Nghi Án – Chiến Tranh Tối Mật

Chiến Tranh Việt Nam


* Mặt Trái Hệ Thống Chính Trị HK (Amazon.com – ISBN: 9781495810121)
* Từ Điển Tin Học (Amazon.com – ISBN: 9781495805134)
* The Sun Hunters (Amazon.com – ISBN: 9781495808333)
* Loài Chim Du Mục (Amazon.com – ISBN: 9781495808593)
* Kinh Tế Đại Cương Tập I (Amazon.com – ISBN: 9781495809088)

I. Dầu Mỏ và Ma túy: đầu mối của chiến tranh


** John L. Potash (Drugs as Weapons Against Us):
The Vietnam War is about drugs. There are these secret societies behind it. Communism is all a sham, these same secret societies are behind it all.
(Ma túy là nguồn gốc của Chiến Tranh Việt Nam. Có những hội kín đứng phía sau cuộc chiến đó. Cộng sản chỉ là trò ngụy tạo, cũng chính những hội kín nầy đứng phía sau tất cả cái trò đó).


** Alfred W. McCoy (The Politics of Heroin – CIA Complicity in the Global Drug Trade):
North Vietnamese soldiers found dead with syringes on their arms on the slopes of Khe Sanh… Communist trucks rolling down the Ho Chi Minh Trail loaded with heroin for GIs.
(Người ta thấy Bộ đội Bắc Việt nằm chết trên các sườn đồi Khe Sanh tay còn ghim ống chích ma túy… những xe tải Cộng Sản chở ma túy cho lính Mỹ).


Động cơ tiến hành Chiến Tranh Việt Nam: MA TÚY TAM GIÁC VÀNG
Động cơ kết thúc Chiến Tranh Việt Nam: DẦU MỎ BIỂN ĐÔNGg.
Tất cả đều có những hội kín Do Thái đứng phía sau.


Từ nhiều thập niên, Cộng Sản Hà Nội đã và đang vô tư rước Tàu Singapore, Tàu Đài Loan, và Tàu Hoa Lục vào lãnh thổ và lãnh hải của mình
Việt Nam đã và đang rước ngựa gỗ vào thành.
Phi Luật Tân đã và đang rước Mỹ trở lại lãnh thổ và lãnh hải của mình: Họ cũng đã và đang rước ngựa gỗ vào thành.
Hai quốc gia nầy đã quên cái gương mất nước của Miền Nam Việt Nam hơn bốn mươi năm trước vì nạn ngựa gỗ nầy.


(1) Nhà Nước Chìm Do Thái. Những “hội kín” mà John L. Potash đề cập bên trên không gì khác hơn là những đại bài của Hệ Thống Siêu Quyền Lực Do Thái: Bilderberg, Illuminati, Trilateral Commission, Rockefeller Foundation, Ford Foundation, Deep Sate, Shadow Government, One-World Government… Điều đó có nghĩa là mọi hình thức chiến tranh đều phi nghĩa, với một mục đích duy nhất là phục vụ tư lợi của bọn đầu sỏ đứng phía sau. Tuy nhiên sự hy sinh của những binh sỹ Hoa Kỳ và binh sỹ Miền Nam Việt Nam không phải vì tư lợi hay ma túy mà vì lý tưởng tự do dân chủ có thực. Bất hạnh thay thứ lý tưởng đó không có nơi những thế lực ẩn danh tà đạo lợi dụng xương máu của những người lương thiện để duy trì những cuộc chiến bất minh và bất tận nhằm phục vụ lòng tham vô hạn của chính chúng. Thì ra nhũng cụm từ “Chủ Nghĩa Cộng Sản”, “Cộng Sản Quốc Tế”, “Chủ Nghĩa Tự Do”, “Thế Giới Tự Do”… đều là những bãi cứt bò của bọn chủ ngân hàng Do Thái ẩn mình sau cái mệnh danh là Hệ Thống Siêu Quyền Lực đang cai trị thế giới bằng ma túy, chiến tranh, âm mưu, thao túng, khủng bố, và tội ác. Mục tiêu tối hậu của chiến tranh là thu tóm tài nguyên của trái đất và áp đặt một loại trật tự hoang đường trên hành tinh sau khi xóa sạch biên giới của các quốc gia quy ước. Đó là giấc mơ của bọn trời đày vô tổ quốc đang ngày đêm hủy diệt địa cầu. Nếu Saudi Arbia là đồng minh xăng dầu cốt lõi của Do Thái ở Trung Đông thì Trung Quốc là đồng minh cố lõi của họ ở Á Châu Thái Bình Dương. Do Thái thừa biết chỉ có Trung Quốc mới có đủ khả năng giúp họ độc chiếm tài nguyên dầu mõ và những tài nguyên bao la khác ở Biển Đông. Ở Hoa KỲ, Do Thái muốn là trời muốn.
(2) Cấu kết Mỹ-Trung. Từ thời Nixon trở về sau, Hoa Kỳ đã say mê chăn gối với Bắc Kinh, tận tụy phục vụ quyền lợi của Trung Quốc để đổi lấy quyền lợi của chính họ, tăng cường sức mạnh cho một trong những nền độc tài mạn rợ nhất trong lịch sử hiện đại. Người Tây Phương thường nói, “Nếu bạn không thắng được họ thì hãy theo họ.” Chiến tranh Cao Ly và Chiến tranh VN đã chứng minh là Mỹ không thắng được Trung Quốc, ngay cả khi nước Tàu còn trong thời kỳ ăn lông ở lỗ. Do đó, từ cuối Chiến Tranh VN, Chú Sam thực sự đã đi theo Trung Quốc (đi đêm lẫn đi ngày), theo đúng âm mưu và đạo diễn của tập đoàn tài phiệt Do Thái quốc tế, trên lưng phần còn lại của các quốc gia khác, nhất là dân tộc Việt Nam.
Không phải đợi đến cuối Chiển Tranh VN Chú Sam mới ý thức được vai trò của Trung Quốc; bọn Do Thái quốc tế đã nhìn thấy điều đó ngay từ thời Mao Trạch Đông, đã tiến cử Mao vào Hội Tam Điểm quốc tế, đã hậu thuẫn và thao túng chính quyền Mao với những tay Do Thái sừng sỏ như Israel Epstein, Sidney Shapiro vào nắm hệ thống tuyên truyền và tài chánh của chính quyền Mao. Đám tài phiệt nầy đang cai trị nước Mỹ, sẵn sàng bán đứng các đồng minh của Mỹ cho Trung Quốc. Họ bán đứng Hoàng Sa viện cớ không muốn dính dáng đến vấn đề chủ quyên biển đảo của các bên. Thực tế đó là lối biện bạch trên đồng cỏ. Họ không những bán đứng Hoàng Sa mà bán đứng toàn bộ nước Việt Nam cho Trung Quốc. Họ không những bán đứng Việt Nam mà sẽ bán đứng tất cả các quốc gia nhược tiểu khác trong khu vực Biển Đông. Để che mắt thế gian, nay họ rêu rao trò bịp bao vây Trung Quốc, mai trò hề chuyển trục Thái bình Dương, nay đưa máy bay biểu diễn vờn nhau trên không với máy bay Trung Quốc, mai đưa các chiến hạm dạo chơi quanh những đảo nhân tạo ở Thái Bình Dương, nay ve vãn Việt Nam, mai ve vãn Phi luật Tân như mèo vờn chuột. Châu Á Thái Bình dương liên tục dậy sóng chiến tranh và chạy đua vũ trang để làm giàu thêm bọn tài phiệt đó. Dường như các giới lãnh đạo vùng Châu Á Thái Bình Dương đang nhá hốc nhìn trời cho đến khi… họ nhìn trở lại xuống đất thì đã trắng tay!


II. Bức điện tín đầu hàng vô điều kiện của Bắc Việt


1. Vài nét về Ted Gunderson, chủ tài liệu liên quan đến bức điện tín
– Cựu Đặc vụ hành sự FBI và cựu Giám đốc FBI Los Angeles,
– Từng điều tra vụ Marilyn Monroe và John F. Kennedy,
– Từng phanh phui những tội các của FBI và những thế lực Do Thái đứng phía sau như BilderbergIlluminati,
– Từng bị tin tặc tấn công vào các máy tính cá nhân, từng bị sách nhiễu, đe dọa, bức hại và toan tính sát hại,
– Cuối cùng bị hạ độc bằng Arsenic và qua đời ngày July 31, 20112. Dưới đây là nguyên văn Tiếng Anh mà Đỉnh Sóng ghi ra từ YouTube liên quan cùng với phần chuyển ngữ, tất cả dựa theo khả năng hạn chế.

“I also received some information recently in my tours and lectures, and what have you. I did a TV show in Long Beach, California. One of the gentlemen involved in the show was in the U.S. army at one time. He told me that in the spring of 1973 we had bombed all the North Vietnamese supply lines, we had mined their harbors, they were cut off; and one of his associates was in the communication room in Saigon, and this is, of course, a classified job. And when he was in this room he received this message from the North Vietnamese, “We surrender unconditionally.” He passed it on to his superiors; and all army personnel were immediately ushered out and replaced by state department personnel. It’s shortly thereafter that Kissinger met with the north Vietnamese officials in Paris, France. Why do these things happen?”

(Tôi cũng đã nhận được một số thông tin gần đây trong những chuyến đi và thuyết trình, v.v.. của tôi. Tôi đã thực hiện một chương trình truyền hình ở Long Beach, California. Một trong những người liên quan trong chương tình có thời đã phục vụ trong quân đội Hoa Kỳ. Ông ta nói với tôi rằng chúng ta đã dội bom tất cả những đường tiếp tế của cộng sản Bắc Việt, chúng ta đã gài mìn những bến cảng của họ, chúng đã bị cắt đứt; và một trong những cộng sự viên của ông lúc bấy giờ đang làm việc tại trung tâm truyền tin ở Sài gòn, và đương nhiên đó là một công tác tối mật. Khi đang ở trong phòng, ông ta nhận được điện tín nầy của Bắc Việt, “Chúng tôi đầu hàng vô điều kiện.” Ông ta chuyển điện tín đó lên cho thượng cấp; và tất cả nhân viên quân sự lập tức bị thuyên chuyển hết và được thay thế bởi nhân viên của Bộ Ngoại Giao. Chẳng bao lâu sau Kissinger đã họp với các viên chức Bắc Việt ở Paris. Tại sao lại xảy ra những chuyện như thế?)


