ông Ba thấy là phần lớn các nông dân đều hãnh diện được đóng góp vào chiến thắng. Họ không biết sự khác biệt giữa quốc gia và cộng sản . Họ chỉ biết ghét người Mỹ vì Mỹ bỏ bom đất nước. Họ cũng ghét “ngụy” vì ngụy phục vụ cho người Mỹ. Ngoài chuyện đó ra cũng vẫn có một số người còn than phiền. Có nhiều người già nói :

    – ” Hồi trào Pháp, Việt Minh đã hứa là nếu không còn thực dân ở đây nữa thì sẽ không còn người dân nào nghèo”

    Người Pháp đã rời khỏi đây trên 20 năm rồi mà người dân có khá gì hơn đâu ? Trong lúc các cán bộ của hợp tác xã thì sống thoải mái quá. Họ có nhà cao cửa rộng, có xe đạp. Nếu người dân có quyền nói thì họ sẽ nói là họ làm việc để nuôi cán bộ. Cán bộ thì lúc nào cũng kiên nhẫn giải thích là sau khi chiến tranh chấm dứt thì không có gì phải hạn chế nữa. Không còn nghi ngờ gì nữa là họ có lý. Nông dân không nghĩ như ông Ba, là chánh quyền thổi phồng lên con số thành phố mà quân đội đã chiếm được ở Miền Nam . Hơn nữa, những người tới thăm thân nhân ở làng Thiên Đồng thuật lại là con của họ đang ở Ban mê Thuột , trong tỉnh Kontum gần Plei Ku. Chánh quyền tổ chức “kết nghĩa” các thành phố của Miền Bắc với các thành phố của Miền Nam : Tỉnh Hà Tây kết nghĩa với Đà Nẳng. Cán bộ đi tìm những người Miền Nam đã tập kết ra Miền Bắc sau Hiệp Định Genève năm 1954, nhất là những người thuộc ngành giáo dục . Chánh quyền giải thích là đang cần rất nhiều cán bộ ở Miền Nam .

    Cộng đồng người Pháp ở Sài Gòn rất bình tĩnh và đang chuẩn bị chờ đón những thay đổi lớn. Ông Patrick Hays, một cựu sĩ quan hiện dịch không có chút nghi ngờ nào về một kết thúc quân sự . Muốn ra khỏi ngõ bí nầy Chánh Phủ của ông Thiệu phải tìm một giải pháp chánh trị . Tở Courrier d’Extrême Orient , một tờ báo tiếng Pháp phát hành ở Sài Gòn , nhờ trợ cấp của sứ quán và các công ty ở địa phương của Pháp, đã tỏ ra rất thận trọng trong vấn đề nầy. Bà Marie- George Sauvezon chủ nhiệm của tờ báo nầy vẫn tiếp tục đi quan sát bằng chiếc xe Citroen DS của bà, với tài xế mang găng tay trắng hẳn hòi. Phần đông người Pháp ở Sài Gòn đều có vẻ đồng ý với ông Hays.

    Có chừng vài ngàn người Pháp ở Sài Gòn . Họ có tiệm ăn, khách sạn , hãng bảo kê…và đã sống ở đây lâu rồi. Những người hợp tác cũ đã qua rồi. Những người còn ở lại đây trong vòng 5, 3 năm nay là những người làm công hay làm chủ các công ty của Pháp như Michelin, sở Cao su Đất Đỏ, Hãng bia và Nước đá Đông Dương. Người ta nói chính xác là nhà máy và kho hàng của Hãng bia và nước đá ở Đà Nẳng đã bị dọn sạch và phá tan. Các hãng thuốc lá, các hãng xe Peugeot, Citroen, Renault, các ngân hàng Pháp Á, Pháp Hoa, các hãng tàu Chargeur Reunis và Messagerie maritimes cũng có nhiều người Pháp. Các chủ hãng bắt buộc phải xem lại tổ chức của mình để hướng về tương lai. Nếu cộng sản chiếm được Miền Nam thì số phận của các công ty xí nghiệp của người Pháp ở Miền Nam sẽ ra sao ? Chương trình của CPLTCHMN dự kiến một nền kinh tế hỗn hợp. Vậy bây giờ có nên cho phụ nữ và trẻ con về Pháp trước hay không ?

    Đại sứ Pháp cho gọi ông Hays. Ông Jean Marie Mérillon có trách nhiệm đối với Pháp kiều. Các nhà trồng tỉa từ các tỉnh chạy về Sài Gòn , các nhà buôn và các linh mục cũng vậy. Phải dự trù một giải pháp để có thể tiếp tục giữa sự thất trận của Quân Lực VNCH và công tác vãn hồi trật tự của cộng sản Bắc Việt . Cái gì cũng có thể xảy ra hết, như ở Đà Nẵng vậy. Hãy tưởng tượng có những toán binh sĩ đào ngũ và cướp bóc, lang thang phá phách khắp Sài Gòn và nhắm vào các công ty xí nghiệp của người Pháp. Hãy tưởng tượng thành phố đầy máu lửa, chúng ta sẽ tập trung đồng bào người Pháp ở đâu đây ? Ở bệnh viện Grall ? hay ở trường Saint Exupéry ? Chúng ta sẽ mở những trung tâm nào để đón tiếp người Pháp của chúng ta ? Và còn phải giữ an ninh cho họ nữa ? Một vài hiến binh đến từ Pháp để tăng cường an ninh cho Tòa Đại sứ thì có là bao . Hơn nữa họ đâu có thể trực luôn trong 24 tiếng được. Chúng ta phải lo dự trữ một số đồ hộp và gạo, nước uống v.v..

    Ông Hays là cựu trung úy của Trung đoàn Nhảy Dù của Pháp, ông ta có chịu bất thần đảm trách an ninh cho các trung tâm tiếp đón Pháp kiều hay không đây? Một ông Đại sứ không thể cho phép mình mướn một cảnh sát tư để lo việc nầy được ; còn ông Hays thì am hiểu tình hình và rảnh tay hơn . Anh ta tính với ông Mérillon là chỉ cần một nhóm nhỏ nào đó cũng có thể giữ không cho xảy ra ở Sài Gòn những màn thảm kịch như ở Đà Nẳng. Anh ta tập hợp được khoảng 15 người tin cậy như một số nhà trồng tỉa và giáo sư của trung tâm giáo khoa Pháp , những người đã từng qua một thời gian phục vụ trong quân đội , và nhất là người phụ tá của anh ta Michel Hamiaux, một người to con, bình tĩnh mà chỉ 27 tháng ở chiến trường Algérie cũng đã có được Bắc đẩu bội tinh. Bây giờ là nhu cầu cần phải có một số xe để bảo đảm cho vấn đề lưu thông được dễ dàng. Hays lấy 4 chiếc xe jeep của sở cao su, đem sơn trắng hết và cho gắn cờ Hồng thập tự. Vì dù trong bất cứ tình huống nào, các xe có cờ Hồng Thập Tự cũng lưu thông dễ dàng hơn những chiếc xe khác. Về vũ khí thì anh giải thích việc nầy cho một người bạn của anh là tướng Lê quang Lưỡng, sư đoàn trưởng sư đoàn Nhảy Dù, mà các đơn vị vừa rút về đóng ở Sài Gòn . Tướng Lưỡng thuận trao cho Hays tất cả những vũ khí đạn dược mà Hays đang cần. Với một nhóm nhỏ người lo về an ninh như vậy, Hays không bao giờ có ý định chống lại bộ đội Bắc Việt . Chỉ đơn thuần là “trong trường hợp lợi dụng tình trạng lộn xộn trong thành phố mà bọn người vô tổ chức không ai kiểm soát được tấn công vào các trung tâm tiếp cư của người Pháp”, nếu được báo qua vô tuyến điện , thì Hays sẽ cùng đi với người của anh ta bằng xe jeep trắng, và sẽ đến giải quyết ngay tại chỗ một cách êm thấm, càng kín đáo càng tốt. Và như thế là ông Hays tổ chức luân phiên số người trong nhóm của anh đã lựa chọn. Và họ ở trong tư thế chờ đợi….. Tất cả những người Pháp ở Việt Nam , những người ngoại quốc ở Sài Gòn cũng như ở các nơi khác đều chờ đợi…

    Người Việt Nam cũng vậy, họ còn nôn nóng hơn. Trong sân hay ngoài vườn của những ngôi biệt thự cho người Mỹ thuê, hành lý được chất thành đống, ngổn ngang đây đó va ly và cập xách tay của người Mỹ cũng như va ly bằng giấy bồi, bao hành lý bằng ni lông ràng buộc chặt chẽ kỹ lưỡng của nhân viên người Việt Nam .

    Các cơ quan của sứ quán Hoa Kỳ lên danh sách những người tỵ nạn, khả năng tùy theo tiêu chuẩn khó khăn thì cắt bỏ bớt. Thông thường, về vấn đề dự liệu và chọn lựa thì người Mỹ hay lắm. Sứ quán không có soạn một danh sách chính, một kế hoạch di tản chính. Làm sao ấn định được tiêu chuẩn về ưu tiên ?

    Đầu tiên chắc chắn là phải cho những người Việt Nam nào có nguy cơ bị giết hay phải bị bắt đi vào các trại tập trung tẩy não nếu cộng sản tới. Hầu hết tất cả những người đã làm việc cho các cơ quan của Hoa Kỳ và gia đình của họ. Một trăm ngàn, hay hai, ba trăm ngàn người cần phải di tản. Ở Sài Gòn và Hoa Thạnh Đốn người ta đưa ra con số là 1 triệu người .

    Sau đó mới đến những người Việt Nam nào muốn làm việc lại ở Hoa Kỳ như kỹ sư, bác sĩ, kế toán… những người nói được tiếng Anh kha khá,

    Cuối cùng các lãnh sự quán mới nói tới những người Việt Nam nào muốn rời khỏi Việt Nam .

    Ở Việt Nam hình như đối với việc gì người ta cũng nghĩ là vẫn còn thì giờ. Nhưng bây giờ thì Lịch Sữ đang đi tới nhanh quá, hết sức nhanh !. Những người Việt Nam nào mong muốn được di tản đang bị bối rối. Họ quýnh lên nhưng lại nghĩ rằng tất cả không thể sụp đổ được dễ dàng. Suốt trong 30 năm chiến tranh, đất nước cũng đã có trải qua nhiều trận chiến và sau đó thì sóng vẫn lặng gió vẫn êm. Lần nầy chắc rồi đâu cũng lại vào đấy thôi, đất nước vẫn tồn tại…..

    Người Mỹ cũng vậy, họ tự hỏi rồi ngập ngừng. Đối với họ chắc chắn là họ phải đi rồi, nếu cần. Đối vời một số lớn công chức của sứ quán hay những quân nhân có nhiều thời làm việc ở Việt Nam thì thời gian ở Việt Nam là thời gian quan trọng nhất cho nghề nghiệp của họ. Họ cũng không thể tưởng tượng có một sự sụp đổ nhanh chóng như vậy.

    Họ đã như được gắn bó vớ đất nước nầy, một gắn bó sâu đậm với Việt Nam qua mùi vị của món ăn hay không khí của một vài con đường, một vài cảnh đẹp ở nông thôn, hay các cánh rừng thơ mộng ở Cao nguyên. Đất nuớc nầy có một cái gì nó vướng víu thật. Đối với những người Mỹ dù là mặc thường phục hay quân phục, đã có tuổi hay còn trẻ, trầm ngâm hay vui tính, với một anh Frank Snepp có lương tâm mà không kiên nhẫn, hay với một anh Homer Smith nổi bật hay chán đời, với những người Mỹ đã có bạn bè người Việt Nam hay đôi khi có vợ hay nhân tình người Việt … thì đất nước Việt Nam nầy tuy xa lạ nhưng rất quen thuộc và thủ đô Sài Gòn nầy dù hấp dẫn hay đáng ghét cũng đều trở thành ranh giới của tuổi trẻ hay chân trời của lứa tuổi về chiều.. Những quân nhân Mỹ bị động viên , qua đây phục vụ một năm sau đó thì họ có thể quên nước Việt Nam. Nhưng những người sĩ quan hiện dịch thì không, những nhân viên ngoại giao cũng không. Khi họ được trở về Hoa Kỳ thì Huế, Đà Nẳng hay Sài Gòn , những nơi nầy lúc nào cũng được gợi lên trong trí của họ.

    Lịch Sử qua rất nhanh. Địch quân không còn mang tên cũ nữa. Trước đây không đầy 2 năm, người ta gọi họ là Việt Cộng, là VC (đọc là Vi Ci), (1) dù cho đó là những người đến từ Miền Bắc. Mặc dầu biết họ là quá tàn ác, nhưng với sự khát máu đó của họ, báo chí ngoại quốc quá dè dặt hay thận trọng giữ im lặng không dám nói tới như đối với một vài “án mạng” của binh sĩ Miền Nam hay của người Mỹ. Quân nhân và các nhà ngoại giao tức điên lên. vì người ta không nương tay làm ồn lên khi viết về sự kiện làng Mỹ Lai bị đốt. Báo chí ngoại quốc moi móc hết, trừ những gi đã xảy ra ở các vùng của Việt Cộng.

    Các nhà báo đi theo các cuộc hành quân thường gặp quân nhân Mỹ hay của Miền Nam tử trận và thấy rõ ràng thân thể của những quân nhân nầy đã bị Việt Cộng dày xé, cắt, thiến,… tàn tệ..nhưng phóng viên chỉ biết nhìn và chỉ biết nêu lên những chuyện hãi hùng trong cuộc chiến về phía người Miền Nam hay của người Mỹ mà thôi. Thức sớm hay ngủ muộn, các phóng viên cứ mô tả những cuộc dội bom hay những chuyến khai quang tận đâu đâu. Có ai mà tường thuật những chuyện cộng sản bắt đem đi hành quyết các chủ tịch xã, hay trưởng ấp đã xảy ra ngay trước mặt mình ? Từ năm 1957 đến 1973, đã có hơn 36 ngàn vụ ám sát và hơn 58 ngàn vụ bắt người mang đi hành quyết .

    Những chuyện đó coi như trong dĩ vãng. Tại Sài Gòn bây giờ, người ta không còn nói Việt Cộng nữa, mà nói đến 10 hay 15 sư đoàn quân chánh quy của Miền Bắc ở ngay tại chiến trường Miền Nam Việt Nam và không còn ai tính tới MTGPMN và CPLTCHMN nữa… Hay đó là 20 sư đoàn chánh quy Bắc Việt ? Thật là một sự thân mật quá ám muội với Việt Cộng. Có một số không ít Việt Cộng đã về chiêu hồi với Chánh Phủ VNCH. Con số lên đến hai trăm ngàn, có thể người ta cũng phải lo di tản họ nữa.

    Bộ đội Bắc Việt cứ tiến tới, ngay như khi họ bắt tù binh cũng không ai biết , vì có ai nắm bắt họ được đâu, chuyện đó coi như quá trừu tượng, và họ có quyền của kẻ chiến thắng. Trong nhiều năm nay, người Mỹ ở Sài Gòn, Pleiku, Huế, Đà Nẳng, Cần Thơ, Mỹ Tho hay Tây Ninh, ở ngay tỉnh lỵ hay quận lỵ, đều có sống qua những đợt tấn công và phản công. Nguời ta mất đi rồi chiếm lại rồi lại mất đi một ấp, một đồn điền, một ngọn đồi, một thung lũng hay một vùng rừng núi vô bổ nào đó… thì chỉ là để ghi nhận những biến cố thôi. người ta chơi trò hú tim với một kẻ địch quá quắt. Không ai thật sự thắng họ. Cuộc chiến rồi cũng được ổn định trở lại hay chỉ còn những dấu vết, thường rất khó hiểu được đối với người Mỹ. Và cuộc tấn công hồi Tết Mậu Thân là như vậy đó: làm thế nào mà một sự thảm bại về mặt quân sự của cộng sản lại có thể biến thành một chiến thắng phi thường về mặt chánh trị trên bình diện quốc tế ? Những người Mỹ chứng kiến điều nầy vẫn còn thắc mắc mãi…

    Thời kỳ qua vẫn còn đó, đầy đủ: Có cả tỉnh, thành phố mà người ta tưởng là không thể tái chiếm lại được đã được chiếm lại. Nhưng Đà Nẵng , Huế đang nằm trong tay Bắc Việt , người Mỹ và cả người Việt Nam ở Sài Gòn đều biết là lần nầy hai thành phố nầy không thể tái chiếm lại được . Chuyện không tuởng tượng được nó đã tới, người ta đã đến một điểm tận cùng không thể trở lui lại được nữa rồi !

    Người ta không thể đo lường được mức độ sợ hãi của người dân Việt Nam . Người ta không thể thiết lập được một bản thống kê về lòng mong muốn được đi khỏi đất nước, muốn chạy khỏi thì đúng hơn, của người dân Việt Nam . Thế nhưng một điềm chỉ viên đánh giá được sự lo sợ đó bằng hối xuất chợ đen của đồng Mỹ kim ở Sài Gòn , một sự đánh giá không ai bác bỏ được. Ngày 29 tháng 3, một tấm giấy bạc 100 mỹ kim được đổi với giá là 5000 đồng, bốn ngày trước người ta còn kỳ kèo 4000 đồng. Nỗi lo sợ cũng được ghi nhận ở giá vàng đang tăng vọt lên. Ai cũng đoán được ý định của những chuyện mua bán nầy: người nào tìm mua mỹ kim là người đó có ý chuẩn bị bỏ nước ra đi. người nào tìm mua vàng là người đó cẩn thận tính toán chuyện bị kẹt phải ở lại.

    Thứ hai lễ Phục Sinh ở Đà Lạt, những giáo sư cuối cùng của Viện Đại Học còn ở lại cũng đang sửa soạn để rời khỏi thành phố. Đêm hôm qua, trận chiến đã xảy ra ở cách đây khoảng 60 cây số, gần đồn điền trồng trà . Người ta thuật lại là có một linh mục người Pháp đã bị gãy chân vì một mảnh đạn pháo binh. Một bác sĩ Bắc Việt đã mổ cho ông ta mà không có gây mê, vì Bắc Việt không có đủ phương tiện như ở Miền Nam .

    Muốn đi đến Sài Gòn thì phải đi qua ngã Phan Rang vì đường Đà Lạt Sài Gòn đã bị cắt đứt rồi. Linh mục Jean Mais dùng chiếc xe Citroen 2 ngựa của ông để chở các giáo sư và một đứa trẻ mồ côi 18 tuổi, người Việt Nam mà ông đang bảo trợ. Linh mục chạy về hướng đèo Ngoạn Mục. Qua khỏi nhà máy điện lực ông bắt gặp đoàn người di tản, trên những chiếc xe Peugeot 203 cũ kỹ với hàng chục người trên xe, những chiếc mô tô Honda chở cả gia đình với nồi niêu xon chảo và mền chiếu của họ. Bên vệ đường có vài binh sĩ đang gạ bán một tấm da cọp vừa mới chết vì đạp phải mìn. Tấm da cọp thì quý thật vì khó mà gập được nhưng không ai muốn dừng xe lại hết. Sau khi cho các giáo sư xuống Phan Rang, linh mục đi dọc theo bờ biển, ngược đường với làn sóng người tỵ nạn, để đến Nha Trang xem tin tức về những linh mục khác.

    Tại Nha Trang, các linh mục đang do dự. Có một số chiều nay sẽ đi Sài Gòn còn những người khác thì nghĩ rằng họ không nên bỏ con chiên trong giáo khu của họ. Linh mục Bianchetti cắm trại ngay trong thành phố với một số đồng bào Thượng đến từ một làng trong vùng Ban mê Thuột .

    Trên đường thấy có vài ngàn người chạy loạn. Nếu chiến trận không bắt buộc họ phải chạy thì một số nông dân sẽ ở lại. Đã từ mấy đời rồi, họ vẫn ở đây, gần mồ mả của tổ tiên họ. Đối với hằng triệu người còn trẻ, họ không tưởng tượng được là họ phải rời bỏ làng mạc của họ, rời bỏ lũy tre xanh của họ… nhưng họ phải bỏ chạy mà thôi… vì cộng sản đến.

    Về đêm, khi trở lại Phan Rang, linh mục Mais và người con nuôi của ông ta ghé lại giáo đường Krong Pha. Có những luồng gió thổi trong thung lũng tối đen. Vào khoảng nửa đêm linh mục ngủ không được nên ra khỏi giáo đường để hóng mát. Thình lình ông thấy hàng trăm ánh đèn xe từ trên đèo Ngoạn Mục. Một đoàn xe đang đi tới : binh sĩ trú phòng của Đà Lạt, các sinh viên sĩ quan, sĩ quan , lực lượng Bảo An và gia đình của họ. Một chiếc xe Jeep ngừng lại. Đại tá Chỉ huy trưởng trường Chiến Tranh Chánh trị bước xuống, bắt tay linh mục và nói:

    – ” Chúng tôi được lệnh phải rời bỏ Đà Lạt.”

    Một sĩ quan khác tiếp lời :

    – ” Chúng tôi cố gắng về điểm tập trung ở Phan Rang.”

    Cũng giống như luận điệu của đài phát thanh và báo chí, ai cũng nói tới chuyện “điểm tập trung”, hay chyện “thu hẹp tuyến phòng thủ ‘, toàn là sáo ngữ không sao che dấu nổi một thảm bại hình như không thể đảo ngược được .

    Linh mục đi vào ngủ. Sáng hôm sau, một ủy ban an ninh cộng sản đã được thành lập trong làng . Có cả người cựu chỉ huy lực lượng phòng vệ ở đó. Các công nhân của nhà máy điện lực đã mang băng tay đỏ trên cánh tay. Linh mục lại lên đường. Ngay ở đèo Ngoạn Mục, nhân viên của một ủy ban khác xét giấy tờ của linh mục. Một cuộc dằng dai…Nhờ một phụ tá của Viện Khoa học đi tới, ông nầy biết linh mục nên linh mục mới được phép tiếp tục lên đường.

    Ở Đà Lạt, các hàng quán đã đóng cửa hết, chung quanh bờ hồ vắng tanh. Trong chợ, trái cây, rau cải, thịt cá .. đang bắt đầu thối… đặc biệt bấp cải đã nặng mùi. Thư viện của Hội Thánh đã có cướp vào dọn sạch các kệ sách, đập nát tủ lạnh, phá toang tủ sắt dĩ nhiên không còn gì từ trước rồi… Linh mục thu nhặt vài cuốn sách rơi rớt. Trong thành phố, linh mục gặp người phụ tá dạy Pháp ngữ của ông. Với một số bạn trẻ ông Ngữ đang rửa chợ. Ông ta nói :

    – ” Chúng tôi đang đợi họ. Tất cả đều tốt, nhưng thành phố phải sạch sẽ …

    Ở viện đại học linh mục gặp ông trưởng khoa văn chương, ông Nguyễn khắc Dưỡng, giáo sư triết học. Anh của ông nầy là Nguyễn khắc Viện, là Giám đốc chương trình phát thanh ngoại ngữ ở Hà Nội, là một nhân vật mà tất cả người Pháp ghé qua thủ đô Bắc Việt đều gặp ông ta. Trong hai anh em một người thì theo Mác Xít và chọn Miền Bắc , một người theo Ki Tô giáo ở Miền Nam .

    Ông giáo sư triết nói với linh mục:

    – ” Miền Nam Việt Nam quá tham nhũng, giờ thì họ phải sống với sự trừng phạt !”

    Theo ông giáo sư nầy, cộng sản sẽ mang theo ngọn lửa tẩy uế. Mặc dầu ông biết là cộng sản Bắc Việt tàn ác, họ đã hành quyết cha ông vào năm 1956 , nhưng ông không muốn đi với những người mà ông cho là hèn nhát.

    Linh mục cũng không đi. Là người của Hội Thánh, linh mục hy vọng sẽ làm việc lại nếu người ta cho viện đại học mở cửa lại. Ông nghĩ là Đà Lạt coi như đã xong rồi !

    Tuy nhiên chuyện Miền Nam Việt Nam ngăn chận người Miền Bắc không thể không xảy ra được .

    Trong lúc đó tại Sài Gòn, nhà văn Duyên Anh hỏi đi hỏi lại là mình có nên đi hay không ? người Mỹ loan báo là sẽ có một cuộc “tắm máu” nếu cộng sản Miền Bắc chiếm được Miền Nam. Đích thân Tổng Thống Ford hình như đã đòi hỏi người ta phải dự trù di tản các nhà báo và các nhà văn. Không có vấn đề loan tin hay viết lách gì nữa, lại càng không có vấn đề tiếp tục viết tiểu thuyết bây giờ nữa. Ra ngoại quốc nhà văn có thể viết được chăng ? và có độc giả hay không ? Ông ta nghĩ là một nghệ nhân cần có quần chúng. Và quần chúng của quốc gia ông. Ông Duyên Anh đã viết quá nhiều bài chống cộng. Nếu cộng sản tới ông ta có thể bị hành quyết. Ông đang nghĩ về lòng can đảm của một anh Paternak hay một anh Soljenitsyne. Hai ông nầy sợ không trở về nhà được nên đã từ chối không đi Thụy Điển để nhận giải thưởng Nobel của họ. Nhà văn Duyên Anh đã có ghi tên vào danh sách di tản của Sở Thông Tin Hoa Kỳ ở đường Lê quý Đôn. Dĩ nhiên ông cũng có ghi tên của người vợ và 3 đứa con của ông.

    Sự việc một số tỉnh và thành phố đã rơi vào tay của Bắc Việt đã không làm cho kỹ sư Văn nao núng. Mặc kệ lãnh thổ có bị mất đi cũng không sao. Điều quan trọng là con số tử vong của cả hai bên !. Kỹ sư Văn luôn luôn nghĩ rằng người ta không thể không tiến tới được một giải pháp chánh trị. Ông nói rõ quan điểm của ông ở ngay Bộ Công Chánh, mọi người đều tán thành. Có phải vì họ nể nang chức tước của ông hay không ? Ở các sở khác, có một số công chức đã không còn im lặng được nữa, Họ lớn tiếng phàn nàn rằng người ta không nên và thể nói chuyện vời cộng sản được đâu.

    Với sự trợ giúp của 9 vị Thượng Tọa và lối 20 Tăng Ni của chùa Quan thế Âm, Hòa Thượng Thích Thiện Hoa đang coi sóc một số khoảng 60 người dân tỵ nạn, thuộc các gia đình Phật tử phần lớn ở một tỉnh gần Ban mê Thuột . Những người nầy chiếm hết các phòng công cộng trong chùa. Các bà thì bận bịu luôn với công việc ở nhà bếp, trẻ con thì đang khóc la rên rỉ. Các máy thâu thanh lúc nào cũng ồn ào làm cho chùa không còn được yên tĩnh . Các tăng ni thì gặp khó khăn với các phòng vệ sinh cá nhân đang bị tắt nghẽn. Nhờ quỹ cúng dường của tín đồ, các Thầy mới nuôi được số dân tỵ nạn nầy. Lúc nào họ cũng than thở không biết ruộng vườn nhà cửa và thân nhân thất lạc của họ đã ra sao rồi. Đây là những người dân chất phác , họ không cần biết tới diễn biến của tình hình chánh trị mà chỉ nghĩ tới việc trở về làng mạc của họ mà thôi.

    Một ông sư trẻ đang theo dõi thời sự. Hai người anh của ông là sĩ quan trong QLVNCH, họ có thể sẽ bị trả thù khi bộ đội Bắc Việt chiếm được phần đất nầy chăng ? Bọn cộng sản là những người vô thần, nghe nói là họ sẽ buộc những sư sải phải thi hành nghĩa vụ quân sự . Ở Miền Bắc người ta nói cộng sản bắt những người mới vào tu phải đi nhập ngũ nên phần đông sư sải ở ngoài đó đều là những người lớn tuổi. Chuyện đó không ngăn cản được những người lãnh đạo cộng sản như Thủ Tướng Phạm văn Đồng đã từng tuyên bố với những khách ngoại quốc rằng : ” Chúng tôi là Phật Tử theo nghĩa của chúng tôi “. Trong vùng chiếm đóng của CPLTMN cũng vậy, các sư sãi đều là những người già.

    Các Thầy vừa lo giúp đỡ những người dân tỵ nạn, vừa lo nghĩ đến số phận của chính mình, kín đáo trong lớp áo tràng và trong những lời cầu nguyện . Rất bình tĩnh họ nhìn diển tiến của tình hình. “Sự Nam tiến của người Miền Bắc có lẽ là một nghiệp báo mà chúng ta phải trả cho hành động của ta thuở trước chăng ?” nhà sư trẻ nghỉ thầm như vậy.

    Bố mẹ ông khuyên ông nên ra đi. Một trong những người anh rể của ông là một trung tá Không quân đã có xác nhận với ông là các sĩ quan cao cấp có quyền mang theo gia đình của mình. Nhưng ông sư trẻ nầy từ chối. Ông nghĩ là ông không thể tránh được cái nghiệp báo của ông, ông phải chấp nhận những đau khổ sấp tới. Và sau đó là ông không còn lo lắng gì nữa. Bố mẹ ông cũng ở lại, không đi. Họ chờ người con trai của họ trở về, anh nầy là một thiếu úy phòng nhì thuộc sư đoàn bộ binh đang chiến đấu phòng thủ thành phố Xuân Lộc ở phía Tây của Sài Gòn .

    Các tàu chở xăng dầu không đi theo Sông Sài Gòn để đến Tân Cảng gần xa lộ Biên Hòa được nữa, làm cho xăng trở nên khan hiếm . Ở các trạm xăng, người ta phải xếp hàng dài….

    Có hàng ngàn tin đồn khắp nơi trong thủ đô như:

    – Chắc chắn là địch quân sẽ tiến hành một sự phân chia đất nước ra nữa: đã có 2 nước Việt Nam rồi chắc sẽ có một Việt Nam thứ ba nữa đây ! Cộng sản Bắc Việt sẽ giữ nguyên vẹn phân lãnh thổ của họ từ biên giới Trung Quốc đến vĩ tuyến 17. Những người kháng chiến ơ Miền Nam đã từng tập kết ra Miền Bắc sẽ nắm giữ phần đất nằm giữa vĩ tuyến 17 và vĩ tuyến 13, đó là một nước Việt Nam thứ hai. Còn nước Việt Nam thứ ba, từ vĩ tuyến 13 đến mủi Ca Mau thì sẽ có một Chánh Phủ với 2 thành phần, một là quốc gia và một là cộng sản.

    – Người ta còn phao tin chắc chắn là người Mỹ , nhất là nhân viên của CIA, đã khyên các tướng tá và công chức cao cấp nên đi. Hình như người Mỹ đã bắt buộc hàng quân nhân có chức vụ cao phải lên trực thăng. Chính những quân nhân nầy muốn ở lại lo phòng thủ Kontum, Plei Ku, Huế, Đà Nẵng.

    – Chánh Phủ Hoa Kỳ có nhiều dự án khác. Người ta có thể ở lại Sài Gòn, và người ta bị ám ảnh về ý nghĩ nầy. Các nhà trồng tỉa người Pháp tiên liệu là quyền lợi của họ sẽ được cứu vãn. Người ta mong muốn, người ta sẽ được , phải ở lại Sài Gòn.

    Tổng Thống Thiệu giải thích trên đài truyền hình : “người Mỹ không muốn bán vũ khí cho chúng ta nữa, chúng ta phải tiết kiệm từng viên đạn.” Đôi lúc ông tâm tình thật sự qua những câu : Trên chiến trường làm sao chúng ta có thể ôm bọn cộng sản để mà cắn họ được ?”

    Người ta đua nhau gợi lên tất cả những giải pháp khả thi, bất khả thi, và có thể xảy ra:… Nếu ông Thiệu từ chức… Ai sẽ thay thế ông đây ? ông Phó Tổng Thống? ông Thủ Tướng hay ông Bảo Đại ? Vị cựu hoàng đế nầy ở bên cạnh người Pháp, có thể người Pháp sẽ can thiệp với cộng sản Bắc Việt ….

    Đây là những ghi nhận của ông Patrick Hays :

    ” 1.- Tình hình: Khó mà biết chính xác được việc gì sẽ xảy ra, bởi vì lần nầy mọi việc đều đi quá nhanh, và những người có trách nhiệm đối thoại lại không thấy xuất hiện. Mặt khác, trong bầu không khi hỗn loạn nầy có quá nhiều tin đồn khắp nơi không thuận lợi cho việc nghiên cứu tình hình một cách bình tĩnh được . Dù sao tôi cũng mong rằng chúng ta đang nằm ở một nấc thang được giả dụ là những kế hoạch lạc quan nhất của Bộ Tham Mưu Bắc Việt trong giai đoạn tấn công của họ đã đạt được rồi hay đã vượt đi quá xa rồi, và quân nhu của họ bắt buộc phải chạy theo. Như vậy có thể chúng ta sẽ có được thời gian để tìm được biện pháp an toàn cho nhân viên và tài sản của chúng ta . ….

    2.- Việc gì sẽ đến bây giờ đây ? Tương quan lực lượng mới đã quá rõ rệt để không còn nghi ngờ gì nữa về một kết thúc chung cuộc quân sự. Ngay như những người nào có quyết tâm ở lại chiến đấu cho Sài Gòn , chắc phải cần một De Lattre hay phải có một thánh nữ Geneviève…..

    Ông Hays nghĩ tới một sự ra đi của Tổng Thống Thiệu, nhưng ông không tin vì biết rõ bản chất của ông Thiệu. Một giả thuyết lạc quan :

    – ” Bắc Việt không tim cách chiếm Sài Gòn trước cuộc bầu cử Tổng Thống vào tháng 9.. ông Thiệu sẽ không còn đại diện nữa. Sau đó, chánh quyền “phải thi hành Hiệp Định Paris” , v.v….

    3.- Thái độ phải có : Tôi thấy ngã về ý kiến là quân cộng sản Bắc Việt sẽ vào Sài Gòn . (cơ may có được một phép lạ ngay ở Miền Nam tối đa chỉ vào khoản 5 %) Câu hỏi được đặt ra là làm sao biết được lúc nào và nhất là bằng cách nào ? Tôi mong rằng chúng ta còn có đủ thời gian vì lý do tiếp vận và cũng có thể là vì lý do chánh trị của phía Bắc Việt …..

    “Ở nhà máy, người ta vẫn làm việc bình thường. Nhưng tôi tiên liệu (trên giấy trắng mực đen lúc nầy) các toán lo về an ninh với những nhân viên có trách nhiệm trong trường hợp mà công việc bắt buộc phải bị đình chỉ….

    “Sài Gòn vẫn yên tĩnh”….