III. Đánh nhưng không được thắng – Bruce Herschensohn, Prager University


Dưới đây là nguyên văn Tiếng Anh do Đỉnh Sóng chép ra từ YouTube cùng với phần chuyển ngữ, tất cả dựa theo khả năng hạn chế:
“Decades back, in late 1972, South Vietnam and the United States were winning the Vietnam War decisively by every conceivable measure. That’s not just my view. That was the view of our enemy, the North Vietnamese government officials. Victory was apparent when President Nixon ordered the U.S. Air Force to bomb industrial and military targets in Hanoi, North Viet Nam’s capital city, and in Haiphong, its major port city, and we would stop the bombing if the North Vietnamese would attend the Paris Peace Talks that they had left earlier. The North Vietnamese did go back to the Paris Peace talks, and we did stop the bombing as promised.
On January the 23rd, 1973, President Nixon gave a speech to the nation on primetime television announcing that the Paris Peace Accords had been initialed by the United States, South Vietnam, North Vietnam, the Viet Cong, and the Accords would be signed on the 27th. What the United States and South Vietnam received in those accords was victory. At the White House, it was called “VV Day,” “Victory in Vietnam Day.”
The U.S. backed up that victory with a simple pledge within the Paris Peace Accords saying: should the South require any military hardware to defend itself against any North Vietnam aggression we would provide replacement aid to the South on a piece-by-piece, one-to-one replacement, meaning a bullet for a bullet; a helicopter for a helicopter, for all things lost – replacement. The advance of communist tyranny had been halted by those accords.
Then it all came apart. And It happened this way: In August of the following year, 1974, President Nixon resigned his office as a result of what became known as “Watergate.” Three months after his resignation came the November congressional elections and within them the Democrats won a landslide victory for the new Congress and many of the members used their new majority to de-fund the military aid the U.S. had promised, piece for piece, breaking the commitment that we made to the South Vietnamese in Paris to provide whatever military hardware the South Vietnamese needed in case of aggression from the North. Put simply and accurately, a majority of Democrats of the 94th Congress did not keep the word of the United States.
On April the 10th of 1975, President Gerald Ford appealed directly to those members of the congress in an evening Joint Session, televised to the nation. In that speech he literally begged the Congress to keep the word of the United States. But as President Ford delivered his speech, many of the members of the Congress walked out of the chamber. Many of them had an investment in America’s failure in Vietnam. They had participated in demonstrations against the war for many years. They wouldn’t give the aid.
On April the 30th South Vietnam surrendered and Re-education Camps were constructed, and the phenomenon of the Boat People began. If the South Vietnamese had received the arms that the United States promised them would the result have been different? It already had been different. The North Vietnamese leaders admitted that they were testing the new President, Gerald Ford, and they took one village after another, then cities, then provinces and our only response was to go back on our word. The U.S. did not re-supply the South Vietnamese as we had promised. It was then that the North Vietnamese knew they were on the road to South Vietnam’s capital city, Saigon, that would soon be renamed Ho Chi Minh City.
Former Arkansas Senator William Fulbright, who had been the Chairman of the Senate Foreign Relations Committee made a public statement about the surrender of South Vietnam. He said this, “I am no more distressed than I would be about Arkansas losing a football game to Texas.” The U.S. knew that North Vietnam would violate the accords and so we planned for it. What we did not know was that our own Congress would violate the accords. And violate them, of all things, on behalf of the North Vietnamese. That’s what happened.
I’m Bruce Herschensohn.”
Phần chuyển ngữ:
Nhìn lại những thập niên trước, vào cuối năm 1972, Miền Nam VN và Hoa Kỳ rõ ràng đang thắng Chiến Tranh VN, hiển nhiên là thế. Đó không chỉ là quan điểm của riêng tôi. Đó là quan điểm của kẻ thù của chúng ta, những viên chức của chính phủ Bắc Việt. Chiến thắng rõ ràng khi Tổng Thống Nixon ra lệnh cho không lực Hoa Kỳ dội bom những mục tiêu kỹ nghệ và quân sự ở Hà Nội, thủ đô Bắc Việt và ở Hải Phòng, hải cảng chính của họ, và chúng ta sẽ ngưng dội bom nếu Bắc Việt tham dự Hội Đàm Paris mà họ đã rời trước đó. Bắc Việt không trở lại bàn hội nghị, và chúng ta không ngưng dội bom như đã hứa.
Vào ngày 23 tháng Giêng năm 1973, Tổng Thống Nixon đọc một bài diễn văn toàn quốc trên truyền hình vào giờ cao điểm, cho biết Hội Đàm Paris đã được ký tắt bởi Hoa Kỳ, Nam VN, Bắc Việt, Việt Cộng, và Hiệp Định sẽ được chính thức ký vào ngày 27. Những gì mà Hoa Kỳ và Nam VN nhận được trong hiệp định đó là một thắng lợi. Tại Tòa Bạch Ốc, người ta đã gọi đó là ngày “VV Day – Victory in Vietnam Day.”
Hoa Kỳ đã hậu thuẫn chiến thắng đó với một bảo đảm đơn giản bên trong Hiệp Định Paris, theo đó: nếu Miền Nam yêu cầu chiến cụ để tự vệ chống lại bất kỳ cuộc xâm lăng nào của Bắc Việt thì chúng tôi sẽ cung cấp viện trợ thay thế (replacement aid) cho Miền Nam trên căn bản từng cái một và một đổi một (piece-by-piece, one-to-one replacement), nghĩa là, một viên đạn đổi một viên đạn, một trực thăng đổi một trực thăng, đối với tất cả những thứ bị mất. Bước tiến của chế độ độc tài cộng sản đã bị chặn đứng bởi hiệp định đó.
Thế rồi tất cả đều tan vỡ. Và sự thể như thế nầy: Vào tháng Tám của năm tiếp theo, 1974, Tổng Thống Nixon từ chức do hậu quả của vụ Watergate. Ba tháng sau khi ông từ chức là những cuộc bầu cử quốc hội tháng mười một và trong đó những thành viên của Đảng Dân Chủ thắng lợi vẻ vang trong Quốc Hội mới và nhiều thành viên đã lợi dụng đa số mới của họ để chấm dứt tài trợ cho chương trình viện trợ quân sự mà Hoa Kỳ đã hứa, một đổi một, bội ước lời cam kết của chúng ta đối với Miền Nam VN ở Paris là sẽ cung cấp bất kỳ chiến cụ nào mà Miền nam cần trong trường hợp bị Bắc Việt xâm lăng. Nói một cách đơn giản và chính xác, đa số những đảng viên Đảng Dân Chủ của Quốc Hội khóa 94 không giữ lời hứa của Hoa Kỳ.
Vào ngày 10 tháng Tư, 1975, Tổng Thống Gerald Ford đã trực tiếp nói chuyện với những thành viên Quốc Hội đó trong một buổi họp hỗn hợp buổi tối, được truyền hình trên toàn quốc. Trong bài diễn văn đó, ông tha thiết kêu gọi Quốc Hội hãy giữ lời hứa của Hoa Kỳ. Nhưng trong khi Tổng Thống Ford đọc diễn văn, nhiều thành viên Quốc Hội bước ra khỏi phòng họp. Nhiều người trong số họ đã đầu tư vào sự thất bại của Hoa Kỳ ở Việt Nam. Họ đã tham gia các cuộc biểu tình phản chiến trong nhiều năm. Họ sẽ không cho viện trợ. Vào ngày 30 tháng Tư, Miền Nam đã đầu hàng và những trại cải tạo được dựng lên, và hiện tượng người vượt biển bắt đầu. Nếu Miền Nam nhận được vũ khí mà Hoa Kỳ đã hứa với họ thì kết quả đã khác đi? Sự khác biệt đó đã được chứng minh. Giới lãnh đạo Bắc Việt đã thú nhận rằng lúc bấy giờ họ đang trắc nghiệm Tổng Thống mới Gerald Ford, và họ đã chiếm từ làng nầy đến làng khác, rồi đến những thành phố, tỉnh lỵ; và phản ứng duy nhất của chúng ta là bội ước. Hoa Kỳ không tái viện trợ Miền Nam như chúng ta đã hứa. Chính lúc đó Bắc Việt nhận thức được rằng họ đang trên đường tiến đến Saigon, thủ đô của Miền Nam, sau đó được đổi tên thành TP Hồ Chí Minh.
Cựu TNS William Fulbright, nguyên Chủ Tịch Ủy Ban Đối Ngoại Thương Viện, đã đưa ra một công bố chính thức về sự đầu hàng của Miền Nam. Ông nói,
“I am no more distressed than I would be about Arkansas losing a football game to Texas.”
(Tôi không thấy đau khổ gì mấy, chẳng khác nào khi thấy Arkansas thua Texas một trận đá bóng.)
Hoa Kỳ biết rằng Bắc Việt sẽ vi phạm hiệp định Paris và chúng ta đã chuẩn bị cho chuyện đó. Điều mà chúng ta không biết là chính Quốc Hội của chúng ta sẽ vi phạm hiệp định đó. Và vi phạm, về mọi mặt, thay cho Bắc Việt. Đó là những gì đã xảy ra. Tôi là Bruce Herschensohn.
** Sau khi Saigon thất thủ, hơn một triệu người Miền nam bị đưa vào các trại cải tạo ở miền quê. 250 ngàn người đã chết ở đó, do bị hành quyết không xét xử, tra tấn, bệnh tật, và suy dinh dưỡng. Giữa năm 1975 và 1995, hai triệu người Việt đã trốn chạy khỏi nước, vượt Biển Đông bằng những chiếc thuyền thiếu trang bị để đi tìm tự do. Ước tính có khoảng 200 ngàn người vượt biển nầy đã chết – do bị chết chìm và bị hải tặc giết. Ngày nay Việt Nam vẫn có một chính phủ cộng sản, nhưng họ đã bỏ hết những lý thuyết kinh tế cộng sản, những lý thuyết mà họ đã hy sinh bao nhiêu sinh mạng của đồng bào của họ để theo đuổi.