    —>Xem tiếp…

  23. Chương 13

    Ba Sọc Đỏ

    Để đón phái đoàn của tướng Weyand đến Sài Gòn , Tổng Thống Thiệu đã cho thực hiện và treo một số biểu ngữ mới. Bằng tiếng Anh, nội dung có ý nghĩa : “Dân tộc Việt Nam sẵn sàng chiến đấu đến cùng nếu được giúp đỡ”

    Tướng Weyand đến phi trường lúc 3 giờ ngày 27 tháng 3, với Đại sứ Graham Martin, ông Eric von Marbod Phó Tổng Trưởng Quốc Phòng, hai kiện tướng của cơ quan Tình Báo Trung Ương CIA Ted Shackley và George Carver, một lô Phụ tá, và nhiếp ảnh viên của Tổng Thống Ford. Người ta có cảm tưởng đây là một đoàn vũ nhỏ nào đó : Vì địa vị của mình ở đây, ông Martin đã xin được là người đầu tiên bước xuống phi cơ. Ông cảm thấy các bản phúc trình về tình hình ở Đà Nẳng được phóng đại nhiều quá:

    – ” Tôi phải đích thân đi xem lại chuyện nầy mới được .

    – ” Không thành vấn đề đâu, ” ông Lehmann trả lời

    Tướng Weyand đi gặp tướng Cao văn Viên, Tổng Tham mưu Trưởng của Việt Nam, người mà ông đã thường gặp từ lâu rồi. Tướng Frederick Weyand đã từng đảm nhiệm nhiều chức vụ chỉ huy ở Việt Nam . Ông đã có sư đoàn 25 bộ binh dưới quyền ông, Sau đó ông là tướng Tổng chỉ huy, thay thế tướng Creighton Abrams. Ông nói được tiếng Việt Nam , ông biết sức mạnh cũng như yếu điểm trong hệ thống quân sự của QLVNCH. Ông không thể tin được rằng Hoa Kỳ phải thất trận qua thất bại của Việt Nam Cộng Hòa. Ông Thiệu và các tướng lãnh của ông không tin tưởng những chánh trị gia loại Kissinger, cũng không tin lắm với những quân nhân như tướng Weyand hay tướng Haig. Trong tất cả các quốc gia dù dưới chế độ nào, hầu hết các tướng lãnh đều không tin tưởng những chánh trị gia dân sự.

    Những người như tướng Weyand thường giải quyết các vấn đề quan trọng như vũ khí đạn dược, đâu có lo gì về các tù chánh trị hay những chuyện “bá láp” khác.

    Tướng Viên trình bày các khó khăn của ông ta:

    – “Hoa Kỳ nên gởi các pháo đài bay B – 52 qua Việt Nam để triệt tiêu các điểm tập trung của quân đội Bắc Việt “.

    Tướng Weyand trả lời ngay là: “mọi hành động tái can thiệp quân sự đều phải có sự chấp thuận của Quốc Hội , và những đòi hỏi loại nầy có rất ít cơ may được họ thỏa mãn.”

    Các phiên họp tổng quát hay có giới hạn giữa Hoa Kỳ và Việt Nam được tiếp tục. Ông Weyand rất mong được gặp riêng ông Thiệu, nhưng ông Martin thì muốn có sự hiện diện của mình trong hầu hết các buổi tiếp xúc như vậy.

    Buổi tiếp kiến quan trọng nhất được ông Thiệu chủ tọa trong một gian phòng lớn có các bản đồ treo trên tường. Ông Thiệu ngồi giữa, bên phải là ông Martin, bên trái là Phó Tổng Thống Hương, hàng ghế bên phải của ông Martin là tướng Weyand, ông Von Marbod và ông Carver, hàng ghế bên trái đối diện là tướng Viên Tổng Tham Mưu Trưởng, Thủ Tướng Khiêm, và ông Nguyễn tiến Hưng Tổng trưởng Kế Hoạch và các vấn đề kinh tế . Trước đó báo chí đã nói nhiều rằng : Dân chúng phải hiểu rằng Tổng Thống Ford rất quan tâm đến số phận của Miền Nam Việt Nam .

    Người ta bàn về những vấn đề dân sự và quân sự . Hoa Kỳ nhấn mạnh là phải giải quyết bài toán dân tỵ nạn, và nhất là gia đình của binh sĩ. Không nên để cho các gia đình nầy ở trong các vùng đang có giao tranh. Tướng Viên phản đối ngay; không nên đặt vấn đề tách rời binh sĩ và gia đình họ, nếu không sẽ có nguy cơ giảm sút tinh thần chiến đấu. Ông nói:

    – ” Trong cuộc tấn công của cộng sản hồi Tết Mậu Thân (1968), trong các đồn bót hẻo lánh, người ta thấy đàn bà và trẻ con đã giúp các binh sĩ chồng cha của họ như tiếp đạn, hay tản thương, và có khi còn xử dụng các khẩu đại liên nữa.”

    Nhiều người Mỹ nghĩ rằng họ đang nằm mơ, vì chuyện không thể tưởng tượng được . Ông Carver, nhân viên CIA, tự hỏi : người ta đang nói chuyện gì vậy ? Phải chăng họ đang bàn chuyện sấp ghế xích đu trên bon tàu Titanic trong lúc tàu đang chìm?”

    Phái đoàn Hoa Kỳ muốn Chánh Phủ phải giải thích tình hình cho dân chúng biết. Cần tránh cho người dân khỏi bị những tin đồn thất thiệt của cộng sản đầu độc . Các cấp lãnh đạo ở Miền Nam Việt Nam nên xử dụng truyền hinh thường hơn. Người Mỹ rất tin tưởng hệ thống truyền hình.

    Họ cũng đòi hỏi phải có một chiến thắng nào đó, dù là khiêm nhường. Như thế sẽ giúp đạt được vài trăm triệu mỹ kim. Có thế nào giáng một đòn nặng vào sư đoàn 5 Bắc Việt trong vùng Mỏ Vịt ở phía Tây Sài Gòn ? sư đoàn 5 nầy dù sao cũng chưa phải là một sư đoàn ưu tú đâu.

    Dĩ nhiên, Chánh Phủ cũng muốn có được một chiến thắng nào đó lắm chứ ! Không phải chỉ để gây cảm giác cho giới Lập Pháp và dư luận dân chúng Hoa Kỳ, mà là để chận đứng bọn cộng sản xâm lăng Bắc Việt , Nhưng khổ nỗi Bộ Tổng Tham Mưu không còn quân trừ bị, nếu muốn có thì phải lấy lực lượng phòng thủ của Sài Gòn. Người ta lại nói đến pháo đài bay B.52. Người Mỹ hiện diện ở đây không tin rằng trong giai đoạn nầy các B.52 sẽ giúp được gì . Hơn nữa không nên bàn vấn đề nầy ở đây. Tổng Tham Mưu Trưởng QLVNCH cho biết là các phi cơ C.130 A chở 24 trái bom loại 750 cân anh, đã trút hết xuống quân địch từ cao độ 15 đến 24 ngàn bộ. Anh em binh sĩ ở Miền Nam gọi các phi cơ vận tải đó là các “B52 loại nhỏ”. Bom thả như vậy cũng tàn phá được một diện tích khoản 400 thước vuông.

    Ông Von Marbod nói là binh sĩ Miền Nam không được tiếp tế đạn dược. Được ông Martin đốc thúc, ông ta mới nói rõ là đạn dược bổ túc chỉ sẽ được gởi đến nhanh chóng nếu Quốc Hội chấp thuận dự án của Tổng Thống Ford:

    – “Chúng tôi có nhiều dự trữ quan trọng ở Okinawa và ở Nam Hàn.

    Ông Von Marbod cũng có mặt ở Việt Nam với nhiệm vụ di tản chiến cụ.

    Người Việt Nam đang tìm kiếm vũ khí loại “Phép Mầu” ! Có thể nào giao cho họ loại bom 15 ngàn cân anh hay không đây ? Người Mỹ dùng loại bom nầy để dọn bải đáp cho trực thăng. nhưng Hiệp Định Paris cấm đem loại vũ khí mới vào Việt Nam . Mặc kệ ! Tướng Weyand hứa là sẽ cho gởi đến 27 trái bom loại nầy và cả chuyên viên cần thiết cho việc xử dụng.

    Ông Carver đang tự so sánh sự giống nhau giữa QLVNCH năm 1975 với Quân đội hoàng gia Anh năm 1940 .

    – ” Đúng là một trận Dunkerque, ông nói, làm cho Đại sứ Martin phải nhăn mặt:

    – “Đứng trước Tổng Thống ta nên tránh không nên nêu lên những bài toán nóng bỏng, một sự cần thiết để tìm được sự thỏa thuận về trách nhiệm quan trọng cho Bộ Tổng Tham Mưu Việt Nam. Cơ quan nầy phải có nhiều quyền hạn hơn và không nên để bị Tổng Thống chen vào mãi như thế.”

    Trong cuộc tiếp xúc nầy, hầu hết nhân viên của phái đoàn Weyand đều có cảm tưởng là Tổng Thống Thiệu chưa ý thức được mức độ nghiêm trọng của tình hình .

    Trong một buỗi họp khác, Tổng Thống mạnh niệng giải thích rất chi tiết là sau cuộc bầu cử tháng 10 1975 tới, khi ông được tái đắc cử – ông tin chắc như vậy- thì ông sẽ cho phép các đảng phái chánh trị khác được thành lập và hoạt động. Lần nầy thì ông sẽ cho phát triển thật sự đường lối dân chủ.

    Ông Thomas Polgar xin phép được đề nghị là : ‘tất cả những chuyện đó rất rất tốt và rất hứa hẹn nhưng trước hết là chúng ta nên nghĩ tới những bài toán quân sự trong hiện tại.”

    Và ông trình bày trở lại tình hình, nhấn mạnh đến những cuộc tiến quân của Bắc Việt , những điểm yếu của guồng máy chánh quyền , sự sụp đổ của Đà Nẳng. Thình lình, trước mặt trưởng cơ quan tình báo CIA/Sài Gòn và ông Sed Shackley, đại diện của cơ quan tình báo CIA / Hoa thạnh Đốn, Tổng Thống Thiệu bật lên khóc .

    Rất nhiều nhân viên thuộc phái đoàn Weyand tiến hành các cuộc điều tra trong Nam, trong vùng đồng bằng sông Cữu Long. Tại Nha Trang, họ gặp được tướng Phú phờ phạc!

    Có nhiều phiên họp Mỹ Việt rất căng thẳng và gay gắt. Người Mỹ thì cho rằng phía Việt Nam thiếu thực tế. Phía Việt Nam thì cho rằng người Mỹ không hiểu những khó khăn của họ.. Phái đoàn Weyand đã làm việc ở Việt Nam đến ngày 4 tháng 4/1975.

    Ông Nguyễn tiến Hưng trao cho ông Von Marbod phóng ảnh của các bức thư của ông Nixon gởi cho ông Thiệu, và nhấn mạnh là Tổng Thống Ford nên đọc.

    Tướng Weyand thảo một tờ trình dài 28 trang. Trong phần mở đầu, tướng Weyand viết :

    – “Tình hình quân sự hiện tại rất nguy kịch. và Miền Nam Việt Nam có khả năng tồn tại như là một quốc gia thu gọn vào những tỉnh vùng Đông Nam hay rõ hơn là sát bờ biển (ý nói vùng 4 ở miền Tây). Chánh Phủ VNCH thì gần như thất bại hoàn toàn. Tuy nhiên Miền Nam vẫn chuẩn bị tiếp tục chiến đấu tự vệ với những phương tiện mà họ đang có. Hoa Kỳ cần phải giúp đở họ. Không quân Mỹ sẽ giúp ích cho họ trên cả phương diện vật chất cũng như tâm lý và tinh thần, nhưng tôi ghi nhận có nhiều rắc rối về mặt pháp lý và chánh trị rất dễ xảy ra khi áp dụng đề nghị nầy”.

    ” Một vấn đề khác mà chúng ta phải quan tâm, đó là Hoa Kỳ phải sẵn sàng để di tản 6000 công dân Hoa Kỳ và hàng chục ngàn người dân Miền Nam, những người quốc gia mà chúng ta phải có bổn phận phải giúp đỡ họ. Bài học tại Đà Nẳng cho thấy là công tác di tản nầy đòi hỏi tối thiểu phải có một “lực lượng đặc nhiệm Mỹ”, một sư đoàn tăng cường, với sự yểm trợ của Không Quân Chiến Thuật để chống lại pháo binh và Phòng Không Bắc Việt .”

    Tướng Weyand cũng đề nghị phải dứt khoát cho Hà Nội biết rằng : đến “lúc thuận tiện nào đó” thì Hoa Kỳ dự định sẽ dùng sức mạnh, bất chấp mọi trở ngại, để di tản nhơn viên của mình. ” Tổng Thống Ford phải có được những quyền hạn cần thiết để “trừng phạt Bắc Việt bằng quân sự” nếu họ cản trở công tác di tản nầy. (1)

    Tướng Weyand kết thúc phần mở đầu trong tờ trình của mình bằng một tiếng chuông như thường lệ :

    -” Ở Việt Nam người ta đang xét lại lòng tin đối với người bạn đồng minh Hoa Kỳ” . Chắc chắn diều nầy sẽ làm cho Kissinger bằng lòng và thích thú !

    Cũng trong tờ trình nầy, tướng Weyand tổng kết tình hình trong 3 tháng qua tại Việt Nam :

    – ” Có rất nhiều đơn vị Miền Nam đã chiến đấu rất anh dũng, đáng ngợi khen. Còn sự rút quân khỏi Kon Tum và Pleiku ? Đó là một “ý định hành quân” đúng, và Tổng Thống Thiệu có thể đã có lý khi ông ước tính đó là điều cần thiết phải làm, nhưng phần thực hành đã rất tồi tệ.. “

    Đôi với dân chúng bị kẹt trong vùng chiến sự thì tướng Weyand cho đó là miếng mồi ngon của Bắc Việt .

    Theo tướng Weyand thì quân đội Bắc Việt với 152.000 bộ đội có mặt trong Miền Nam là những quân nhân hiện diện chiến đấu thật sự , tổ chức thành 74 trung đoàn bộ binh , 5 trung đoàn thiết giáp, 14 trung đoàn pháo binh, và 33 trung đoàn phòng không. Con số nầy không tính số quân nhân thuộc các đơn vị yểm trợ và tiếp vận. Phía Miền Nam Việt Nam chỉ có 59.000 quân, thuộc 19 trung đoàn bộ binh, 2 lữ đoàn thiết giáp, 5 chiến đoàn Biệt động quân, 4 lữ đoàn Dù và 2 lữ đoàn Thủy Quân Lục Chiến. Sài Gòn cũng có lực lượng Không quân, Hải Quân, lực lượng Địa phương Quân. Nhưng tướng Weyand ghi nhận là lực lượng Địa phương Quân không hữu hiệu bằng lực lượng của MTGPMN (hay của CPLTCMN) . Tóm lại, lực lượng cộng sản Miền Bắc nhiều hơn lực lượng Miền Nam Việt Nam với tỷ lệ ba trên một.

    Tướng Weyand gạch chữ thập tréo lên Vùng 2 và Vùng 1. Chỉ còn lại 2 vùng ở Miền Nam . Mặc dầu có nhiều áp lực lên vùng Tây Ninh và Xuân Lộc, Chánh Phủ Sài Gòn phải cố giữ Vùng 3 Chiến Thuật “như hiện trạng ngày 1 tháng 4, ít nhất cũng trong tương lai gần đây.”. Tại Vùng 4 Chiến thuật cũng vậy, nếu không có sự xuất hiện nào của bộ đội Bắc Việt .

    Với đẳng cấp của mình, tướng Weyand phải nghĩ đến cả tình hình quân sự lẫn chánh trị . Ông ước tính có 2 khả năng:

    1.- Bắc Việt sẽ có thể khai thác tối đa lợi thế chiến thuật trên chiến trường để có thể đi tới một “chiến thắng cuối cùng, hoàn toàn quân sự”

    2.- hoặc họ sẽ củng cố những thắng lợi chiến thuật của họ cộng với chiến thắng đạt được trong tỉnh Tây Ninh, để đòi hỏi một cuộc thương thuyết. ”

    Ở đây, tướng Weyand có ý nghĩ tới một người đàn bà trong trạng thái lưỡng ước :không biết mình đang có mang hay không ?

    Tướng Weyand mạnh dạn nói với Tổng Thống Ford những gì ông đã không dám đề nghị với Tổng Thống Thiệu:

    – ” Tình hình nầy đòi hỏi một người lãnh tụ có khả năng về hành chánh giỏi như Churchill và Chánh Phủ chiến tranh của ông ta đã giúp cho Anh Quốc sau trận rút quân ở Dunkerque và sau khi nước Pháp thất thủ”. Tới ngày hôm nay người lãnh tụ chưa thấy xuất hiện,. Hơn nữa không có một biển Manche để có thể tập trung quân về một chỗ trú an toàn. Các sĩ quan Miền Nam xác nhận là tinh thần của binh sĩ ở Vùng 4 rất tốt. Khi bị tấn công, họ chiến đấu “một phần bởi vì đây là phần đất cuối cùng không còn chỗ nào để họ có thể lui về nữa”. Ở chỗ riêng tư mà nói, các tư lệnh đơn vị xác nhận là nếu Vùng 3 Chiến Thuật mà thất thủ như Vùng 2 và Vùng 1 thì tinh thần binh sĩ sẽ bị suy sụp theo”

    Tướng Weyand cũng giải thích là : ngoài xã hội cũng như ở các cấp hành chánh, quân sự, người Miền Nam tin chắc là “họ đã bị đồng minh Hoa Kỳ bỏ rơi và phản bội họ nữa”. Đẳng cấp càng cao bao nhiêu lòng oán hận Hoa Kỳ càng mãnh liệt bấy nhiêu.

    Có một số quân nhân đã bắn lên trực thăng trên đó có nhiếp ảnh viên của Tổng Thống Ford. Tuy nhiên cho tới giờ nầy, ngoài một vài trường hợp ngoại lệ, người dân Miền Nam không có gì chống người Mỹ. Có tin đồn ở Sài Gòn là một số sĩ quan của Miền Nam đang toan tính sẽ bắn hạ các trực thăng hay phi cơ Mỹ nếu Hoa Kỳ di tản các viên chức của họ.

    Tướng Weyand có cảm nghĩ không thuận lợi lắm về Tổng Thống Thiệu và những cố vấn chính của ông ta mà ông gọi là “một Chánh Phủ thật sự của Tổng Thống “, (bao gồm Tổng Tham Mưu Trưởng, Thủ Tướng và cố vấn an ninh tướng Đặng văn Quang). Theo tướng Weyand thì hầu hết người dân Miền Nam đều cho đây là những người dơ bẩn, không có khả năng hoặc là thành phần xấu.”

    Không có một Churchill nào xuất hiện ở chân trời ! Ở Sài Gòn người ta nói nhiều về một cuộc đảo chánh . Nhưng theo tướng Weyand thì đó sẽ là một “thảm họa” ! Dầu sao thì tướng Weyand cũng dự kiến là trong những tuần lễ sắp tới, nhóm tướng lãnh thật sự kiểm soát được Quân đội , sẽ nói với Tổng Thống Thiệu là “ông nên ra đi”.

    Rõ ràng tướng Weyand rất lo ngại, khi ông nhận thấy rằng Bộ Tổng Tham Mưu Miền Nam thực sự không có một kế hoạch chiến lược nào. Tổng Thống Thiệu không thể tự mình điều hành cuộc chiến từ Dinh Độc Lập, và “không một người nào khác có quyền làm việc đó ” Vì thế mà tất cả hệ thống công chức của Miền Nam gần như ở trong tình trạng “khó chịu”.

    Trái lại, Miền Bắc hình như không có một bài toán nào quan trọng: Họ có thể chuyển vào Miền Nam những sư đoàn còn lại của mình còn nhanh hơn Chánh Phủ Miền Nam phối trí lại các sư đoàn mới thành lập của họ nữa..

    Tướng Weyand nghĩ là phải cần đến 722 triệu đô la viện trợ quân sự , dựa trên những mất mát trong những tuần lễ cuối cùng nầy. Ông lên danh sách những mất mát đó như sau:

    – Đạn dược (duy nhất trong kho ) 107 triệu đô la

    – Vũ khí cá nhân và cộng đồng ……………………. 24 .6 “

    – Pháo binh ……………………………………………….. 16.1

    – Xe kéo …………………………………………………… 85.0

    – Quân xa thường …………………………………….. 67.0

    – Dụng cụ truyền tin ………………………………….. 15.6

    – Xăng dầu ……………………………………………… 4.8

    – Dụng cụ y tế ……………………………………….. 7.9

    – Công Binh ………………………………………….. 1.8

    – Dự trữ tổng quát…………………………………………..67.4

    Tổng cộng …………..397.2 triệu

    Ngoài ra Không Quân Miền Nam Việt Nam đã bỏ lại 268 phi cơ, 66,8 triệu đô la cơ phận thay thế, và 48 triệu đô la đạn dược. Hải Quân VNCH đã bị mất 3 chiến hạm và một số trang thiết bị. Chưa tính đến gíá trị của một số đạn dược mà các đơn vị mang theo và bỏ lại, và những căn cứ Hải và Không quân.

    Tại tòa Đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn, có một số người, như Frank Snepp, nhắc đi nhắc lại là sự sụp đổ của Miền Nam Việt Nam trước hết không phải là vì vấn đề vũ khí đạn dược. Những con số của tướng Weyand đích thân đưa ra chỉ có tính chất xác nhận điều đó thôi .

    Dường như là để cho được đầy đủ, hơn là có một sự niềm tin vững chắc, tướng Weyand trình bày qua về kế hoạch của Miền Nam : là chỉ cần giữ vững một phần Đông Nam của Vùng 2 Chiến Thuật, 2/3 của Vùng 3 Chiến Thuật và cả Vùng 4 Chiến Thuật.

    Đây là một lập luận quá xưa của tướng Weyand: Vùng lãnh thổ nầy là phần đất có nhiều dân chúng nhất, là “thực thể chánh trị và kinh tế để có thể sống còn”. Nhưng lạ lùng ở chỗ là (tướng Weyand trình bày tiếp ) “sau khi tình hình quân sự được ổn định rồi, Chánh Phủ sẽ tái tổ chức và tái thành lập nhanh chóng cơ cấu quân đội lại ” Làm cách nào ổn định được chiến tuyến mà không có sự tái tổ chức lực lượng ? Tướng Weyand trình bày lập luận của Tổng Thống Thiệu:

    – “Nếu người Miền Nam tập trung lại được thì các phương tiện giao thông sẽ ngắn hơn và sẽ không có nhiều chỗ yếu hơn. Về phần địch, họ sẽ có quá nhiều lãnh thổ, họ sẽ phải yếu hơn vì lực lượng kháng chiến hay vì những mũi tấn công đột kích của lực lượng quân sự Miền Nam ”

    Sự tái tổ chức của các đơn vị của Miền Nam Việt Nam chỉ nằm trên lý thuyết. Bộ Tổng Tham Mưu nói là sẽ tái tổ chức lại 4 sư đoàn bộ binh, chuyển 12 chiến đoàn Biệt Động Quân thành 4 sư đoàn khác, và biến cải 27 chiến đoàn Địa phương Quân thành nhiều sư đoàn bộ binh . Không thấy có kết quả nào nào, người Mỹ đã giải thích là chỉ nên tăng cường thêm binh sĩ thiện chiến vào các đơn vị đang hình thành .

    Kết luận của tờ trình cho Tổng Thống Ford rất là dè dặt một cách khéo léo. Tướng Weyand không thể bảo đảm rằng ” một hay những biện pháp” mà ông đề nghị sẽ hữu hiệu để ngăn chận hay có thể làm chậm lại chiến thắng toàn bộ của Miền Bắc . Bản phúc trình nầy đưa ra một nguyên tắc mà bất cứ cấp nào trong quân đội Hoa Kỳ cũng đều biết rõ , để tự bảo vệ “cái đầu của mình” (sát nghĩa) : đừng có hành động phiêu lưu nguy hiểm, đừng có hứa hẹn gì nhiều , hảy nghĩ tới tương lai của chính mình.

    Trước khi rời Sài Gòn tướng Weyand có một cuộc họp báo ngắn. Ông làm các nhà báo ngạc nhiên khi ông tuyên bố :

    – ” QLVNCH vẫn còn mạnh, vẫn còn đủ tiềm lực cần thiết và lòng dũng cảm để chiến đấu với kẻ thù Miền Bắc “

    Cơ quan tình báo của quân đội Hoa Kỳ đã có một tờ trình dự kiến là VNCH sẽ sụp đổ trong vòng “không quá 30 ngày”.

    Tướng Weyand gặp lại Tổng Thống Ford ở California. Tổng Thống Ford thiếu hẳn tế nhị, trong thời điểm dầu sôi lửa bỏng nầy (nguyên tác :thời điểm nguy kịch và bi thảm nầy) mà ông còn đi chơi gôn (golf) ở Palm Springs được ! Những người đồng hương của ông còn nhìn thấy ông khều trái banh nhỏ vào lỗ, và một vài giây sau đó qua tin tức truyền hình, họ chứng kiến cảnh di tản của các thành phố Việt Nam ! Có một số hình ảnh được phổ biến rộng rãi cho thấy ông Ford với chiếc sơ mi ngắn tay đã chạy nhanh lên phi cơ ở phi trường Bakersfield dể tránh các nhà báo.

    Một nhà báo đã nói ngay với Ron Nessen, tùy viên báo chí của Tổng Thống rằng:

    -“Ông ấy chạy còn nhanh hơn quân đội Miền Nam Việt Nam !

    Bị các chuyên viên cao học về giao tế nhân sự bao vây, toàn là những bậc thầy trong ngành truyền thông, ông Ford có những vụng về chồng chất. Nhờ ông Bob Hartmann một cố vấn chuyên soạn diễn văn cho ông, Tổng Thống mới tránh khỏi một bữa ăn với diễn viên Frank Sinatra. Diễn viên có mùi “băng đảng” nầy rất nổi tiếng vì thường hay gặp ông Nixon .

    Ông Ron Nessen đã cho biết thẳng thừng là Tổng Thống Ford không hề có ý định trong việc cho tái oanh tạc để yểm trợ cho QLVNCH:

    – ” Luật pháp cấm ông ta làm như vậy.Vả lại ông cũng có khuynh hướng chống lại việc đó. Và ông không có một kế họch nào dự trù cho việc đó.

    Nessen nói tiếp:

    – ” Tổng Thống có nhiều cảm tình và lòng thương hại đối với dân chúng Việt Nam .

    Lòng thương hại không đúng chỗ ! Còn nhớ ông Phó Tổng Thống Rockerfeller lúc đi thăm viếng vùng Đông Nam Á Châu và dự đám táng của Tưởng giới Thạch trở về, đã công khai tuyên bố : – ” Tôi tin là thật sự đã quá muộn để chúng ta có thể làm được một việc gì đó…

    Lúc nào cũng vậy, ông Rockefeller là người không bao giờ có một nhiệm vụ gì trong vấn đề Việt Nam.

    Vậy là Hà Nội rất vui vẻ được thông báo và bảo đảm là các pháo đài bay B.52 không bao giờ trở lại Việt Nam nữa.

    Ông Kissinger đã có mặt trong buổi gặp gỡ của Tổng Thống với tướng Weyand tại Palm Springs ở California. Không có đối thủ của ông, Tổng Trưởng Quốc Phòng James Schlessinger.Buổi họp ở đây người ta xoay quanh ý kiến một ngân khoản viện trợ quân sự có thể cung cấp cho Miền Nam Việt Nam 744 khẩu pháo binh, 100.000 khẩu súng trường, 6000 súng liên thanh, 11.000 súng phóng lựu, 1300 đại bác ( ?) và 120.000 tấn đạn dược. Xuyên qua các cuộc thảo luận, bênh vực lập luận của ông trong tờ trình, tướng Weyand đã cố ý cho thấy là người ta còn có thể cứu vãn được tình hình bằng quân sự , và khi trở về đến Hoa thạnh Đốn, ông đã cho ông Bùi Diễm biết rõ sự đánh giá đó của ông.

    Ông Kissinger không có một ảo tưởng nào. Nhưng dù gặp tình hình khó khăn, thì phải hành động như mình đã nắm chắc vấn đề . Ở đây thì như mình đã có thể cứu được Miền Nam Việt Nam được vậy. Do đó ta phải xin Quốc Hội 722 triệu mỹ kim viện trợ. Thật tâm hay giả dối thì chiến thuật nầy cũng có lợi. Nếu Quốc Hội từ chối không chấp thuận viện trợ, và nếu mọi việc trở nên quá tồi tệ ở Đông Dương thì dư luận sẽ phê phán các ông nghị sĩ và dân biểu.

    Các cố vấn của Tổng Thống Ford như Robert Hartmann và Ron Nessen thì không đồng quan điểm với cách tính toán nầy. Họ không muốn cứu Miền Nam Việt Nam . Họ chỉ muốn cứu ông Ford ra khỏi vũng lầy Việt Nam . Nhưng ông Kissinger thắng. Tổng Thống Ford sẽ xin Quốc Hội 722 triệu mỹ kim viện trợ quân sự và 250 triệu viện trợ kinh tế và nhân đạo cho Việt Nam, đồng thời nhấn mạnh đến số phận đau thương của các dân tộc ở đó.

    Nhiếp ảnh gia David Kennerly mang về rất nhiều hình ảnh thu được ở Đông Dương. Anh trình lên cho Tổng Thống Ford để Tổng Thống cho treo ở các hành lang trong Nhà Trắng. Anh nói với Tổng Thống :

  24. – ” Campuchia chắc chắn sẽ không còn. Đừng nghe những gì các tướng lãnh trình bày với Tổng Thống . Họ chỉ kể chuyện tào lao nếu họ nói là Việt Nam chỉ còn tồn tại chừng ba bốn tuần lễ nữa mà thôi !.

    Sau buổi họp “tiểu thượng đỉnh” ở Palm Springs, ông Kissinger tuyên bố với báo chí :

    – ” Hoa Kỳ đang đứng trước một bài toán về đạo lý. Đó là phải thẩm định xem khi một quốc gia đồng minh đã sát cánh với mình trong 10 năm mà muốn tự vệ thì chúng ta có thể nào dám quyết định ngưng hết mọi cung cấp chiến cụ cho họ hay không ?

    Những giới chức Hoa Kỳ có trách nhiệm đều tin rằng VNCH không tái chiếm lại các tỉnh đã mất. Nhiều lắm là VNCH có thể giữ vững vòng đai phòng thủ Sài Gòn để buộc Hà Nội phải đàm phán. Trong hiện tại cần phải nghĩ đến việc di tản các công dân Mỹ và người Việt Nam .

    Về phần mình, ông Schlesinger thấy là phải trao cho hệ thống truyền hình phần giải đoán tối thiểu của những biến cố ở Miền Nam Việt Nam:

    – ” Cuộc “tổng tấn công” của Bắc Việt đã quá rõ ràng. Đó là một danh từ mà chúng ta cần phải để vào hai dấu ngoặc kép. Chúng ta đang chứng kiến cảnh sụp đổ từng mảng của Quân Lực VNCH.”

    Ông giải thích rằng, từ sau Ban mê Thuột, đã không có thêm những cuộc giao tranh quan trọng. Không phải là một chiến thắng quân sự của Bắc Việt mà đúng ra là một cuộc bại trận của Miền Nam Việt Nam .

    Đó là một sắc thái đặc biệt về ngữ nghĩa. Với đề nghị là Quân Lực VNCH không đáng được viện trợ, như dư luận khá phổ biến ở Hoa Kỳ , ông Schlesinger không trợ giúp được gì cho ông Tổng Thống ford và ông Kissinger.

    Vậy ai là người có trách nhiệm trong sự thảm bại của Quân Lực Miền Nam Việt Nam ? Câu hỏi nầy được nêu lên trong giới chánh trị . Ông Schlesinger tuyên bố là người ta không thể đưa ra câu trả lời ngay một cách đơn giản được. Hình như ông gián tiếp nhắm vào Tổng Thống Ford và ông Kissinger, đồng thời cất cao giọng xác nhận rằng Hoa Kỳ thật sự không có nhu cầu phải có một sự đối đầu quan trọng giữa Hành Pháp và Lập Pháp” trong lúc nầy.

    Một Chánh Phủ mà các thành viên quan trọng nhất gần như công khai đối chọi nhau thì làm sao chế ngự được một cơn khủng khoảng ? và dĩ nhiên không thể gây được niềm tin cho ai hết.

    Để làm tăng thêm các bài toán của Nhà Trắng, người ta bắt đầu rĩ tai là ông Nixon đã có những cam kết mật, và các tin phao đồn thì đi rất nhanh . Đó là những bức thư của ông Nixon đã gởi cho ông Thiệu. Cuộc bầu cử Tổng Thống Hoa Kỳ đã gần kề rồi, vào năm 1976 tới đây. Ngón đòn nào dường như cũng tốt hết. Ông Eric Von Marbod đã nói về các bức thơ đó cho ông Schlesinger là cấp trên của ông ta . Ông Tổng trưởng Quốc Phòng lại đem ra thảo luận với thượng nghị sĩ Henry Jackson, ông nầy lại nói công khai là : “đằng sau Hiệp Định Paris, còn có những “thỏa thuận mật “.

    Đọc được những bức thư đó, Tổng Thống Ford đâm ra rối trí…

    Sau khi Vùng 2 Chiến THuật bị thất thủ, về đóng ở Nha Trang, tường Phú lấy lại phần nào sức khỏe sau một phen nản chí. Ông cũng đang nghĩ là phải lập lại tuyến phòng thủ từ phía Bắc của Nha Trang. Nhưng với các đơn vị nào đây để thực hành ý định nầy ?

    Thành phố Nha Trang đang yên ổn.

    Một buổi sáng nọ, không báo gì trước cho tướng Phú, cũng không báo cho người Mỹ, ông tỉnh trưởng cho lệnh các phòng sở trực thuộc đóng cửa văn phòng. Tướng Phú đã đặt Tổng Hành Dinh của ông trong một dinh thự trong đó có một số phòng sở của Tỉnh. Trước đó ông không chú ý đến sự ra đi của các công chức dân chính của Tỉnh. Nhưng vào khoản giữa trưa, thình lình tướng Phú chạy qua các phòng làm việc của Quân Đoàn trên các tầng lầu, vừa chạy vừa la lớn:

    – ” Ta chạy đi thôi !

    Vẻ mặt lơ láo, ông bảo người phi công lái trực thăng riêng của ông :

    -” Ta đi thôi “

    Và cứ thế ông rời khỏi Nha Trang. Vào lúc 1 giờ trưa, tin nầy chạy khắp thành phố làm sửng sốt mọi người .

    Nha Trang không hề bị tấn công. Có một số người nào đó đã thề là họ đã thấy các đơn vị Bắc Việt đã ở ngay cửa ngỏ vào thành phố, một số người khác thì lại nói rằng Chánh Phủ Miền Nam Việt Nam đã chia thành phố Nha Trang cho cộng sản Bắc Việt từ lâu rồi. Thế là dân chúng gồng gánh hành lý ùn ùn chạy lên phi trường, hy vọng tìm được chỗ lên phi cơ, hay chạy ra bến tàu để tìm tàu thuyền…. Trong thành phố, binh sĩ tông cửa và cướp các kho hàng, súng cầm tay họ tấn công dân chúng đòi lương thực, đòi tiền bạc , đòi nữ trang… Binh sĩ của Nha Trang trà trộn với binh sĩ chạy từ Đà Nẳng hay từ Huế về. Tại bến tàu, có quá nhiều người đến độ họ phải đứng xuống nước để chờ đợi, có chỗ ngập đến nửa thân mình . Các bô lão, phụ nữ và trẻ con bị chết ngộp, và thi thể của họ còn đó, tại chỗ, đôi khi được nằm trong chiếc túi ny- lông.