IV. Nhận định bên lề


Trong khi hơn 96% hệ thống truyền thông nằm trong tay Tập đoàn Do Thái quốc tế và Mỹ Cộng thì công việc truy tìm thông tin, tài liệu, nhận định, và phán xét trung thực về Chiến Tranh VN chẳng khác nào mò kim đáy biển, vì hầu hết các hảng thông tấn, các trang mạng, đài truyền thanh truyền hình, những tờ báo hàng đầu đều nói một thứ tiếng của Do Thái được chuyển ngữ sang tiếng Anh, cùng phục vụ một chủ nghĩa độc tài mềm, cùng bị kiểm soát bởi một chính sách ngân hàng trị và Do Thái trị, cùng gián tiếp hay trực tiếp cỗ xúy một loại trật tự được mệnh danh New World Order hay One-World Government – thực chất là một loại thế giới đại đồng hoang tưởng do tập đoàn Do Thái thống trị nằm mơ. Hiện cảnh đen tối của một chính quyền Mỹ thân cộng Do Thái trị ngày nay là nhìn đâu cũng thấy Do Thái và sờ đâu cũng chạm phải bàn tay lông lá của Do Thái – từ CIA, FBI, truyền thông, Internet, đại học, Hollywood đến hành pháp, tư pháp, lập pháp, v.v…; và đâu có Do Thái ở đó có Mỹ Cộng. Những kẻ đi tìm sự thực như Ted Gunderson luôn bị chúng khủng bố và truy sát bằng mọi cách; những kẻ khác thì co đầu rụt cổ vì sợ bị ghép tội bài Do Thái, cùng lắm chỉ vòng vo đập quanh bụi rậm. Hậu quả là Do Thái và Mỹ cộng xem phần còn lại của thế giới như một bầy trẻ con, ngây thơ về chính trị và nhút nhát như bầy gấu trúc. Hầu hết các bài viết, nhất là những bài của những tay viết blog cho VOA, BBC, RFA, RFI, v.v…, đều viết theo đơn đặt hàng của Do Thái, Mỹ Cộng, và Việt Cộng, dưới môt hình thức nào đó và theo một kênh tuyên vận nào đó. Chín mươi phần trăm của những bài viết nầy là vỏ bọc đường nghe rất bùi tai và nhìn rất mát mắt, nhưng chỉ để phục vụ 10 phần trăm còn lại dùng chứa thuốc độc nhằm đánh bóng Mỹ Cộng hay Việt Cộng hay cả hai. Quả nhiên, đó là những bãi rác lý tưởng để Cộng Sản cắm những lá cờ máu và trưng bày những bức hình của bọn buôn dân bán nước, để đánh bóng những tay bồi bút như Carl Thayer, Nguyen Manh Hung…
Tuy nhiên, nếu nhìn vào toàn cục vấn đề và căn cứ trên những tài liệu, dù là hiếm hoi, được chính phủ Hoa Kỳ bạch hóa về những cuộc đi đêm mà Washington đã tiến hành với Bắc Kinh nhằm bán đứng Miền Nam hay thậm chí cả Việt Nam cho Trung Quốc dưới sức ép và đồng lõa của tập đoàn Do Thái và cộng sản quốc tế để đổi lấy quan hệ ngoại giao và thương mại với Trung Quốc, về chủ trương đánh Cộng Sản nhưng không được thắng, v.v… thì bức điện tín đầu hàng vô điều kiện nói trên không hẳn là bịa đặt. Hơn ai hết, tập đoàn tài phiệt dầu khí Do Thái muốn xử dụng vài trò và tiềm năng của Trung Quốc đê độc chiếm những tài nguyên bao là, nhất là dầu mỏ ở Biển Đông. Chúng thừa biết chỉ có TRung Quốc mới có thể giúp chúng thực hiện mưu đồ đó một khi nước Tàu ljac hậu được phục dựng và vỗ béo đúng mức.
Nhưng tại sao Bắc Việt đầu hàng mà Mỹ vẫn tiếp tục đánh? Theo thiển ý của chúng tôi, đầu hàng với Mỹ không thành vấn đề; đầu hàng với Trung Quốc mới là mục tiêu tối hậu của cả Mỹ lẫn Tàu. Ở điểm nầy, vì muốn có được những quyền lợi với Trung Cộng, Mỹ ra sức phục vụ quyền lợi của Bắc Kinh trước đã, nghĩa là giúp Bắc kinh thôn tính Việt Nam thông qua Đảng Cộng Sản VN và trên xương máy dân tộc VN ở cả hai miền. Cũng ở điểm nầy người ta mới thấy Chiến Tranh VN là cơ hội bằng vàng để đế quốc Tàu tiếp tục giấc mộng thôn tính Việt Nam sau hơn ngàn năm không thực hiện được. Cả Mỹ lẫn Tàu đã đạt được mục tiêu chung sau những cuộc không tập B52 kéo dài; và sau đó, vì muốn bảo vệ đảng, Bắc Việt đã quỳ gối đầu hàng Bắc Kinh và ký những mật ước nhượng đất nhượng biển và nhượng cả chủ quyền cho Trung Cộng. Việc Mỹ làm ngơ cho Trung Cộng chiếm Quần Đảo Hoàng Sa của Việt Nam có lẽ cũng nằm trong khuôn khổ những mật ước như thế nhưng đã có trước khi chiến tranh chấm dứt. Như thế kẻ thắng chiến tranh VN là Trung Cộng chứ không phải Bắc Việt; Bắc Việt chỉ là một thây ma được Mỹ, Tàu, Do Thái vớt lên từ địa ngục để thi hành sứ mạng Thái Thú cho Thiên Triều. Người Tây Phương thường nói “NẾU BẠN KHÔNG THẮNG ĐƯỢC HỌ THÌ HÃY THEO HỌ (If you can’t beat them, join them.)” Chiến tranh Cao Ly và Chiến tranh VN đã chứng minh là Mỹ không thắng được TQ, ngay cả khi nước Tàu còn trong thời kỳ ăn lông ở lỗ. Do đó, từ cuối Chiến Tranh VN, Chú Sam thực sự đã đi theo TQ (đi đêm lẫn đi ngày), theo đúng âm mưu và đạo diễn của tập đoàn tài phiệt Do Thái quốc tế trên lưng phần còn lại của các quốc gia khác, nhất là dân tộc Việt Nam.

Những người sinh ra và lớn lên trong hệ thống tuyên truyền và giáo dục nhồi sọ của cộng sản và ngay cả những người cộng sản được xem là “mở mắt” như Bùi Tín, Phạm Chí Dũng, Điếu Cày, Cù Huy Hà Vũ, Dương Thu Hương, chẳng hạn, có lẽ không bao giờ chấp nhận sự thực đó, vì, đối với những người nầy, làm thế chẳng khác nào chối bỏ “ảo ảnh đời mình,” chối bỏ một huyền thoại giúp họ tiếp tục ngẩng mặt lên tiếng với đời. Những đám người nầy có thể “trái dạ” với đảng cộng sản nhưng dứt khoát không tự phản bội chính mình. Nếu không có huyền thoại đó thì cách nay bốn mươi năm họ chỉ là nhưng kẻ mù quáng đi trong đoàn quân ma được Mỹ, Tàu và Do Thái tha chết và vớt xác lên từ địa ngục đồng thời trao cho chiếc bánh vẻ “đại thắng mùa xuân” để sau đó đạo quân ma nầy tràn vào Miền Nam cướp của giết người. Nếu không tin các ông các bà cứ hỏi Trần Đăng Thanh, một đại tá VC thuộc Học Viện Quốc Phòng của chế độ Hà Nội thì biết ngay. Cũng có thể các ông các bà đều biết sự thực nhưng không dám công khai thú nhận; các ông các bà vờ mở mắt nhưng chỉ mở một mắt để khỏi thẹn với lương tâm và tiếp tục đi trong mộng du. Ngày nay các ông các bà được giải quyết sang Mỹ chẳng khác nào lá rơi về cội, gặp lại ân nhân ngày trước, thế thôi.
Một số người cộng sản vẫn thường bóng gió so sánh cộng sản VN với giới lãnh đạo Tây Đức, Bỉ, với Bắc Quân Hoa Kỳ trong cuộc Nội Chiến, thậm chí với cả chính quyền Hoa Kỳ trong Đệ Nhi Thế Chiến đã thắng Nhật. Làm như thế là hiếp dâm lịch sử vì cố tình đặt một thây ma được vớt lên từ địa ngục ngang hàng với những kẻ chiến thắng đích thực, đặt đạo quân đồ tể ngang hàng với loài người có lương tri, liêm sỉ, và trí tuệ, đặt một đám gia nô thái thú ngang hàng với những con người thực sự làm chủ đời mình và giúp dân tộc làm chủ vận mệnh của đất nước. Hãy nhìn kỹ những gì đám đồ tể đã làm trong suốt bốn mươi năm qua trên đất nước Việt Nam để đặt tên đám thái thú thời đại nầy cho đúng…

(…………………………………..)

Đỉnh Sóng

– nguon

6 thoughts on “Nghi Án – Chiến Tranh Tối Mật

  1. Dầu mỏ Biển Đông: Mưu đồ Do Thái & Trung Quốc

    *



    1. Kế Hoạch Illuminati

    Sau nhiều tháng, Texe Marrs trên trang mạng dẫn chứng ở đầu chương vừa hoàn tất công trình nghiên cứu vất vã nhưng hào hứng liên quan đến sự cấu kết đen tối cực kỳ nghiêm trọng cả siêu hình lẫn hữu hình giữa ba cường quốc thế giới, Mỹ, Tàu, và Do Thái. Một người trung bình trên đường phố khó lòng nhận biết những công cụ đội lốt người của ác quỷ Satan, bao gồm thành phần chóp bu của Illuminati, một trong sáu guồng máy của. Ác quỷ tay ba nầy đang tích cực bố trí tài nguyên của Trái Đất để âm mưu tiêu diệt tự do và độc lập của con người. Ba quốc gia nầy đang nằm tại trung tâm của Kế Hoạch Illuminati (Illuminati Plan).
    Texe Marrs đã khám phá ra rằng Trung Cộng, trong vòng chưa đầy bốn thập niên, đã trở thành một ác quỷ khổng lồ (Colossus of Evil) vô tiền khoáng hậu trong lịch sử nhân loại. Những ngân hàng của Trung Cộng – HSBC, Bank of China, v.v., cùng với JP Morgan Chase Bank của tập đoàn tài chánh Do Thái Rothschild – đang chế ngự những thị trường quý kim như vàng, bạc, bạch kim, v.v.. Những công ty xăng dầu của Trung Cộng, trong vòng ngắn ngủi 10 năm, đã lớn mạnh và qua mặt những tập đoàn xăng dầu Chevron, Shell, và BP đã từng hoạt động trên các thị trường thế giới hơn một thế kỷ. Ngoài ra, Goldman Sachs (DT), Morgan Stanley (DT) và những ngân hàng Tây Phương khác đã hợp tác với các tên độc tài ở Bắc Kinh và đã xây dựng hơn 100 ngàn kho chứa khổng lồ khắp cả Trung Cộng. Những kho chứa nầy đang đầy ắp những kho vật liệu đắt tiền – như gỗ, nhôm, quặng sắt, thép, kẽm, xi măng, gạch, kiếng, máy cày, máy ủi, và những dụng cụ khác, liệt kê khôn xiết. Tại sao Trung Cộng đang tích lũy quá nhiều những vật liệu quý báu như thế? Phải chăng giới lãnh đạo Cộng Sản đang chuẩn bị chiến tranh?

    2. Dầu Mỏ Biển Đông

    Câu trả lời cho câu hỏi trên chỉ có thể là chiến tranh dầu mỏ Biển Đông mà Trung Quốc và Do Thái có thể đã toan tính từ cuối Chiến Tranh Việt Nam. Một lần nữa ở đây, nếu động cơ tiến hành Chiến Tranh Việt Nam là ma túy Tam Giác Vàng thì động cơ chấm dứt Chiến Tranh Việt Nam là dầu mỏ Biển Đông; và tất cả đều có Illuminati hay Bilderberg của Do Thái đứng phía sau. Nếu Saudi Arabia là đồng minh cốt lõi của Do Thái ở Trung Đông thì Trung Quốc là đồng minh cốt lõi của Do Thái ở Á Châu Thái Bình Dương. Ngoài mặt thì chính quyền Mỹ Do Thái trị giả vờ bao vây Trung Quốc và giả vờ chuyển trục Thái Bình Dương, bên trong Mỹ-Tàu đã và đang âm mưu độc chiếm tài nguyên Biển Đông, nhất là dầu mỏ. do Thái đang xử dụng Trung Quốc như một con chó dữ để buộc các quốc gia lân bang chạy đua vũ trang nhằm làm giàu thêm cho bọn tài phiệt quốc tế và bọn chủ ngân hàng Do Thái đồng thời giải quyến những vũ khi và chiến cụ phế thải. Do Thái thừa biết chí có Trung Quốc mới có đủ khả năng giúp họ trở thành bá chủ dầu mỏ ở Biển Đông.

    3. Xăng dầu Iraq đi về Trung Quốc

    Xăng dầu Iraq đang bị tẩu táng bởi Do Thái của Rothschild và Trung Cộng với sự đồng lõa của Mỹ. Trước đây, Texe Mars đã phơi bày âm mưu trong đó những công ty xăng dầu và ngân hàng của Rothschild, cùng với giới lãnh dạo thối nát của Do Thái và Tòa Bạch Ốc của Obama, đang đánh cắp những tài nguyên dầu mỏ dồi dào của Iraq và tẩu táng xăng dầu đó thông qua Trung Cộng. Nhờ vào âm mưu ghê tởm đó, công ty PetroChina của Trung Cộng đã trở thành công ty xăng dầu lớn thứ năm thế giới và hy vọng sẽ qua mặt Exxon-Mobil trong vai trò số #1 thế giới vào năm 2015. Phần nầy sẽ được triển khai rộng rãi hơn ở cuối bài.

    4. Rothschild là ai

    “Rothschild” là một tên gọi có tính huyền thoại trong tất cả ba quốc gia thuộc hệ thống Illuminati nầy: Mỹ, Tàu, và Do Thái. Triều đại Rothschild được tộc trưởng Mayer Amschel Bauer thành lập ở Đức vào thế kỷ 18. Bauer đổi họ gia đình của ông thành “Rothschild” (Red Shield) và như thế, một lần nữa, chúng ta khám phá một chỉ dấu về mối liên hệ giữa những tác nhân và tội ác của Con Đại Xích Long (Great Red Dragon), của Xích Nữ (Woman in purple and red), và của con Xích Thú (Red Beast). Màu đỏ luôn biểu tượng cho đĩ điếm – trong nhiều thành phố, khu “đèn đỏ” là nơi ổ điếm. Chủ nghĩa Cộng Sản tự hào về màu đỏ làm biểu tượng. Lenin tạo ra nhóm từ “Red Terror” khi đẩy nước Ngà và những xứ cộng hòa Liên Bang Nga vào hỗn loạn giết chóc. Những suối máu đỏ của chết chóc đã tràn ngập các thành phố, làng mạc, và nông thôn của Liên Bang Nga.

    5. Cộng Sản là Do Thái



    Truyền thông Phương Tây, vì từ lâu bị sở hữu và kiểm soát bởi những tỉ phú Do Thái gắn bó với định chế tài chánh Rothschild của Do Thái, đã bao che sự kiện lịch sử những người Do Thái Khazar ở Âu Châu và Nga, khi xâm lăng Palestine vào năm 1948, đã tàn sát nhiều thường dân Palestine và cướp đất đai, nhà cửa, cơ sở thương mại và nông trại của họ. Đa số những tên xâm lăng Do Thái đều là những tên khủng bố Cộng sản. Vũ khí quân đội của họ bắt nguồn từ Cộng Sản, và một trong những tên khủng bố nầy – David Ben-Gurio, thủ tướng đầu tiên của Do Thái – là một tay sùng bái Lenin và Trotsky. Những con chó rừng Do Thái Khazar nầy, khi đánh cướp tài sản và quyền sống của họ, lại giả vờ đang thiết lập một “nền dân chủ” ở Palestine, một huyền thoại còn tồn tại cho đến ngày nay.

    6. Do Thái và Cộng Sản Mao Trạch Đông

    Một khám phá khác – mà các nhà báo và sử gia Mỹ và Tây Phương bị cấm đề cập đến – liên quan đến những nguồn gốc của cuộc cách mạng Trung Cộng của Mao Trạch Đông. Thực ra, Mao là một tên nông dân ngu xuẩn và vô năng được Skull và Bonesmen huấn luyện và được những tên Do Thái xã hội chủ nghĩa từ Hoa Kỳ tiến dẫn vào một chi hội Tam Điểm Quốc Tế (Internationalist Masonic Lodge). Tiến trình nầy được thực hiện với sự cho phép ngấm ngầm của Tổng Thống Franklin D. Roosevelt, một thành viên Tam Điểm cấp 32, và sau nầy của Tổng Thống Harry S. Truman, một thành viên Tam Điểm cấp 33. Từ đó Mao đã trở thành một tên bù nhìn bị kiểm soát chặt chẽ bởi những tay cách mạng Do Thái – như Israel Epstein and Sidney Shapiro đã sống ở Trung Quốc và nắm quyền kiểm soát trên hai lãnh vực then chốt của chính phủ Bắc Kinh – tài chánh và truyền thông (tuyên truyền). Điều lý thú là, ngày nay những tay Do Thái Zionist cũng nắm trong tay hai công cụ then chốt đó trong chính phủ Mỹ – tài chánh và truyền thông.

    7. Do thái gián điệp cho Trung Quốc

    Gián điệp Do Thái đã trao những bí mật quốc phòng Hoa Kỳ cho Trung Cộng. Quyền kiểm soát ẩn hình của Do Thái trên Đảng Cộng Sản Trung Cộng cho thấy tại sao tên gián điệp Do Thái Jonathan Pollard, bị buộc tội đánh cắp hàng ngàn tài liệu bí mật của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ nơi hắn làm việc, đã trao những tài liệu nầy cho những quan thầy Do Thái của hắn là cơ quan tình báo Mossad của Israel hoạt động ở MỸ. Sau đó Do Thái đã chuyển giao thẳng những bí mật quý giá nầy cho các nhà độc tài Bắc Kinh. Pollard, một người Do Thái sinh ở Galveston, Texas, hiện nay đang bị giam tại một tòa án liên bang. Mới đây, khi Thủ Tướng Do Thái Netanyahu đến Hoa Kỳ, y đã viếng thăm Pollard trong tù và bảo đảm với tên gián điệp Do Thái phản bội ghê tởm nầy rằng chính phủ Do Thái đang làm việc trong hậu trường với Tòa Bạch Ốc của Obama để khoan hồng cho hắn. Trong khi đó, Pollard là một anh hùng dân tộc ở Israel – được vinh danh vỉ đã đánh cắp của Hoa Kỳ những bí mật quân sự quý báu nhất mà Do Thái đã trao cho Trung Cộng!

    8. Những chính quyền bù nhìn của Mỹ

    Với sự đắc cử của những tổng thống bù nhìn như Bill Clinton, George Bush, Barack Obama…, Do Thái và nhà nước Do Thái nay nắm được quyền kiểm soát những tài nguyên và của cải bao la của quốc gia vĩ đại Hoa Kỳ. Bọn lưu manh Do Thái được Obama ban cho quyền hành ở Washington D.C —Rahm Emanuel, David Axelrod, Ben Bernanke, and Timothy Geithner, và đồng bọn—cùng với những cộng sự viên Zionist cuồng tín của chúng trong Quốc Hội, đang làm việc không ngừng để chuyển giao tài sản của Hoa Kỳ đến Israel và Trung Cộng. Hoa Kỳ đang làm nạn nhân của âm mưu mệnh danh là “Creative Destruction (Tiêu Diệt Sáng Tạo).” Đó là vụ đánh cướp vô tiền khoáng hậu trên một qui mô chưa từng thấy trong lịch sử.