    Lại một cảnh tượng của Đà Nẳng nữa !….

    Cảnh hỗn loạn lan dần.. Tổng Lãnh sự Hoa Kỳ ông Moncrieff Spear tâm sự với viên Lãnh sự phó người Pháp Henri Strahlheim là ông không còn biết nói gì hơn được nữa.. Người Pháp thì được di tản bằng một phi cơ do Tòa Đại sứ thuê bao. Ba vị Linh mục và một Dì Phước thuộc Hội Truyền Giáo Ngoại Quốc phải tình nguyện ở lại tại chỗ.. Họ không thể rời bỏ đám con chiên Việt Nam mà họ thấy họ còn có trách nhiệm . Trong Tòa Lãnh sự Hoa Kỳ còn có 200 công dân Mỹ và một số đông nhân viên người Việt Nam . Và trong số các sĩ quan hiện diện đang công tác ở Nha Trang còn có thêm một số dân đến từ Pleiku, Huế hay Đà Nẵng . Người ta chờ đợi các phi cơ của hảng Air America, của Bird Air và của World Airways hay của Continental….

    Trong sân của Lãnh sự quán Hoa Kỳ , hằng trăm nhân viên chen chúc nhau với gia đình của họ. Họ muuốn rời khỏi đây và cũng muốn lãnh lương nữa . Nhưng điều bất hạnh là phát ngân viên đã di tản trước rồi với cả ngân quỷ.. Binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đang ra sức ngăn cản, đôi khi làm bị thương những người Việt Nam khác muốn vào Lãnh sự quán để được bốc đi.. Phải cần đến một số trực thăng để làm con thoi giữa Lãnh sự quán và phi trường chỉ cách đó có 6 cây số ngàn !

    Anh Howard Archer, một nhân viên của cơ quan CIA phải chạy hết lầu 4 của Lãnh sự quán và với sự giúp sức của 4 người đồng đội để thiêu hủy tất cả máy móc truyền tin. Mặc dù đã cố gắng nhưng cơ quan CIA nầy cũng phải còn để lại vô số hồ sơ, tài liệu và một số nhân viên. Cuộc di tản đã được tổ chức quá dở đến độ chuyến bay C.46 cuối cùng còn trống quá nửa khi rời khỏi phi trường . Anh John Lewis, một nhân viên khác của cơ quan nầy đã rất kiên trì và can đảm đi tìm khắp Nha Trang những người cộng sự viên của anh ta.. Vì thế anh bị bỏ quên lại và bị Bắc Việt bắt làm tù binh.

    Ông trưởng cơ quan CIA của Nha Trang chỉ lo cho những người Mỹ mà thôi. Ông giải thích là đã nhiều tuần lễ nay, người Việt Nam đã bỏ chạy mà không bao giờ nhớ đến người Mỹ.

    Tòa Đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn phải nhận phần nào trách nhiệm về sự lộn xộn nầy. Vào lúc 17giờ rưỡi ngày mà tướng Phú rời khỏi Nha Trang, một phụ tá đặc biệt của Tòa Đại sứ là ông George Jacobson, không biết vì thiếu tin tức hay vì mất cả bình tĩnh, đã cho lệnh vị Lãnh sự như sau :

    – ” Ông hãy rời khỏi thành phố ngay đi, các người Mỹ khác cũng vậy “.

    Khi trực thăng cuối cùng rời khỏi lãnh sự quán, một ông già van nài đưa một em bé cho mấy người Mỹ đang ngồi trên trực thăng. Thì có một người dùng chân đạp vào mặt ông già, làm đứa bé rớt xuống đất…

    Cuộc di tản nầy rất là vô ích, vì quá sớm ! Sự thật không có một đơn vị Bắc Việt nào đến cửa ngỏ của thành phố Nha Trang. Vị tổng tư lệnh Bắc Việt lần nầy quá táo bạo, đã quyết định bỏ Nha Trang lại đằng sau lưng mình, cho lệnh sư đoàn 316 và 320 bọc vòng thành phố nầy để tiến thẳng vào hải cảng và Vịnh Cam Ranh, cách Nha Trang 35 cây số vế phía Nam.

    Căn cứ Cam Ranh còn ở cách Sài Gòn 260 cây số.

    Tại văn phòng của cơ quan CIA ở Sài Gòn người ta đang tiêu hủy giấy tờ hồ sơ mà họ quên rằng Cảnh Sát Việt Nam còn lưu giử một bản sao. Thomas Polgar đang bị bối rối. Vô tình ông đã cho gởi bà vợ ông về Bangkok. Và sau đó ông đã viết thư cho bà ta đại ý cho biết là tình hình cũng chưa có gì đáng lo ngại. Tin chắc như vậy bà ta trở lại Sài Gòn mà không báo trước cho ông chồng, và bà đã bắt gặp chồng mình đang ở với một phụ nữ Việt Nam trẻ tuổi. Khi ông Feydeau xen vào thì bà cảm thấy nhục quá nên quyết định xa chồng và ly dị. Hoảng hốt và quá bối rối, ông Polgar không còn đủ tinh thần và sáng suốt trong việc điều hành và kiểm soát cuộc hành quân di tản đang được tiến hành. Có nhiều cơ quan Hoa Kỳ đã bắt đầu di tản một cách không chánh thức. Và nhờ thế mà người vợ của vị sĩ quan trưởng Phòng Tình báo Miền Nam Việt Nam được gởi đi đến Hạ uy Di với cái tên là bà W. Legros, với sự chấp thuận của Đại Sứ Hoa Kỳ . Nhiều người Việt Nam bâu lại các bạn thân và người quen của họ ở Tòa Đại Sứ.

    Các chuyến bay quốc tế hoạt động thường xuyên, nhưng các chuyến bay nội địa của Hàng Không Việt Nam thì từ 40 giảm xuống còn có 4, hằng ngày. Lãnh thổ của VNCH đang teo dần…

    Có quá nhiều người xếp hàng dài trước ngân hàng Việt Nam Thương Tín , một ngân hàng tương đối lớn nhứt ở Miền Nam . Người ta muốn có ngoại tệ, muốn có vàng. Giá đồng mỹ kim đang lên. Giám đốc Ngân Hàng tuyên bố:

    – ” Chúng tôi còn đến 150 tỷ bạc tiền dự trữ, nên chúng tôi không khóa chương mục nào hết “

    Giá gạo, giá rau cải tăng gấp đôi. Chợ búa đang thiếu trà, cà phê, những thứ nầy thường đến từ Vùng Cao Nguyên.

    Tổng Thống Thiệu cho lệnh thiết lập vòng đai y tế chặt chẽ quanh Sài Gòn . Những người di tản bị chận lại ở các rào cản, và trong số đó có cả binh sĩ chạy lẻ tẻ về, không có vũ khí, Họ sẽ phải bị tước hết vũ khí nếu họ còn giữ súng trường hay súng lục. Thôi thì gián điệp tràn lan, người ta thấy bọn việt cộng khắp nơi. Chánh quyền quân sự ra thông cáo cho biết là bất cứ người nào từ chối lệnh bị bắt giữ lại sẽ bị bắn tại chỗ.

    Hoa Kiều của Chợ Lớn thì hấp tấp xin chiếu khán ở sứ quán Đài Loan. Người ta cũng kể lại là người Úc cũng có phân phát một số chiếu khán một cách rộng rãi. Lãnh sự Úc có nhờ Cảnh Sát dẹp bớt các nhóm quá đông đang tụ tập quanh văn phòng của lãnh sự.

    Các chuyến bay đến Âu Châu và Hoa Kỳ lúc nào cũng đầy ấp. Các chuyến bay đi Bangkok, Tân gia Ba, Hong Kong và Đài Bắc không còn một chỗ trống .

    Đại sứ Martin cho chỉ thị tìm cách thắng bớt sự hoảng hốt lại. Các hảng Mỹ có những biện pháp để giúp ông Martin. Họ cho các phụ nữ và trẻ con di tản từ cuối tháng 3 nhưng họ tuyên bố chánh thức là họ không nhúc nhích gì cả. Hảng “Training Co.” tuyên bố là “chúng tôi đang trong tình ttrạng chờ đợi”, hảng IBM thì nói: “Chúng tôi sẽ ở lại đây lâu chừng nào hay chừng nấy”. Hãng MobilOil vẫn tiếp tục công tác khoan dầu ngoài biển Đông,và các nhân viên của hai hãng Exxon và Caltex vẫn ở nguyên nhiệm sở của họ.

    Về báo chí thì những tin “Rao Vặt” đã cho thấy là còn nhiều người Việt Nam vẫn còn quan tâm thực sự đến tài sản của họ. Như trong tờ Saigon Post đã có rao:

    – ” Xin lưu ý tất cả các công ty dầu khí

    Khẩn: Bán 6 phòng lớn, có các phòng phụ thuộc (trên 1000 thước vuông, kể cả 2 phòng ở và làm việc, nhà xe, hồ tắm và sân thượng) Khu vực an ninh (quận 2) Giá : trên 100 triệu đống.

    Liên lạc: 315/21 Hai Bà Trưng. Điện thoại: 22806 “

    Về nhà cửa thì rao bán nhiều hơn rao mua. Tuy nhiên cho đến tháng 3 người ta vẫn còn tiếp tục xây cất như điên. Và ngay tại Tòa Đại sứ Hoa Kỳ người ta cũng vừa cho ngưng các buổi họp nhắm vào việc xây khách sạn Hyatt.

    Những “Rao Vật” vẫn xuất hiện bình thường như dạo nào. Cũng trong tờ SaiGon Post, dưới tấm ảnh của mình, với bộ râu quai hàm rậm rạp và chiếc khăn truyền thống Ấn độ trên đầu, Giáo sư G. Singh một chiêm tinh gia nổi tiếng của Á Châu, quảng cáo về sự bói toán chính xác và lạ lùng của ông về quá khứ, hiện tại , và tương lai bằng khoa đọc trên lá cây, bằng khoa Tử vi và xem sắc tướng…. .Ông xác định là ông đã ” thấy trước sự ra đi của Tổng Thống Hồi Quốc” (mà ông nói là ông Marcos!) Trong số thành tích của ông đưa ra trong quảng cáo, có một lá thư cám ơn của Tổng Thống Phi luật Tân. Liên lạc với Giáo Sư ở khách sạn Pasteur, phòng 401, điện thoại 91236 từ 10 giờ đến 18 giờ, và ông chỉ sẽ tiếp khách trong vòng 2 tuần lể…. v.v…

    Tại Sài Gòn không một ai không biết là Phnom Penh đang bị vây khổn, và Tổng Thống Cam Bốt là tướng Lon Nol cũng sắp ra đi “để trị bịnh ở ngoại quốc”.

    Thủ đô Miền Nam có quá nhiều tin đồn, mơ hồ, đối nghịch nhau, rồi thanh minh rồi cải chính, rồi lại tung ra…..Ngay như tướng Dương văn Minh tuyên bố là có một số sĩ quan Việt Nam đã nghi ngờ là Tổng Thống Thiệu và người Mỹ ở Hoa thạnh Đốn đã ký một Hiệp Định mật với cộng sản Việt Nam. Ông tướng được gán cho là thủ lãnh của lực lượng thứ 3 đã tuyên bố:

    – ” Vừa đòi hỏi Tổng Thống Thiệu phải ra đi, cộng sản Việt Nam cũng vừa muốn khuấy động người Mỹ, những người đang bị rơi vào bẫy của cộng sản.”

    Thật ra, sự có mặt của tướng Thiệu là điều rất thích nghi cho Bắc Việt trong chiến dịch của họ . Hoa Kỳ lại hiểu theo từng chữ mà cộng sản Bắc Việt đã nói, và họ vẫn giữ Tổng Thống Thiệu trong chánh quyền . Thật là quanh co rắc rối !

    Một vài sĩ quan đã tâm tình với tướng Dương văn Minh :

    – ” Một ngày đẹp trời nào đó chúng tôi sẽ thấy ông Thiệu trong bộ quân phục cộng sản .”

    Một điều hoàn toàn vô nghĩa !

    Rồi người ta lại đồn là sắp có một cuộc đảo chánh quân sự. Rồi mặc dầu rất ít khi tuyên bố về chánh trị , tướng Tổng Tham Mưu Trưởng lại hiểu thị là “Đã bắt đầu một cuộc chiến đấu để sống còn.Thời điểm lịch sử đã đến. Nếu chúng ta quyết tâm chiến đấu, thì chắc chắn chúng ta sẽ thắng.”

    Rồi người ta đón nghe tin tức từ Hoa thạnh Đốn. Một chỉ dấu cho thấy là ông Kissinger đã có lưu tâm trở lại về vấn đề Việt Nam . Ông bỏ chuyến du hành xuống Nam Mỹ. Lẽ ra ông phải đi Á căn Đình, Ba Tây, Pérou và Vénézuela.

    Trong một buổi phát thanh sáng trên hệ thống CBS, vị Đại Sứ VNCH tại Hoa thạnh Đốn đã tuyên bố :

    -” Hoa Kỳ không ở được đúng tầm vóc của Hiệp Định Paris. Thế giới đã có thể kết luận là tốt hơn nên chọn cộng sản làm đồng minh hơn là chọn Hoa Kỳ “

    Bình luận về điều nầy, Tổng trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ đã tỏ ra hiểu biết:

    – ” Chúng ta phải cần có lòng thương hại cho người Việt Nam “

    Đã bắt đầu có những rạn nứt trong guồng máy chánh quyền Miền Nam Việt Nam . Lần nầy thì trong cơ quan Lập Pháp. Thông thường rất dễ dãi hơn Hạ viện, Thượng viện vừa chấp thuận một quyết nghị chống Chánh Phủ , “cáo buộc Tổng Thống Thiệu lạm dụng quyền hành và tham nhũng” . Các nghị sĩ tuyên bố là Tổng Thống Thiệu cũng phải chịu trách nhiệm về những bất công xã hội . Đức Tổng Giám Mục địa phận Sài Gòn , Đức Cha Nguyễn văn Bình, cũng lên tiếng kêu gọi sự ra đi của Tổng Thống Thiệu. Lại có nhiều tin tức độc hại đến từ Âu Châu: Phó thủ tướng Trần văn Đôn vừa trở về từ Phi Châu là nơi ông đi thăm các nước để vận động dư luận ủng hộ cuộc chiến đấu tự vệ của VNCH, Khi ông ghé lại Paris ông được tin chắc chắn rằng: “Cả 3 siêu cường Hoa Kỳ, Liên Xô và Trung Quốc đều đã đồng thuận là hai nước Việt Nam nên thống nhất lại dưới sự kiểm soát của Hà Nội “. Xuất xứ của nguồn tin mật nầy ? Một người bạn của ông Jacques Chirac, Thủ tướng Pháp. Ông Chirac không bao giờ gập tướng Đôn.

    Tại Sài Gòn, mặc dầu không hề có tiếp xúc nào với cộng sản Trung Quốc, một vài nhân vật chánh trị ước mong rằng Bắc Kinh sẽ có một ành hưởng nào đó đối với Hà Nội . Tướng Đôn ghé lại Hong Kong trên đường về. Tại đây ông có gặp được Tổng Lãnh sự Hoa Kỳ . Hai người đã ước tình con số người Việt Nam cần được di tản. Phải đưa đi khoản một triệu người . Ông Tổng lãnh sự nầy chuyễn con số đề nghị của ông Đôn về Hoa Thạnh Đốn , ở đó rủi thay họ đã chánh thức đưa ra con số là 250.000 người . Sự lộn xộn nầy lẽ ra chỉ có trên Hỏa Tinh mới thấy được, thì Mạc tư Khoa, Bắc Kinh và Hà Nội đều nhận được hết……

    Hong Kong là thủ đô của các quan sát viên thượng thặng của Trung Hoa Cộng sản . Tại đó, rất nhiều viên chức của chánh quyền cộng sản núp bóng trong các ngân hàng và các công ty của Bắc Kinh. Họ nói năng rất tự do hơn nơi khác và những tin tức thuờng rất tốt. Ngày 4 tháng 4, tổng biên tập viên tờ Tạp Chí Kinh Tế Viễn Đông (Far Eastern Economic Review), một trong những tờ báo, hay ít ra là tờ tuần báo hay nhất của Á Châu , ông Leo Goodstadt đã dùng cơm trưa với Tỗng Lãnh sự Hoa Kỳ . Ông Goodstadt có nhiều tiếp xúc với những người cộng sản ở Hong Kong, những người nầy phản ảnh rõ quan điểm của Bắc Kinh. Cộng sản Trung Quốc rất quan ngại về sự toàn vẹn lãnh thổ của hai nước Cam Bốt và Lào. Họ không thích cái lối mà những người của Hà Nội lúc nào cũng muốn tự nhận là phát ngôn viên của toàn cõi Đông Dương. Thủ Tướng Bắc Việt không bao giờ chịu trả lời về đòi hỏi của Bắc Kinh là muốn bảo đảm sự độc lập của tất cả các quốc gia ở Đông Dương. Trung Quốc nhận rất nhiều đòi hỏi của Hà Nội về nhu cầu lương thực và áo quần cho những vùng do quân đội của họ “giải phóng” .Bắc Kinh không làm sao nhận được từ phía Hà Nội là phải có một hội nghị ở đó sẽ thảo luận tất cả những bài toán về Á Châu, trong đó có quy chế của các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà Trung Quốc và VNCH đang tranh chấp về vấn đề nầy.

    Quần đảo Trường Sa được Trung Quốc ghép vào bản đồ của họ. Còn về quần đảo Hoàng Sa thì khoảng cách từ quần đảo nầy đến bờ biển của Trung Quốc và bờ biển Việt Nam tương đối bằng nhau. Trên các đảo nầy có vô số phân chim, nhưng chung quanh đó chắc chắn có mỏ dầu khí. Ngày 12/4 đã không còn nghe thấy nói gì về toán binh sĩ QLVNCH đồn trú trên đảo san hô

    Song Tử Tây thuộc quần đảo Trường Sa nữa, Tàu chiến của Bắc Việt đã cho đổ bộ bộ đội Bắc Việt lên đảo nầy và họ dựng cờ của CPLTCHMN trên đảo. Trưóc đó mấy tháng, đã có những cuộc giao tranh giữa binh sĩ VNCH và cộng sản Trung Quốc. Bộ đội cộng sản Trung Quốc sau khi đánh chìm một số tàu chiến của VNCH, đã lên chiếm đóng một số đảo nhỏ ở đó. Tình hình lại trở nên rắc rối vì Phi luật Tâm và Đài Loan cũng có gởi binh sĩ đến đồn trú tượng trưng trên một số đảo khác của quần đảo nầy. Đây là cuộc tranh chấp chủ quyền giữa Trung Quốc và các quốc gia Á Châu không cộng sản .

    Điểm chánh là : cộng sản Việt Nam và cộng sản Tàu đang tranh chấp ở đây. Ông Thiệu không bao giờ khai thác các mối bất hòa nầy mà ở Hà Nội và Bắc Kinh người ta gọi là các mâu thuẩn. Vào lúc mà những căng thẳng giữa Hà Nội và Bắc Kinh trở nên quyết liệt, thì tại Sài Gòn người ta đồn là cộng sản Tàu đã sẳn sàng giao Miền Nam Việt Nam cho Bắc Việt .

    Ngày 4 tháng Tư Tổng Thống Thiệu tiếp Thủ tướng Khiêm và Bác sĩ Nguyễn lưu Viên, Phó ThủTướng không giữ bộ nào, trưởng phái đoàn VNCH ở hội nghị La Celle-Saint-Cloud. Tướng Khiêm tuyên bố là một cuộc cải tổ nội các chưa đủ để đối phó với những bài toán nội bộ, Bác sĩ Nguyễn lưu Viên nói:

    – ” Thưa Tổng Thống , nếu bây giờ ông ra đi thì có thể có nội loạn. Nếu ông ở lại và vẫn tiếp tục đường lối chánh trị như cũ thì Chánh Phủ sẽ bị cô lập….Nếu Tổng Thống cho phép thì chúng tôi xin đề nghị với Tổng Thống 3 biện pháp.

    – Để chận đứng hẳn dư luận xôn xao, Tổng Thống hãy tuyên bố là ông không ra ứng cử Tổng Thống nhiệm kỳ thứ ba tới nữa.

    – Để lấy lại lòng tin trong quân đội , Tổng Thống nên triệu tâp một hội đồng tướng lãnh. Và giao cho hội đồng nầy toàn quyền hành động. Họ phải điều hành các cuộc hành quân.

    – Sau cùng, để cho Chánh Phủ được hữu hiệu hơn, Tổng Thống hảy giao cho họ thêm quyền hành.

    Tổng Thống Thiệu bình tĩnh trả lời:

    – “Trở lại theo thứ tự. người ta muốm tôi phải ra đi ?- Tôi được dân chúng bầu lên, tôi chỉ ra đi khi nào dân chúng bảo tôi phải ra đi . Chớ không phải một nghị quyết của Thượng Viện hay của một nhóm nào đó bắt tôi phải ra đi. Các Anh sẽ hỏi tôi : làm thế nào để cho dân chúng trình bày ý kiến của họ ? – sẽ tổ chức một cuộcTrưng cầu dân ý.

    – Bác sĩ Viên nói nhỏ nhẹ:

    – Trong thời buổi nầy khó mà tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý lắm.

    – Như vậy là lúc nào tổ chúc được thì ta sẽ tổ chức vậy, Tổng Thống Thiệu nói.

    Các anh bảo tôi hãy tuyên bố là tôi sẽ không ra tranh cử Tổng Thống một nhiệm kỳ nữa. Bên Âu Châu hay ở Hoa Kỳ thì được . ông Johnson đã ngồi ở ghế Tổng Thống của ông cho đến hết nhiệm kỳ. Ở Việt Nam, nếu hôm nay tôi tuyên bố là tôi không ra tranh cử nữa, thì các anh sẽ biết chuyện gì sẽ xảy ra không ? Ngay ngày mai là không còn ai làm việc nữa, không còn ai tuân lệnh tôi nữa. Tôi không còn bảo tướng Bình (Chỉ huy trưởng cảnh sát) là phải giải tán đám biểu tình nào được nữa. Sẽ có một sự vô trật tự khắp nơi. Còn tệ hơn là tôi đi nữa đó.

    Một hội đồng tướng lãnh hả? Tại sao ? Tướng Kỳ đã có nói rồi, các anh lại đề nghị như vậy nữa. Tất cả các anh muốn gì đây ? Về vấn đề quân sự thì chúng ta đã có Bộ Tổng Tham Mưu Liên Quân là đủ rồi. Thêm một hội đồng tướng lãnh nữa chỉ làm phức tạp thêm tất cả. Chuyện nầy làm tôi nhớ lại hội đồng tướng lãnh hồi năm 1964 và 65, với những cuộc đảo chánh liên hồi. Đừng nói chuyện đó với tôi nữa. Cứ để cho ông Tổng Tham Mưu trưởng làm việc. Cho tới giờ nầy ông ấy làm việc tốt lắm rồi.

    Tổng Thống Thiệu ít khi khen vị Tổng Tham mưu trưởng của ông lắm. Còn Chánh Phủ dân sự thì sao ? Tổng Thống nói:

    – Chánh Phủ đã có đầy đủ quyền hành. Chánh Phủ không biết xử dụng đó thôi, không có những biện pháp xét thấy cần thiết phải có.

    Thủ tướng không nói lớn tiếng trước Tổng Thống nhưng lần nầy ông buông ra một câu :

    – ” Thưa Tổng Thống , chúng ta đã mất 14 tỉnh rồi. Ở các nơi khác thì không một Chánh Phủ nào được tồn tại với một biến cố lớn như thế. Không có một hình phạt nào đối với Chánh Phủ cũng như đối với Bộ Tham Mưu. Tôi muốn đứng ra gánh hết tội …”

    Tổng Thống Thiệu nói không do dự:

    – ” Anh muốn từ chức ? Tôi chấp thuận… Tôi sẽ tuyên bố chuyện đó chiều nay trong bài diễn văn truyền hình . Tôi sẽ nói gì đây ? …. Tôi sẽ không giải thích là Anh không thể thành lập một Chánh Phủ mới được …”

    Tướng Khiêm cười, Tổng Thống Thiệu nói lại:

    – ” Xét kỹ lại tại sao ta phải nói lý do ? Tôi sẽ thông báo tên của người kế vị Anh, nếu không thì người ta đâm ra suy luận. Ở đất nước nầy cái gì họ cũng suy luận được hết. Bây giờ chúng ta hảy xem coi là ai sẽ thay thế Anh được đây …

    Tổng Thống Thiệu lấy ra một bản danh sách các nhân sĩ, dĩ nhiên do tướng Khiêm đã lựa chọn.

    – Trước hết có Bác sĩ Trần văn Đỗ. Ông ta chắc chắn sẽ nhận ngay. Tướng Kỳ sẽ bằng lòng lắm đây, bởi vì anh ta muốn thay vào chỗ của tôi lắm.. Và khi ông Đỗ trở thành Thử Tướng thì ông ta sẽ giúp đở ứng cử viên Kỳ trong cuộc bầu cử sấp tới. Họ liên kết với nhau lắm. Không, không có ông Đỗ.

    Tổng Thống Thiệu biết rõ là tướng Kỳ và Linh mục Thanh thường họp ở Câu lạc bộ sĩ quan Không Quân trong vòng 10 ngày nay. Họ đòi hỏi một Chánh Phủ quốc gia cứu quốc.. Rất khéo léo, ông ta không đứng tên vào ủy ban được thành lập trong dịp nầy, mà chỉ lo việc liên lạc với các chánh trị gia mà thôi.

    – Còn Giáo sư Huy thì sao ? Tổng Thống lên tiếng hỏi. Ông ta là một lý thuyết gia giỏi nhưng không có kinh nghiệm. Ông chưa từng giữ một Bộ nào thì không thể là một Thủ Tướng khá được

    Ông Lắm (Chủ Tịch Thượng Viện) được không ? Ông nầy làm việc được lắm đó, nhưng trong chuyến du hành sang Hoa Kỳ vừa rồi, người Mỹ đã có nói nhỏ với ông ta điều gì đó. Khi về đến nhà, ông đã làm cách nào đó mà Thượng Viện đã chấp thuận một nghị quyết bất tín nhiệm tôi. Có thể chức vụ Thủ Tướng sẽ dọn đường cho ông ta ra tranh cử Tổng Thống kỳ nầy. Tôi không có dại gì đâu.. Còn lại ông Cẩn, Được lắm, Ông nầy thanh liêm, lại có kinh nghiệm, đã điều hành Hạ Viện trong 2 năm, một nhiệm vụ không dễ dàng đâu. Và ông đã được huấn luyện nhiều về hành chánh trong nhiệm vụ tỉnh trưởng. Để tôi đi giọi ông ta.”

    Tổng Thống Thiệu bước qua phòng bên cạnh và lúc trở lại ông tươi cuời nói :

    – Ông Cẩn rất kinh ngạc, thật sự ! Ông sẽ tới ngay.

    Một lát sau, sĩ quan tùy viên bước vào thông báo :

    -” Có Chủ Tịch Hạ Viện tới”

    Ngay chiều hôm đó, Tổng Thống Thiệu thông báo bổ nhiệm tân Thủ Tướng ông Nguyễn bá Cẩn, một nhân vật không ai ngờ tới, một nhân vật vô danh.

    Cũng trong tuyên bố được trực tiếp truyền thanh truyền hình nầy, Tổng Thống Thiệu “hứa sẽ “tái chiếm lại các tỉnh đã mất về tay Bắc Việt ” . Không bao giờ ông chấp nhận một Chánh Phủ Liên Hiệp với cộng sản . Chỉ có một giải pháp duy nhất để có được hòa bình: đó là tổng tuyển cử theo đúng Hiệp Định Paris 1973. Các thất bại quân sự trong những tuần lễ vừa qua là do tinh thần chủ bại trong quân đội, có sự không trung thành của binh sĩ người thượng, do âm mưu phá hoại của bọn nằm vùng cộng sản và do các buỗi phát thanh của đài BBC và VOA. Và nhất là do Hoa Kỳ vì họ không thi hành những cam kết của họ”

    Đúng hai giờ 15 phút sau phiên họp giữa Tổng Thống Thiệu và Thủ Tướng Khiêm, một biến cố nghiêm trọng đã làm cho việc cải tổ nội các phải bị lùi lại ở hành thứ yếu.

    Một trong những bức thư chánh thức cuối cùng mà tướng Khiêm nhận được trong cương vị Thủ Tướng là một bức thư của Bác sĩ Phan quang Đán, một trong những vị Phụ Tá của Thủ Tướng đặc trách về Y tế. Nội dung bức thư như sau :

    Đề tài: Cuộc di tản của 1400 trẻ mồ côi sang Hoa Kỳ

    Kính thưa Thủ Tướng,

    Ở Sài Gòn hiện có 1400 trẻ mồ côi, được các tổ chức từ thiện quốc tế bảo trợ. Các trẻ nầy đang đợi để được đưa sang ngoại quốc, nơi đó sẽ có các cha mẹ nuôi sẵn sàng nhận nuôi chúng. Tổng trưởng Y tế và Ủy Ban Quốc Tế Cứu Người muốn giải quyết ngay vấn đề nầy để còn lo cho một số vấn đề khác quan trọng hơn. Hơn thế nữa, vấn đề di tản các trẻ mồ côi sẽ gây ra một xúc động lớn trên thế giới, nhất là ở Hoa Kỳ và là một hành động từ thiện rất tốt cho Việt Nam Cộng Hòa .

    Hiện giờ hai chiếc phi cơ Boeing 727 của hàng không World Airways đang sẵn sàng. Ông Daly, chủ tịch của công ty hàng không nầy là một người có tiếng tăm trong giới chánh trị . Ông có lưu ý chúng ta là cuộc di tản của trẻ mồ côi nầy và hàng triệu dân chúng đã bỏ chạy khỏi những vùng bị cộng sản đánh chiếm sẽ là một sự tuyên truyền (cổ xúy) rất thuận lợi cho Việt Nam , nhất là khi được các đài truyền hình và báo chí Hoa Kỳ khai thác về chiều sâu.

    Do vậy, tôi trân trọng xin Thủ Tướng chấp nhận đề nghị nầy”

    Trên phương diện pháp lý, không một vị thành niên, một trẻ em hay một hài nhi Việt Nam nào được quyền rời khỏi đất nước mà không có chiếu khán xuất ngoại. Do đó cần phải có một quyết định tập thể và đặc biệt cho nhóm trẻ mồ côi . Nản lòng vì sáng kiến của ông Daly đề nghị, Đại sứ Martin sấp xếp để đưa tới một chiếc phi cơ Galaxy, chiếc C-5 A của quân lực Hoa Kỳ, một loại phi cơ vận tải lớn nhất thế giới. Chiếc Galaxy nầy khi đến Tân sơn Nhứt sẽ đổ xuống một số vũ khí và đạn duợc.

    Tại phi trường Tân sơn Nhứt, trên những chiếc xe buýt quá nóng, 243 trẻ mồ côi trong đó có một số bị tật nguyền,đang ngồi chờ quyết định chánh thức cho phép chúng ra đi. Các chức trách đều nghĩ rằng bức thư của Bác sĩ Phan quang Đán gởi cho Thủ tướng có giá trị như là một chiếu khán tập thể. Báo chí được gọi tới. người ta bốc vũ khí đạn dược xuống, và cho các em lên phi cơ : đẹp quá ! Một đề tài quá tốt cho báo chí: đúng là một cuộc hành quân di tản để bốc trẻ mồ côi ! Đại sứ Martin còn cẩn thận cho đi theo nhóm trẻ mồ côi nầy nhân viên y tế Hoa Kỳ và những bà vợ của các viên chức Tòa Đại sứ nữa. Để đưa các gia đình đi một cách kín đáo, người ta tìm mọi lý do như bệnh, đi phép v.v.. và như thế là có hơn 60 người nữa đã lên thêm trên chiếc Galaxy. Một trăm sáu chục em chiếm hết từng trên của phi cơ cứ từng hai đứa một nịch vào một ghế ngồi. Còn các em khác thì ngồi chen chúc nhau dưới khoang hành lý, trùm kín trong mền. Phi cơ chưa cất cánh nên nóng quá làm mấy đứa nhỏ khóc lên. Các người có phận sự đi theo trông chừng các em tháo vác lăng xăng dỗ dành. Các máy quây phim tha hồ mà làm việc, quay gần quay xa đủ các góc cạnh.Phi cơ cất cánh lên nặng nề. Mười phút sau người ta nghe một tiếng nổ lớn. Một nhân viên phi hành đoàn cho biết là các cánh cửa sau bị rớt ra khỏi phi cơ. Chiếc Galaxy mất cao độ bay thấp xuống, lượn một vòng trên mặt biển. Các ống thở dưỡng khí từ trên trần rơi xuống, nhưng làm sao đủ cho các đứa trẻ ? Hơn nữa làm sao các em bé hài nhi biết tự xử dụng được ? Phi trường gần nhất lúc đó là phi trường Vũng Tàu, nhưng phi cơ trở về Sài Gòn và rớt xuống một miếng ruộng.. Các bờ đê cứng như xi măng đã bóc đi gần nửa chiếc phi cơ. Một chiếc trực thăng đang bay trên vùng phi trường đã báo động sự việc cho căn cứ. Các trực thăng khác bay ngay lại nơi xảy ra tai nạn. Một số trẻ bị hất tung xuống bùn. Người ta tìm lại được trên sáu mươi, còn thì đều bị tử nạn hết.

    Tại Tân sơn Nhứt, ông Jim Eckes, giám đốc hàng không Continentai Air Services hỏi anh phi công phụ của chiếc Galaxy:

    – “Tại sao các anh không đáp xuống Cap Saint Jacques ở Vũng Tàu ?

    – Vũng gì ? người phi công đáp lại ….

    Nhiều bà y tá chuyền tay nhau các đứa trẻ đầy bùn sình, rửa sạch cho chúng nó:

    – Đứa nầy chết nè, đứa nầy sống.. Còn đứa nầy..?

    Đại sứ Martin điện thoại cho Eckes:

    – Jim, anh thử xem đã có bao nhiêu người trên chiếc Galaxy ?

    Ông Eckes đã chạy khắp các văn phòng dân sự và quân sự , tìm danh sách . Không có danh sách nào giống danh sách nào. Vì vào giờ chót người ta còn cho một số những người đi theo trẻ mồ côi mà tên tuổi thì không thấy ghi… Ông ta gọi ông Martin:

    – ” Tôi không thể cung cấp cho ông một danh sách nào được cả”

    Văn phòng của Eckes nằm ngay trong phi trường, gần Câu lạc bộ hàng không Pháp. Cũng như các chuyên viên khác, ông tự hỏi.

    “Tại sao phi hành đoàn của chiếc Galaxy không biết là có một phi trường ở Vũng Tàu ? Tại sao phi công trưởng lại chấp nhận chở các trẻ em nầy trong những điều kiện quá xấu như thế ? Tại sao người ta không cho một phi cơ Boeing của Hàng Không Pan Am đến Sài Gòn để đảm trách việc chuyên chở nầy ?. Trong khi một chiếc 707 đang sẳn sàng với trang bị hoàn toàn tốt đang chờ đợi ở Guam với phi hành đoàn và các tiếp viên tự nguyện ?

    Phải chăng “chiến dịch bốc trẻ” nầy có một đường hướng tượng trưng, nếu được thực hiện bằng các chuyến bay quân sự như chiếc Galaxy nầy ? Qua tin tức được chiếu trên các hệ thống truyền hình trên khắp Hoa Kỳ, người Mỹ được thấy một cảnh tượng đau lòng. Sau đó họ cũng thấy được Tổng Thống Ford đã có mặt ở phi trường San Francisco để tiếp đón những đứa trẻ mồ côi khác khi các chuyến bay đem chúng đến Hoa Kỳ . Thật hết sức là khó chịu khi ông Ford tiếp nhận đứa trẻ do chuyến bay đầu tiên thuộc “chiến dịch bốc trẻ” mang đến.

    Tại Sài Gòn một người Việt Nam đã nói với người Mỹ bằng một giọng chua chát, thất vọng hay trách
    – Các trẻ em đó hả, Thật là một kỷ niệm tốt, Cũng giống như các “con voi sành sứ” mà các anh thích vậy.Rất tiếc là có nhiều con bị gảy bể. Các anh đừng lo, còn các con khác nữa không sao!”

    Tướng Khiêm họp Hội đồng Nội các lần chót. Sau đó ông đến dinh Độc Lập để dùng cơm với Tổng Thống và một số đông quan khách được mời. Tổng Thống Thiệu có vẻ thoải mái, vui nữa là khác!

    Ông già Hương, Phó Tổng Thống nóng giận:

    – “Phải treo cổ những anh đại tá hay tướng lãnh nào đã bỏ nhiệm sở trong thời gian mấy tuần qua “

    Tổng Thống Thiệu trả lời một cách lạnh lùng,

    – Ngay như họ đào ngũ, chúng ta cũng không thể xử họ như vậy được . Mình còn phải điều tra, và đưa họ ra tòa án xử họ chớ “

    Bác sĩ Nguyễn lưu Viên đề nghị là mình phải công khai hóa dự tính của Chánh Phủ trừng phạt những người có trách nhiệm trong các cuộc lui quân liên tiếp đó. Có thể lập một tiểu ban có sự tham gia của các nghị sĩ và dân biểu của những tỉnh bị mất.

    Tổng Thống Thiệu có một phản ứng của một quân nhân không thích thấy những người dân sự chen vào công việc của quân đội , nên ông trả lới :

    – ” Đó là bài toán của Bộ Tổng Tham Mưu. Họ đang tiến hành một cuộc điều tra…

    Thật ra đã có nhiều cuộc điều tra đang được tiến hành, nhưng các cuộc điều tra nầy đều nhắm vào các sự mất mát hơn là tìm ra những người có trách nhiệm hay có tội trong sự sụp đổ nầy.

    Bửa cơm kết thúc. Một vài quan khách đi theo Tổng Thống . Ngoài hiên của tầng dưới ,trước một lá quốc kỳ Việt Nam màu vàng với ba sọc đỏ Tổng Thống Thiệu dừng lại, chỉ vào lá quốc kỳ:

    – ” Các ông thấy không ? Tất cả đều được viết lên đây. Tôi không biết người nào đó đã có ý để ba sọc đỏ vào lá quốc kỳ. Có lẽ ta sẽ phải có 3 nước Việt Nam .

    Khi nói điều nầy, tướng Thiệu chắc không nghĩ đến “Ba Kỳ” là Nam, Trung, Bắc ….

    —>Xem tiếp…

  25. Chương 14

    Màng chi một cây kim, một sợi chỉ ?

    – “Chưa có lệnh của tôi thì không có ai được di tản đi đâu hết !”

    Đó là lời ông Graham Martin nói với ông Jim Eckes.

    Mặc dầu đã có chỉ thị như thế của ông Đại sứ Martin, đã có hàng chục đường dây hoạt động tấp nập, do một số quân nhân hay dân chính Hoa Kỳ tổ chức. Một số người ước tính rằng, với lý do là tránh sự hoảng loạn, Đại sứ từ chối không gánh lấy trách nhiệm.

    Đứng cạnh các kho của công ty dịch vụ Continental Air Services, ông Eckes nhìn thấy một xe vận tải nhỏ màu đen đang muốn băng ngang qua khu đất của công ty. Nhìn là biết ngay đó là xe của cơ quan CIA. Ông Eckes chận xe nầy lại. Ngồi ở băng trước là một đại úy Không Quân Mỹ, mạnh dạn nói:

    – ” Tôi có giấy phép muốn đi đâu cũng được “.

    – ” Nhưng hình như ông đang đi vào nhà kho của tôi .” Ông Eckes nói.

    Hai người cãi nhau, ông Eckes lấy tên của đại úy nầy. Rồi ông theo dõi, thấy xe chạy đến một phi cơ C-130 đậu ở gần một phi đạo. Một số khoảng hai chục phụ nữ, ăn diện đúng cách , cho thấy không thể xuất thân từ Nhà Dòng , nhảy xuống xe và lên hết trên chiếc C-130 đó.

    Được báo cho biết sự việc, ông Martin trách vị tùy viên Không quân của ông. Ông nầy trước thì chối. nhưng người ta đưa ra bằng chứng. Và người tùy viên nầy được chánh thức cho rời khỏi Việt Nam, theo lời yêu cầu của ông đại sứ.

    Ông Alexandre Casella, một công dân Thụy S, vừa công chức của LHQ vừa nhà báo, là Cố vấn của Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ (UNHCR) ở thủ đô Bắc Việt .

    Hà Nội có vẻ yên tĩnh, gần như đìu hiu.

    Dù ở trong Nam hay ở ngoài Bắc, Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ vẫn lo giúp dân chúng sống rải rác trở về làng mạc của họ. Họ mua các máy cày của Liên Xô, vải sồ của Trung Quốc và trao hết cho người dân Việt Nam . Họ đã có sẵn một mục tiêu: sẵn sàng giúp đỡ tất cả những người dân tỵ nạn nếu Miền Nam sụp đổ. Ông Casella lo về phân bón, gà và những xe chuyên chở hai bánh loại nhỏ để có thể giúp các nông dân gầy lại sự nghiệp của họ.

    Tại Hà Nội, ông Casella thường lui tới với nhân viên của Bộ Ngoại Giao và Bộ Canh Nông, và đại diện của CPLTCHMN. Không ai dự đoán trước được gì cả, nhưng Casella để ý tới một biểu ngữ được dán trên tường ở khắp thủ đô: “nước Việt Nam là lương tâm của nhân loại”. Đây là câu nói của Sartre. Casella không bao giờ gặp được ông Trần đức Thảo ở Hà Nội , ông này là một thầy giáo, một nhà triết học, một hiện tượng của Mác Lê mà các du khách người Pháp muốn gặp lắm nhưng chánh quyền, nhất là Thủ Tuớng đều tìm cách từ chối khéo: “nhà hiền triết hôm nay ốm, hay ông ở quá xa, đường xá bị hư vì lụt ngập không thể đi đến nhà ông được, mà ông nầy lại không có xe đạp v.v.. các ông sẽ gặp ông ta vào một dịp khác, hay trong chuyến tới….”

    Tại khách sạn Thống Nhất, một phóng viên người Liên Xô của tờ Pravda nói với đại diện của Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ:

    -“Các người Việt Nam ở đây điên hết rồi. Họ đang khiêu khích người Hoa Kỳ đó. người Mỹ sẽ trách cứ chúng tôi , họ sẽ đổ lỗi cho chúng tôi là đã xúi dục người Việt Nam !”

    Không biết cái ông Liên Xô nầy muốn dở trò gì đây? thành thật hay đang phản thông tin một cách quá sơ đẳng đây ?

    Không khi chánh trị ở Sài Gòn đang sôi sục. Ông Thủ tướng vừa được chỉ định, không ai có ấn tượng tốt với ông hết. Ông đang bỏ ra 10 ngày để thành lập nội các. Trong 10 ngày đó Miền Nam Việt Nam chỉ có Tổng Thống chớ không có Thủ tướng. Trong khoảng trống chánh trị đó, các tay đối lập, những nhà chánh trị già dặn được các trường Pháp đào tạo hoặc mới bị ảnh hưởng của Hoa Kỳ gần đây, sẽ gặp nhau để bàn cãi với nhau về những dự án gần như bất khả thi ngay cả trong thời bình . Họ thành lập ban nầy ban nọ, mưu tính đủ thứ nhưng không có khả năng lập một hạt nhân cho một liên hiệp. Hãy lấy thử hai chánh trị gia Miền Nam thôi, và chúng ta đã thấy là đã có đến 3 ý kiến mâu thuẩn khác với nhau, chống đối nhau công khai rồi ! Bây giờ ta hãy lấy 100 người có trách nhiệm ở Miền Bắc, và chánh thức họ chỉ sẽ có một ý kiến, đó là đường lối của đảng !

    Đối lập của Tổng Thống Thiệu, dù họ có muốn thành lập một lực lượng thứ ba hay không thì họ cũng là một nhóm người mà Tướng Dương văn Minh là đầu não. Dĩ nhiên là họ thuộc thành phần tư sản hay tiểu tư sản của các đô thị. Vào giờ phút nầy Miền Nam Việt Nam còn có bao nhiêu đô thị đâu ? Sài Gòn và Tây Ninh thì đang bị Bắc Việt uy hiếp, Cần Thơ, và Mỹ Tho… Lực lượng đối lập chỉ thấy có một số nhóm nhỏ không có ảnh hưởng gì nhiều ở các tỉnh. Có một vài đảng mới đang nộp đơn xin thành lập trong những ngày gần đây.

    Trong số những người đối lập với Tổng Thống Thiệu, thì những tín đồ công giáo là những người thật sự chống cộng, lại nghi ngờ lực lượng thứ ba. Theo họ nghĩ thì lực lượng thứ ba đang về hùa chơi với cộng sản. Từ lúc Đức Tổng Giám Mục Địa phận Sài Gòn ngỏ ý muốn Tổng Thống Thiệu ra đi, thì tín đồ công giáo có một số ngã về phía đối lập. Nhưng hầu hết các tín đồ Phật Giáo không thích chánh trị đều rất là cẩn thận, chờ…. Các phần tử đối lập hăng say khác thì quy tụ ở chùa Ấn Quang chung quanh thầy Thích Trí Quang. Một vị sư khác, thầy Thích Tâm Châu, trước thì ủng hộ tướng Thiệu, nhưng bây giờ cũng muốn Tổng Thống ra đi. Linh mục Thanh, người lập ra phong trào chống tham nhũng thì lúc nào cũng nặng lời chỉ trích, nhưng ông không ngả theo nhóm Dương văn Minh; Lực lượng thứ ba không làm cho Tổng Thống Thiệu e ngại, nhưng một số thành viên như nghị sĩ Vũ văn Mẫu ít ra cũng làm cho Tổng Thống bực tức.

    Dưới nhãn quan của Tổng Thống Thiệu thì nhân vật đối lập nguy hiểm nhứt và có thế lực nhất là cựu Tư Lệnh Không Quân Việt Nam , đã từng là Phó Tổng Thống và Thủ Tướng của Thiệu, là thiếu tướng Không Quân Nguyễn cao Kỳ. Đó mới là một đối thủ quan trọng.

    Tướng Kỳ ở ngay căn cứ Tân sơn Nhứt. Nơi đây ông có một biệt thự gần Trung Tâm Hành Quân của Không Quân. Mỗi ngày đều có các phi công đến chơi với ông, uống một ly rượu với ông. Ông ta giữ tất cả liên lạc với các tướng lãnh và chánh trị gia người Bắc, sinh quán ở Bắc Việt . Hình như tướng Kỳ rất dè dặt thận trọng trong ý định đảo chánh. Từ tháng giêng, ông ta hơi khó chịu.Trong lúc Bắc Việt tấn chiếm Ban mê Thuột thì ông đang ở trong một đồn điền thử nghiệm của ông ở gần đó. Không làm gì hết sau một thời oanh liệt trong quá khứ, ông vẫn có một trực thăng riêng cho mình. Ông đã đến gặp tướng Phú ở Nha Trang, ông đã đi gặp tướng Viên ở Sài Gòn . Sặc sỡ như một tài tử ci nê, ông đã nói thẳng với Tổng Tham Mưu Trưởng rằng :

    – “Giao cho tôi 20 chiến xa M.48, 2 tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến hay Biệt động quân, với sự yểm trợ của pháo binh và Không quân, tôi sẽ đích thân giải tỏa Ban mê Thuột cho”

    Tướng Viên không thể tự mình quyết định được nên điện thoại cho Tổng Thống Thiệu. Ông nầy gởi lời khen tướng Kỳ và nói thêm là:

    – “Tôi sẽ xem lại việc đó nhưng tôi nghĩ là tôi cần phải bàn lại với các cố vấn của tôi đã “. Một sự hợp tác và một sự đối đầu lẫn nhau về mục đích đã cột hai tướng Thiệu và Kỳ lại với nhau. Tướng Kỳ đã làm việc với tướng Thiệu. Ham hoạt động, can đảm, nhưng đôi khi hơi bướng một chút, (người ta không quên là tướng Kỳ đã có lúc đòi phải có một Hitler cho Việt Nam), tướng Kỳ cũng không tin tưởng người ngoại quốc còn hơn tướng Thiệu nữa, trong lúc người vợ trước của ông là người Pháp. Ông được đào tạo ở Pháp và ở Maroc, nên ông có một tinh thần chống Mỹ giống như kiểu De Gaulle hay cộng sản vậy, và ghét cả người Mỹ lẫn tính kiêu căng phách lối của họ khi họ thật sự hay giả vờ gạt bỏ ý định đem chiến tranh ra đất Bắc của mình.

    Đối với các tướng lãnh nổi bật trong Đệ Nhị Thế chiên, tướng Kỳ thích nghe người ta đánh giá ông ta là một người có khả năng nhất về quân sự, và một người khôn lanh nhất về chánh trị . Ông Thiệu có riêng cả một danh sách đủ mọi thành phần trong xã hội Việt Nam . Trước tiên là tên của tướng Kỳ đúng đầu trong đẳng cấp quân nhân. Ông Thiệu tin dị đoan, còn tướng Kỳ thì không .

    Tướng Kỳ được cho nghỉ hưu và ông cho như thế là khôn ngoan. Diễn viên không còn có khán giả nữa rồi. Ông không còn mặc bộ đồ lễ trắng sặc sở đã từng chọc cười các ký giả ngoại quốc nữa, nhưng cũng từng lôi cuốn được nhiều cử tri lắm trong các cuộc vận động ứng cử của ông.

    Liên hệ gia đình là điều rất cần thiết để gắn bó hai người Việt Nam , nhứt là các sự liên kết chánh trị và quân sự hay sự kết hợp giữa giữa quân nhân và chánh trị gia với nhau thường được thiết lập từ các mối liên hệ của gia đình. Trong hiện tại, những người đang có một vai trò ở Sài Gòn , hay muốn có được một vai trò nào đó, nhất định phải có một sự hợp tác với nhau trong quá khứ, hay trong một toan tính chung lúc nào đó để kết hợp họ lại với nhau, mặc dầu vẫn có sự nghi kỵ hay hiềm khích lẫn nhau. Tướng Thiệu và tướng Kỳ, tướng Khiêm và tướng Đôn, tướng Minh và một số người khác… tất cả đều đã từng hợp tác với nhau trong việc lật đổ ông Diệm 12 năm trước . Những người nầy vẫn nắm tay nhau . Hồi năm 1963, có đủ thông minh nhưng chưa có đủ hiểu biết, tướng Kỳ được tướng Minh giao cho chức vụ Tư Lệnh Không Quân. Nóng nảy, bực mình vì đang bị đứng ngoài rìa của thời cuộc, đôi khi tướng Kỳ nghĩ rằng các tướng lãnh làm chánh trị nhiều quá. Nhưng trong thâm tâm ông nghĩ rằng làm một cuộc đảo chánh cũng là làm cách mạng đấy.

    Vào những ngày đầu tháng 4/75, ông ước tính là muốn có được một cuộc kết hợp chánh trị nào đó, trước hết là phải thắng trận giặc nầy hay phải ổn định được trận tuyến đã . Nhưng ông chỉ vỏn vẹn có một số vốn: đó là tinh thần chống đối người Mỹ. Trong thời gian gần đây, khi được tin xác nhận là ông Thiệu phải ra đi, thì ông thăm dò anh em quân nhân. Tổng Thống Thiệu biết mà không sao ngăn chặn được . Các sự liên lạc giữa những quân nhân trong cuộc đảo chánh 1963 đều dùng mật ngữ . Tổng Thống Thiệu cảnh giác tướng Kỳ bằng hành động bắt giam một vài người thân cận của ông nầy trong Không Quân, vài sĩ quan cấp tá và ông Nguyễn thiện Nhơn, dân sự. Ông cũng bắt hay cho theo dõi một vài nhân vật như Huỳnh thành Vị, Chủ Tịch Hội các nhà báo, và cả ông Nguyễn văn Ngân, một cố vấn của Phủ Tổng Thống và đảng viên đảng Dân Chủ của ông. Không có một cuộc nắm lại tình hình nào mà không có sự thanh lọc hàng ngũ, không có sư thanh lọc nào mà không có những sự bắt bớ tù đày. Tại Bộ Nội Vụ, người ta giải thích về những chuyện bắt bớ nầy rằng :

    – “Có một số phần tử xấu đã lợi dụng tình trạng tranh tối tranh sáng để nhảy ra xúi dục dân chúng, gây mất trật tự ở hậu phương, hỗ trợ cho một mưu toan đảo chánh quân sự để thỏa mãn tham vọng cá nhơn. Các phần tử nầy đã bị cơ quan an ninh bắt giữ. Cuộc điều tra đang được tiến hành.”

    Hơn thế nữa, bản tuyên bố nầy đã tiết lộ ý định của một cuộc lật đổ chánh quyền . Tướng Kỳ không sao tiến tới theo dự tính của ông được nữa. Các tướng tá bạn bè của ông cũng chạy luôn. Ngoài ra ông cũng ngửi thấy là người Mỹ không ủng hộ việc nầy. Có quá nhiều nhân viên tình báo khắp nơi, việc gì người ta cũng biết được hết., có tưởng thưởng hay không cũng vậy. Được bộ phận ở Sài Gòn báo cáo, ông William Colby, giám đốc cơ quan CIA ở Hoa thạnh Đốn đã cho chỉ thị rõ ràng ngày 6 thánh 4:

    – “Cơ quan không muốn thấy ông Thiệu bị lật đổ. Nếu cơ quan CIA dính vào chuyện gây bất ổn cho ông Thiệu, thì đó là một sự thảm hại cho chế độ và cho quốc gia . Tuy nhiên cũng phải đề phòng trường hợp xấu nhất: là Tổng Thống Thiệu bị thanh toán.”

    Ông Colby còn cho lịnh:

    – “Nếu tình hình diễn tiến quá phức tạp thì công việc của cơ quan là phải giúp khuyến cáo”. Lời dặn dò và gởi gấm của tôi là nếu có gì xảy ra thì chúng ta phải làm đủ mọi cách để Tổng Thống Thiệu và gia đình ông được đưa đi trong một sự an ninh tuyệt đối.”

    Tất cả các Tổng Giám Đốc CIA từ năm 1963 đều bị hình ảnh cái chết của ông Diệm ám ảnh. Tòa Đại sứ Hoa Kỳ đã bật đèn xanh cho hành động gây bất ổn chánh trị nầy.

    Tình hình hiện nay coi như quá trầm trọng, cho dù Hoa Kỳ có muốn vi phạm phần nào Hiệp Định Paris hay có ý định cố vấn trở lại vấn đề quân sự cho Việt Nam . Những sĩ quan thân cận với tướng Homer Smith đã hăng hái đưa ra những kế hoạch để giúp cho Miền Nam Việt Nam tái tổ chức các đơn vị lại. Một sự tranh luận của năm nào được đem ra bàn cãi lại: người Mỹ muốn phối hợp các quân nhân thiện chiến với tân binh. Họ nghĩ là họ có thể tái võ trang cho 18 tiểu đoàn bộ binh và 3 pháo đội 105 ly từ nay đến 15 tháng 4. Họ in ra những sơ đồ cho ngày 20 tháng 5 và 30 tháng 9. Miền Nam Việt Nam hy vọng thành lập một số tiểu đoàn, trung đoàn, và lữ đoàn hoàn toàn mới. Đại tướng Viên đã trao cho Tùy viên Quân lực Hoa Kỳ một dự án (có tên là KBC 4002) vừa vô vọng vừa không thực tiễn. Trên giấy tờ coi như một sự phát sinh tự nhiên : lữ đoàn 3 Nhảy dù, sư đoàn 22 bộ binh , binh đoàn 7 Biệt Động Quân, các đại đội Quân Cảnh, các tiểu đoàn công binh, và các trạm quân y lưu động. Các nhu cầu được biến thành phương tiện. Tướng Viên bình thản viết : Phải giải thể các đơn vị Nhân Dân Tự Vệ và Địa Phương Quân của Vùng I và Vùng II Chiến Thuật để bù vào quân số đang thiếu của các sư đoàn bộ binh mới thành lập”. Hầu hết các đơn vị nầy đã bị giải tán từ lâu rồi trong chiến dịch triệt thoái khỏi Kontum và Pleiku và các cuộc tháo chạy từ Huế và Đà Nẳng ! Đơn vị nào chạy thoát được thì cũng đang sống rãi rác quanh Sài Gòn với gia đình họ. Tài liệu KBC 4002 ước định là ở cấp tiểu đoàn công tác tái tổ chức phải “hoàn tất trong hai tuần lễ” Thử hỏi quân số thiếu hụt lấy người ở đâu ra ? “Họ sẽ được thay thế sau, hoặc tự tuyển mộ lấy” Các sĩ quan trong Bộ Chỉ Huy Tiếp Vận lên những kế hoạch làm như họ sẽ không cần phương tiện chuyển vận mà vẫn tuyển mộ tân binh một cách bình thường, với thời gian đem họ đi vất vào các tiểu đoàn. Bởi vì mặc cho ai đánh tiếng là có thương lượng, là có điều đình, các sư đoàn Bắc Việt vẫn tiếp tục tiến quân dù đôi lúc cũng phải có dừng quân. “Trong khu vực lãnh đạo quân sự của Miền Nam Việt Nam hình như người ta đang mơ ngũ” phe đối lập với Chánh Phủ thường hay nghĩ như vậy..

    Bộ Tổng Tham Mưu phải trả giá quá đắt hai chục năm sai lầm tai hại của họ cũng như của đồng minh Hoa Kỳ . Tướng Viên thường có thói quen chấp nhận những kế hoạch do người Mỹ soạn thảo. Bây giờ thì đã quá muộn để mà thay đổi.

    Phải chăng binh sĩ của Miền Nam Việt Nam thiếu cái mà Clausewitz gọi là “đức tính chiến đấu” ? Chắc chắn là không phải như vậy. Từ năm 1960 đến năm 1974 đã có 250.000 binh sĩ Miền Nam tử trận và hầu hết đều không ai bị trúng đạn từ sau lưng. Báo chí quốc tế thường nhấn mạnh đến các chiến thắng của họ hơn là những tật xấu hay những cuộc tháo chạy trước quân thù. Clausewitz gọi đó là “đức tánh chiến đấu”, khác với lòng can đảm và sự hăng say chiến đấu vì lý tưởng của cuộc chiến.. Đúng thế, tánh can trường là một điều cần thiết, nhưng ngay như sự gan dạ đó là một đức tính sẳn có của con người , thì đối với một chiến binh là thành viên của quân đội có thể do vì thói quen và sự tập luyện mà có được , thì tánh can trường nầy phải hướng người chiến binh vào một hướng đi khác hơn với một người thường, không còn theo bản tánh cá nhơn tự lập hay làm theo ý riêng của mình nữa mà phải có thêm sự phục tùng, trật tự, kỷ luật, và phương pháp hành sự. Còn “hăng say phục vụ cho lý tưởng” chỉ nuôi dưỡng ngọn lửa chiến đấu của một quân đội, nhưng không phải là một yếu tố cần thiết.”

    Các bộ đội của Miền Bắc và các binh sĩ của Miền Nam phần lớn đều là nông dân. Nhìn chung thì tinh thần của họ rất khác biệt nhau. Các binh sĩ Miền Nam đều biết đại khái là họ chiến đấu chống ai ? và chống cái gì ? nhưng ít khi được biết chiến đấu cho ai ? cho cái gì ? Còn cán binh Bắc Việt thì bị nhồi sọ; ngay nếu như tất cả không được biết thế nào là cái tốt cái đẹp của một xã hội xã hội chủ nghĩa , thì ít nhất tất cả đều tin là giải phóng đất nước là một điều cần thiết.

    Người cộng sản biết khai thác vấn đề bài ngoại một cách tự nhiên âm thầm, căn cứ trên một chuyện có thực: Phải đánh đuổi bọn quỷ dữ ngoại quốc. Các cán binh Bắc Việt và Việt Cộng đều tin tưởng cấp chỉ huy của họ, bất cứ ở cấp nào cũng vậy, thấp nhất từ dưới chi bộ tam tam chế là phần căn bản của kim tự tháp quân sự cho đến cấp cao nhất trên đỉnh tháp. Còn ở Miền Nam Việt Nam thì không có vậy. Binh sỉ biết rất rõ về sự lạm quyền trong vấn đề thăng thưởng.

    Ở Miền Bắc thì các tướng lãnh không bao giờ cho thấy là họ nghi ngờ về đường lối của cuộc chiến hoặc nghi ngờ lẫn nhau. Họ giữ kín sự hiềm khích hay sự ganh đua giữa họ với nhau. Chuyện không bao giờ có ở Miền Nam . Cho tới phủ Tổng Thống – ông Thiệu là tổng tư lệnh – các cuộc bất đồng đụng chạm xảy ra công khai. Từ tháng giêng tới nay, có bao nhiêu binh sĩ đã tự hỏi xem Tổng Thống và Thủ tướng của họ có thỏa thuận được với nhau điều gì chưa ? Không nói tới Tổng Tham Mưu trưởng. Khủng khoản ở lãnh đạo cấp cao xem chừng như rất trầm trọng.

    Ở Bắc Việt sự chuyên chế hoàn toàn của chế độ là yếu tố tăng cường cho kỷ luật nội bộ.

    Từ năm 1965 đến 1973, các tướng tá ở Miền Nam trong tất cả mọi cuộc hành quân từ nhỏ tới lớn, từ việc đi tuần tiểu, đi mở đường, nằm đường, đến các cuộc hành quân tìm và diệt địch, chạm súng , chiều ngang hay chiều sâu, nhảy dù hay trực thăng vận v.v.. tất cả đều có nhu cầu được hỏa lực pháo binh, trực thăng võ trang hay oanh tạc cơ yểm trợ tối đa, nếu không được các pháo đài bay B.52 từ Thái Lan, đảo Guam hay từ Phi luật Tân qua trải thảm trước …. Họ quá tùy thuộc và còn đang tùy thuộc vào hỏa lực yểm trợ của phi pháo và không trợ. Họ không nghĩ là người ta vẫn có thể chiến đấu mà không có một sự yễm trợ nào như vậy hết. Cán binh Bắc Việt vào chiến đấu đâu ở Miền Nam không hề có được một không trợ nào .

    Quen theo những cách suy nghĩ, hay không cần suy nghĩ cũng thế, với một thói quen là cứ áp dụng đúng từng chữ những kế hoạch tấn công hay phòng thủ đã được các sĩ quan Hoa Kỳ soạn sẵn – sau khi được dịch ra – nên Bộ Tham Mưu Miền Nam Việt Nam không có một sáng kiến nào hết. Đó là điều làm người Do Thái ngạc nhiên khi họ đến quan sát Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Tướng Viên nhìn nhận là Bộ Tổng Tham Mưu chỉ có nhiệm vụ tư vấn mà thôi. Người ta có thể nói là các sĩ quan Miền Nam Việt Nam có 2 mặc cảm tự ty, một là đối với người Mỹ , hai là đối với bộ đội Miền Bắc .

    Mặc dầu các con số vẫn có đầy đủ trên giấy tờ, tại sao QLVNCH vào năm 1975, cũng như năm hay mười năm trước có thể thiếu hụt quân số tác chiến đến như vậy ?

    Vào thời điển năm 1975, có thể nào QLVNCH thiếu vũ khí và đạn dược đến mức độ như Tổng Thống Ford, ông Thiệu, ông Viên và những người khác đã đòi hỏi ? Cũng như ông Frank Snepp, một số nhân viên ngoại giao Hoa Kỳ đã không tin như vậy. Sự thật có vẻ hơi phức tạp. Các kho dự trữ rất quan trọng, – bộ đội Bắc Việt lần hồi khám phá ra trên đường tiến quân của họ- nhưng các kho dự trữ nầy không có gì thích hợp cho cuộc chiến hết. Vào đầu tháng 4 / 75, số lượng cơ phận thay thế (cơ phận rời) cho Thiết giáp và phi cơ thì quá thiếu, trong khi có một trữ lượng vô ích các máy truyền tin rất tối tân và quá đắt . Từ hai năm nay, quân đội bị hạn chế trong việc xử dụng đạn bách kích pháo và pháo binh. Trong các trận đánh lớn hồi năm 1972, pháo binh 105 ly trung bình xử dụng 180 quả đạn trong ngày, và trong 3 tháng nay mỗi ngày chỉ cho phép xử dụng có 10 (mười). Các Bộ chỉ huy đơn vị và các tiểu khu đều muốn giữ chặt đạn dược của họ tồn trử ở các kho nằm rải rác khắp nơi . Sự phân phát rất là tồi tệ và có quá nhiều sự mất mát. Từ tháng giêng 1975, đây đó quân dội thiếu xăng dầu. Nhưng trong tất cả các thành phố, ở các góc đường, người ta đều thấy bọn trẻ bán xăng của quân đội, một loại xăng màu đỏ rất dễ nhận ra ngay để tránh bị ăn cắp và bán ra ngoài. Và ở khắp nơi, người dân còn có thể mua nhiều vật dụng của quân đội như bình điện của quân xa hay của trực thăng, cơ phận thay thế của quân xa, vỏ ruột xe, mền, mùng màu kaki, áo mưa, giày cao cổ đi rừng, quần áo trận, quần lót, giày và có khi cả nón sắt nữa. Tất cả các thứ nầy đều thất thoát từ các kho của quân đội hay từ sự đồng lõa của các cấp trong quân đội ..

    Tướng Trần văn Đôn, Tổng trưởng Quốc Phòng, ước tính là có khoản 1/3 tướng lãnh và sĩ quan cao cấp là còn liêm khiết sạch sẽ, một cách nói khéo để cho thấy là 2/3 kia là có tham nhũng và hối lộ. Linh mục Thanh, người đang cầm đầu chiến dịch chống tham nhũng, đoan chắc rằng đã có sĩ quan nhượng mỗi cây súng trường M.16 cho lực lượng bán quân sự Hòa Hảo ở Miền Tây với giá 20.000 đồng. Ít nhất thì vũ khí nầy cũng còn nằm trong tay của người quốc gia. Từ năm 1973, đã không thấy có báo cáo là các loại vũ khí nhẹ được bán cho Việt Cộng một cách gián tiếp nữa. Binh sĩ của Miền Nam Việt Nam có một số lương quá thấp không đủ sống . Một binh sĩ chỉ được lãnh có 20.000 đồng /tháng, một tướng 3 sao lãnh 5 lần hơn. Do đó họ thường ngả theo cám dỗ là mưu toan đánh cắp các cơ phận rời để bán lại kiếm thêm tiền. Hình như có cả một hệ thống tổ chức.

    Trong tình trạng đó, kỷ luật quân sự và lòng yêu nước chỉ có thể bị giảm đi mà thôi. Đã quá muộn để có thể sửa chửa nếu muốn thay đổi được tình hình, nói cách khác là không thể nào cho các quân xa đã mất chạy được vì tìm không ra xăng dầu !

    Những yêu sách của tướng Viên và Bộ Tham Mưu của ông đưa ra xem chừng như rơi vào khoảng không vô vọng.

    Đại sứ Martin nghĩ rằng nếu QLVNCH được chấn chỉnh kịp thời thì chẳng những có thể giữ vững chiến tuyến mà còn có thể phản công lại được nữa. Nhưng các sĩ quan Hoa Kỳ của tướng Smith thì tỏ ra rất là bi quan. Đại tá William le Gro, trưởng Phòng Tình Báo, ước tính rằng, nếu Quốc Hội có chấp thuận một ngân khoản viện trợ bổ túc, thì “mọi việc coi như đã quá muộn rồi”. Ông đã trình bày quan điểm của ông với tướng Weyand . Ngay như các pháo đài bay B.52 dù có tái can thiệp thì cũng không làm chậm được sức tiến quân của Bắc Việt . Họ đang tiến trên các trục lộ lớn, băng qua các thôn xã, các thị trấn, và các thành phố. Nếu Không Quân Chiến Lược can thiệp, thì họ sẽ tàn sát hàng chục ngàn dân chúng Miền Nam . Các pháo đài bay B.52 đã trở thành biểu tượng rồi. Các quân nhân Hoa Kỳ và Miền Nam Việt Nam có kinh nghiệm, đều không quên rằng từ lâu rồi các pháo đài bay nầy không bao giờ thành công trong việc cắt đứt đường mòn Hồ chí Minh để bẻ gãy con đường tiếp vận của Bắc Việt được .

    Cũng giống như tướng Thiệu, quân đội Bắc Việt chiến đấu cả trên ba mặt trận quân sự, chánh trị và ngoại giao, nhưng vẫn vững vàng và mạnh mẽ hơn QLVNCH. Chiến lược Hà Nội rất đơn giản : Phải giành chiến thắng quân sự trước khi gió mùa tới, và đồng thời phải cho người ta có cảm tưởng là Hà Nội vẫn sẵn sàng đàm phán.

  26. Yếu tố ngoại giao dường như quan trọng hơn yếu tố quân sự . Chủ trương trong chiến dịch “tấn công ngoại giao” thực sự đang tiến hành. Đó là phải đặt CPLTCHMN lên hàng đầu. Mặt trận quân sự thì ở Việt Nam nhưng mặt trận ngoại giao thì ở trên toàn thế giới, trước hết là ở ngay Ba Lê, tại Pháp.