    9. Hoa Kỳ đang bị Trung Cộng qua mặt

    Trung Cộng đã được lựa chọn là vật tế thần và vai bù nhìn để cho hệ thống Illuminati thực hiện tổng hợp Hegel giữa chủ nghĩa Cộng Sản và chủ nghĩa Tư Bản. Trong khi đó, Hoa Kỳ đang bị cố tình đánh gục và đàn áp. Những triết lý ngoại lai và một làn sóng vô luân đang được xử dụng để triệt tiêu trí tuệ của các dân tộc trong khi những tay đầu nậu của Wall Street tiếp tục thao túng theo kế sách lừa bịp Ponzi của chúng. Quỹ Dự Trữ Liên Bang (Federal Reserve), dưới quyền chỉ đạo của Ben Bernanke, một chủ ngân hàng Do Thái, đang đều đặn chuyển tải vô số hiện kim điện tử (electronic cash) sang những ngân hàng ngoại quốc ở Trung Cộng. Nhờ vào nguồn ngoại tệ nầy, cùng với hàng ngàn tỉ dollars mang về từ số lượng xăng dầu đánh cắp ở Iraq, kinh tế Trung Cộng đang phóng nước đại, vọt lên theo nhịp độ 10% gia tăng mỗi năm. Nhưng nền kinh tế què quặt của Mỹ tiếp tục chùi vào quên lãng, và sự sụp đổ kinh tế chung quyết có thể xảy ra nhanh hơn bởi tập đoàn đầu nậu bất cứ lúc nào.
    Vàng sẽ không cứu được Hoa Kỳ. Ngân hàng HSBC Bank của Trung Cộng đang nắm chặt các thị trường vàng. Xăng dầu sẽ không cứu được chúng ta – những tay quan liêu môi trường của Obama đang từ chối những giấy phép khoan dầu cho các công ty xăng dầu Hoa Kỳ trong khi Trung Cộng vừa mới xây dựng 25 nhà máy lọc dầu mới và kho dự trữ của họ đang đầy ắp xăng dầu đánh cắp của Iraq.
    Trung Cộng hiện nay đang có nền kinh tế lớn thứ nhì thế giới và vào khoảng năm 2020 sẽ qua mặt Hoa Kỳ để trở thành nền kinh tế lớn thứ nhất. Nhiều xe hơi sẽ bán ở Trung Cộng hơn ở Mỹ. Những công ty thép, nhôm, và đồng của Trung Cộng sẽ phát đạt. Công ty xăng dầu PetroChina hiện đúng hàng thứ 5 trong số những tập đoàn xăng dầu thế giới và vào khoảng năm 2015 sẽ thay thế Exxon-Mobil ở vị trí thứ nhất thế giới. Ngân hàng HSBC Bank China đang vươn lên nhanh và hiện đang kiểm soát những thị trường vàng thế giới. Quân đội Trung Cộng có những hỏa tiễn hiện đại, bom nguyên tử, và tàu ngầm nguyên tử và có khả năng tác hiến toàn cầu. Mức sống của các dân tộc Trung Cộng đang tăng cao. George Soros, một tỉ phú trợ lý của tập đoàn Rothschild, cho biết, “Trung Cộng sẽ lãnh đạo Trật Tự Thế giới Mới (New World Order).” Soros cũng cảnh báo người Mỹ không nên cưỡng lại hệ thống tài chánh thế giới mới. Trong khi đó, kinh tế Hoa Kỳ tụt dốc, thất nghiệp gia tăng kỹ lục, hạ tầng quốc gia sụp đổ, và quân sự bành trướng quá mức. Những công ty Mỹ xuất nguồn ra nước ngoài, và thâm thũng ngân sách quốc gia cực kỳ trầm trọng. Cái gì đang xảy ra khiến đưa đến sự vươn lên khủng khiếp của Trung Cộng và sự suy đốn của Hoa Kỳ? Phải chăng hệ thống siêu quyền lực Illuminati đứng phía sau kịch bản nầy? Có phải Obama là một tay Cộng Sản nằm vùng, đang hoạt động bí mật để san bằng Hoa Kỳ và nhận chìm quốc gia một thời vĩ đại của chúng ta? Phải chăng sự vĩ đại của Hoa Kỳ đang kết liễu?

    10. Trục ác quỹ

    Trục Ác Quỹ – Kế hoạch bí mật của Rothschild, Do Thái, bọn phản bội Mỹ, và Trung Cộng nhằm lật đổ Hoa Kỳ. Phải chăng bọn Do Thái trong hệ thống siêu quyền lực Illuminati đang đứng phía sau kế hoạch lâu đời nhằm lật đổ Hoa Kỳ? Texe Marrs trưng ra một núi bằng chứng cho thấy những tay chủ mưu do Thái – gồm có tập đoàn ngân hàng Rothschild, giới lãnh đạo nhà nước Israel, và những tên mật vụ Do Thái làm việc cho chế độ Bắc Kinh – có mục đích đánh cướp Hoa Kỳ. Chúng chủ mưu xử dụng quân đội của Trung Cộng để cai trị và duy trì Cái mệnh danh là Trật Tự Thế Giới Mới và hiện nay đang trong tiến trình đánh cắp của cải của nước Mỹ và phân chia của cải đó cho Trung Cộng và các ngân hàng Do Thái. Bọn phản bội bên trong chính phủ của chúng ta đang hỗ trợ âm mưu phá hoại đó. Như một điềm tiên tri, hệ thống Illuminati đang tổ chức một Tam Giác Quỷ Mỹ, Tàu, và Do Thái.

    11. Do Thái đầu tư Trung Quốc

    Trong New York Post, 3/30/1997, Uri Dan cho biết, vào năm 1979, Thủ tướng Do Thái Menachem Begin nhận được sự chấp thuận của Mỹ cho phép Shaul Eisenberg tiến hành một hiệp thương 10 năm trị giá 10$ tỉ dollars để hiện đại hóa quân đội Trung Quốc (TQ). Uri Dan mô tả hiệp thương nầy như là “một trong những hiệp thương quan trọng nhất trong lịch sử Do Thái,” và “Trung Quốc nhấn mạnh phải giữ bí mật tuyệt đối.” Do Thái đóng vai trò chính trong việc cung ứng vũ khí cho TQ, kể cả những trang bị quân sự tối tân do Mỹ sản xuất; và vai trò nầy nhiều lần đã trở nên một vụ tai tiếng công cộng trong thập niên vừa qua.
    Trong năm 1999, tờ New York Times phúc trình: “Do Thái từ lâu đã có một quan hệ quân sự mật thiết và bí mật với TQ. Các chuyên gia vũ khí cho biết những quan hệ nầy đã đưa đến những vụ bán vũ khí trị giá lên đến hàng tỉ dollars trong những năm gần đây và đã gây nên nhiều quan ngại ở Hoa Kỳ.” Xin ghi nhận: tờ New York Times nói rằng những quan hệ giữa Do Thái và TQ là mật thiết, bí mật, và lâu dài.
    Elta, một chi nhánh của Israeli Aircraft Industry, đã thiết kế hệ thống radar tối tân Phalcon cho không lực TQ.
    Năm 1999, Howard Phillips phúc trình:
    Do Thái là nguồn cung ứng vũ khí lớn thứ nhì cho TQ. Một báo cáo gần đây của Kenneth W. Allen và Eric A. McVadon thuộc Trung Tâm Henry L. Stimson Center, một tổ chức nghiên cứu ở Washington, cho biết Do Thái đã cung ứng cho TQ một loạt những vũ khi, kể cả những thiết bị điện tử cho xe tăng, truyền tin và trang bị quang học, phi cơ và hỏa tiễn, trong một quan hệ đã có ít nhất từ hai thập niên trước.
    Trong khi đó, mãi đến năm 1997 quan hệ ngoại giao chính thức mới được thiết lập. Bản báo cáo viết tiếp:
    Cả TQ lẫn Do Thái đều tỏ ra hưởng lợi về quân sự và chính trị từ quan hệ mua bán vũ khí và chuyển giao kỹ thuật. Ngoài việc kiếm tiền từ TQ, một số viên chức Do Thái ngụy biện rằng việc bán vũ khí và chuyển giao kỹ thuật quân sự cho TQ sẽ buộc TQ cam kết không bán vũ khí cho những kẻ thù của Do Thái ở Trung Đông.
    Như thế quan hệ bí mật về mua bán vũ khí và chuyển giao kỹ thuật quân sự đã được tiến hành từ thập niên 1970.
    Những phản đối của Mỹ đối với việc Do Thái chuyển giao những hệ thống quân sự tối tân cho TQ chỉ là trống rỗng. Những phản đối giả vờ đó của một quốc gia bợ đỡ Do Thái chỉ là trò nhảm nhí, vì chính Mỹ lúc đó đã dấn thân vào cùng một quan hệ tương tự với TQ (cũng như đã từng chấp thuận những hiệp thương của Eisneberg với TQ). Sau khi một vụ đi đêm giữa TQ và Do Thái bại lộ và bị hủy bỏ, những nhà ngoại giao Do Thái và TQ gặp nhau để giải quyết những khó khăn. Một tờ báo Do Thái thuật lại:
    JERUSALEM – Bộ Trưởng Quốc Phòng Binyamin Ben-Eliezer đã họp với Đại Sứ TQ Pan Zhanlin ở Tel Aviv hôm Thứ Hai để bàn về việc hủy bỏ dự tính của Do Thái bán hệ thống radar tối tân Phalcon. Ben-Eliezer đánh giá những quan hệ giữa hai nước và nhận xét sự vụ như sau: “Chúng ta phải thấy đó như là một trục trặc trong gia đình chứ không phải là một khủng hoảng giữa hai quốc gia.” Ben-Eliezer hứa sẽ cố gắng để tăng cường mối quan hệ với Bắc Kinh. Zhanlin nói với Ben-Eliezer, “Tôi tin TQ biết cách giải quyết những khó khăn và tăng cường mối quan hệ, TQ chuẩn bị đầy đủ để hợp tác với Do Thái.”
    Vụ đi đêm bị hỏng vì những lo ngại của dân chúng Hoa Kỳ.

    12. Nghi án Bill Clinton

    Một phúc trình khác vào thời đó nói về chính quyền Bill Clinton: Không như những người tiền nhiệm của ông, Cộng hòa hay Dân chủ, Clinton đã chuyển quyền luật định tối cao từ Bộ Ngoại Giao vốn lo quan tâm về an ninh sang Bộ Thương Mại vốn quan tâm về chính trị; và quyền luật định đó là chấp thuận xuất khẩu những giấy phép về kỹ thuật tối tân của Hoa Kỳ. Việc chuyển quyền như thế có mục đích tạo điều kiện dễ dàng cho việc xuất khẩu nói trên.
    Clinton cũng là tổng thống đầu tiên và duy nhất đã chập thuận miễn trừ để cho phép hai công ty— Loral Space and Communications and Hughes Electronics —được quyền xuất khẩu những bí mật kỹ thuật giữa lúc hai công ty nầy đang bị điều tra hình sự về những vi phạm xuất khẩu trước kia. Đích thân Clinton đã chấp thuận cho hai công ty nầy xuất khẩu sang TQ những dữ liệu của họ liên quan đến kỹ thuật phóng vệ tinh và hỏa tiễn bất chấp sự phản đối của ngoại trưởng Mỹ thời đó, của Ngũ Giác Đài , và những cơ quan khác.

    13. Loài ký sinh nguy hiểm

    Nội dung phần nầy dựa trên một bài viết của trang mạng Expel The Parasite.

    13.1 Xuất nguồn sang Trung quốc

    Điều rõ ràng đối với chúng tôi là Trung Quốc hiện đại với kỹ nghệ sản xuất khổng lồ, lao động rẽ, và não trạng giống như nô lệ là một sản phẩm của Do Thái. Lao động rẽ và những nô lệ tự nguyện là giấc mơ Do Thái và Trung Quốc hoàn toàn phù hợp với giấc mơ đó. Lý do duy nhất của kỹ nghệ sản xuất là phát triển (hiện đang chậm lại) ở Trung Quốc vì bọn Do Thái đang kiểm soát tất cả những quốc gia Tây Phương và đã xuất nguồn sang đó tất cả những việc làm sản xuất của chúng ta. Khi thấy tất cả những việc làm tập trung vào một chỗ (Trung Quốc) và rời khỏi bờ biển của chúng ta thì chẳng cần phải một thiên tài mới tiên liệu được vấn đề!

    13.2 Hiện tượng hỗn mang

    Nếu nhìn qua tình trạng kinh tế thế giới ngày nay, bạn sẽ thấy rằng Trung Quốc cơ bản đang sản xuất hàng hóa cho kẻ khác và, đáp lại, chúng ta đang cạn dần những thứ để cung ứng cho họ. Nhờ kiểm soát được Phương Tây, Do Thái đã tạo được một hiện tượng hỗn mang tuyệt đối ở chân trời vì Trung quốc cần những quốc gia khác mua tất cả những sản phẩm của họ. Nếu không có một quốc gia nào đủ giàu để mua tất cả những phế phẩm Trung Quốc thì chẳng bao lâu Trung Quốc sẽ không có gì để làm. Bạn không bán hàng cho người khác nếu họ thực sự không có gì để cung ứng cho bạn trở lại. Đó là một nan đề của Trung Quốc. Tây Phương hầu như đã đi đến chỗ không còn gì để cung ứng. Cứ thử xem chúng ta nhập của Trung Quốc nhiều hơn bao nhiêu so với số lượng xuất sang họ. Do Thái khó lòng tiếp tục giả vờ rằng Tây Phương hãy còn làm ra của cải.

    13.3 Chương trình kích cầu

    Đó là lý do tại sao chúng ta có những chương trình kích cầu nầy. Khi mọi cái gì khác đều thất bại, bọn Do Thái liền in ra những núi tiền khổng lồ để giữ cho nền kinh tế đang sụp đổ được ngoi lên. (Thực ra chúng không in nhiều tiền mặt mà chỉ tạo tín dụng để bơm tiền vào bất kỳ cái gì nằm trong âm mưu lường gạt mới nhất của chúng). In tiền không bao giờ tác dụng được, vì in tiền thực sự không giúp được gì cho nền kinh tế thực sự mà chỉ đưa đến lạm phát lớn lao trong tương lai – nghĩa là “tiền dỏm” của chúng ta bị giảm giá, và, để kiểm soát lạm phát, bọn Do Thái chỉ còn cách nâng lãi suất; và đó chính là tự sát kinh tế.

    13.4 Trung Quốc đang chậm lại

    “Trung Quốc đang đi chậm lại.” Đó là câu mà bạn thường xuyên nghe trên truyền hình. Nguyên nhân của chuyện nầy là phần còn lại của các nền kinh tế thế giới đang trong kế hoạch đóng cửa và khi gặp khó khăn tài chánh người ta có khuynh hướng không mua nhiều nữa. Do đó Trung Quốc “chậm lại,” thế thôi.
    Bọn Do Thái và tham vọng ngông cuồng của chúng muốn đô hộ thế giới vốn là một điều bẩm sinh nơi chúng. Làm một ký sinh trùng có nghĩa là nô lệ hóa và cuối cùng hủy diệt chủ thể. Đó là thời điểm mà chúng ta đang sống ở phương tây hiện nay. Trong tư cách là những nước chủ nhà, chúng ta đã bị Do Thái thanh toán. Chúng luôn luôn hủy diệt những quốc gia nầy rồi tìm những quốc gia khác đẻ bám. Tôi nghĩ Trung Quốc khó lòng là một nước chủ thể hiếu khách. Chắc chắn là không nếu họ nhận thức ra rằng tất cả những nước mua hàng của họ đều không có gì để cung ứng cho họ trở lại. Đó là lúc sự thể trở nên oái oăm cho bọn Do Thái nầy!

    13.5 Do Thái đang tự sát

    Bọn Do Thái không làm chủ Trung Quốc (đó là ý kiến cá nhân của tôi; một số người khác có thể nghĩ khác). Chúng có nhiều quyền lợi tài chánh ở đó nhưng rồi ra chúng sẽ không chiếm hữu Trung Quốc. Mặc dù, phải công bình mà nói rằng bọn Do Thái đang thao túng Trung quốc, vì người Trung Quốc chỉ hiện hữu trong quốc gia của họ bao lâu bọn Do Thái còn giữ cho Phương Tây hoi hóp.
    Phần hấp dẫn của viễn ảnh sụp đổ toàn cầu do Do Thái gây ra là bọn Do Thái đã tạo ra một tình trạng tự sát cho chính chúng. Nếu chúng cho Tây Phương nổ sập (sụp đổ nhanh), hay Tây Phương chỉ sụp đổ theo qui luật tất yếu (chết chậm), thì cách nào đi nữa bọn Do Thái cũng tiêu ma (như cây chủ và cây tầm gửi), và chúng ta cũng vậy. Đó thực sự là một tình trạng điên rồ mà chúng đã đẫy thế giới vào, và cũng không có một giải pháp nào dễ dàng cho cảnh hỗn mang tài chánh! Điêu nầy cho thấy tại sao bọn Do Thái không tinh khôn như người ta tưởng mà thực ra chỉ là một đám điên rồ bẩm sinh. Chúng không thể không hủy diệt mọi thứ và cuối cùng không hủy diệt chính chúng. Điều đó cho thấy hành vi tập thể bẩm sinh của bọn người nầy. Chúng chỉ có thể mưu đồ đến thế trước khi chúng bị tiêu diệt ngay trong ổ của chính chúng.

    13.6 Do Thái: thiên tài hay khùng điên

    Nếu chúng là những thiên tài về tài chánh như chúng giả vờ làm thế (và đa số người nghĩ thế), thì tình trạng kinh tế toàn cầu không đến nỗi như thế nầy. Lý ra chúng có thể giữ được một cân bằng khả thi trong những nền kinh tế quốc gia Phương Tây, vì sản xuất, nông nghiệp, và kỹ nghệ dịch vụ, tất cả đều thiết yếu nếu được thăng tiến. Bạn có thể nghĩ rằng biết đâu bọn Do Thái đã quyết định xử dụng các quốc gia Tây Phương trong hai hay ba thập niên nữa thôi, giữ cho chúng ta sống cho đến khi những đầu mối lỏng lẻo của chúng được siết lại, và sau đó sẽ tiêu diệt chúng ta sau khi chúng đã dùng hết khoảng thời gian đó để nắm lấy quyền kiểm soát cụ thể toàn bộ thế giới. Nếu âm mưu Do Thái được tuyệt đối bảo mật thì đó là những gì chúng lý ra đã thực hiện. Khi thời điểm kiểm soát cụ thể toàn cầu nói trên đạt được, và không ai có thể đứng lên chống lại chúng, thì chúng tự do làm bất kỳ thứ gì chúng muốn đối với những sắc dân không phải Do Thái. Theo ngạn ngữ, đó là “HELL ON EARTH” (Địa Ngục Trần Gian).

    13.6 Nói thêm về Do Thái

    Những người mà Do Thái cho là khôn hình như có thói quen giả định rằng người Do Thái là một sinh vật có đầu óc lành mạnh, thực hiện mọi quyết định của hắn dựa trên những kế hoạch cẩn thận, được suy tính chu đáo. Không gì xa sự thực hơn thế! Thực ra hắn chỉ là một sinh vật ngoài hành tinh, không như tất cả những con người khác của bất kỳ sắc tộc nào, và dứt khoát hắn không lành mạnh chút nào. Đúng hơn, hắn là đồ điên. Hắn hành động dựa trên những bản năng sinh học và những bản năng nầy là hủy diệt, ký sinh và, ngộ nghỉnh thay, tự sát. Người Do Thái lý ra đã tự sát cả trăm lần hay hơn thế nếu chúng không có những quốc gia chủ thể để bám xuyên qua lịch sử! Ngộ nghỉnh thật! Tất cả những loài ký sinh đều tự sát. Chúng giết chết chủ thể rồi sau đó chết theo. Bọn Do Thái là ký sinh trùng và chúng không thể hoạch định 100 phần trăm sáng suốt để cai trị thế giới. Ký sinh trùng không thể hoạch định để sinh tồn; chúng dứt khoát không thể. Nếu không còn có cây để bám thì những giây tầm gửi không thể dùng ảo thuật để phát triển khả năng sinh tồn mà không có môi trường chủ. Ký sinh trùng Do Thái tìm cách nô lệ hóa, giết, và tận diệt mọi người và mọi thứ mà chúng để tay lên! Bọn Do Thái không thể tồn tại mà không có những người khác để hút hết máu.
    Hành vi Do Thái luôn luôn là một và có thể tiên đoán được đối với bất kỳ ai truy cứu chúng. Chúng lặp đi lặp lại mãi cùng những biểu mẫu và cùng những lỗi lầm giống nhau. Tất cả những gì mà chúng ta phải làm là nhận thức được lịch sử của chúng để thấy chúng đang ở vào giai đoạn nào trong chu kỳ của chúng. Hành vi của chúng bị lôi cuốn theo bản năng sinh học trên hết, và chính bản năng sinh học đó khiến chúng âm mưu.