    Trong những ngày nầy, khó có thể khẳng định rằng “lực lượng cách mạng” , trên thực tế gồm toàn các sư đoàn Bắc Việt, là công cụ của “hòa bình”. Do đó, đối với đài truyền hình Pháp và trong nhiều bài phỏng vấn báo chí đã soạn sẳn, Bà Nguyễn thị Bình, ngoại trưởng của CPLTCHMN, đã quả quyết rằng “đối thủ của Sài Gòn (Bắc Việt) hiện đang ở thế ….”phòng ngự” :

    – ” Nếu bây giờ mà chúng tôi tấn công Miền Nam Việt Nam (sự thật ít khi được chấp nhận), thì chúng tôi bắt buộc phải ở vào thế vi phạm Hiệp Định Paris, đối với Hoa Kỳ và Chánh Phủ của Tổng Thống Thiệu. Chúng tôi chỉ muốn Hoa Kỳ chấm dứt sự can thiệp của họ vào chuyện nội bộ của Miền Nam Việt Nam mà thôi.”

    Và như thường lệ, bà vẫn đòi hỏi một Chánh Phủ ” hòa bình, độc lập và dân chủ” v v …, ở Sài Gòn .

    Trong cơ chế dân chủ ở Miền Bắc, người ta áp dụng dân chủ kiểu cộng sản . Ngày 6 tháng 4, “nhân dân” bầu Quốc Hội . Có 529 ứng cử viên cho 499 ghế dân biểu. Gần như chỉ có 2 trường hợp ngoại lệ, còn tất cả các ứng cử viên đều thuộc Mặt Trận Tổ Quốc, nơi tập trung đảng cộng sản, đảng Dân Chủ và đảng Xã hội . Trên lý thuyết thì các ứng cử viên nầy đều thuộc thành phần trung lưu và trí thức. Phương thức dân chủ dự trù trong Hiệp Định Paris và phương thức “dân chủ tập trung” của Bắc Việt với tính ưu việt tuyệt đối của đảng cộng sản, không bao giờ đi chung với nhau được .

    Nhật báo của đảng cộng sản ở Hà Nội đã giải thích tinh thần của cuộc bầu cử đó như sau :

    – ” Mỗi người cử tri phải tỏ thái độ tin yêu và tín nhiệm vào sự lãnh đạo của đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa “. Chuyện nầy không bao giờ làm cho người dân ở Miền Nam Việt Nam nói chung và nhất là dân Sài Gòn nói riêng được yên lòng. Nói cách khác, người dân Miền Nam Việt Nam gắn bó với tự do tôn giáo hơn là tự do chánh trị . Được tờ Chính Nghĩa, một nhật báo “Công Giáo Cấp Tiến” ở Hà Nội phỏng vấn, ông Xuân Thủy, một trong các bí thư của đảng cộng sản đã phát biểu là:

    – “đảng của những người lao động tôn trọng tự do tín ngưỡng”, nhưng lại nói tiếp là : ” “Chúng tôi chống lại sự mê tín dị đoan và những người lợi dụng đạo giáo để làm phương hại đến quyền lợi của dân tộc và của đất nước, làm cản trở sự xây dựng xã hội chủ nghĩa “

    Tại Hà Nội, ngày 15 / 3 chi bộ đặc biệt có nhiệm vụ cho tiến hành chiến dịch “tấn công ngoại giao” đã ấn định đường lối như sau: Các vị đại sứ của Bắc Việt và các đại diện của CPLTCHMN phải nói thẳng thừng rằng chương trình nghị sự bây giờ là một Chánh Phủ Liên Hiệp . Họ phải cho biết luôn là Chánh Phủ Liên Hiệp nầy sẽ ở ngay Sài Gòn và sẽ có một mức độ độc lập nào đó. Chiến dịch phải được mở rộng và phải hữu hiệu.

    Ngày 5 tháng 4, tại Paris, đại sứ Bắc Việt và đại diện CPLTCHMN đã riêng lẻ gặp ông Francois de Laboulaye, giám đốc chánh trị sự vụ ở Quai d’Orsay (Phủ Thủ Tướng Pháp). Nhà ngoại giao Pháp và đại diện CPLTCHMN đã đồng ý là : Phải có một Chánh Phủ Liên Hiệp mà CPLTCHMN là thành phành chủ động. Chánh Phủ Pháp đã coi như ông Thiệu không còn được bao lâu nữa. Họ đã liên lạc với ông Phó Lãnh Sự của họ ở Đà Nẳng và đã cho lệnh ông nầy nên liên lạc với người của CPLTCHMN. Viện trợ về quân dụng sẽ được trao tay cho họ.

    Ông De Laboulaye nói rằng nước Pháp mong sao Chánh Phủ Liên Hiệp sẽ phát triển giống như ở Nam Tư, có được độc lập phần nào, mà không nên hoàn toàn giống như Chánh Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ở Bắc Việt .

    Xuyên qua sự trao đổi nầy, chúng ta thấy rõ là dường lối ngoại giao của Pháp từ nhiều năm qua đã dựa trên 4 giả thuyết sau đây :

    (1) cộng sản Bắc Việt tiên khởi cũng là những người quốc gia , sau đó mới trở thành cộng sản .

    (2) Hà Nội được coi như đại diện cho phong trào “cộng sản quốc gia kiểu Tito” ở Đông Nam Á.

    (3) CPLTCHMN là một thực thể riêng biệt, mặc dầu (4) biết hay không biết thì hầu hết các nhân vật quan trọng của Chánh Phủ nầy đều là cán bộ cộng sản có tuổi đảng cao.

    Trong Chánh Phủ nầy người ta thấy có đủ các thành phần tư bản, trí thức… không thuộc hàng ngũ mác xít hay xã hội, những người công giáo, phật giáo v.v…..

    Trong những tuần lễ sau đó, các cuộc tiếp xúc loại nầy được tiến hành chánh thức hay bán chánh thức khắp nơi ở Hà Nội và cả ở Sài Gòn , ở Stockholm, ở Đông Bá Linh, Varsovie, Prague, Alger…. Hoặc ngay trong tư gia của họ, bên tách trà nóng, hoặc trong các quán ăn Việt Nam , các nhân viên ngoại giao, các nhà báo của Hà Nội và của CPLTCHMN, tiếp tục đóng sâu một cây đinh tương tự, nhắc đi nhắc lại những gì mà họ muốn phổ biến và những gì mà người đối thoại của họ muốn nghe. Với một gịong nửa kín nửa hở coi như một đặc ân, họ rỉ tai :

    – “Chúng tôi vẫn biết là có những khác biệt lớn giữa Miền Nam và Miền Bắc mà chúng tôi phải quan tâm….

    Và một đôi khi làm như vô tình, các đại diện của CPLTCHMN thở dài :

    – ” Chúng tôi và các bạn của chúng tôi ở Miền Bắc đâu có hoàn toàn dồng ý với nhau trên tất cả mọi việc đâu ?

    Trong một vài trường hợp, thấy cũng có đúng phần nào. Ông Phạm văn Ba, một đại diện của CPLTCHMN ở Paris, một người ít học nhưng có rất cương nghị và thành thật , khi ông nói về những khác biệt giữa Miền Nam và Miền Bắc hay giữa CSBV và CPLTCHMN .

    Trong khi chiến dịch tấn công ngoại giao quan trọng nầy đang được tiến hành rộng rãi khắp mọi nơi trên thế giới và ngay tại Việt Nam , thì ở Hà Nội lãnh đạo đảng quyết định là đã đến lúc phải nói thẳng cho các cán bộ đảng viên một cách rõ ràng rằng :

    – ” Các bài diễn văn nói về việc thành lập một Chánh Phủ Liên Hiệp chỉ là một “đòn hỏa mù”. Vấn đề chính là phải chiếm lấy chánh quyền bằng bạo lực cách mạng”.

    Chính ông Churchill cũng đã từng nói là: trong thời chiến, sự thật rất là quý đến độ cần phải được che dấu kỹ bằng một hàng rào tin vịt”.

    Tại Sài Gòn , một vài người Mỹ nhận được tin tức về “đòn hỏa mù” của Bắc Việt . Frank Snepp đã được một nhân viên tình báo của mình cho biết nhiều lần từ ngày 7 tháng 4. Nguồn tin nầy vì được cấy ngay trong Bộ Tư Lệnh Cộng sản ở Miền Nam nên đưa nhiều tin rất chính xác. Rất là minh bạch và dứt khoát trong mọi trường hợp : “cộng sản Bắc Việt không đàm phán” . Nhưng từ ông Polgar trưởng cơ quan CIA cho đến ông đại sứ Martin đều không chú ý tới tin tức nầy. Người Mỹ cũng không chịu lưu ý tới những bất đồng quan điểm giữa hai đại sứ Pháp ở Sài Gòn và Hà Nội . Cơ quan tình báo CIA có tất cả các dữ kiện trong tay, không phải chỉ vì các bạn bè nhân viên ngoại giao thông báo tin tức cho họ, mà cũng nhờ họ biết được mật mã của Pháp nên họ mở được một số lớn các công hàm và điện tín. Một số “sư tổ” ở Phủ Thủ Tướng Pháp còn hơn cả ông Mérillon, đều tin là họ có thể chơi lá bài Dương văn Minh : “đưa vào quỹ đạo một Chánh Phủ Liên Hiệp” là chủ trương đã được ông Tổng Thống Pháp Valéry Giscard d’Estaing hoạch định.

    Ông Philippe Richer, đại sứ Pháp ở Hà Nội không có nhãn quan như vậy. Mặc dầu có nhiều bản tuyên bố cố ý muốn làm dịu bớt mùi mác-xít của chính Thủ tướng Phạm văn Đồng cũng như của một số viên chức cao cấp thuộc Bộ Ngoại Giao Bắc Việt , nhưng ông Richer vẫn khẳng định rằng đảng cộng sản lúc nào cũng là lực lượng chánh trị chủ yếu trong cái Chánh Phủ Liên Hiệp tương lai nầy. Chuyện không có gì vui vẽ lắm, nhưng nó đã là như vậy từ lâu rồi: “Chỉ có một tảng đá duy nhất để chánh trị dựa vào: đó là đảng CSVN”, công điện của ông Richer đã viết rõ như vậy.

    Còn theo ước tính của ông Mérillon thì người ta còn có thể tránh được một thảm họa.

    Âu cũng là một hiện tượng bình thường thôi : một ông Richer, có nghiêng về cánh xã hội thực đấy, nhưng không bao giờ tin vào lời lẽ dịu giọng của người cộng sản, và một ông Mérillon thuộc cánh trung hữu lại nghĩ rằng người ta cũng có thể lợi dụng họ được.

    Ngày 8 tháng 4, Phạm văn Đồng tiếp ông Richer. Thủ Tướng Bắc Việt tỏ ra đồng ý với những gì mà người Pháp “đang làm ở Miền Nam Việt Nam”. Dĩ nhiên là họ muốn “bứng” Tổng Thống Thiệu ra khỏi chánh quyền . Phạm văn Đồng đã dùng miệng lưỡi, tán tỉnh, gợi lại những liên hệ tình cảm đã được thiết lập giữa Paris và Hà Nội. Nhân danh quá khứ chung sống thời thuộc địa và cùng chung ngôn ngữ Pháp, ông Đồng cho ông Đại sứ Pháp uống một ly sữa ngọt:

    – ” Chúng ta có thể làm nhiều việc lắm trong tương lai.”

    Thủ Tướng còn giải thích là các kỹ thuật gia và các nhà đầu tư người Pháp có thể giúp BắcViệt khai thác các mỏ dầu. Ông nghĩ là điều nầy sẽ làm cho Quai d’Orsay (Phủ Thủ Tướng Pháp) thích thú . Người ta tưởng tượng là các công ty của người Pháp sẽ thay thế các công ty của người Mỹ, khoan dầu ở ngoài khơi của Miền Nam Việt Nam . Phạm văn Đồng lại còn tiếp tục mở rộng chân trời cho vấn đề kinh tế. Nhưng Richer đâu có phải là người dễ bị mắc mưu cộng sản nhưng ít nhất ông cũng nghĩ rằng ông Đồng nói được tiếng Pháp lưu loát, và ông thực sự có mối liên quan về văn hóa với nước Pháp.

    Được khắp nơi cung cấp dữ kiện, nhất là của chi bộ đặc trách chiến dịch “tấn công ngoại giao” từ Hà Nội , giả thuyết về nhiệm vụ mà CPLTCHMN phải đảm nhiệm và sẽ đảm nhiệm.. cũng được tung ra ở Sài Gòn . Một giả thuyết có tánh cách vớt vát ! Dĩ nhiên người ta cũng dựa trên những mối bất hòa truyền thống giữa người Miền Nam và người Miền Bắc , đúng hơn là giữa Bắc Kỳ và Nam Kỳ. Người cộng sản Bắc Việt đâu có ngu dại gì mà nói là sẽ hợp tác hóa nông nghiệp hay xã hội hóa nền công nghiệp ở Miền Nam như họ đã thực hiện ở Miền Bắc ?. Vì trước khi biến thành CPLTCHMN , thì MTGPMN đã có dự trù chương trình tư hữu hóa công nông nghiệp rồi. Sài Gòn sẽ trở thành một đặc khu kinh tế như Hong Kong, một loại Tân gia Ba với tất cả những đặc quyền tư bản của nó. Thêm một luận cứ chót nữa để giúp cho mọi người hy vọng: chúng ta đều ở Á Châu, đều là anh em một nhà, xa lâu rồi nhau bây giờ mới đoàn tụ lại với nhau. Ngay như một vài thành viên trong cộng đồng người Pháp ở Sài Gòn có phương tiện vẫn còn có thể ở lại tại chỗ kia mà !. Không hẳn là vĩnh viễn , mà có thể là 5 năm, 10 hay 20 năm không chừng. Đã có nhiều bằng chứng cho thấy những người ở Hà Nội thông minh và có thiện chí, như Phạm văn Đồng lúc nào cũng nhắc với các nhà báo hay nhân viên ngoại giao người Pháp rằng “đặc điểm và chuyên ngành của người Miền Nam” sẽ được tôn trọng. Hơn nữa tất nhiên là cấp lãnh đạo của nước Việt Nam thống nhất hoặc tốt hơn nữa là của 2 nước Việt Nam cũng vậy, đều rất cần tín dụng của Tây Phương, cần sự giúp đở về tài chánh và kỹ thuât của Âu Châu . Các anh biết không , dân Hà Nội không muốn hoàn toàn tùy thuộc vào Mạc tư Khoa và Bắc Kinh. Quyền lợi của cộng sản Việt Nam là muốn bắt một nhịp cầu với các quốc gia Đông Phương, do đó mới biểu lộ một sự hòa hoản ở Miền Nam Việt Nam trong tương lai…..

    Những bằng chứng về thiện chí của người cộng sản – dù là cộng sản ở Mạc tư Khoa hay cộng sản ở Hà Nội , tất cả đều là những lời nói suông…..

    Ở điện Élysée, nơi mà đường lối chánh trị đối ngoại luôn luôn là lãnh vực riêng của Tổng Thống Pháp, cũng như ở Phủ Thủ Tướng (Quai d’Orsay), người ta thường nghe theo tòa đại sứ ở Sài Gòn hơn là tòa đại sứ ở Hà Nội . Ông Valéry Giscard d’Estaing thường có cảm tưởng rằng sẽ có một cuộc dàn xếp nào đó giữa những người lãnh đạo của Việt Nam Ông có nói rõ như thế cho cả ông Tổng Thống Ford và Kissinger, hồi cuối năm rồi, trong cuộc họp thượng đỉnh ở Antilles. Có nhiều chỉ dấu cho thấy giả thuyết của CPLTCHMN trong một chừng mực nào đó đang được vận động ráo riết. CPLTCHMN đang thành hình. Tại Paris, ông Phạm văn Ba hủy bỏ một chuyến du lịch dự trù vào giữa tháng 4 , mà theo lời một phụ tá của ông thì Chánh Phủ của ông muốn “khẩn” bàn cãi sâu rộng với Chánh Phủ Pháp 3 vấn đề :

    – trước hết là nghiên cứu chi tiết của vấn đề viện trợ kinh tế cho CPLTCHMN

    – Kế đó là duyệt xét thật kỹ vấn đề truyền thông giữa nước Pháp và những vùng được CPLTCHMN chánh thức kiểm soát.

    – chót hết, quan trọng nhất là xem xét quy chế và nhiệm vụ của CPLTCHMN ở Paris. Làm thế nào để cấp chiếu khán thông hành ? Dù sao thì vấn đề nầy cũng thuộc chủ quyền của một quốc gia. Ông ta nghĩ tối thiểu CPLTCHMN cũng phải có một tòa lãnh sự ở Paris. Chánh Phủ Hà Nội đã có một tòa lãnh sự, thì CPLTCHMN cũng phải có một tòa lãnh sự nữa để đại diện cho Chánh Phủ mình chớ

    Nhưng người của Phủ Thủ Tướng Pháp thì lại đặt nặng vấn đề pháp lý. Họ không tin là cái gọi là CPLTCHMN có được một sự độc lập hoàn toàn trong những năm tháng sắp tới, nhưng họ cũng mong rằng Chánh Phủ Liên Hiệp sẽ có một quyền tự trị tối thiểu nào đó. Những tin tức về một sự tương đối độc lập của cái gọi là CPLTCHMN được nhiều nơi nói đên, đặc biệt là từ Thụy Điển, một quốc gia chuyên binh vực cho Hà Nội . Ông Olof Palme, Thủ Tướng Thụy Điển đã từng tham gia các cuộc tuần hành “chống chiến tranh của Hoa Kỳ”. Ở thủ đô Stockholm, các nhà ngoại giao Tây Phương và Đông Phương đều có tiếp xúc với một trưởng phái đoàn khác của CPLTCHMN là ông Trần hữu Khá. Đối với tất cả mọi người ông Khá nầy đã tỏ ra vô cùng ngạc nhiên về sự tiến quân quá nhanh của “quân đội cách mạng”. Nhưng khi người ta gọi đó là những sư đoàn Bắc Việt thì ông Khá không chấp nhận cũng không phản đối, mà ông chỉ cười trừ. Có nhiều sự hiểu lầm về cái cười nầy của ông ta lắm. Nếu người ta nói với ông về lực lượng thứ ba và ông Dương văn Minh .. thì ông cũng chỉ cười.. Ông chỉ nhấn mạnh có một điểm:

    – ” Chúng tôi cần các bạn bè người Âu Châu “.

    Mục tiêu của CPLTCHMN là không phải tiến chiếm Sài Gòn bằng vũ lực, ông Khá cũng nhấn mạnh ở điểm nầy; Ông Thiệu phải ra đi. Ông Thiệu nên ra đi…. Sau đó, với lực lượng thứ ba, CPLTCHMN sẽ thành lập một Chánh Phủ Liên Hiệp độc lập đốivới Hà Nội Các nhà ngoại giao, các nhà báoTây Phương đối chiếu các tin tức, các bản tuyên bố và các buổi trao đổi chuyện trò, sau đó thì họ gởi công hàm hay các bài tường thuật về cho cho Bộ hay cho báo chí.

    Những người có chút lạc quan thì tự hỏi rằng dù muốn dù không, các tư tưởng “hai màu” của các đại diện CPLTCHMN có thật sự đúng với thiện chí và ý muốn của lãnh đạo Hà Nội hay không ? Còn quá nhiều người bi quan , nhất là người Mỹ, thì cho đó chỉ là những cuộc vận động chánh trị mà thôi.

    Tại Hà Nội, CPLTCHMN cho ra môt bản “tuyên bố 10 điểm” liên quan đến đường lối chánh trị của họ trong các vùng mới chiếm. Từ lâu rồi, các bản tuyên bố của Hà Nội và của CPLTCHMN thường có 10 điểm, một con số vừa ý nhất và dĩ nhiên gần như là con số mầu nhiệm của cộng sản . Trong đó điểm số 10 là “bảo đảm sanh mạng và tài sản của người ngoại quốc”. Tất cả các tài sản đó là tài sản của tư nhân. … Phần còn lại là chánh trị thống nhất, hòa hợp hòa giải v.v… bình đẳng giữa người Kinh và dân tộc thiểu số…, nam nữ bình quyền, tự do tín ngưỡng nhưng đừng quên là không có thờ cúng. CPLTCHMN sẽ giúp đỡ nông dân, và ngư dân, “những thợ rừng và những người sản xuất muối” . Những sĩ quan và binh sĩ Miền Nam Việt Nam nào “rời bỏ hàng ngũ địch để trở về vùng giải phóng hay tự nguyện ở lại vùng giải phóng” thì phải đến trình diện với chánh quyền cách mạng. “họ sẽ được giúp đỡ để tìm việc làm”, theo đó người ta có thể diễn dịch rằng họ sẽ không bị đưa đi tù. Theo cách xử trí mà không có người quân nhân Miền Nam nào lại tự nguyện ở lại các vùng giải phóng, người ta có thể hiểu ngay là bản tuyên bố của CPLTCHMN chỉ nhằm “xóa bỏ bộ máy hành chánh mà họ gọi là ngụy quyền để thành lập một chánh quyền cách mạng” mà họ cho là “chánh quyền của nhân dân” ở khắp mọi nơi, mọi cấp. Không hơn không kém.

    Tất cả các nơi đều chỉ biết dựa trên các tin tức loại nầy, từ các công hàm và các tài liệu của Hà Nội và của CPLTCHMN để mổ xẻ và phân tích tình hình.

    Chiến dịch tấn công ngoại giao của cộng sản cũng được tung ra ngay tại Sài Gòn . Ở đây, ông Trần văn Du, giám đốc phòng phân chất và bào chế thuốc, đã xác nhận là ông ta nhân danh CPLTCHMN để gặp một đại diện của tướng Trần văn Đôn Tổng Trưởng Quốc Phòng. Ông nói: “CPLTCHMN muốn đàm phán. Nhưng “không thể có đàm phán được” vì còn sự hiện diện của Tổng Thống Thiệu.”. Ông còn nói tiếp :

    – “CPLTCHMN mở rộng cửa đón mọi đề nghị. Tuy nhiên, chỉ có thể nói chuyện được với một phái đoàn của chánh quyền mới. Chánh quyền mới nầy phải do một “nhân vật trung lập” lãnh đạo, trong đó phải có thành phần của lực lượng thứ ba, cũng có thể có một số “chánh trị gia thân Mỹ”.

    Nhưng những người nào thì ông Du không thể cung cấp danh tính được .

    Tại Câu lạc bộ thể thao, người ta xác nhận là đại tá Võ đông Giang, người đại diện của CPLTCHMN ở trại Davis, đã có thử liên lạc với tướng Dương văn Minh để thương thảo về việc thành lập một Chánh Phủ Liên Hiệp. Đúng hay Sai ? Một ước vọng khả tín ?? Không ai biết được hết ! Không phải người dân Sài Gòn nào cũng đến chơi ở Câu lạc bộ thể thao nầy, nhưng có thể họ có đón nghe đài giải phóng.. Đài nầy kêu gọi buông súng xuống, đừng giết nhau nữa , nhưng chỉ kêu gọi một phía là QLVNCH mà thôi !

    “- Bởi vì chúng ta cùng là người Việt Nam cả….. CPLTCHMN sẽ không đụng tới một cây kim hay một sợi chỉ của đồng bào !”

    Có nhiều gia đình ở Miền Nam có con em “tập kết” ra Miền Bắc . Thông thường họ chỉ kháng chiến ở Miền Nam trước 1954, khi tập kết ra Bắc họ không phải là cộng sản . Và có thể họ không bao giờ là cộng sản . Có thể một số đông những người tập kết sẽ trở về Miền Nam mà vẫn không phải là đảng viên cộng sản .

    Những lời nói của ông Giám Đốc Phòng thử nghiệm hình như có tiếng vang thuận lợi. Ông đã minh xác là “trong hiện tại, chiến lược của CPLTCHMN là cô lập Sài Gòn với các nơi khác trong nước….. CPLTCHMN không muốn tấn công vào Sài Gòn ” Chỉ cần cô lập thủ đô để buộc Sài Gòn phải thay đổi Chánh Phủ . Giải pháp cuối cùng sẽ là giải pháp chánh trị . Ông ta còn tuyên bố là: “sẽ không có tổng nổi dậy, cũng không có tắm máu trong thủ đô”

    Tướng Đôn nói với người nầy người khác là ông sẽ ở lại trong Chánh Phủ để chuẩn bị đàm phán vời địch quân. Ông rất tiếc là không có đủ can đảm để xin với Tổng Thống Thiệu cho ông từ nhiệm. Thật là vừa khôn ngoan vừa ích kỷ, vừa thủ đoạn lại vừa thành thật. Con nhà khá giả, năm nay 58 tuổi, sanh ở Bordelais (Pháp), nói tiếng Pháp thật là tuyệt, ông Đôn là một sĩ quan cấp tướng được Pháp hóa nhất trong hàng tướng lãnh Việt Nam, và là một người gương mẫu trong số các quân nhân hăng say hoạt động chánh trị ở Sài Gòn . Ông đã từng đảm nhiệm chức vụ Quân đoàn trưởng, tổng trưởng, dân biểu và nghị sĩ. Ông thấy mình có thể giữ ghế Thủ Tướng hay Tổng Thống nếu cần. Nghịch cảnh khuyến khích ông, thành công không làm ông quá phấn khởi. Giống như tướng Kỳ, ông có nhiều rắc rối với Thiệu, ông biết Tổng Thống Thiệu lúc ông nầy còn là đại tá trong khi ông ta đã là tướng ba sao rồi. Vì là người lịch lãm nên Tổng Thống Thiệu đã dùng ông đi du thuyết ở ngoại quốc. Đã từ lâu ông Đôn nghĩ rằng người quốc gia nên tìm một thỏa thuận nào đó với CPLTCHMN . Nhưng ông Tổng trưởng Quốc Phòng của một tân Chánh Phủ nầy không thể thuyết phục được ai để củng cố được chế độ khi ông nói với người ta là Chánh Phủ nầy chỉ tồn tại được có 15 ngày mà thôi .

    Tại Đàlạt, linh mục Jean Mais chờ đợi.. Một cán bộ Bắc Việt khoản 50 tuổi, người nhỏ thó, gầy, đen đúa và đầu húi cua, mặc một cái quần rộng thùng thình… buớc vào cửa Đại Học, chào linh mục, cố gắng nói một vài câu bâng quơ bằng tiếng Pháp nặng chình chịt rồi đi ra.

    Thành phố Đàlạt được ổn định lại nhanh chóng. Một anh thợ cắt tóc cầm đầu Ủy Ban Quân Quản Thành Phố đóng tại rạp chiếu bóng trên chợ ở ngay khu trung ương thành phố. Vì linh mục Mais nói được tiếng Việt nên ông Hiệu trưởng trường Trung Học Pháp đến nhờ ông liên lạc với Ủy Ban Quân Quản.

    Một nữ sinh viên lớp đệ tứ , nhân viên của Ủy Ban đã trả lời cho linh mục:

    – “Chúng tôi còn rất nhiều việc phải làm”

    Thôi thì các Hội đua nhau nở rộ, nào là “Hội Các Phụ Nữ Giải Phóng”, “Hội Trí Thức Yêu Nướcc”.. v.v…. Nếu người nào không chịu vào một Hội nào thì người đó bị coi như “thành phần chống đối” . Ông viện trưỏng Dương tham gia soạn thảo bài diễn văn chào mừng các chiến sĩ cách mạng. Theo truyền thống trong tiếng Việt thì người ta thường ghép danh từ “hân hoan” đi đôi với danh từ “chào đón”. Nhưng ông viện trưởng thay vì dùng danh từ “hân hoan” lại nói là “không hân hoan”. người ta chỉ trích ông dữ dội, nhưng ông giải thích: – – ” Tôi có rất nhiều bạn bè trong số các sĩ quan VNCH. Tôi chào đón cách mạng trong hoàn cảnh một đất nước bị chia rẽ.” Người ta bắt ông ngay sau khi mắng chửi ông thậm tệ.

    Ủy Ban Quạn Quản tiếp xúc với Đức Giám Mục Lam, địa phận Đà lạt. Ông nầy nhờ linh mục Mais thiết lập một bản kê khai tài sản của trung tâm Huấn Luyện Nông Nghiệp Công Giáo ở ngoại ô Đàlạt.. Linh mục Mais dùng chiếc xe Land Rover cùng với một linh mục khác đi vào nông trường. Đi vòng một con suối có cây cầu bị phá sập, gần đến nông trường, hai người gập một đoàn khoản 60 chiếc xe tăng đang ngụy trang dưới các lùm cây. Các bộ đội Bắc Việt ngồi dưới đất dường như chẳng ai thèm để ý gì đến hai ông hết. Đến nông trường, linh mục Mais gặp những người của Ban Quân Quản. Họ hỏi ông để lấy một số vỉ sắt trong công xưởng, nói rằng : “mượn để lót cho xe tăng qua suối “

    —>Xem tiếp…

  27. Chương 15

    Tiếng cu kêu

    Cô Lan, 16 tuổi , cô gái thứ tư trong 8 người con của một gia đình người Hoa đang sống tại làng Ngọc Hải, cách Cao Bằng 15 cây số và cách biên giới Việt Hoa khoàng 45 cây số. Cha cô làm nghề đan ghế tre và chuyên chở gạo bằng xe bò. Là thợ may của hợp tác xã, mẹ cô thỉnh thoảng cũng nhờ bọn lính gác để đi qua bên kia biên giới bán đường hóa học Việt Nam và mua về các nữ trang bằng cẩm thạch. Năm vừa qua cô đã đỗ bằng Trung học đệ nhất cấp. Cô chỉ đến trường mỗi tuần có 3 ngày để có thể đi làm thay cho mẹ cô ở hợp tác xã. Công việc cũng không có gì khó khăn. Vải của Liên Xô đã được cắt sẵn ra thành từng miếng, chỉ cần ráp lại thành những chiếc sơ mi, dài tay, ngắn tay hay quần, v..v.. là xong. Càng ráp được nhiều thì càng lãnh được nhiều tiền. Ráp một chiếc sơ mi ngắn tay thì lãnh được 7 hào 70 xu. Nếu có ai đưa vải nhờ may thì giá phải bằng hai. Mẹ cùa cô đang mang thai, mà muốn lãnh được khẩu phần lương thực của mình thì mẹ cô phải làm việc 20 ngày mỗi tháng. Cha cô thì được lãnh 50 gam thịt heo phụ trội . Gíá chính thức của một kí lô gạo là 40 hào trong khi giá chợ đen phải là 16 đồng một kí. Một kí lô thịt heo giá chánh thức là 2 đồng 70, và giá chợ đen là 25 đồng.

    Trong giờ học về lịch sử ở trường, cô giáo đã từng nói:

    ” Chúng ta hy vọng là nước Việt Nam sẽ được sống trong thanh bình và độc lập. Miền Nam và miền Bắc sẽ được thống nhất. Sẽ không có sự can thiêp nào của cả người Mỹ lẫn người Trung Hoa.

    Cô giáo cũng đã từng nói là đất nước đã bị 14 thế lực ngoại bang xâm lăng, trong đó có người Tàu, người Pháp, người Đức và người Ý. Tất cả đếu đã bị đánh đuổi chỉ còn có người Mỹ.

    Cô cũng còn nói:

    -” Chúng ta phải chiến đấu đến thắng lợi cuối cùng. Dù phải mất 50 hay 100 năm nữa. dù chúng ta phải chiến đấu đến người cuối cùng trong gia đình .

    Cô Lan không thích chiến tranh. Cô có họ hàng ờ Sài Gòn trong Miền Nam, em của bà nội cô và các con của bà. Cô cảm thấy có nghĩa vụ đối với đại gia đình của cô. Theo cô thì nhiều người không hiểu tại sao họ phải chiến đấu. Họ phải thi hành nghĩa vụ quân sự. Cô biết có một người Thái bị chung thân khổ sai vì tội đào ngũ. Cô đã thấy một số bạn trẻ đã khóc vì bị bắt đi thi hành nghĩa vụ quân sự nhưng rồi cũng phải đi. Tại Cao Bằng, có không ít người Việt lai Tàu trốn khòi các trại lính và đào ngũ. Cô Lan đã gặp được một số thương binh. Với một anh bộ đội bị mất cả đôi chân, chánh quyền đã cấp cho anh một đôi chân giả và một chiếc xe gắn máy cà tàng cho anh ta xử dụng.Một người khác thì được một chiếc xe đạp và những bộ phận tay chân giả.

    Cô Lan thích các bài tập hát trên đài phát thanh lúc 14 giờ 30. Họ dạy từng đoạn một. Cô cũng thích nghe những bài học về xã giao, về luân lý hay về vệ sinh trong các buổi phát thanh đó. Cô thuộc nằm lòng nhiều bài hát và nhiều bài thơ nhất là thơ của Tố Hữu.

    Mặc ai nói xỏ nói xiêng
    Lòng tôi vẫn vững như kiềng ba chân

    Cô hiểu rõ những câu thơ đó lắm. Trong các nhà bếp tập thể trong làng, người ta thường xử dụng kiềng ba chân, tượng trưng cho ba miền Bắc, Trung và Nam. Cô thích nhắm nhìn giòng nước trong vắt của con sông Bằng Giang, những ngọn đồi và những ruộng xanh của làng mình. Cô không quan tâm đến vấn đề chánh trị . Cô không đọc báo mà làng cô thường nhận được, dù đó là tờ Nhân Dân, tờ báo của đảng , trong đó có những bài rất giản dị mà người nông dân nào cũng có thể hiểu được. Trong số báo ngày 5 tháng 4, trong mục “Thời sự lịch sử”, người ta đọc được là : Tuổi Tý con chuột trong năm Mão con mèo” : ông Thiệu tuổi Tý. Tự nhiên là con chuột Thiệu bò từ cống của người Pháp sang cống của người Mỹ. Bị tấn công ở Ban mê Thuột , Thiệu bỏ chạy tới Huế và Đà Nẳng để nhảy xuống biển Trung Quốc trở về Miền Nam chui vào Sài Gòn . Theo âm lịch năm nay là năm Mão, năm con mèo. Khi mèo gặp chuột thì mèo sẽ ăn chuột. Chỉ trong thời gian một tháng, mèo đã ăn được một số chuột rồi. Làm sao ông Thiệu vốn là tuổi Tý chạy thoát được miệng con mèo ? Số mệnh được an bài rồi: sanh vào tuổi Tý phải chết vào năm Mèo !