    14. Rothschild, Rockefeller, Israel, và Do Thái

    14.1 Rothschild và Trung Quốc

    Nhiều công ty đầu hỏa thế giới như Exxon Mobil, Chevron, BP, Amoco, Conoco, Arco… đều thuộc Standard Oil Company, một công ty của gia đình Do Thái Rockefeller. Những công ty nầy khai thác dầu khí khắp thế giới, kể cả Phi Châu, Indonesia, và nay là Việt Nam. Họ độc quyền khai thác dầu khí trên phần lớn thế giới, và đóng vai trò chủ yếu quyết định sự thành bại của các ứng cử viên tổng thống Mỹ, và đôi khi buộc tổng thống Mỹ phải tiến hành chiến tranh dầu hỏa. Đó là nhân tố chính đưa đến biến cố 9/11, Chiến tranh Iraq, và chiến tranh Libya. Riêng tại Việt Nam, các tập đoàn Do Thái sẽ vất vã hơn nhiều vì đối đầu với hai tay cộng sản Trung Quốc và Việt Nam cùng một lúc, và hai tay nầy đang tranh chấp lãnh thổ với nhau. Họ không dễ ăn tươi nuốt sống như Iraq hay Libya. Trận chiến do đó sẽ xảy ra trong hậu trường chính trị chứ không phải quân sự, và những tay chơi quyết định vẫn là Rothschild và Trung Quốc, chứ không phải chế độ Hà Nội. Đặc biệt từ sau cuộc chiến Iraq, Trung Quốc đã trở thành một đồng lõa đắc lực của Rothschild trong việc đánh cướp dầu mỏ của quốc gia bị xâm lăng nầy. Trung Quốc hiện nay là kho chứa xăng dầu lớn nhất thế giới của Rothschild, như là nguồn cung ứng xăng dầu của Rothschild cho toàn thế giới. Như thế, dù đi theo chiến thuật nào đi nữa, nếu muốn nhóm Seven Sisters của mình khai thác dầu khí tại Việt Nam thì Rothschild cũng phải “xử đẹp” và có sự gật đầu của Bắc Kinh. Chỉ có trời mới biết hai tay chơi nầy đã, đang, và sẽ toan tính gì, với những mật ước gì được ký kết trên lưng Hà Nội. Ngược lại, nếu muốn yên thân làm ăn với Rothschild thì Hà Nội phải cúi đầu thấp hơn nữa trước Thiên Triều, nhượng bộ nhiều hơn nữa về lãnh thổ/lãnh hải và chính trị. Trước tình trạng có của mà không được ăn như thế, đám Bắc Bộ Phủ xử trí ra sao thì khó ai quyết đoán được, nhưng nói chung vấn đề dầu khí VN hứa hẹn sẽ là một kịch bản trường thiên đầy rẫy những uẩn khúc, ve vãn, mưu lược, bắt bí, gạ gẫm, đút lót, đổi chác… Đó cũng là một trong những lý do giải thích tại sao đám chóp bu Hà Nội nay chạy sang Tàu, mai chạy sang Mỹ như con lật đật. Bọn bồi bút mủi tẹt cũng như mủi lõ cứ ton hót là Hà Nội có chính sách “sáng suốt biết đu dây” (có thể đúng nếu đó là dây thắt cổ). Tên thầy dùi Carl Thayer thậm chí còn khuyên Hà Nội nên làm một cái trục để “xoay” hai cường quốc Mỹ và Tàu! (Làm cái trục để hai tên không lồ đó nghiền nát con ễnh ương CHXHCNVN thì đúng hơn.) Quả là ấu trĩ đến độ khó tin. Nhưng tình thế càng rối rắm, càng gay do hấp dẫn thì phần thưởng càng lớn cho đám quan tham Bắc Bộ Phủ. Phần thua thiệt tối hậu vẫn thuộc về dân tộc Việt Nam. Biết đâu toàn bộ hải phận Việt Nam rồi ra cũng sẽ trở thành một Hoàng Sa lớn.

    14.2 Hồ sơ tội phạm của Standard Oil Company

    Ngược dòng lịch sử, năm 1911, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ cáo buộc công ty Standard Oil Company của Rockefeller vi phạm đạo luật chống độc quyền Sherman Antitrust Act và tuyên bố công ty nầy đã tiến hành những thủ thuật độc quyền và tòa án đã ra lệnh chia nhỏ Standard Oil Company thành 34 công ty mới. (Lúc bấy giờ một mình Standard Oil Company chiếm đến 64% thị phần.) Trong số những công ty mới nầy có Continental Oil (sau trở thành Conoco và hiện là một phần của ConocoPhillips); Standard of Indiana (sau trở thành Amoco, và hiện là một phần của BP); Standard of California (sau trở thành Chevron); Standard of New Jersey (sau trở thành Esso, rồi Exxon, và hiện là một phần của ExxonMobil); Standard of New York (sau trở thành Mobil, và hiện là một phần của ExxonMobil); Standard of Ohio (sau trở thành Sohio, và hiện là một phần của BP); Vì ít khi bán ra những cổ phần của mình nên Rockefeller vẫn nắm giữ phần lớn quyền kiểm soát trong tất cả 34 công ty mới nầy. Những công ty nầy làm thành hạt nhân của kỹ nghệ dầu khí Hoa Kỳ. Một số được xem là thành viên của nhóm Seven Sisters. Nhóm nầy đã từng đô hộ nền kỹ nghệ toàn cầu gần suốt thế kỷ hai mươi và hiện nay đang lên kết hoạch khai thác dầu khí tại thêm lục địa Việt Nam. Danh sách của Seven Sisters: (Thứ tự không quan trọng)
    1. Royal Dutch Shell;
    2. Standard Oil of New Jersey (SONJ) – hay Esso (S.O.) – đổi tên thành Exxon, hiện là một phần của ExxonMobil.
    3. Standard Oil of New York – hay Socony, sát nhập vối Vacuum – đổi tên thành Mobil, hiện là một phần của ExxonMobil;
    4. Anglo-Persian Oil Company, trở thành Anglo-Iranian Oil Company và sau đó là British Petroleum (BP).
    5. Standard Oil of California –hay Socal – đổi tên thành Chevron, trở thành ChevronTexaco, nhưng đổi lại thành Chevron như cũ;
    6. Texaco, được Chevron mua lại năm 2001;
    7. Gulf Oil: phần lớn được SoCal mua lại năm 1984 và SoCal đã trở thành một phần của Chevron. Những phần nhỏ hơn của Gulf Oil được BP Cumberland Farms mua lại. Một hệ thống dịch vụ ở Đông Bắc Hoa Kỳ hãy còn mang tên Gulf Oil.

    14.3 Xâm lăng Iraq: Dầu mỏ đi về Trung Quốc

    Như phân trên có đề cập thoáng qua, sau khi chiếm Iraq, Mỹ thiết lập những căn cứ quân sự dài hạn gần những trung tâm sản xuất dầu khí lớn nhất của nước nầy, lập tức bắt đầu xây dựng nhũng đường ống dẫn dầu mới thẳng đến Israel và những cảng ở Leban do Israel kiểm soát, ở đó những số lượng dầu khổng lồ của Iraq được tải lên những tàu dầu đang đợi sẵn và được chở bằng đường thủy sang Trung Quốc và Ấn Độ. Israel nay trở thành một siêu quốc thần quyền giàu dầu khí. Rothschild vừa là tay độc tài vừa là lãnh chúa tài chánh của siêu quốc thần quyền nầy. Số lượng dầu thô nầy của Iraq nay thuộc quyền sở hữu đương nhiên của những công ty bình phong của Rothschild. Lợi nhuận khổng lố lấy từ âm mưu dầu khí nầy đã chảy vào những ngân hàng ở Tel Aviv. Để xoa dịu người dân Iraq, một món tiền còm đã được dúi cho chính phủ Baghdad, những chính khách tham nhũng và lãnh đạo tôn giáo của Iraq cũng được hưởng một phần. Ở Trung Quốc (và cả Ân Độ), Rothschild và những tập đoàn ngân hàng Do Thái tay chân đã thành lập những công ty dầu khí quốc gia bình phong và xây dựng vô số những xưởng lọc dầu. Sau khi lọc xong, những tàu dầu tiếp tục chở dầu thành phẩm sang các trung tâm phân phối và kho chứa ở Trung Quốc và khắp các đại dương, kể cả Hoa Kỳ. Những công ty dầu khí quốc gia Trung Quốc thực ra chỉ là những bản sao của Rothschild và hiện là những công ty cung ứng dầu khí cho toàn thế giới. Trong khi đó, dầu khí của chính Trung Quốc chẳng có bao nhiêu – phần lớn đến từ những hoạt động hợp tác với Rothschild, Israel, và Hoa Kỳ.

    14.4 Vai trò đang lên của Trung Quốc

    Do bội cung toàn cầu về dầu khí, Rothschild quyết định nguồn dầu khí dồi dào ở Vịnh Mexico phải được đóng chặt vĩnh viễn (đưa đến âm mưu phá hoại giàn khoan BP như được trình bày bên dưới). Chevron, Conoco, Exxon-Mobil, BP, và những công ty dầu khí đa quốc khác cũng bị hạn chế hay cấm cho hoạt động những giàn khoan trong Vịnh. Pemex, công ty dầu khí quốc gia Mexico, cũng bị hạn chế sản xuất; và xa hơn về phía nam, Petrobras, công ty dầu khí quốc gia Brazil, cũng bị hạn chế định mức.
    Trung Quốc hiện nay là đầu mối xăng dầu được ưa chuộng đối với tất cả những nền kinh tế thế giới. Những tên tỉ phú xăng dầu Do Thái của Rothschild ở Israel cũng như những tay quan liêu cộng sản ở Trung Quốc ngày nay là những xì thẩu xăng dầu mới của hành tinh.

    14.5 Vụ nổ giàn khoan BP năm 2010 ở Vịnh Mexico

    BP (British Petroleum), một công ty xăng dầu khét tiếng về tội làm ô nhiễm trái đất, đã bị biến thành con dê tế thần vì phải đóng những nguồn dầu ở Vịnh Mexico. Trong khi chuẩn bị phá hủy giàn khoan Deepwater Horizon, phần lớn những tài sản của BP đã được di dời trước khi xảy ra biên cố, và được chuyển đến những đại lý ở Libya và Trung Đông. Đặc biệt phần lớn nhũng tài sản dầu khí của Nga được bàn giao cho bốn tỉ phú Nga gốc Do Thái mệnh danh là những “Oligarchs.”
    Một tàu ngầm của Hải Quân Hoàng Gia Anh xuất phát từ căn cứ Kings Bay Naval Submarine Base được xử dụng để phá nổ giàn khoan Deepwater Horizon; và hoạt động nầy đã được chính quyền Obama biết trước. Sau đó các toán dọn dẹp hiện trường tìm được một ngư lôi chưa nổ tấp vào bờ biển Alabama. Như thế vụ nổ nầy không phải là một tai nạn mà là một âm mưu của Đế Quốc Vàng Đen Rothschild-Rockefeller, qua bàn tay của Trung Cộng và Israel. Cả trăm ngàn thùng dầu thô phun lên từ lò lửa dưới đáy biển mỗi ngày. Nhưng trong khi những cư dân của Louisiana, Mississippi, Alabama, và những tiểu bang ven biển khác đau khổ tận cùng thì khắp thế giới một thiểu số tài phiệt siêu giàu lại hả hê với một phản ứng ngược lại, vì chúng tin rằng biến cố đó sẽ làm tiêu tan viễn tượng độc lập năng lượng của Hoa Kỳ và chặn đứng dầu khí của chính Hoa Kỳ xuất khẩu ra thị trường thế giới. Kinh phí bồi thường lên khoảng $20 tỉ, nhưng đó chỉ là chuyện nhỏ đối với BP và Rothschild-Rockefeller, vì trời mưa đất chịu: công ty bảo hiểm. Cũng xin nhắc lại ở đây, sau biến cố 9/11, bọn chủ mưu được công ty bảo hiểm liên quan bồi thường đến $4 tỉ. Và cũng xin nhắc lại, vào năm 1920, theo lệnh của tập đoàn Rockefeller-Rothschild, các phần tử Bolsheviks đã cố tình phóng hỏa và tiêu hủy những giếng dầu Baku ở Azerbaijan, một biến cố phản ảnh những gì đã xảy ra tại giàn khoan Deepwater Horizon năm 2010 ở Vịnh Mexico.