    Trong báo cáo tiến quân của mình Văn tiến Dũng ghi là ông đã dừng chân chỗ nầy hay chỗ nọ để tỏ tình cảm của mình đối với cảnh vật, một niềm vui khi nhìn các ngọn đồi dưới nắng vàng, hay màu xanh tươi của cỏ cây, hoặc những vưồn cao su dày đặt chạy dài suốt tận chân trời .. ..hay các cây cổ thụ hùng vĩ trong rừng già.. .. và những cành lan xinh đẹp đang nở. Ông thường la cà bên các hỏa đầu quân ngay ở bờ suối đang làm bếp bằng những chiếc lò Hoàng Cầm, với một bộ phận “ém khói” tinh vi. Ông cũng hay đứng nhìn các anh bộ đội đang ngủ say trên võng sau một đêm dài di chuyển, hoặc những dòng chữ kiểu cọ trên các tấm bản chỉ đường hướng dẫn cho họ khi họ muốn tìm đường về đơn vị hay ban ngành nào đó trên đường tiến quân. Vị Tổng tư lệnh Bắc Việt cũng thích nghe những mẩu chuyện răn đời. Ông Đinh đức Thiện, một người có trách nhiệm về tiếp vận đã kể cho ông một câu chuyện sau đây :

    “một ngày nọ ờ một bãi đậu xe gần quận Đức Lập ông ta thấy hai người tài xế đang loay hoay sửa một chiếc xe vận tải. Ông hỏi : Các anh thuộc đơn vị nào đây? Ta đang sắp sửa kết thúc cuộc chiến rồi mà sao các anh còn mãi loay hoay ở đây ? Các anh không biết thẹn sao ? Và hai anh tài xế trả lời ngay là : Ông ơi, hai chúng tôi là tù binh ”

    Tướng Dũng đã ghi lại là:

    ” Trên khắp các mặt trận và trong tất cả các đơn vị, người của chúng ta đã xử dụng các cựu quân nhân và chyên viên dân chính của quân đội Sài Gòn trong công tác tu bổ nhiều loại xe. Họ đã giải thích cho chúng tôi những đặc điểm của từng loại vũ khí và quân cụ của Mỹ để cho chúng tôi xử dụng , và người ta có thể thấy là trong các đoàn xe của chúng tôi đã có những thiết vận xa M.113, những chiến xa M.41, M.48, hay những khẩu đại bác 105 , 155 ly và những máy truyền tin chiến thuật PCR 25, hoàn toàn của Hoa Kỳ. Các phi công của ta đã nhanh chóng học và điều khiển được các phi cơ săn giặc A.37 hay F.5. Hơn bao giờ hết chúng tôi đã đánh địch được bằng chính những vũ khí của họ. Tất cà những chiến lợi phẩm nầy đã tăng sức mạnh hỏa lực của chúng tôi gấp 10 lần và giúp tăng nhanh nhịp độ tiến quân của chúng tôi ”

    Tướng Dũng cũng đã ghi rõ trong Nhựt ký hành quân của ông ta:

    -” Sau khi giải phóng được Đà Nẳng , Quân Đoàn số 2 được lệnh tiến nhanh dọc theo bờ biển xuống phía Nam, để đến Biên Hòa (một căn cứ lớn nằm về phía Bắc của Sài Gòn ) trong một thời gian là 18 ngày. Trên 900 cây số mà Quân Đoàn nầy phải đi, nhiều cây cầu đã bị phá hủy. Từ Đà Nẳng đến Quảng Ngãi đã có 6 cây cầu sập, và dẫn một đoàn xe 2000 chiếc, phải vượt qua 6 con sông, chưa nói đến các trận chiến.. .. quả là một bài toán phức tạp về tổ chức và chỉ huy !”

    Tướng Dũng luôn luôn dựa trên quá khứ để phân tách các bài toán của năm 1975:

    ” Trong cuộc hành quân năm 1972, sư đoàn 308 chỉ có 400 xe, đã không tiến lên được vì những nút chận ở dọc đường”.

    Viên tổng tư lệnh và Bộ Tham Mưu của ông ta đã đoan chắc là sự hợp đồng giữa các binh chủng đã được hoàn hảo hơn.

    ” Quân Đoàn 2 đã được tổ chức làm nhiều thành phần; mở đường và sửa cầu là Công Binh. Đi kế đó là Chiến xa sẳn sàng tiếp ứng nếu gặp trường hợp có kháng cự. Hai thành phần nầy được một trung đoàn phòng không yểm trợ. Bộ binh và Pháo binh đi sau cùng.”

    Bây giờ thì tuớng Dũng đã không còn ngần ngại khi ông biệt phái các chiến xa tách rời xa các đơn vị bộ binh .. ..

    ” Các bô lão đứng dọc theo đường cùng phụ nữ và trẻ em để cho chúng tôi trà, nước dừa và mía” .Tướng Dũng không dám nói thật là thường thường thì dân chúng “bán” cho bộ đội những tách trà, những trái dừa hay những khúc mía.

    “Các anh bộ đội với lệnh “Tốc chiến Tốc thắng” trên mũ, không thể dừng chân để trò chuyện với dân chúng mà họ chỉ vẫy tay chào khi đi ngang qua và tiến thẳng về trận tuyến. ”

    Tướng Dũng đến Lộc Ninh, một địa điểm cách biên giới Cambốt 15 cây số và cách Sài Gòn 100 cây số về hướng Bắc, sau khi đã đi qua các vườn cao su bạt ngàn từng bị hư hại qua các trận không kích của Không lực VNCH, và các vườn tiêu, vườn sầu riêng, vườn mít hay vườn dừa vừa mới được chỉnh đốn lại gần đây. Ông viết trong nhựt ký vài đoạn tuyên truyền. Lộc Ninh đã được Quân Đội Bắc Việt chiếm cách đây 3 năm. Trong thời gian thi hành Hiệp Định Paris, Lộc Ninh là thủ đô bán chánh thức của CPLTCHMN. Từ lâu liên lạc giữa Sài Gòn và Lộc Ninh đã được thiết lập bằng phi cơ. Tướng Dũng đã viết với một niềm vui cách mạng của một nông dân hơn là của một anh bộ đội:

    “Hai bên đường được sửa chữa và mở rộng thêm ra; đã có những nhà lá vừa mới được dựng lên, với những cánh đồng sắn và ruộng lúa xinh tuơi”.

    Ông sung sướng đứng nhìn các công nhân đang bứng các gốc cây và làm cỏ trong vườn cao su.

    Ông ta đang nghỉ ngơi, sau khi ngắm nhìn không chán các vườn rau và vườn cây ăn trái; ông đánh một giấc ngủ trưa sau khi chiêm ngưỡng một cây chuối. Ông ước mơ một ngày nào đó các sư đoàn của ông sẽ tiến đến Cà Mau, điểm cực Nam của Miền Nam Việt Nam và dĩ nhiên ông nhớ ngay đến những câu thơ của Tố Hữu:

    Ôi Bình Long, mảnh đất của Miền Nam
    Tôi đã gặp lần đầu tiên trong một buổi sáng
    Nắm đất đỏ nầy, ta đã nắm được trong tay
    Gần như có chất rượu làm cho ta say
    Khi ta ôm người chiến sỉ của Mặt Trận trong tay
    Qua các cánh đồng của Cà Mau ta đi như ngựa chạy.. (1)

    Tướng Dũng đã đi gặp ông Phạm Hùng trước hết ở Tổng Hành Dinh của Nam Bộ, nằm về phía Tây của Lộc Ninh. Ông Phạm Hùng, người chỉ huy cuộc chiến ở Nam Bộ từ năm 1967 trên phương diện chánh trị là một nhân vật quan trọng ở phía Nam của vĩ tuyến 17. Ông là bí thư Trung ương đảng cộng sản của xứ ủy Nam Bộ, một đảng viên đã từng đấu tranh từ năm 1930 trong các cuộc đình công ở Miền Nam Việt Nam , từng bị bắt nhiều lần, bị án tử hình rồi lại được ân xá và bị đày ra Côn đảo. Lần cuối cùng ông ra khỏi khám đường của người Pháp vào tháng 8 năm 1945. Ông biết rành mạch Miền Nam Việt Nam và đã từng cộng tác với Lê Duẫn trước đó ở Nam Bộ. Bây giờ ông là chánh trị viên của chiến dịch tổng tấn công, trên ông chỉ có Lê đức Thọ.

    Về mặt quân sự đối ứng với ông là tướng Trần văn Trà. Ông nầy vừa mới đi thanh sát quân đoàn 4, đơn vị nầy sẽ phải tấn công vào tuyến phòng thủ phía Đông của Sài Gòn , nằm chung quanh Xuân Lộc. Tướng Trà tường trình cho tướng Dũng.

    Người ta dựng lều chung quanh Tổng hành dinh cho Bộ Tham Mưu, người ta cũng đào các hầm trú ẩn và giao thông hào dưới các hàng cây. Ban ngày thì các hoạt động được tiết giảm tối đa vì Không lực của VNCH có thể đến bất thần. Ban đêm thì khu rừng mới trở nên náo nhiệt . Người ta nghe thấy tiếng xe chạy trên các tuyến đường, tiếng chạy của máy đèn, và tiếng tạch tạch sè liên tục cùa các đài truyền tin. Các phòng ban, dịch vụ được phân tán rãi rác khắp nơi để tránh tác xạ của phi cơ địch.

    Rất thận trọng, tướng Dũng đôi khi được mô tô đèo đi thanh sát tất cả và khắp nơi. Các cận vệ của ông choàng khăn ca rô đen trên cổ. Các xe truyền tin thuôc Bộ Tham mưu của ông đậu sâu trong rừng ở cuối các con đường mòn quanh co khúc khuỷu để tránh không bị địch kiểm thính từ trên không, hay để tránh các cuộc hành quân đột kích của đơn vị biệt kích Miền Nam Việt Nam.

    Ông Phạm Hùng nêu lên câu hỏi về các kho dự trử đạn dược. Một sĩ quan trả lời :

    ” Tôi bảo đảm là chúng tôi có đủ để làm cho họ rung lên trong 3 thế hệ.

    Về sau nầy, cứ mội lần có câu hỏi về đạn dược thì người ta lại vừa cười vừa nhắc lại công thức:

    -” Phải cấp phát nhanh đủ để làm cho “3 đời” họ phải rung lên !

    Một phiên họp vừa mới kết thúc ngay tại Tổng hành dinh. Một chiếc mô tô đến đổ ngay tại Bộ Tham Mưu : ông Lê đức Thọ đến. Ông mặc một chiếc quần ka ki và một áo sơ mi mầu xanh dương, với chiếc nón cối nhẹ trên đàu. Đây là lần thứ ba ông đến Nam Bộ trong vòng 30 năm qua. Ông đã đến bằng phi cơ, bằng ô tô và lần nầy thì bằng mô tô.

    Trong số những người đang chỉ huy chiến dịch tổng tấn công nầy, Lê đức Thọ là người quan trọng nhất. Ông ta là người có đủ các thông số trong đầu, chánh trị ,quân sự , ngoại giao. . . và cả quốc tế quốc nội nữa. . . .. . Ngày 8 tháng 4 ông đưa ra một Nghị quyết , được Bộ Chánh trị ở Hà Nội chấp thuận ngày 22/3 :” Tiến lên cho đến chiến thắng cuối cùng”

    Các trận mưa đầu mùa trong cánh rừng đã làm cho cán bộ không ngủ được . Làm sao để ngủ bây giờ đây ? Lê đức Thọ lấy giấy ra viết một bài thơ mà tướng Dũng cho là ” rất đúng với hoàn cảnh lúc bấy giờ”. Đối với người cộng sản, muốn thấy được vị trí của mình trong hệ thống lãnh đạo đảng thì phải nhìn vào danh sách đảng viên được niêm yết ở Đại Hội đảng xem mình nằm ở hàng thứ mấy, mình được lên phát biểu lúc nào, và vị trí của mình trên khán đài trong mọi cuộc mít tinh. Người ta cũng có thể xét đoán tầm quan trọng của mình qua số lượng thơ phú mà mình đã sáng tác và được các đồng chí cùa mình ưa thích. Trong nhựt ký của mình tướng Dũng tự cho mình còn quá thấp trước một Lê đức Thọ. Vì Lê đức Thọ hiện là người lãnh đạo trong giai đoạn nầy của xứ ủy Nam Bộ. Hơn thế nữa, ông có thể là người số 1 sẽ thay thế Lê Duẫn trong chức vụ Tổng bí thư của đảng. Người ta không sao không đề cao Lê đức Thọ được khi ông làm thơ trong cánh rừng ở Lộc Ninh. Thơ rằng:

    Tôi lắng tai nghe tiếng gáy của chim cu đen
    Trong rừng Lộc Ninh lúc mặt trời vừa ló dạng
    Tôi không sao chợp mắt được thâu đêm suốt sáng
    Đếm từng giọt nước mưa rơi trên giường
    Lo cho binh sĩ chúng ta đang dầm mưa lội nước
    Trên con đường dài vô tận theo tank pháo cùng đi
    Ta chờ đón tin vui của những người sấp đến
    Từng phút từng giây trận tuyến đang mong chờ
    Để đường sá khô cứng lại mưa ơi !
    Đưa chúng tôi mau đến đích
    Của trận chiến lịch sử hôm nay
    Vì phát súng đầu tiên đã được ta khai hỏa (2)

    Cấp lãnh đạo Bắc Việt lúc nào cũng làm thơ rất dễ dàng như họ đã bắt giam hay hành quyết những người đối lập của họ vậy.

    Lê đức Thọ và Phạm Hùng cùng ra những chỉ thị của họ trong các vùng vừa tạm chiếm mà họ gọi là “vùng vừa được giải phóng.” Như : “Bộ đội phải giữ tư cách và thái độ đứng đắn của mình. Nhưng cán bộ của chánh quyền Miền Nam Việt Nam nhất là cảnh sát, phải được bắt giữ”. Bộ Chánh Trị muốn rằng cuộc tổng tấn công phải được bắt đầu trễ lắm là vào tuần lễ thứ ba của tháng tư nầy.

    Trong vùng Đông Nam Á Châu, đặc biệt là Thái Lan và Phi luật Tân, đều có căn cứ Không quân của Hoa Kỳ, ở đó có phóng pháo oanh tạc cơ và pháo đài bay B.52. Vào những ngày đầu tháng 4 , lãnh đạo Bắc Việt không còn sợ sự trở lại của Quân Đội Mỹ nữa. Họ còn tin chắc 100 phần trăm là không còn sự can thiệp nào cũa Không lực Hoa Kỳ nữa. Ở Lộc Ninh, tại Tổng hành dinh Bắc Việt tướng Dũng giải thích là người ta theo dõi rất sát những cuộc hành quân ở Cam Bốt từ đầu tháng 4.

    Từ lâu rồi các cuộc hành quân thường phải theo một chu kỳ nhứt định: vào tháng 2, tháng 3 và tháng 4 thì cộng sản đưa người và vũ khí đạn dược vào cho bố trí sẳn tại chỗ để sẳn sàng tiến hành các cuộc hành quân tấn công lấn chiếm dự trù trong năm. Các cuộc xâm nhập do đó chậm lại vào mùa mưa khi mưa bắt đầu rơi ở Lào. Vào tháng 4, Bắc Việt mở các cuộc tấn công thăm dò vào hệ thống phòng thủ của Sài Gòn . Các cuộc tấn công lớn nhỏ đều phải chấm dứt vào tháng 7. Lúc bấy giờ phần lớn lãnh thổ Miền Nam bị chìm trong biển nước trong lúc các chiến xa, lực lượng búa tạ chính của Bắc Việt thì lại cần có mảnh đất khô ráo.

    Tại Sài Gòn nhiều người tưởng rằng thủ đô có thể phòng thủ và giữ vững được nhờ số lượng phi cơ khả dụng của Không quân còn nhiều . Chỉ cần giữ vững tuyến phòng thủ đến tháng 7. Sau đó là đến tháng 10 là chu kỳ mới lại bắt đầu. Người Mỹ và người Miền Nam sợ bộ đội Bắc Việt sẽ bắt tay được với các sư đoàn dọc theo bờ biển và các trung đoàn đang thành lập ở đồng bằng sông MeKong rồi tập trung bao quanh Sài Gòn..Một vài nhân viên ngoại giao Hoa Kỳ thì thầm với nhau rằng các sư đoàn Bắc Việt giờ đây tương tự như các quân đoàn của Đồng Minh đang trên đường tiến vào Bá Linh vào năm 1945 vậy.

    Ngày 8 tháng 4, lúc 8 giờ 25, Đại sứ Nhật Bản đã trò chuyện với ông Jean Meric Mérillon, Đại sứ Pháp. Cuộc nói chuyện có vẻ khó khăn: người Nhật thì không biết gì nhiều và người Pháp thì lại không chịu nói nhiều. Ông ta không thực sự hứa hẹn gì cả với ông khách người Nhật như ông nầy đã tin tưởng và hy vọng là : “nước Pháp sẽ dàn xếp được tất cả”

    Cuộc chiến bộc phát. Bom đạn rơi vài trăm thước cách nhà thờ chánh tòa. Lại thêm sự ồn ào của các súng liên thanh và súng cá nhân nữa. Ông Mérillon đã cho gắn một tấm kính mầu lớn ờ cạnh văn phòng của ông ta. Nếu tấm kính nầy bị vỡ tan thành từng mảnh thì rất là nguy hiểm. Phẩm cách về ngoại giao đã bắt buộc hai Đại sứ lại tiếp tục nói chuyện với nhau, đại sứ Nhật vẫn giữ vẽ bình tỉnh của một Hiệp sĩ Phù Tang.

    Một chiếc oanh tạc cơ F.5 bay từ hướng Nam, là là trên con rạch rồi nhắm thằng Dinh Độc Lập lao đến, từ cao độ 300 thước thả xuống 2 trái bom loại 250 cân anh. Bom nổ ngay trên sân làm chết 2 người làm vườn, Dinh Độc Lập cũng bị thiệt hại, nhưng rất nhẹ gần như không đáng kể. Chiếc F.5 bay lên cao độ 900 thước rồi lại lao trở xuống một lần nữa thả thêm xuống 2 trái bom nữa, nhưng lần nầy bom không nổ. Phi cơ lại dùng đại bác liên thanh 20 ly bắn vào một kho xăng Shell ở Nhà Bè nhưng cũng không gây thiệt hại. Phi cơ lấy cao độ và bay về hướng Bắc- Tây Bắc.

    Loại mưu sát vào dinh Tổng Thống kiểu nầy là một phần trong bản nhạc chánh trị ở Việt Nam. Vào tháng 2 năm 1962, hai phi công Miền Nam Việt Nam đã thả bom và bắn liên thanh xuống . dinh Độc lập cũ với hy vọng thanh toán Tổng Thống Diệm. Họ đã đánh sập một cánh của dinh nầy nhưng không một người nào trong gia đình của Tổng Thống bị hại. ở Việt Nam cũng như ở Á Châu và Phi Châu ngày nay hoặc Âu Châu ngày hôm qua , nhiều người tin rằng nếu thủ tiêu được những diễn viên chính của chánh quyền thì có thể thay đổi được chánh thể trong lịch sử. Phải chăng đây là một trong những căn bệnh ấu trĩ cũa những nước chậm phát triển ?

    Ở thủ đô, người ta hỏi nhau có phải việc đánh bom vào dinh Độc Lập vừa rồi có phải là hành động khởi đầu của môt cuộc đảo chánh hay không ? Tướng tư lệnh Không quân Nguyễn cao Kỳ có âm mưu gì chăng ? vì tướng Kỳ và Không quân đến một thời điểm nào đó, chỉ là một thôi. Người ta vẫn biết là cộng sản Bắc Việt trong hiện tại, đang đòi tướng Thiệu phải ra đi. Người ta quả quyết là tướng Kỳ muốn thương thuyết với họ. Do đó nếu ông loại được tướng Thiệu là ông đã thỏa mản được một điều kiện của cộng sản rồi. Có nhiều xe phóng thanh chạy khắp Sài Gòn thông báo lệnh giới nghiêm bắt đầu từ 12 giờ trưa nay, đồng thời cho phát thanh nhiều bài hát yêu nước.

    Về giả thuyết tường Kỳ, Chủ Tịch Thượng Viện và một số người khác đều nhận xét là viên phi công ưu tú nầy không hơn gì Tổng Thống Thiệu trong tư thế đàm phán với cộng sản . Có nhiều người quả quyết là họ đã thấy một chiếc MIG. Như vậy thì đây là hành động của Bắc Việt. Một số người khác giàu óc tưởng tượng và có ý xấu đã cho là Tổng Thống Thiệu đã dàn dựng lên việc nầy để có lý do bắt đối lập.

    Vào hồi 10 giờ, ở trung tâm báo chí, một phát ngôn viên tuyên bố là các vụ nổ đã xảy ra ” trong chu vi dinh Tổng Thống” . Và sau đó, như thường lệ, phát ngôn viên nầy phân phối bản thông cáo báo chí trong ngày : ” Trong 24 giờ qua, cộng sản đã có 142 vi phạm lệnh ngưng bắn.”

    Lúc 12 giờ trưa, các đường phố vắng tanh. Hàng quán đóng cửa. Ở khắp các khu phố người ta liên lạc hỏi nhau bằng điện thoại : Cuộc tấn công vào Sài Gòn đã bắt đầu? quân Bắc Việt đã tới rồi? Tổng Thống Thiệu đã chết ? các tướng lãnh đã nắm chánh quyền ? tướng Minh Dương sẽ là Tổng Thống . . . . . ?

    Tổng Thống Thiệu chứng minh là ông vẫn còn sống khi ông nói chuyện trên đài phát thanh. Ông bảo đảm là không có môt người nào trong gia đình của ông bị thương. Quân lực VNCH vẫn trung thành với ông. Không có đảo chánh gì hết. Tổng Thống Thiệu vẫn còn là Tổng Thống của VNCH.Ông ứng khẩu nói :

    “Cuộc tấn công nầy là một cuộc tấn kích lẻ loi của một nhóm người muốn ám sát tôi, để thay đổi tính chất hợp hiến và đúng pháp lý của chế độ nầy.”

    Sự thật đã quá rõ ràng ngay buổi chiều hôm đó. Cất cánh từ sân bay Biên Hòa với nhiệm vụ đánh các vị trí của Bắc Việt , trung úy phi công Nguyễn thành Trung đã nói là phi cơ có trục trặc kỹ thuật nên đã trở về căn cứ Biên Hòa. Chính anh ta đã thả bom xuống dinh Độc Lập. Và anh đáp xuống một sân bay dưới quyền kiểm soát của Bắc Việt ở miền Trung. Sau đó chánh quyền cộng sản đã nhanh chóng xác nhận trung úy phi công nầy là người của họ từ lâu rồi. Đó chỉ là đề tài tuyên truyền của Bắc Việt để kêu gọi quân lực VNCH rã ngũ, và đi đến nổi dậy. Người ta có cảm tưởng rằng trung úy Trung bị mất hết tinh thần vì gia đình của anh ta vẫn còn kẹt lại ở Đà Nẳng, nên động cơ hành động của anh là vì vấn đề cá nhân hơn là chánh trị . Cộng sản cho anh vào sát nhập và Không quân Bắc Việt và giao cho anh ta chỉ huy một phi đội gồm các phi cơ của Miền Nam mà họ vừa mới chiếm được .Anh được thăng cấp đại úy và được trao tặng huy chương giải phóng hạng 2.

    Không còn lo lắng gì nữa, người dân Sài Gòn nói đùa: “nếu anh ta mà giết được Tổng Thống Thiệu thì có lẻ anh sẽ được trao tặng huy chương giải phóng đệ nhất hạng rồi !”

    Và đến 6 giờ chiều thì Sài Gòn hết thiết quân luật.

    Dù là ồn ào và không có ý nghĩa gì, nhưng biến cố nầy cũng gây được một cảm tưởng không tốt ờ Hoa thạnh Đốn. Người ta ghi nhận là ít nhất vấn đề phòng không của Sài Gòn phải được tăng cường. Một phong trào chạy ra ngoại quốc đã bắt đầu ờ thủ đô Sài Gòn . Đây là một chỉ dấu đáng lo ngại: sự ra đi của các giám đốc chi nhánh ngân hàng Bank of America, của First National City Bank, của Chase Manhattan Bank ở Sài Gòn .Hơn thế nữa họ còn cho ngưng mọi giao dịch về ngoại tệ mà không có lời báo trước. Và họ cũng không muốn tích trữ đồng bạc Việt Nam . Đại sứ Martin đã tỏ thái độ bất bình với các ngân hàng nầy. Các phòng sở của ông cho biết là các giám đốc ngân hàng nầy chỉ “vắng mặt tạm thờI” mà thôi.

  28. Tướng Kỳ rõ ràng là không có dính líu gì vào hành động mưu sát nầy, nhưng người ta vẫn lo ngại về những kế hoạch bất thần của ông ta. Chiều hôm dinh Độc Lập bị dội bom, trong bửa ăn tối, ông Wolfgang Lehmann đã chăm chú để ý đến những lời nói của tướng Tổng Tham Müu trưởng. Đại tướng Viên là người ít nói , lời nói của ông cầu kỳ nhưng ông Lehmann có ý nghĩ là ông Tổng Tham Mưu Trưởng muốn tìm hiểu xem liệu Hoa Kỳ có chấp nhận một cuộc đảo chánh ông Thiệu hay không ? Đã hết rồi những trò chơi ấu trĩ đó !

    ” Không, Hoa Kỳ chống lại các cuộc hành quân kiểu đó, ông Lehmann nói .

    Tàu chiến của Hoa Kỳ đang tiến về bờ biển Việt Nam. Đùng một cái không khí lạc quan đã lên độ ở Sài Gòn . Các hàng không mẫu hạm Coral Sea từ Phi luật Tân, Midway từ biển Nhật Bản, hay Enterprise ở nữa đường Manila và Sài Gòn , chiếc Hancock đang tiến tới Vịnh Subic. . . có phải tất cả sẽ đến lo phòng thủ cho Miền Nam Việt Nam? Không phải tự nhiên mà Lê đức Thọ từ Tổng hành dinh ở Nam Bộ lại cẩn thận theo dõi những gì đang xảy ra ở Đông Nam Á Châu.

    Trong vịnh Thái Lan, ngoài khơi của Cam Bốt chiếc Okinawa, một chiến hạm chuyên chở trực thăng đang tuần tra tại đó. Tại Hoa thạnh Đốn người ta ước tính Cam Bốt đã sấp sửa mất rồi. Từ ngày 7 tháng 4, ba trăm sáu mươi (360) thủy quân lục chiến thuộc lực lượng can thiệp Alpha đã được lệnh báo động sẳn sàng lên đường trong 3 giờ. Phải di tản 800 người từ Phnom Penh. Cuộc hành quân nầy đã được mang tên là ” Eagle Pull” (cuộc rút lui của con ó).Ở Tòa Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn người ta biết là tất cả chỉ nhằm bảo vệ cho cuộc di tản mà thôi, không hơn không kém .

    Không khí rất căng thẳng giữa những người có trách nhiệm chính trong tòa đại sứ Hoa Kỳ . Theo hệ thống công vụ đẳng cấp càng cao thì người ta càng thấy lạc quan.

    Ngày 9 tháng 4, Thomas Polgar gởi một công điện về cục CIA Hoa thạnh Đốn mà không qua ông Martin:

    – ” Tôi đã bỏ một thời gian khá dài để bàn cải về giá trị của các tin tức không tốt và cũng đễ tranh cải về sự cần thiết của những quyết định hành chánh mà Tòa đại sứ vì một lý do nầy hay lý do khác đã không chịu ban hành.” Đại sứ Martin cũng vậy .

    Ông Polgar thực sự rất ghét sự trì trệ. Người ta không có thay đổi nào về giờ giấc làm việc ỡ văn phòng. Ít ra, trong những giờ bi thảm nầy người ta có thể tăng cường thêm giờ thường trực.

    “ Đại sứ đã dùng gần hết thì giờ của ông ta để tìm sự giúp đỡ trong việc xin ngân khoản viện trợ kinh tế , quân sự cho Miền Nam Việt Nam và ông luôn luôn muốn giữ trật tự kỹ cương trước một tình hình càng ngày càng xấu tệ.”

    Nếu ông Martin đọc được nội dung của bức công điện nầy, ông ta sẽ thích lối suy luận nầy lắm.

    Polgar tố cáo chánh phủ VNCH (chưa được cải tổ xong) :

    “chánh phủ nầy không tập họp được cho một hướng hành động hữu hiệu”. Theo ý Polgar thì khả năng diễn tiến sẽ phải như thế nào đây?

    -” Tin tức cho biết là giờ đây Bắc Việt đã quyết định theo đuổi và mở rộng áp lực quân sự nhằm cô lập Sài Gòn, với mục tiêu cuối cùng là một chiến thắng quân sự trong năm 1975.”

    Để cô lập Sài Gòn : Dù là có tin tức do một “nguồn tin” được Snepp cấy vào Nam Bộ (cục R), Polgar vẫn tin là cộng sản Bắc Việt cầm chắc sẽ cô lập được thủ đô Miền Nam . Polgar có một tâm hồn của một triết gia. Ông nói một cách oai phong về ông ta trong phúc trình:

    “người trưởng cơ quan nhận định rõ ràng là lịch sử hiếm hoi lắm mới tiến tới bằng con đường thẳng . Tuy nhiên chúng ta đang đi đến một sự sụp đổ có tầm vóc lịch sử nếu những thay đổi cần thiết không được thực hiện đúng lúc.”

    Vào đầu tuần lễ thứ hai của tháng 4, Polgar vẫn không loại ra ngoài các chuyển biến có thể thay đổi được tình hình:

    “ Quan điểm của ông trưởng cơ quan vẫn là tình hình quân sự sẽ không ổn định được nếu không có một hành động nào có tánh cách quyết định. Nếu không có môt hành động nào từ phía Hoa Kỳ thì chúng tôi nghĩ là một sự tắm máu quan trọng và vô ích sẽ không sao tránh khỏi được, nếu tướng Thiệu ra đi và nếu một chánh phủ đoàn kết quốc gia được dựng lên theo đề nghị của Ba Lê, áp dụng công thức như các người cộng sản đã từng định nghĩa.”

    Như vậy là người trưởng cơ quan nầy đã để tang cho ông Thiệu rồi !.

    Ông Polgar không lưu ý đến bản phân tách của cộng sự viên Frank Snepp. Ông nầy đã có viết một dư thảo công điện như sau :

    “ Tất cả cho thấy là Bắc Việt đã thay đổi kế hoạch và thời khắc biểu của họ, theo đó các cuộc tấn công vào Sài Gòn có thể sẽ vào giữa tháng 4.”

    Ông Snepp khẳng định :

    -” Sẽ không có viễn ảnh nào về vấn đề đàm phán hay về một chánh phủ ba thành phần”

    Polgar và ông Martin cùng đọc bản tường trình nầy. Cả hai ông đều cho bản tường trình nầy là quá “hoảng hốt”. Bản nầy sẽ được gửi về Hoa thạnh Đốn nhưng phài được ông Polgar sửa lại. Đoạn văn “tấn công vào Sài Gòn ” của ông Snepp được cây bút của ông Polgar viết lại là ” tấn công vào các vùng chung quanh Sài Gòn ”

    Tại Hoa thạnh Đốn trong một phiên điều trần trước Ủy Ban An Ninh Quốc Gia, Ông William Colby, người có trách nhiệm cao nhất của CIA, đã giải thích là tình hình quân sự ở Việt Nam là bi đát. Những người phân tách và viết lại phúc trình của CIA ở Hoa thạnh Đốn đã theo đùng nhận định của Frank Snepp. Họ nói thẳng thừng rằng “tất cả những chuyện lao xao về “đàm phán” của những người cộng sản chỉ là một “mưu kế” mà thôi”

    Ai sẽ đề cao những nguy cơ và tầm quan trọng trong công tác “viết lại” phúc trình trong hành chánh ngoại giao, trong cơ quan tin tức tình báo , và trong ngành báo chí ?, Ý nghĩ về khả năng đàm phán vẫn còn lảng vảng đâu đây, ngay trên các tầng quan trọng của sứ quán Hoa Kỳ tại Sài Gòn . Trong số dân chúng Miền Nam Việt Nam cũng còn có nhiều người vẫn đeo đuổi hay chạy theo những cuộc đàm phán bóng gió . . . .Trong giới báo chí, một trong 3 chàng ngự lâm pháo thủ là Phạm xuân Ẩn đã cả quyết với hai người bạn là Vượng và Cao Giao rằng:

    ” cộng sản muốn có đàm phán .” (3)

    Ẩn là một người to con, nhã nhặn, là một người rất thông thạo trong việc xử dụng tiếng Anh và tiếng Pháp, cảm hóa được mọi người. Lúc nào ông ta cũng biết được nhiều tin tức, ông làm việc toàn thời gian cho báo Times tại Sài Gòn và có giao dịch với các bộ tham mưu quân sự và chánh trị . Ông đã từng cộng tác với tờ Christian Monitor và hảng thông tấn Reuter. Dưới trào Tổng Thống Diệm thì ông ở bên Mỹ nhờ có được một học bổng của Asia Founation vì người ta tưởng ông là nhân viên cũa CIA. Ông ta thích nuôi chó và chim. Ông là người cung cấp ít nhất 80 % tờ báo Times từ Việt Nam . Ông nói với Cao Giao :

    ” người cộng sản không vướng mắc gì về tình cảm đâu. Quyền lợi của họ là cho hình thành một chánh phủ lâm thời. Và hoạt động của họ là nhắm vào chuyện đó.”

    Phài chăng ông Ẩn chỉ lo về công việc nên ít khi cho biết ý kiến cũa mình trừ khi đứng trước những người Việt Nam . Đối với bà Nga, người cùng làm việc chung với ông ở văn phòng của tờ Time, đôi khi ông để lộ cho thấy là ông ta không thích người Mỹ. Ông khuyên bà Nga nên rời khỏi Việt Nam . Riêng ông thì ước mong di tản được bà mẹ của mình. Trong hiện tại thì tờ Time đang sửa soạn cho di tản vợ con các cộng sự viên của tờ báo. Tuy nhiên ông giải thích cho ông Cao Giao là cũng chưa có gì phải hốt hoảng :

    ” Rất có thể người ta đang nghĩ tới môt nước Việt Nam thứ ba. Nhưng chưa có gì là xác thực hết. Ông Thiệu phải đi đã !”

    Các tin tức và những lời phân tích của ông Ẩn đã được nhiều phóng viên ngoại quốc xử dụng. Trong quá khứ, ông Ẩn đã tỏ ra là một người thấy xa.

    Mặc dầu tin tức có vẻ nghiêm trọng, các rạp chiếu bóng, các quán rượu và các tiệm ăn vẫn đầy người . Vẫn có nhiều khách hàng tấp nập ở chợ Bến Thành và chợ trờI, dù giá cả có lên cao. Những người vừa mới nói hôm qua rằng bộ đội của tướng Giáp sẽ tiến vào Sài Gòn thì hôm nay lại xác quyết với một giọng cương quyết chắc nịch rằng “Dù có việc gì xảy ra thì Sài Gòn vẫn sẽ được cứu”. Giữ được bộ mặt bề ngoài, cũng là một cách che dấu nổi lo sợ của mình. Các tờ báo Việt Nam có rất nhiều mục “Rao Vặt”. Giá thuê mướn phòng, hay bán nhà đang xuống . Các văn phòng lo về hôn nhân hoạt động mạnh, Các cô gái Việt Nam đang tìm một ông chồng để mong có được chiếu khán. Đôi khi lại có đề nghị của người Mỹ. . . .

    Tờ Saigon Post có mục rao “tìm bạn” như sau:

    ” Đại tá thuộc Quân Đội Hoa Kỳ . Mong được gặp và đi tới hôn nhân với một bạn gái người Việt Nam trẻ, đẹp để cùng chung sống ở Ba Lê (Pháp) . Phải có hiểu biết Pháp ngữ và Anh ngữ và thuộc gia đình đàng hoàng. Thư cho: Đại tá Mark Broman, 200 N. Howard, phòng số 24, Clarksville, Indiana, USA. 47130.”

    Nhiều người xấu miệng cho rằng : Người Việt Nam cũng xuống giá như nhà cửa vậy.

    Người dân Sài Gòn chen nhau vào các ngân hàng rút tiền Việt Nam ra để đổi đồng mỹ kim. Thủ tục khó khăn kinh khủng: Muốn rời khỏi nước, một người Việt Nam phải có thông hành, một chiếu khán xuất ngoại , và một chứng chỉ không thiếu thuế. Một vài chiếu khán xuất ngoại được thương lượng với giá 10 triệu đồng, tương đương với 14.000 mỹ kim (hối đoái chánh thức). Những người trong tuổi quân dịch không có quyền ra khỏi nước. Để cho hồ sơ được cứu xét, các công chức Việt Nam càng ngày càng làm khó.

    Nhân viên sứ quán Mỹ thì nóng lòng muốn biết rõ xem : Hà Nội có kế hoạch gì về quân sự và chánh trị hay không ? Những gì sẽ xảy ra ở Cam Bốt ? Tổng Thống Ford có xin được ngân khoản viện trợ bổ túc hay không ?

    Trong tuần lễ thứ nhì của tháng tư, có 9 sư đoàn Bắc Việt cùng tiến về hướng Sài Gòn . Tướng Tổng Tham mưu trưởng Miền Nam không còn nghi ngờ gì là họ sẽ tấn công vào Sài Gòn . Tướng Viên không hơn gì Tổng Thống Thiệu cũng không tin vào một giải pháp chánh trị . Khi ông không suy gẫm về cái “nghiệp” của mình hay về bản chất của Chân Thiện Mỹ thì ông thấy rất khó xử. Ông không muốn trung thành với Tổng Thống . Nhưng ông tân Tổng trưởng Quốc Phòng của ông nói cho ông biết là Tổng Thống giờ đây đã trở thành một chướng ngại. Ngoài ra ông cũng lưu ý đến tinh thần cùa Quân Đội . Có không ít tướng tá đã cho Tổng Thống là người có trách nhiệm trong vấn đề triệt thoái vô trật tự của Huế và Đà Nẳng .

    Tướng Viên không ước tính được xem nếu Bắc Việt tấn công vào Sài Gòn thì sẽ tấn công từ đâu ? Bộ Tham Mưu Bắc Việt rất giỏi về thuật “dương đông kích tây và đánh nhứ” nên họ đã hoàn toàn vận dụng QLVNCH ỡ Cao nguyên theo ý của họ. Họ đã áp dụng nguyên tắc của Mao trạch

    Đông và của các chiến lược gia: “nếu anh muốn đánh vào hướng Tây, thì hãy nhúc nhích ở hướng Đông”. Tin tức tình báo cũa Phòng nhì ước tính là cuộc tấn công chính và quan trọng sấp tới của Bắc Việt sẽ là Xuân Lộc, quận lỵ của tỉnh Long Khánh với 100.000 dân, nằm giữa những vườn cao su và giữa hai triền đồi , cách 100 cây số về hướng Đông của Sài Gòn . Giữa Sài Gòn và Xuân Lộc chỉ có mỗi một căn cứ quan trọng, đó là Biên Hòa và sân bay quân sự của nó.

    Quân lực Miền Nam đoán chừng cách điều quân của Bắc Việt theo lối cổ điển, gọng kềm.

    Tướng Trà sẽ tung 3 sư đoàn thuộc Quân Đoàn 4 của ông ta vào trận chiến. Sư đoàn 341 sẽ từ hướng Tây Bắc sau khi vượt qua sông Đồng Nai. Sư đoàn 7 xuống từ hướng Tây Tây Bắc. trong lúc sư đoàn 6 từ phía Tây sẽ tiến theo đường 333. nhưng sẽ xuất hiện từ hướng Tây Nam. Sư đoàn 341 không phải là môt sư đoàn thiện chiến. Sư đoàn nầy có rất nhiều lính mớI, trong đó có một số chưa tới 17 tuổi.

    Cũng như Huế, Đà Nẳng hay Tây Ninh, Xuân Lộc đã dính vào thần thoại quân sự Hoa Kỳ . Đại tá George Patton con của một đại danh tướng Mỹ, là trung đoàn trưởng của trung đoàn 11 kỵ binh thiết giáp nổi danh, đã từng đặt Tổng hành dinh của mình ở Xuân Lộc. Các sĩ quan Mỹ đóng ở Xuân Lộc đều sẵn sàng tuyên bố là thành phố ở quá xa Sài Gòn để có thể hưỡng được cái đẹp cũa tỉnh nhà và Xuân Lộc ở quá gần thủ đô để thấy mình luôn luôn được bảo vệ .

    Sư đoàn Bắc Việt 341 được pháo binh bắn dọn đường và được chiến xa T.54 yểm trợ đã tiến vào thành phố Xuân Lộc trước tiên, rất dễ nhận qua tháp chuông cao ngất của nhà thờ của tỉnh..

    Có một ít đơn vị Bắc Việt tiến đến khu chợ và bến xe. Nhưng bị các binh sĩ của sư đoàn 18 bộ binh của tuớng Lê minh Đảo đảy lui. binh sĩ thuộc trung đoàn 43 /sư đoàn 18 sau nhiều pha cận chiến cũng đã đẩy lui được bộ phận tiền tiêu của sư đoàn 6 Bắc Việt. Tướng Dũng nói là các trận kịch chiến rất là dữ dội trong những ngày đầu. Trong 24 tiếng đồng hồ Bắc Việt đã rót đến 10.000 quả đạn pháo vào các vùng ngoại ô của thành phố . Họ mất rất nhiều chiến xa và đang thiếu đạn pháo binh. Đây là lần đầu tiên từ tháng giêng đến nay, Bắc Việt đã gặp khó khăn nghiêm trọng trong vấn đề tiếp liệu. Các T.54 đang thiếu đạn và nhiên liệu. Tướng Trà phải xử dụng đến các trung đoàn trừ bị của sư đoàn 6 và sư đoàn 7 .

    Dù sao thì binh sĩ Miền Nam vẫn giữ vững được vị trí của họ trong thành phố Xuân Lộc điêu tàn. Họ không có lo lắng gì cho gia đình của họ. Hầu hết gia đình binh sĩ và vợ con của sỉ quan thuộc sư đoàn 18 đều đã được di tản, có khi bằng phương tiện trực thăng nữa. Ở đây họ chỉ còn nghĩ đến chiến đấu. Tuy nhiên họ cũng còn bị vướng víu vì dân tỵ nạn, vì dân Xuân Lộc và vùng phụ cận đang tìm cách trốn chạy về Sài Gòn. Con đường dẫn về thủ đô đã không thể xử dụng được vì pháo binh Bắc Việt đã liên tục băn phá dữ dộI, nên dân chúng tỵ nạn phải dồn hết về thành phố Xuân Lộc. Có một số chạy thoát được bằng cách băng qua chiến tuyến của Bắc Việt. Bọc vòng qua con đường chính và các con đường nhỏ, có nhiều toán dân tỵ nạn đã thoát về được đến thủ đô sau khi băng qua các hàng rào y tế của chánh phủ .

    Ngày 10/4, Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH phải lấy môt quyết định quan trọng. Các đơn vị phòng giữ Xuân Lộc không lùi bước trước quân Bắc Việt nhưng họ rất cần được quân tăng viện.Lý lẽ mà người ta đã dùng trong trường hợp của Huế hay Đà Nẳng “ không thể rút quân phòng thủ Sài Gòn” không còn dùng ở đây được nữa, bởi vì Xuân Lộc thuộc vòng đai phòng thủ của thủ đô. Tướng Viên tuy vậy còn ngại những mũi tấn công khác vào Sài Gòn nữa. Đùng một cái tướng Viên không còn thụ động nữa đã quyết định tung trừ bị vào trận tuyến Xuân Lộc. Dĩ nhiên với sự đồng ý của Tổng Thống Thiệu. Ngay như Không lực VNCH dù đã không được phối hợp chặt chẽ trong những tuần lễ gần đây, đã bắn phá rất hiệu quả bộ binh và chiến xa của Bắc Việt. Tướng Viên đã tung quân nhảy dù vào trận chiến Xuân Lộc. Patrick Hays, bên cạnh hảng Michelin, trên con đường đến Xuân Lộc, đã chứng kiến sự xuất quân của đơn vị Dù với con mắt của người biết chuyện. Hăng hái và dũng cảm như những vị anh hùng, các binh sĩ Dù dùng mũ sắt đội lên mũ nồi đỏ của binh chủng . Các binh sĩ nầy có một tinh thần rất cao. Gần hai lữ đoàn dù đã mất 30 % binh sĩ trong nhiệm vụ làm chậm lại bước tiến của quân địch trên tuyến Nha Trang và Phan Thiết.

    Tại căn cứ Tân sơn Nhất, các sĩ quan Mỹ chung quanh tướng Homer Smith đều nghĩ rằng trận chiến ở Xuân Lộc dù không phải là trận chiến quyết định, biết đâu chừng sẽ chận đứng được sức tiến cũa Bắc Việt hay có thể ổn định được trận tuyến. Phải chăng đó là một chiến thắng mà nhân viên của phái đoàn tướng Weyand đòi hỏi ? Binh sĩ Miền Nam Việt Nam đã chứng tỏ rằng họ biết phòng thủ và phản công, như vậy họ rất xứng đáng được nhận viện trợ quân sự của Hoa Kỳ. Sẽ có một số trực thăng dành cho các nhà báo ngoại quốc đề họ có thể làm chứng cho một chiến thắng cùa Miền Nam Việt Nam . Bộ tham mưu của tướng Viên khám phá ra là không có thiếu vũ khí và đạn dược. nên họ cấp phát cho binh sĩ của hai tiểu đoàn thuộc lữ đoàn 1 Nhảy Dù mỗi người một khẩu súng nhẹ chống chiến xa . Họ sẽ nới rộng gọng kềm Bắc Việt . Chiến đấu oanh tạc cơ F.5, phi cơ săn giặc A. 1 thi nhau đánh phá các điểm tập trung của Bắc Việt, nhất là các trung đoàn thuộc sư đoàn 341.Các phi cơ vận tải C.130 đã can đảm thả những trái bom loại 750 cân anh từ một cao độ thật thấp qua cánh cửa sau của phi cơ. Bộ Tư lệnh tối cao Bắc Việt cũng tung vào Xuân Lộc các sư đoàn 325 và 312.

    Tinh thần của các binh sĩ phòng thủ Xuân Lộc. hình như còn rất tốt. Hệ thống truyền tin còn hoàn hảo. Các đơn vị Biệt động quân và Nhảy Dù đã đến Xuân Lộc. Đường đến Sài Gòn đã được giải tỏa và lực lượng tăng cường đã đi qua. Các trực thăng đã di tản thương binh. Trực thăng võ trang đã tham chiến. QLVNCH đã chiến đấu một chống ba, nhưng Bắc Việt không có lực lượng không trợ.

    Phần lớn các pni cơ đã xuất phát từ căn cứ không quân Biên Hòa đang bị Bắc Việt pháo kích nặng nề , nhưng các oanh tạc chiến đấu cơ được chuyễn về sân bay Tân sơn Nhứt để được tiếp tế xăng và đạn dược. Chung quanh Xuân Lộc các căn cứ yễm trợ hỏa lực được che dấu cẩn thận trong các vườn cao su và được chỉ huy và tiếp tế đạn dược đày đủ. Trực thăng đã báo cáo vị trí chính xác của pháo binh và chiến xa Bắc Việt . Các sỉ quan bộ binh Miền Nam Việt Nam được pháo binh và không lực yểm trợ một cách dễ dàng. Gần như họ đã sống trở lại thời kỳ đẹp nhất trong cuộc chiến ờ Miền Nam Việt Nam . Không khí lạc quan lan truyền đến đổi từ Sài Gòn tướng Homer Smith gởi một công điện cho tướng George Browne, chủ tịch các ủy ban tham mưu ở Hoa thạnh Đốn, người có địa vị cao nhất trong hệ thống quân sự Hoa Kỳ :

    -” Miền Nam Việt Nam đã thắng được một giai đoạn đầu. Lòng can đảm, ý chí cang cường trong chiến đấu của QLVNCH hình như trong một lúc nào đó đã giải quyết được một câu hỏi : “Quân lực VNCH đã thực sự chiến đấu ?

    Một chiến tuyến được ổn định + ý chí muốn đàm phán của cả 2 bên = giải pháp chánh trị .

    Bà Nguyễn thị Bình đang đi du thuyết ở Phi Châu đã tuyên bố là CPLTCHMN cố gắng đạt được những mục tiêu ở Miền Nam Việt Nam bằng những phương tiện không phải là quân sự, nếu được .

    Chú giải:

    (1) (2)- Người dịch chỉ dịch ý 2 bài thơ bằng tiếng Pháp của tác giả Olivier Todd. Dịch giả vẫn biết 2 bài thơ tiếng Pháp nầy (một của Tố Hữu một của Lê đức Thọ) đã được tác giả Olivier Todd dịch từ 2 bài thơ tiếng Việt nhưng nhất thời dịch giả không kịp sưu tầm được nguyên tác. Một ngày nào đó dịch giả nhất định sẽ tìm ra nguyên tác để bổ túc cho bản dịch. Trong khi chờ đợi chúng tôi xin đăng nguyên văn 2 bài thơ bằng tiếng Pháp của tác giả để quý đọc giả thưỡng thức.

    (1.a )- O Binh Long, sol du Việt Nam du Sud
    Pour la première fois, je t’ai rencontré, ce matin
    Cette poignée de terre rouge que j’ai pris dans ma main
    M’enivrai comme un alcool
    En serrant dans mes bras le maquisard du front
    Je galoppais deja dans les plaines de Camau

    (1.b) J’entends l’appel du coucou noir
    Au soleil levant sur Loc Ninh et sa jungle.
    Je n’ai fermé les yeux de la nuit
    Je comptais sur mon lit les gouttes qui tombaient
    Inquiet pour nos soldats
    Pateaugent sur la piste à n’en plus finir
    Encore des canons après les tanks
    On espère après ceux donc on est sans nouvelles
    Le front les attend d’une minute à l’autre,
    Arrête toi, veux tu, ô pluie,
    Pour que sèche et durcisse la piste
    Qui nous conduit au but.
    De cette bataille historique
    Les premiers coups de feu ont déjà éclaté

    ((3)– Phạm xuân Ẩn là một nhân viên tình báo và điệp viên cấp cao của Bắc Việt , nằm vùng ờ Miền Nam Việt Nam trong vai một nhà báo,một phóng viên của cả báo Việt và Hoa Kỳ . Đã tung tin thất thiệt và “hòà đàm, giải pháp chánh trị” v.v.. theo lệnh của cộng sản Bắc Việt suốt chiều dài cuộc chiến dể ru ngủ dư luận trong và ngoài nước. Ông ta đã là đại tá của quân đội Bắc Việt từ trước năm 1975, và sau đó vào thập niên 80 đã được cộng sản thăng cấp thiếu tướng.

    —>Chương 16 – 23

  29. Chương 16

    Cài hoa trên vành tai

    Quốc Hội Hoa Kỳ bắt đầu họp lại từ ngày 7 tháng 4.

    Ở quốc gia Hoa Kỳ, nhất là ở các khu vực bầu cử của họ, các nghị sĩ và dân biểu đã nhận thấy là cử tri của họ không nhận định được vị trí của Việt Nam Cộng Hòa (Miền Nam Việt Nam ). Rất hiếm công dân Mỹ cảm thấy bị xúc động khi xem các tấm ảnh ở mặt trận Xuân Lộc, cho thấy binh sĩ Miền Nam Việt Nam đang ở các vị trí phòng thủ được tổ chức rất chu đáo, hoặc khi họ phất lên những lá cờ cộng sản màu đỏ tịch thu được của quân đội Bắc Việt . Một sự thăm dò của Louis Harris đã đo được cảm tưởng của những người đắc cử. Trong ba người đã có đến 2 người chống lại viện trợ quân sự cho Cam Bốt và Miền Nam Việt Nam, dù nhờ đó mà có thể “tránh được” một sự tắm máu cho dân chúng ở hai quốc gia đó.

    Các ban và các tiểu ban trong Quốc Hội cho chuyển động bộ máy dân chủ của họ, tuy chính xác nhưng quá nặng nề . Các nghị sĩ và dân biểu được cho biết tin tức từng giờ một về những sự bất đồng nội bộ ngay trong Chánh Phủ Hoa Kỳ. Nhà Trắng và Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ ít nhất đã chánh thức hóa đường lối ngoại giao của họ: Miền Nam Việt Nam có thể sẽ được cứu. Ở Ngũ Giác Đài thì một cách không chánh thức người ta cho biết là không còn một hy vọng nào nữa. Tuy nhiên theo lối trình bày công khai thì ông James Schlesinger vẫn trung thành bảo vệ chủ trương của Tổng Thống Ford. Ông Tổng trưởng Quốc Phòng không đi đến mức đoan chắc là một viện trợ quân sự bổ túc có thể sẽ cứu được quân đội Miền Nam Việt Nam . Ông tuyên bố là niềm tin của thế giới đối với Hoa Kỳ đang bị thử thách:

    “Chúng ta không thể là một quốc gia có thể buông bỏ bạn bè, phản bội đồng minh của mình, hay nuốt bỏ lời hứa của mình được .”

    Ở Hoa Thạnh Đốn càng ngày người ta càng nói tới những mật ước mà ông Nixon đã cam kết với VNCH. Còn hơn thế nữa: có phải người ta cũng đã có những bảo đảm hay cam kết “bằng miệng” ? Nghị sĩ Henry Jackson buộc Henry Kissinger phải ra trước Quốc Hội để nói rõ về những bảo đảm do ông ta đã “cam kết mà không báo trước cho Quốc Hội “. Với phong cách “ta đây” của một nghị sĩ bị lăng nhục, ông tự nhũ là phải mỡ ngay một cuộc điều tra. Cũng như các đồng viện, ông muốn làm sáng tỏ về những cam kết của Hoa Kỳ . Thật ra ông cũng muốn làm giảm uy thế của Tổng Thống Ford khi ông hạch hỏi Kissinger. Họ đã được thấm nhuần đặc tính luôn luôn dị ứng về mọi hành động “đi đêm” từ thời Tổng Thống Wilson, một người đã ca tụng giá trị của những “thỏa thuận công khai được thực hiện công khai”, nên các nhà lập pháp không sẵn sàng để nghe những trình bày của các đại diện Hành Pháp một cách thuận lợi lắm. Hậu quả của sự kiện “nghe lén” (Watergate) chưa tan biến hết. Hơn bao giờ hết, Tổng Thống và Chánh Phủ của ông vẫn bị cáo buộc là “có tội” trước khi họ chứng minh được sự vô tội của họ

    Trong các phiên họp công khai hay họp kín, các nghị sĩ và dân biểu hạch hỏi các nhân viên của Bộ Ngoại Giao, của Bộ Quốc Phòng, của Trung Ương Tình Báo hay của tất cả các cơ quan khác của Chánh Phủ gởi tới. Thẳng thừng đến gần như tàn bạo, phiên họp của các tiểu ban thường giống như các cuộc điều tra ; bên trong các phòng vuông bằng đá hoa hay cẩm thạch oai nghiêm thường diễn ra những cuộc đấu trí giữa các đại biểu của Hành Pháp và những người của Lập Pháp . Các công chức ra điều trần ở đây thường khó dấu được sự hoài nghi của họ

    Daniel Parker, trưởng cơ quan phát triển quốc tế đã tuyên bố với các thành viên của Tiểu Ban Quốc Tế của Hạ Viện rằng:

    -” Tôi không thể nói với các ông là số phận của Miền Nam Việt Nam sẽ ra sao trong những tháng sắp tới, nhưng tôi có` thể nói số phận của dân chúng của họ sẽ ra sao…. nếu chúng ta không chấp thuận cho họ những phương tiện cần thiết.”

    Các tiểu ban phân biệt rõ ràng sự giúp đỡ quân sự mà họ càng ngày càng chống đối, với sự giúp đỡ nhân đạo. Nghị sĩ Hubert Humphrey, cựu Phó Tổng Thống và cựu ứng cử viên Tổng Thống của đảng Dân Chủ, đã nói trong hành lang rằng :

    – “Tất cả mọi người đều đi dạo chơi với cành hoa cài trên vành tai, và nói rằng mọi việc rồi sẽ qua đi. Chuyện nầy sẽ không qua đi một cách tốt đẹp đâu. Đó là một thảm họa . Tôi là người không sẵn sàng cho thêm “một xu” nào nữa, cho những người không muốn đứng trở lên và chiến đấu cho sự sống còn của mình.”

    Tổng Thống Ford ngỏ lời với các nghị sĩ và dân biểu đang họp mặt trong một bầu không khí trang trọng. Có nhiều thành viên trong Quốc Hội, vì một niềm tin cho số đông cử tri của họ, và cũng như có một số dân cử không sợ mất lòng cử tri của mình , đã cho các tùy viên trong Quốc Hội và các đại biểu đặc biệt của Chánh Phủ biết , khi được dò hỏi, là họ sẽ sẵn sàng bỏ phiếu thuận cho viện trợ nhân đạo, và dĩ nhiên cả ngân khoản cần thiết để tiến hành một cuộc di tản, nhưng về viện trợ cho cuộc chiến thì không có một đô la nào thêm nữa.. Do đó ông Ford phải bơi ngược dòng nước….

    Hơn một nửa của bài diễn văn được ông dành để nhắc tới Đông Dương.. Về Cam Bốt, Tổng Thống Ford nhắc lại là trước đây 3 tháng ông đã có xin một ngân khoản viện trợ bổ túc. Nhưng ngay chiều nay “có thể là đã quá muộn rồi”. Do đó ông sắp sửa cho đóng cửa tòa đại sứ của ông ở Phnom Penh. Đối với ông, coi như Cam Bốt đã mất rồi, nhưng Việt Nam thì không . Về Việt Nam , ông nhắc lại những luận cứ của Chánh Phủ của ông (một số các vị dân cử cho là ông nhai lại): Hiệp Định Ba Lê có đứng vững được là do Hoa Kỳ đã trợ lực cho Sài Gòn. Những sự từ chối của Quốc Hội không bỏ phiếu cho những ngân khoản viện trợ là sẽ khuyến khích Hà Nội tăng thêm nỗ lực tấn công của họ

    Các vị dân cử không bao giờ chấp nhận luận điệu gán trách nhiệm cho họ về sự tan vỡ của Miền Nam Việt Nam

    Tổng Thống Ford dự đoán nhiều giải pháp.

    Có hai giải pháp tích cực : Hoặc không làm gì hết, hoặc phải tuyên chiến để thi hành Hiệp Định Ba Lê.

    Có hai giải pháp gần như trung dung: Hoặc chấp thuận một ngân khoản 300 triệu mỹ kim viện trợ quân sự như đã xin từ trước, hoặc tăng ngân khoản viện trợ quân sự và kinh tế

    Tổng Thống Ford thì khuyến cáo nên dùng giải pháp thứ hai nầy

    Trường hợp tốt nhất, giải pháp nầy sẽ giúp cho Miền Nam Việt Nam ổn định được tình hình quân sự và đạt được một dàn xếp chánh trị. Trường hợp xấu nhất cũng có thể giúp di tản được 6000 người Mỹ đang còn tại chỗ và một số người Việt Nam nào đó;

    Đọc bài diễn văn một cách đơn điệu, dựa trên phúc trình của tướng Weyand, Tổng Thống Ford xin Quốc Hội ngân khoản viện trợ quân sự 722 triệu và 250 triệu để giùp đỡ cho những người di cư. Tổng Thống yêu cầu Lưỡng viện Quốc Hội chấp thuận các ngân khoản nầy và bỏ phiếu trước ngày 19 tháng 4.

    Tổng Thống Ford cũng nêu lên một bài toán phức tạp: đâu là quyền hạn của một Tổng Thống về việc xử dụng quân đội để di tản người Mỹ ở Việt Nam “nếu thấy đó là chuyện cần thiết” . Ông Ford phải thủ thế khi ông nghĩ tới hiến chế được thay đổi dưới trào ông Nixon nhằm hạn chế quyền hạn của Tổng Thống . Ông hy vọng là người ta sẽ cho phép ông được gởi quân Mỹ để “bảo vệ và hộ tống” các công dân Hoa Kỳ , ông không muốn trong trường hợp nào đó ông lại bị cáo buộc là đã gây chiến tranh trở lại. Theo Hiến Pháp thì Quốc Hội “có quyền … tuyên chiến” . Không có một Tổng Thống nào từ ông Kennedy, ông Johnson đến ông Nixon đều không có kêu gọi các nhà Lập Pháp làm đúng theo Hiến Pháp, một điều sai trái trầm trọng về tâm lý. Thật tình thì Quốc Hội Hoa Kỳ chưa bao giờ tuyên chiến từ Thế chiến Hai. Điều đó không ngăn cản các Tổng Thống gởi quân đội Mỹ qua Hy Lạp và Đại Hàn, (dưới danh nghĩa của Liên Hiệp Quốc), qua Cộng Hòa Đô mi ni ca, và qua Li băng. Trong một số trường hợp, người ta có thể cho đó là những cuộc hành quân Cảnh Sát đại qui mô. Nhất là từ sau 1965, các nghị sĩ và dân biểu Hoa Kỳ mặc nhiên cho Tổng Thống quyền được tiến hành chiến tranh mà không cần tuyên chiến. Và cứ mỗi năm các nhà Lập Pháp lại tiếp tục bỏ phiếu cho ngân khoản cần thiết.

    Cung cách đó đã qua rồi. Vào tháng 7 năm 1973, Quốc Hội đã bỏ phiếu cho một Luật nhằm xóa hết các ngân khoản cho “tất cả các hoạt động tác chiến” ở Đông Dương. Mặc dầu Tổng Thống Nixon đã phủ quyết, nhưng tiếp theo đó vào tháng 11, Quốc Hội đã chấp thuận một Quyết Nghị về Quyền Hạn Chiến Tranh, quyết nghị nầy đã trở thành Luật (về Quyền Hạn Chiến Tranh). Theo Luật nầy, người ta đã thấy là mỗi lần Tổng Thống xử dụng quân đội Hoa Kỳ ở ngoại quốc là ông phải phúc trình.. Luật nầy không dự trù trường hợp nào có dạng như di tản từ Miền Nam Việt Nam . Vậy Tổng Thống sẽ lấy “quyền” nào để đưa quân lực Hoa Kỳ vào vùng chiến sự hay vào những vùng mà tình hình thực tế cho thấy rõ ràng là mình sẽ có thể bị lôi kéo vào chiến sự. Quyết nghị và Luật về Quyền Hạn Chiến Tranh không phải văn kiện quá sáng tỏ về mặt pháp lý. Ông Ford muốn làm sáng tỏ một vài điểm – để tự bảo vệ cho mình

    Một bài toán khác : Bộ Luật không dự trù di tản người Việt Nam vì họ không phải là công dân Hoa Kỳ . Các nhà Lập Pháp chấp thuận giúp đỡ người Mỹ đang gặp khó khăn , điều đó rất đúng, nhưng còn người Việt Nam thì sao? Và bao nhiêu người ?

    Để chấm dứt chuyện cam kết mật của ông Nixon, ông Tổng Thống Ford đã có một buổi họp với các lãnh tụ đa số của Quốc Hội ở Nhà Trắng vào ngày 11 tháng 4. Trên căn bản thì Tổng Thống Ford tuyên bố là “những trao đổi riêng tư giữa ông Nixon và ông Thiệu không khác những gì mà người ta đã nói lên một cách công khai”. Đúng là một đề tài rất tốt cho luận án tiến sĩ, câu hỏi hoàn toàn được giữ nguyên: ” sự cam kết riêng của một ông cựu Tổng Thống có bắt buộc ông Tổng Thống đương nhiệm phải cam kết hay không ? và nhất là Quốc Hội ? Tổng Thống và Quốc Hội thấy không có thì giờ cho quý vị làm luận án nữa !

    Tổng Thống Ford ra lệnh cho đại sứ Mỹ John Dean ở Phnom Penh đóng cửa tòa đại sứ ở đó

    Ngày 12 tháng 4 hồi 7 giờ 45, có ba đợt trực thăng cất cánh từ hàng không mẫu hạm Okinawa ở vịnh Thái Lan. Một số khác đi từ mẫu hạm Hancock. Tất cả Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đều được trang bị súng M.16 và súng phóng lựu. Được chuẩn bị từ tháng 2, cuộc hành quân “Ó bay đi” (Eagle Pull) bắt đầu. Ông John Dean, một nhà ngoại giao lão luyện, người đã theo sát mọi sự kiện của Đông Dương ở Ba Lê và ở Vạn Tượng trước khi được chỉ định vào chức vụ Đại Sứ ở Phnom Penh, đã thông báo cho những nhân vật có trách nhiệm chánh trị và quân sự của Cam Bốt: Những ai muốn nhân cơ hội nầy để được di tản thì sẽ được bốc đi. Ông John Dean đích thân đến tư dinh của Thủ Tướng Long Boret để thông báo vấn đề nầy. Trừ một người, còn tất cả các Tổng trưởng và vị xử lý thường vụ Chủ Tịch Nước đều từ chối không ai chịu di tản,

    Sau khi bay 160 cây số trên lãnh thổ đang nằm trong tay Kmers Đỏ, các trực thăng đầu tiên thuộc nhóm Alpha đáp xuống Phnom Penh , và các Thủy Quân Lục Chiến bố trí ngay chung quanh Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ

    Ông John Dean nhận được một bức thư của ông Sirik Matak, Cố vấn Chánh Phủ , nội dung như sau :

    – ” Thưa ông Đại sứ và ông bạn thân mến,

    Tôi thành thật rất cám ơn ông, về bức thơ và đề nghị của ông nhằm đưa chúng tôi đến nơi Tự Do. Than ôi, tôi không thể đi một cách hén nhát như thế được .

    Về phần ông và quốc gia Hoa Kỳ hùng mạnh của ông, không có một lúc nào tôi tưởng rằng các ông buông bỏ một dân tộc đang chọn và tranh đấu cho Tự Do. Các ông đã từ chối không bảo vệ dân tộc chúng tôi ; chúng tôi không thể làm gì hơn được. Ông ra đi, Tôi xin chúc ông và quốc gia của ông tìm được hạnh phúc dưới gầm trời nầy.

    Nhưng, xin ông ghi rõ điều nầy, nếu tôi có chết ở đây, chết ở ngay đất nước thân yêu của tôi, xin hãy mặc kệ chúng tôi , vì chúng tôi được sanh ra thì tất nhiên rồi cũng phải có một ngày nào đó chúng tôi phải chết thôi ! Nhưng điều đáng tiếc là tôi đã có môt lầm lỗi, đó là tin nơi ông và tin nơi người Mỹ các ông.

    Xin ông Đại sứ và là ông bạn thân của tôi nhận nơi đây tình cảm trung thực và thân thiết của tôi .

    Surik Matak

    Vì tò mò, không hận thù, người dân Cam Bốt đứng quanh tòa đại sứ nhìn cuộc hành quân di tản đang diễn tiến rất tốt đẹp. Đại úy Cyril Moter tham gia cuộc hành quân nầy với nhóm Thủy Quân Lục Chiến của ông. Trong hai tiếng đồng hồ, trực thăng đã bốc đi 82 người Mỹ, 159 người Cam Bốt, và một số người Phi luật Tân, Đài Loan, Úc, Thái Lan , Pháp, Tây ban Nha, Thụy điển, Anh cát Lợi, Gia nã Đại và Ý đại Lợi. Trong số những người Mỹ thì có các nhà ngoại giao và một số nhà báo. Nhưng Sydney Schanberg của tờ Thời Báo Nhiêu Do và cộng sự viên của ông, Dith Pran, người Cam Bốt, thì không đi, chọn ở lại Phnom Penh.

    Đến 10 giờ 15 thì ông John Dean với vẻ mặt nghiêm trọng, nếu không muốn nói là thiểu não, ôm lá quốc kỳ Mỹ trong tay bước lên trực thăng

    Vào lúc 10.giờ 41, tất cả các dân sự đều được bốc đi hết

    Các quả đạn bách kích pháo rơi chung quanh tòa đại sứ trong khi một y tá người Mỹ đang săn sóc 2 thương binh.. Từ dưới đất, Thủy Quân Lục Chiến gởi một công điện truyền tin lên chiếc phi cơ chỉ huy là chiếc C.130 đang bay lượn trên không phận Phnom Penh. Nhưng không có một chiếc phi cơ hay trực thăng nào tìm ra vị trí của mấy khẩu bách kích pháo của Khmer Đỏ. Có hơn 12 chiếc phi cơ tiềm kích đang bay tuần tiễu giữa Phnom Penh và bờ biển, nhưng họ không can thiệp

    Ngoài khơi hải cảng Sihanouk, hạm đội Hoa Kỳ đã dàn ra từ hôm qua. Đó là những chiếc Vancouver, Thomaston, Henry D. Wilson, Knox, và chiếc Kirk. Các phi cơ Mỹ thuộc Không Lực Hoa Kỳ đang đóng trên căn cứ ở Thái Lan đều sẵn sàng có thể đến phối hơp với các chiến hạm nầy để đẩy lui các cuộc tấn công của Khmer Đỏ, nếu có

    Sau vài giờ tạm nghỉ trên các chiến hạm, những người di tản từ Phnom Penh được đưa về Thái Lan

    Cuộc hành quân “Ó Bay Đi” đã thỏa mãn hoàn toàn các quân nhân Hoa Kỳ . Một công tác được chuẩn bị và thi hành rất chu đáo. Một công trình tiếp vận thành công vì Khmer Đỏ không có phương tiện để chống lại. Trước hết có thể vì dân chúng ở thủ đô Cam Bốt không tìm cách ùa nhau cùng chạy loạn theo các trực thăng

    Tóm lại đây cũng có thể coi như một cuộc thao dượt cho…. Sài Gòn , nếu người ta muốn đi tới đó. Các báo chí trên toàn thế giới đều có “Một đề tài như nhau : Người Mỹ rời khỏi Phnom Penh” , “Vị Xử Lý Thường Vụ Chủ Tịch di tản, chạy theo Đại Sứ Hoa Kỳ”, “Quân đội nắm quyền tại Phnom Penh”, “Ủy Ban Quân sự được thành lập dưới quyền của tướng Sak Suttsakhom”. Tổng Thống Giscard d’Estaing say mê danh từ “thích hợp”. Ngay tức khắc Chánh Phủ Pháp nhìn nhận Quốc Gia mới, nghĩa là chế độ Khmer Đỏ. Việc nhìn nhận quá hấp tấp nầy thật sự có “thích hợp” hay không đây ?

    Tòa Đại sứ Pháp ở Phnom Penh chỉ có một lãnh sự là ông Jean Dyrac, tạm thời được nâng lên hàng Phó Lãnh Sự : Nước Pháp đi trước xa đối với chế độ.

    Ngày 17 tháng 4 hồi 5 giờ , có một số Khmer Đỏ đến trước Tòa Đại sứ. Sau đó, các xe thiết giáp của Chánh Phủ mang cờ trắng chạy khắp thành phố

    Quân Khmer Đỏ giải phóng Phnom Penh trước khi Bắc Việt chiếm được Sài Gòn . Đây là một cuộc chạy đua với thời gian giữa Bạn và Thù; Khmer Đỏ muốn chứng minh rằng họ có đủ khả năng tiến tới một mình, không cần có sự giúp đỡ của Bắc Việt

    Sau đó Khmer Đỏ đuổi hết dân chúng ra khỏi thành phố

    Các công điện của người Pháp từ Phnom Penh được chuyển về Paris qua ngả Sài Gòn và thường bị gián đoạn. Bốn ngàn dân tỵ nạn đang cắm trại trong khuôn viên tòa đại sứ. Trong số nầy có những người Đông Đức và người Nga. Những người KĐ (Khmer Đỏ)

    – các chuyên viên gọi họ là “KR” , hai chữ đầu của Khmer Rouge – đã bắn sập tường của tòa đại sứ Liên Xô bằng rốc kết. Hoàng thân Sirik Matak và các thành viên thuộc gia đình Quốc Vương Norodom Sihanouk và 3 đức cháu đang tỵ nạn ở trong tòa đại sứ Pháp. Ngày hôm sau, hai sĩ quan KR và một đoàn tùy tùng trang bị súng không giật đến tòa đại sứ Pháp đòi bắt Hoàng Thân, nhưng Lãnh sự Pháp, ông Dyrac từ chối không cho họ vào , để mua thời gian

    – Ngày hôm sau chúng tôi sẽ đến, viên sĩ quan KĐ nói như vậy

    Ông Dyrac nhờ các linh mục Francois Ponchaud và Bernard Berger tác động giùm tinh thần cho các người dân tỵ nạn. Họ nâng cao tinh thần những người nầy bằng cách phổ biến các tin tức: liên lạc với Sài Gòn vẫn được duy trì cho tới khi nào điện bị cắt mới thôi.

    Lúc 11 giờ, một chiếc phi cơ Hoa Kỳ lượn trên tòa đại sứ Pháp. Có hai nhà báo người Mỹ dùng máy truyền tin cầm tay liên lạc với phi cơ và yêu cầu được bốc đi bằng trực thăng. Người ta nói là Bộ Tư Lệnh Hoa Kỳ ở Thái Lan và cả Ngũ Giác Đài bên Hoa Thạnh Đốn sẽ nghiên cứu vấn đề nầy. Cuộc hành quân di tản được yêu cầu nầy có thể sẽ đưa tới một cuộc tàn sát hết tất cả người tỵ nạn ngay ở tòa đại sứ ở đây

    Ngày 19 tháng 4, hoàng thân Sirik Matak và những người Cam Bốt khác quyết định ra hàng. Những người của KĐ với một chiếc xe Jeep và 2 xe vận tải đến trước tòa đại sứ. Hoàng thân Matak còn được nhìn thấy ở cách Phnom Penh chừng 20 cây số, sau đó thì không còn ai thấy được ông ta đâu nữa

    Cơn hấp hối của quốc gia Cam Bốt trong tay bọn Khmer Đỏ đang bắt đầu..

    Tổng ThốngThiệu nói chuyện với ông Hoàng đức Nhã về sự thất thủ của Phnom Penh. Nhã xác nhận:

    – ” Mọi việc rồi cũng sẽ đến với Sài Gòn như vậy,.

    – “Anh tin như vậy sao ?

    – ” Vâng, nếu cộng sản Bắc Việt đưa hết lực lượng của họ để tấn công chúng ta .

    – ” Tôi không tin như thế, và tôi không bao giờ tin như thế. Có quá nhiều việc liên quan đến vấn đề nầy, ông Thiệu nhấn mạnh

    Tổng ThốngThiệu vẫn còn tin chắc là ông sẽ làm cho người Mỹ phải nhảy vào.

    Ông Hoàng đức Nhã tự nguyện sẽ đi Tân gia Ba. Ông rất phục Thủ Tướng Lý quang Diệu, một nhân vật dân chủ xã hội rất có quyền thế đang lãnh đạo một đất nước trên hòn đảo nhỏ bé nầy . Ông ta đã cho dân chúng Tân gia Ba những gì mà người cộng sản luôn luôn chỉ có hứa suông mà không bao giờ có, như việc làm, học vấn, và nhà ở. Phương thức dân chủ rất mạnh mẽ ở đây đã làm cho Nhã say mê. Cũng vì vậy mà khi có một nhà báo Anh cho ông biết là ông Lý quang Diệu mong ước muốn gặp ông, thì ông tỏ ra rất bằng lòng. Ông Nhã đáp phi cơ đến Tân gia Ba và ở trọ tại Raffles, một khách sạn cũ nhưng rất nổi tiếng và rất đẹp. Sau đó ông đi dùng cơm tối ở nhà hàng Newton Circus. Tân gia Ba là một thành phố rất văn minh, có văn hóa, sạch sẽ, được kiểm soát rất chặt chẽ do một lực lượng gìn giữ trật tự vô hình nhưng hữu hiệu

    Một thanh tra Cảnh Sát mặc thường phục đến gần Nhã :

    – Ông là ông Nhã ?

    – Phải

    – Ngài Thủ tướng muốn gặp ông. Ngay bây giờ

    Ông Nhã rất thích lề lối mà người ta đã nhanh chóng nhận ra ông ngay ở đây

    Đến nơi, ngoài Thủ Tướng ông còn thấy có ông Tổng trưởng Ngoại Giao và một vị Cố vấn chánh trị . Mọi người đều dùng Anh văn để đàm thoại. Nhã được biết qua về một chuyến du hành của Phó Tổng Thống Hoa Kỳ, ông Nelson Rockefeller. Nhơn dịp sang dự tang lễ của ôngTưỡng giới Thạch vừa từ trần hôm ngày 5 tháng 4, ông Rockefeller đi một vòng thăm vùng Đông Nam Á Châu. Ông đã tích lũy được một số chuyện phiếm. Khi người ta nói với ông về tình hình ở Việt Nam, ông trả lời dựa theo các cuộc bầu cử Tổng Thống Mỹ vào năm 1976:

    – “Nếu hai hay ba ngàn người Mỹ chết hay bị bắt làm tù binh, thì sẽ có nhiều bài toán được đặt ra”.

    Nếu người ta nhắc lại câu hỏi của đảo Chypre, thì ông sẽ đề nghị với những người Hy Lạp là họ phải rất bằng lòng về cuộc xăm lăng của Thổ nhĩ Kỳ, vì nó giúp khôi phục lại được nền Dân Chủ ở Hy Lạp:

    – ” Nếu tôi là người Hy Lạp, tôi sẽ quỳ xuống để cầu nguyện – tôi không biết người Hy Lạp sẽ cầu nguyện với ai? với những vị Thánh nào trong trường hợp nầy….”.

    Không biết Tổng Thống Ford thường hay có ý định xử dụng ông Phó của ông trong lãnh vực ngoại giao loại nầy hay không ? “Điều nầy chắc phải tùy thuộc xem người nào chết,”

    Đi thẳng vào đề , Thủ Tướng Lý quang Diệu nói với ông Nhã :

    – “Chúng ta không nên để mất thì giờ., Tôi đã yêu cầu ông đến đây vì đã gần tới giờ chung cuộc rồi. (ở Việt Nam ). Ông Rockefeller đã hỏi tôi, như đã hỏi các vị lãnh đạo khác ở Á Châu, là liệu chúng tôi có chấp thuận một cuộc hành quân để loại bỏ ông Tổng Thống Thiệu hay không ? (nguyên tác:opération)

    Nhìn thoáng qua theo ý kiến của ông Rockefeller – của ông ta? hay của ông Ford? chắc chắn không phải của Bộ Ngoại giao hay của Trung Ương Tình Báo CIA – thì sẽ phải dựng lên một nhóm đảo chánh ở Sài Gòn. Tham gia vào đó sẽ có thể là cựu Thủ tướng Khiêm, tướng Viên Tổng Tham mưu trưởng, hay tướng Không quân Nguyễn cao Kỳ . Sau đó người ta sẽ thành lập một Chánh Phủ Liên Hiệp do nhóm nầy tấn phong . Ông Lý quang Diệu không bàn cãi về khía cạnh hữu lý hay hoang đường của kế hoạch nầy, một kế hoạch mà chỉ có riêng ông Rockefeller là người phải chịu trách nhiệm mà thôi.

    Ông Lý quang Diệu nói với ông Nhã :

    – ” Ông hãy báo cho ông anh của ông biết đi. Còn ông thì nên ở lại đây, đừng có trở lại Sài Gòn . Tôi sẽ lo đưa gia đình ông ra khỏi Việt Nam . Ông biết không ? người Mỹ đã chọn nơi cư trú cho ông Thiệu rồi đó “.

    Không cần nghĩ là có thể bị nghe lén hay không , ông Nhã liền gọi điện thoại ngay về cho Tổng ThốngThiệu. Tất cả tin tức nhận được đều y như thế .Qua bạn bè của ông, qua các sĩ quan cấp tá trẻ, Nhã biết được sự tức giận trong QLVNCH (Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa) trên cấp cao. Ông khuyên Tổng ThốngThiệu nên từ chức

    – Anh đừng chờ người ta lật đổ anh, hay người ta tống cổ anh đi. Hãy đi trước một bước đi, càng nhanh càng tốt.

    Nhưng rồi Hoàng đức Nhã cũng về lại Sài Gòn qua ngả BangKok. Ông điện thoại về Dinh Độc Lập. Một tùy viên xin ông gọi lại sau:

    – ” Tổng Thống đang làm việc , ông đang thảo một bài diễn văn, nghe hình như một bài diễn văn độc đáo lắm.”.

    Ông Kissinger hỏi ông đại sứ Martin : Có thể dùng hải cảng Vũng Tàu cho một cuộc di tản qui mô được không ? Công điện của Tổng trưởng ngoại giao viết :

    – “Trong chìu hướng đó có thể tránh được sự hỗn loạn, phải phối hợp chặt chẽ với ông Thiệu. ”

    Ông Kissinger tỏ ra lo lắng cho số phận của những người Việt Nam đã cộng tác với người Mỹ:

    – “Chúng tôi muốn biết xem liệu ông Thiệu có sẳn sàng để cho một số người của họ ra đi bây giờ hay không ?”

    Ông Martin bắt đầu chịu nghe theo ý kiến về một giải pháp thương thuyết. Ông đã từng luôn luôn bênh vực Tổng ThốngThiệu, nhưng bây giờ thì ông nghĩ là ông nầy phải ra đi. Gần đây có những tin đồn do người Mỹ gán cho tòa đại sứ Pháp, cho rằng Bắc Việt sẽ liệng bom xuống Sài Gòn nếu ông Thiệu không chịu ra đi ngay từ bây giờ

    Tại Hoa Thạnh Đốn , ông Kissinger lại lên tiếng. Ông điều trần trước một tiểu ban ở Thượng Viện . Ông nói như một chiến lược gia loại Clausewitz:

    – ” Cuộc tấn công của Bắc Việt và phản ứng của Miền Nam Việt Nam không phải ngẫu nhiên mà xảy ra. Hơn nữa sự may mắn luôn luôn là một yếu tố trong chiến tranh,

    Ông ôn lại những biến cố trong 3 tháng sau cùng. Ông chấp nhận là Miền Nam Việt Nam cũng không có thi hành đúng đắn tất cả các điều khoản của Hiệp Định Ba Lê. Nhưng ông nhấn mạnh là theo thống kê thì Sài Gòn ít vi phạm hơn nhiều so với Hà Nội. Bây giờ thì đã có một sự mất thăng bằng về quân sự, có lợi cho Bắc Việt nhiều hơn . Sài Gòn đang tìm một giải pháp chánh trị xuyên qua những cuộc bàn cãi với CPCMLTMN tại Ba Lê:

    – ” Không hề có một sự tiến bộ nào cho một giải pháp dung hòa về chánh trị , bởi vì Hà Nội không bao giờ muốn như thế …..

    Ông Kissinger chứng minh qua Hiệp Định Paris. Ông nhắc lại là :

    – “Cả Hoa Kỳ và VNCH không bao giờ thấy Bắc Việt thi hành hoàn toàn và nghiêm chỉnh Hiệp Định Ba Lê. Vì nếu được Hà Nội áp dụng đứng đắn, thì các điều khoản chính của Hiệp Định đã giúp cho họ từ bỏ giải pháp quân sự từ lâu, để bước sang giải pháp chánh trị như Hiệp Định đã ghi rõ.”

    Ông Kissinger nói rõ là tất cả đều được thiết lập trên sự mất cân bằng, không còn đồng đẳng về quân sự nữa

    – ” Các đơn vị chiến đấu của Bắc Việt quá nhiều so với Miền Nam , và họ lại được võ trang quá hùng hậu. Quan trọng hơn nữa là họ lại lợi dụng được một tốc độ về tâm lý chiến. Trong một trận chiến điều nầy có thể là một yếu tố quyết định mạnh hơn là vũ khí nữa.”

    Nghị sĩ Joseph Montoya hỏi ông Kissinger về những lý do thất trận của Miền Nam Việt Nam . Kissinger dùng lại những lập luận của ông và của Chánh Phủ Hoa Kỳ :

    – ” Với một lực lượng quân sự không cân bằng, vì những cắt xén viện trợ của Hoa Kỳ , do những áp lực về lạm phát, và giá dầu tăng cao……

    Ông Kissinger khen ngợi tinh thần can đảm của Quân Lực VNCH, mặc dầu số tử vong lên đến gần 30.000 người vào năm 1994 (Theo chánh quyền Sài Gòn thì con số tử vong là 21.000 người .)

    Đối với những cam kết mật của ông Nixon, nghị sĩ Montoya nêu lên bài toán về những nghĩa vụ của Hoa Kỳ trên phương diện pháp lý và tinh thần đạo đức:

    – “Chúng ta phải gánh nghĩa vụ tinh thần đó bao nhiêu lâu nữa, giã dụ như chúng ta đã có nghĩa vụ đó từ lâu đối với Miền Nam Việt Nam ?

    – ” Thưa nghị sĩ, thật rất khó mà ấn định được một thời gian nào để chấm dứt lắm. Trên thế giới nầy đã có tình trạng đe dọa thường xuyên nên người ta không thể nói trước một thời gian nào gọi là chấm dứt nghĩa vụ được, trừ phi kẻ xăm lăng chính quyết định chấm dứt cuộc xăm lăng của họ. Chúng ta đã có nghĩa vụ ở Âu Châu trong suốt thời gian sau khi thế chiến chấm dứt, một nghĩa vụ mà chúng ta không thể ấn định được lúc nào mới phải chấm dứt. Chúng ta có một nghĩa vụ đối với quốc gia Do Thái và chúng ta cũng không thể cho một thời gian nào….

    – Ông có thể cho biết một nước nào khác đã có nghĩa vụ tinh thần đối với Miền Nam Việt Nam hay không ?

    – Có rất ít quốc gia như vậy. Chỉ có Nam Hàn, Úc Châu và Tân Tây Lan là có gởi quân đến đó…

    Một nghị sĩ khác thuộc đảng Dân Chủ, ông Henry Bellmon hỏi Kissinger:

    -” Đôi khi người ta nói về ông, rằng ông là một nhà sáng tác tài tình nhiều phép lạ trong nghề ngoại giao của ông. Ông đã thiết lập được những liên hệ quá bình thường với Trung Quốc….

    Ông Kissinger ngắt lời ông Bellmon nửa đùa nửa thật:

    – “Thiết lập quan hệ bình thường ư ? Câu nầy không phải của tôi đâu, nhưng khi người ta dùng nó, đôi khi tôi không có phản đối quá mạnh….

    – Ông cũng có làm việc để đi đến thỏa thuận với Liên Xô. Các quốc gia đó (Trung Quốc và Liên Xô) đã tiếp tế cho Bắc Việt . Chúng tôi không biết trong trường hợp hiện tại, nếu những sự quan hệ của chúng ta đối với Trung Quốc và Liên Xô được cải thiện tốt đẹp, thì chúng ta có nên xài nó……

    – Kissinger thấy là tất cả chánh sách ngoại giao được đặt thành vấn đề trở lại, bèn đáp :

    – ” Khi có người nói rằng họ nhờ chúng ta, thì phải tự hỏi xem chúng ta đã thiết lập được những gì…. Mục tiêu chính yếu trong vấn đề hòa hoãn với Liên Xô là để giảm thiểu nguy cơ của chiến tranh nguyên tử và làm nhẹ đi những sự căng thẳng nói chung. Đây là những gì đã xảy ra: mức độ cung cấp dụng cụ chiến tranh của Liên Xô cho Bắc Việt được giữ ở mức độ không thay đổi trong những năm sau cùng. Trong khi đó, mức độ cung ứng dụng cụ quân sự của Hoa Kỳ cho Miền Nam Việt Nam đã giảm xuống đáng kể. Ngoài ra Liên Xô hình như không bao giờ tự hỏi về việc xử dụng vũ khí viện trợ đó một cách quá tỉ mỉ và quá máy móc như chúng ta “.

    Trong thâm tâm, Kissnger không có ý định phải tái dội bom Bắc Việt. Nhưng nghị sĩ Walter Huddleston, Dân Chủ thốt lên một câu :

    – ” Người Mỹ chúng ta muốn biết là sau bao nhiêu năm các ngân khoản bổ túc do Chánh Phủ yêu cầu có đi tới được một kết luận tốt hay không ? Có hay không ? Có một câu trả lời nào cho vấn đề nầy không ?

    – “Không có một câu trả lời nào chính xác hết. Nếu ít ra chỉ có một.

    Với vẻ cảm động, như một kịch sĩ lành nghề, ông Tổng truởng ngoại giao lẳng lặng đọc cho các nghị sĩ nghe bức thư của ông Sirik Matak. Các vị dân cử đều ngao ngán…Kissinger bèn khai thác ngay :

    – ” Thưa ông Chủ tịch, thưa quý bà, quý ông.., Ông đại sứ Dean và cá nhân tôi nữa không người nào quên được lá thư nầy.Và ngay cả người đã can đảm viết bức thư nầy..cũng vậy. Bây giờ đây, với tư cách là người Hoa Kỳ chúng ta cùng nhau phải biết hành động như thế nào để có thể chắc chắn là chúng ta sẽ không bao giờ còn nhận được những lá thư như thế nầy nữa.!”

    Ông Tổng trưởng ngoại giao muốn thử làm cao để tự bào chữa, nên chỉ nhắc sơ qua lý do chính yếu đã đẩy Bắc Việt tiến tới một cuộc tổng tấn công toàn diện và cuối cùng.

    Khởi đầu thì có vụ việc “nghe lén” (Watergate) mà chỉ một mình ông Nixon là người lãnh trách nhiệm.. Vừa không thể chấp nhận được, vừa là điều phi lý, sự nghe lén đồi bại nhỏ nhoi trong những khu vực của đảng Dân Chủ đó đã kéo theo một thủ tục mà Kissinger không thể dự đoán được trong lúc đang hình thành những đoạn tế nhị của Hiệp Định Ba Lê. Nếu ông Nixon còn ngồi ở chánh quyền thì không còn nghi ngờ gì nữa và còn chắc chắn là ông sẽ gởi ngay các pháo đài bay B.52 ngay sau khi Bắc Việt tấn chiếm Ban mê Thuột . Khi cho lệnh dội bom lên Cam Bốt hay Hà Nội , ông Nixon đã cho thấy là ông không có chút lưu tâm tới ý kiến của Quốc Hội cũng như tới dư luận dân chúng Hoa Kỳ . Nghị quyết và Luật về Quyền Hạn Chiến Tranh có ngăn cản ông ta đâu ? Nếu các phi công Mỹ đã nhận lệnh của Tổng Thống , với tư cách là Tổng Tư Lệnh Quân Lực Hoa Kỳ , họ có tuân lệnh hay không ? Hay là, nếu bất tuân lệnh, thì họ có nhờ luật sư của họ, viện dẫn Quyết Định và Luật đó hay không ?

    Yêu cầu ngân khoản viện trợ của Tổng Thống Ford đã huy động đến 8 tiểu ban ở Thượng Viện và Hạ Viện. Tổng Trưởng Quốc Phòng Schlesinger và tướng Weyand cũng phải ra điều trần

    Các con số teo dần: 515 triệu, rồi 449, 401, 370 rồi 350 triệu… Người ta tính ra là 165 triệu viện trợ quân sự và 165 triệu cho viện trợ nhân đạo.Các thành viên của Quốc Hội nhất là các nghị sĩ, gần như muốn ngân khoản viện trợ nhân đạo và cho cuộc hành quân di tản phải lên đến 200 triệu. Ông Ford vẫn chưa chịu và ông ta đòi 972 triệu cho tất cả . Chuyện đối đầu giữa Hành Pháp và Lập Pháp được công khai đưa lên truyền hình, truyền thanh, và báo chí, quả thật là mệt nhọc. Trong một cuộc họp báo, Tổng Thống Ford thử đưa ra một so sánh về yêu cầu của mình: ông xin một ngân khoản nhỏ thôi, dưới một tỷ đô la, một con số có đáng kể gì đâu “so với 150 tỷ mà chúng ta đã xài từ trước.? “

    Nhưng.. Lãnh đạo ở Hà Nội và Lê đức Thọ ở Miền Nam, và trên mặt trận ai cũng biết rõ hết từng chi tiết.

    Điều rõ ràng là mặc dầu có thiện chí và có thiện cảm với ông Ford, hầu hết các thành viên của Quốc Hội không sẳn sàng chấp thuận cho ông ta một ngân khoản viện trô quân sự nào nữa. Dĩ nhiên là ông vẫn sẽ được tất cả ngân khoản cần thiết để di tản các công dân Hoa Kỳ . Thật sự, có bao nhiêu người ? – 5400 hay hơn thế nữa ? Ngưới ta cũng chấp thuận cho Tổng Thống những ngân khoản chủ yếu cho viện trợ nhân đạo và để không bỏ lại cho cộng sản những người Việt Nam đã từng cộng tác với Hoa Kỳ

    Tổng Thống Ford đã tiếp tất cả những thành viên thuộc tiểu ban Ngoại giao của Thượng Viện trong suốt 1 giở rưỡi. Cả các vị dân cử thuộc hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ đều mong muốn Tổng Thống hứa là sẽ nhanh chóng đưa những người Mỹ ra khỏi nước Việt Nam . Người Việt Nam thì phải ở hàng thứ yếu. Con số được đề nghị bốc đi sẽ là bao nhiêu ? Ông Ford đáp lời :

    – ” Đại khái phải tính cho là từ 175.000 đến 200.000. Chúng ta phải có trách nhiệm tinh thần, và chúng ta phải giúp đỡ những người đã từng giúp chúng ta .”

    Tổng Thống Ford không muốn cung cấp cho các nghị sĩ một ngày giờ nhứt định. Rút người Mỹ ra khỏi Việt Nam trong lúc nầy là sẽ tạo ngay một tình trạng hoãng loạn, và như thế sẽ nguy hiểm cho tánh mạng của những người Mỹ hiện đang còn ở Việt Nam

  30. – ” Chúng tôi cần có thời gian, chỉ trong vòng một vài ngày mà thôi.

    Ở Hoa Thạnh Đốn , có nhiều người nói là sẽ di tản chừng 1 triệu người Việt Nam bằng cách chở họ bằng tàu thủy từ cảng Vũng Tàu. Như vậy sẽ có bao nhiêu binh sĩ, bao nhiêu Thủy Quân Lục Chiến Mỹ để bảo vệ cuộc hành quân đó ? Phải tốn đến nhiều sư đoàn …. Các dân cử Mỹ thích con số chừng 200 ngàn người Việt Nam

    Người ta nói đến trường hợp ông đại sứ Martin. Trước khi đến gặp Tổng Thống Ford, hầu hết các nghị sĩ đều đã có đọc một tờ trình của hai ông Richard Moose và Charles Misner, hai người phụ tá của các đại biểu trong phái đoàn từ Việt Nam về. Theo đó thì ông Martin không bao giờ chấp nhận tính cách không thể đảo ngược của tình hình quân sự

    Từ Sài Gòn , đại sứ Hoa Kỳ theo dõi trận chiến ngay trên mặt trận ở Hoa Thạnh Đốn .

    Với những ai muốn nghe thì ông sẳn sàng tố cáo ” những cái điếm đàng về ngân khoản của Quốc Hội” . Biết chắc là họ sẽ bỏ phiếu chống mọi viện trợ quân sự , ông Martin đề nghị với ông Kissinger là trong trường hợp đó, thì tốt hơn hết là tìm cách hoản cuộc bỏ phiếu đó lại . Chúng ta không nên làm mất tinh thần Chánh Phủ Miền Nam Việt Nam , ta phải cho họ thời gian để quay trở lại. Cuối cùng Tổng ThốngThiệu cũng đã hiểu: ông đã cùng với Tổng trưởng Nguyễn tiến Hưng nghĩ ra một kế hoạch khác và một đường lối vận động khác để có thể đạt được viện trợ của Hoa Kỳ . Sài Gòn có thể xin vay Hoa Thạnh Đốn một số tiền chừng 3 tỷ mỹ kim, trả dài hạn trong 3 năm, có thể gia hạn trong 10 năm. Bắt đầu trả nợ từ năm 1985. Quốc Hội Mỹ sẽ ấn định lãi suất. Số nợ vay nầy sẽ được bảo đảm bằng tài nguyên nông nghiệp và đầu hỏa. Người ta có thể đặt tên rất kêu cho món tiền cho vay nầy là : “Món nợ vay cho Tự Do”. Cái tên nầy có vẻ quyến rũ được dư luận dân chúng Hoa Kỳ lắm đó !

    Ông Nguyễn tiến Hưng đưa ý kiến nầy cho ông Martin, để ông trao cho các chuyên viên kinh tế của ông nghiên cứu. Còn ông thì đi sang Hoa Thạnh Đốn hoạt động ngoài “hành lang” để vận động cho ý kiến “vay món nợ cho Tự Do” nầy. Qua điện thoại, hình như ông Martin không mấy chú tâm đến vấn đề nầy, ông Hưng chỉ nhớ thoáng qua một câu của Đại sứ :

    -” Thật ra, Tổng Thống của ông sẽ từ nhiệm hay không ?”

    Trên phương diện quân sự , trong một công điện gởi cho ông Kissinger, ông Martin đã mô tả trân chiến ở Xuân Lộc nằm về phía Tây của Sài Gòn đang diễn tiến tốt đẹp

    – “Bắc Việt đã có hai ngàn chết và bị thương. Các tù binh còn rất trẻ, có một cán binh nói rằng anh ta được 14 tuổi…” Từ đó chúng tôi nghĩ rằng Hà Nội đã không còn trừ bị. …”

    Đại sứ Martin vẫn còn tin tưởng:

    – “Tôi không tin rằng QLVNCH sẽ chịu cúi đầu. ”

    Cuối cùng rồi Chánh Phủ mới cũng được thành lập xong ở Sài Gòn . Ông Martin vẫn gởi công điện cho ông Kissinger nhiều lần mỗi ngày, lần nầy :

    – “Người ta không biết bây giờ thì cái gì sẽ xảy ra “

    Ở Hoa Thạnh Đốn tiểu ban ngoại giao của Thượng Viện đã tạm thời chấp thuận một yêu cầu pháp chế khẩn cấp, cho phép Tổng Thống quyền được xử dụng quân đội cần thiết trong việc di tản người Mỹ và một số người Việt Nam . Các nghị sĩ bắt buộc ông Martin phải nhanh chóng rút người Mỹ ra khỏi Việt Nam . Nghị sĩ Charles Percy, Cộng Hòa, yêu cầu Tổng Thống Ford phải bảo đảm là mọi phi cơ lúc rời khỏi Sài Gòn đều không được có ghế nào trống. Tổng Thống Ford đã xác nhận với ông nầy rằng Kissinger đã có cho lệnh như thế rồi. Ông Martin nhận thấy là không khí ở thủ đô Hoa Kỳ xấu đến mức độ khó nói

    Ngoài những bài toán trực tiếp, cuộc truy tìm những người có trách nhiệm trong vấn đề tán loạn nầy cũng đã bắt đầu. Như thế là bộ máy dân chủ đang chạy..

    Người ta có thể cho đi bao nhiêu người Việt Nam được ? và di tản bằng cách nào cho hợp với pháp lý của Hoa Kỳ? Người nào muốn rời khỏi nước Mỹ đều không cần phải xuất trình một tờ căn cước nào hết. Nhưng đi vào nước Mỹ thì khó lắm, vì còn phải xét đến luật lệ và cấp khoản di trú được tính cho người Việt Nam giống như những người khác. Bộ ngoại giao đã phải tranh đấu cho vấn đề nầy. Ngày 14 tháng 4, Bộ nầy đã cho Tòa Đại sư của mình ở Sài Gòn biết là họ chỉ được một vài nhượng bộ rất hạn chế. Một số người Việt Nam nào đó chỉ được nhập cảnh vào Hoa Kỳ với một “lời hứa danh dự” (on parole ). Đây không phải là lòng vị tha suông. Người ta muốn “loại bỏ” một trong những lý do đã thúc đẩy một số người Mỹ từ chối không muốn rời khỏi nước Việt Nam – sự hiện hữu của vợ con họ gốc người Việt Nam – Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ lo về vấn đề di trú đã định nghĩa các tiêu chuẩn như vậy

    Muốn di cư vào Hoa Kỳ thì phải :

    1.- Được kết hôn chánh thức với một nam hay nữ công dân Hoa Kỳ

    2.- Là con (của một nam hay nữ công dân Hoa Kỳ )

    3.- Là mẹ hay cha của một công dân Hoa Kỳ (ví dụ một phụ nữ Việt Nam đã trở thành mẹ của một đứa trẻ Mỹ, qua kết hôn)

    4.- Là Mẹ hay Cha của người phối ngẫu ngoại quốc của một công dân Hoa Kỳ (ví dụ mẹ hay cha của một người phụ nữ Việt Nam đã kết hôn với một công dân Hoa Kỳ mà chưa trở thành nữ công dân Hoa Kỳ)

    5.- Là một trẻ vị thành niên không do sự kết hôn của một phối ngẫu ngoại quốc (ví dụ con riêng của một phụ nữ Việt Nam đã có trước khi thành hôn với một công dân Hoa Kỳ)

    Trước khi đi, mỗi người phải có những giấy tờ chứng minh mối liên hệ cha mẹ của mình. và người đó phải điền vào mẫu I-94.

    Các công chức ở Hoa Thạnh Đốn có cảm tưởng là đã thiết lập những luật lệ rõ ràng, công bằng, và rất nhân đạo. Nhưng vô phước thay, ho không nghĩ tới những sự thật ở Việt Nam . Có một số dân sự người Mỹ như thợ, đốc công, kỹ sư … đến làm việc cho các hãng tư ở Việt Nam , những người phóng viên, nhiếp ảnh viên … đã sống không chánh thức từ lâu với các phụ nữ Việt Nam và đôi khi họ cũng đã có con với nhau. Có vài người trong số nầy chỉ giản dị là quên không kết hôn với nhau thôi. Các ông công chức ở Hoa Thạnh Đốn cứ tưởng đến gia đình người Mỹ thời nguyên tử, một chồng một vợ và một hay hai đứa con là cùng, hay họa hoằn còn thêm một hay hai ông bà. Các gia đình Việt Nam đến trình diện ở Tòa Lãnh sự thường có từ 15 đến 30 người ; có nhiều gia đình người Tàu lại Việt ở Chợ Lớn có đến những 50

    Nhờ Trời, tại Sài Gòn các công chức người Mỹ biết cách xử sự và mềm dẻo hơn. Trên các chuyến bay từ Tân sơn Nhứt mỗi ngày, số ghế được hạn chế. Do đó khó mà quyết định được ai đi ai ở ?Thật là đau khổ ! Rất khó khăn trong việc chọn lọc, nhất là khi người Việt Nam nói với toà lãnh sự : Tùy các ông lựa chọn giùm đi !

    Một viên chức có trách nhiệm trong vấn đề chọn lọc nầy là ông Ken Moorefield đã quyết định bất chấp hết luật lệ. Khi người ta không thể chấp nhận toàn thể một gia đình nào đó thì người ta đi từ nguyên tắc : đừng để ở lại Sài Gòn những ông bà già nào không còn một con trai hay con gái để lo phục vụ cho đời sống của họ

    Ngoài ra trên nguyên tắc, trước khi cho giấy phép xuất cảnh, tòa Lãnh Sự Hoa Kỳ phải được biết chắc chắn là trước khi rời khỏi Việt Nam người đó có ở trong tình trạng hợp lệ đối với Chánh quyền Việt Nam hay không ?. Được một thông hành không phải là một chuyện dễ, đó là chưa nói tới những thủ tục về tiền bạc. Người Mỹ vi phạm luật lệ Việt Nam một cách dễ dàng hơn là đối với luật lệ của Hoa Kỳ. Từ đầu tháng 4, tòa Lãnh sự Hoa Kỳ nhận hết các loại giấy xuất cảnh do Bộ Nội Vụ Việt Nam cấp, thường là giấy giả hay giấy mua được ở đâu đó. Để cho chạy việc, người ta hứa với một vài công chức hay thanh tra là sẽ cho di tản họ và cả gia đình họ, nếu họ tỏ ra biết chịu hợp tác. Vào thời điểm bình thường, ở tại Sài Gòn , ngay như người ta muốn thuê một công chức làm giấy tờ, thì cũng phải đợi đến nhiều tuần lễ hay có khi cả mấy tháng mới có được một giấy tờ chánh thức. Còn bây giờ thì có đến hàng chục ngàn người nộp đơn, thì làm sao mà hy vọng có được thông hành, chiếu khán xuất cảnh, giấy chứng nhận không thiếu thuế, giấy thông hành .. được cấp cho một cách nhanh chóng? Do vậy mới có “kỹ nghệ làm giả giấy tờ” và kỹ nghệ nầy đang nỡ rộ, với tất cả các loại cần thiết từ bản chữ in đến con dấu. Và người Mỹ ở Sài Gòn đã học được cách “không cần xét kỹ ” giấy tờ.

    Tại Hoa Thạnh Đốn người ta nói đến con số 1 triệu người có khả năng di cư., Tổng Thống thì gợi lên con số hai trăm ngàn. Không có một chỉ thị chánh thức nào về “con số” được gởi đến cho tòa đại sứ ở Sài Gòn . Mãi cho đến ngày 26 tháng 4, người ta mới cho phép ông Martin chánh thức cho di tản hai mươi lăm ngàn người Việt Nam

    Bên cạnh con đường di tản chánh thức, lại có những hệ thống song song bán chánh thức được thiết lập, do các công ty, các sĩ quan Không quân Hoa Kỳ , do Cơ Quan Trung Ương Tình Báo CIA hay những nhóm đặc biệt khác đứng ra tổ chức. Do đó có hai công chức cao cấp thuộc Bộ Ngoại Giao là Larry Johnstone và Lionel Rosenblatt, khoảng 30 tuổi, đang làm việc tại Hoa Thạnh Đốn sau thời gian phục vụ