    14.6 Tiềm năng dầu khí Hoa Kỳ

    Cái mệnh danh là “oil crisis” thực ra chỉ là một trò phỉnh phờ. Thực tế, thế giới có thừa dầu khí và sẽ không bao giờ cạn kiệt. Một kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy trữ lượng dầu ở Vịnh Mexico có đủ để cho Hoa Kỳ xử dụng trong 10 ngàn năm, và đó mới chỉ là một trong những trữ lượng được khám phá trên thế giới. Mục tiêu tối hậu của các tập đoàn dầu khí Do Thái là nâng giá dầu bất kỳ khi nào có thể làm được và hạ giá bất kỳ lúc nào có thể làm được. Tuy nhiên, không phải lúc nào Do Thái cũng có thể đóng vai thần thánh để an bài số phận nhân loại. Bọn Do Thái có tinh ma quỷ quyệt đến đâu thì cũng chỉ là con người bất toàn bất túc; có thể trời ban cho chúng một bộ óc thông minh và tài giỏi hơn các sắc dân khác trên hành tinh, nhưng đồng thời lại cũng ban cho chúng một lòng tham vô đáy và lòng tham đó chính là bọc cứt đội trên đầu, che khuất phần óc thông minh kia đi. Và đó cũng là một trong những lý do chúng bị trời đày. Khi chúng thực hiện được giấc mộng bá chủ thế giới thì có lẽ đó cũng là thời kỳ tận thế.

    nguon

  2. Chủ Nghĩa Cộng Sản trá hình

    *


    Primary Reference:
    Robert Sr. Gates: The Conspiracy That Will Not Die: How the Rothschild Cabal Is Driving America into One World Government.

    * Karl Marx: Một khi Chủ nghĩa Xã hội đã hoàn thành thì nó sẽ sụp đỏ và Chủ nghĩa Cộng sản sẽ lên thay. Lúc đó trời và đất sẽ thuộc về chúng ta! Nhưng chính Marx lại tuyên bố: Khi Chủ nghĩa Xã hội tiếp quản thế giới, nó sẽ tàn tạ đi và điều duy nhất còn lại sẽ là Chủ nghĩa Cộng sản và lúc đó thế giới sẽ bị phá vỡ thành những cộng đồng nhỏ và những cộng đồng nầy sẽ tự cai trị chính mình.
    * Robert Gates Sr.:
    Chủ nghĩa Cộng sản, hay đúng hơn, Chủ nghĩa Xã hội, không phải là một phong trào của những đám vô sản bị áp bức mà là phong trào của đám chóp bu kinh tế.
    Lịch sử của những tôn giáo lớn trên thế giới là hồ sơ của những cuộc chiến tranh lớn nhỏ.
    Những từ ngữ society và state đều có nghĩa thần thánh theo lối dùng chữ hiện nay của những người thăng tiến Chủ nghĩa xã hội, kế hoạch hóa, và kiểm soát xã hội trên mọi hoạt động cá nhân. Những bề trên của tín ngưỡng mới nầy quy cho thần linh của họ tất cả những thuộc tính mà thần học quy cho Thượng Đế.
    Việc áp dụng những tư tưởng căn bản về chủ nghĩa tập thể không thể đưa đến cái gì khác ngoại trừ phân hóa xã hội và tiếp diễn xung đột… Con người phải được phân chia thành hai gai cấp: một bên là đám độc tài như thần thánh và một bên là đám quần chúng bị buộc phải trao hết quyền tự do lựa chọn và lý trí để trở thành không gì hơn là những nô lệ trong các kế hoạch của bọn độc tài đó. Đám quần chúng phải bị truất hết quyên làm người để khiến một số người duy nhất trở thành chủ nhân ông hoặc quyền uy như thần thánh. Suy nghĩ và hành động, những đặc tính tối thượng của con người trong tư cách con người, sẽ trở thành đặc ân của một số người duy nhất.

    1. Từ ngữ COLLECTIVISM và từ ngữ LIBERALISM

    1.1. Chủ nghĩa (neo-Liberalism)

    Cả hai từ LiberalLiberalism đều ám chỉ chủ nghĩa tự do. Tuy nhiên, hai từ ngữ nầy không dùng để định nghĩa những người mệnh danh là neo-liberals hiện nay thường khoác lác với các cử tri và báo chí rằng họ là những người Liberal. Trên thực tế, họ là những người Communist (Cộng Sản), Socialist (Xã Hội), Collectivist (Tập Thể chủ nghĩa), Progressives (Cấp tiến) v.v… Phải chăng họ tự tuyên bố là Liberalist chỉ để né tránh những từ như Communist, Socialist, Collectivist, Progressives, v.v… trong khi ý nghĩa đích thực của chủ nghĩaLiberalism mà họ tuyên bố cũng chẳng khác biệt gì với Communist, Socialist, Collectivist, Progressives, v.v…?Đó chẳng qua là vì họ thấy xấu hổ với những cụm từ thứ nhì, thế thôi. Trong nhiều năm qua, khi từ Socialism là một từ ngữ bẩn tai, họ đã quyết định đánh cắp hai từ LiberalLiberalism của nhóm thiên hữu đích thực. Họ làm thế bằng cách gọi phong trào Liberal MovementConservatives (Bảo thủ). Cùng đi với từ nầy là những định nghĩa khác nhau như Old-fashion, Outdated, Archaic… trong khi họ tự nhận là liberal, Progressive, hayModerate. (Thực ra, bảo tồn những truyền thống và giá trị của quá khư và áp dụng chúng cho tương lai là cốt lõi của phong trào Conservative.) Cái mệnh danh là Free Press (Báo chí Tự do) đang nằm trong tay của đám tài phiệt quốc tế và hỗ trợ những tay Xã Hội chủ nghĩa nầy bằng cách gọi họ như là những thành phần Liberal đích thực. Những tay neo-liberal nầy tố cáo phe bảo thủ như là lực cản đường của xã hội tân tiến, một xã hội trong đó đám neo-liberal lèo lái tất cả chúng ta xuống con đường dẫn đến nô lệ.

    1.2. Chủ nghĩa Xã Hội của Barack Obama

    Ngày nay, những phóng viên nhà báo và những “học giả” thường trích dẫn nhận định của TT Barack Obama về kinh tế, theo đó, “Chúng ta đang đi đúng hướng đến phục hồi khỏi suy trầm và chúng ta phải duy trì hướng đó.” Vấn đề là chính những phóng viên nầy sẽ không nói với công chúng rằng hướng đi của Barack Obama là hướng xã hội chủ nghĩa. Xin đừng quên phát biểu của Karl Marx, “Một khi chủ nghĩa xã hội đã hoàn thành thì nó sẽ sụp đỏ và chủ nghĩa cộng sản sẽ lên thay. Lúc đó trời và đất sẽ thuộc về chúng ta!” Hơn một trăm năm trôi qua kể từ khi một số học giả thừa nhận rằng xã hội học (sociology) đã không được thành lập như một bộ môn đích thực và ngày nay, điều đó vẫn không thực sự thay đổi. Ngày nay xã hội học vẫn là một ụ cản đường cho hành xử và trí khôn nhân loại, đúng hơn là một khoa học hữu dụng. Xã hội học nhìn nhận tập thể nhưng chối bỏ sự quan trọng của cá nhân. Nó dàn dựng những hệ thống để kiểm soát môi trường, hành vi, mục đích, và tình cảm của con người, nhưng chối bỏ khả năng mà đa số người – nếu có học vấn – có thể phát triển nhằm tự kiểm soát và tự định đoạt mục tiêu, đồng thời giúp họ kiểm soát những tình cảm và hành xử của chính mình một cách hữu ích.
    Những thành viên xã hội chủ nghĩa hiện nay, như Nancy Pelosi, TNS Reid và Barack Obama, đang tiếp tục nói dối với công chúng Hoa Kỳ về cái mệnh danh là Redistribution of Wealth (Tái Quân Phân Của Cải). Xin đừng quên rằng xã hội chủ nghĩa KHÔNG PHẢI là chương trình chia xẻ của cải (share-the-wealth program), mà thực ra là một phương pháp CỦNG CỐ – CONSOLIDATE và KIỂM SOÁT – CONTROL của cải. Một khi điều nầy được nhận thức, nghịch lý nơi những kẻ siêu giàu muốn thăng tiến chủ nghĩ xã hội trở thành không nghịch lý chút nào. Thay vì thế, nó trở thành công cụ luận lý, thậm chí hoàn hảo cho những tên hoang tưởng tự đại đang săn đuổi quyền hành. Chủ nghĩa cộng sản, hay đúng hơn, Chủ nghĩa Xã hội, không phải là một phong trào của những đám vô sản bị áp bức mà là phong trào của đám chóp bu kinh tế. Kế hoạch của đám tài phiệt nầy là xã hội hóa (socialize) Hoa Kỳ, chứ không phải cộng sản hóa (communize) Hoa Kỳ, vì từ Communism hàm ngụ nhiều cộng đồng vi mô (micro-style communities), trong khi từ Socialism hàm ngụ nô lệ tổng thể. Karl Marx tuyên bố rằng, khi Chủ nghĩa Xã hội tiếp quản thế giới, nó sẽ tàn tạ đi và điều duy nhất còn lại sẽ là chủ nghĩa cộng sản và lúc đó thế giới sẽ bị phá vỡ thành những cộng đồng nhỏ và những cộng đồng nầy sẽ tự cai trị chính mình.

    1.3. Bọn tài phiệt trốn thuế và thao túng Hoa Kỳ

    Một tài liệu xuất bản vào tháng 8/1967 của tổ chức North American Newspaper Alliance cho thấy Rockefeller thực sự không trả một đồng thuế lợi tức nào cả mặc dù bao nhiêu của cải. tài liệu phát hiện ra rằng một trong những gia đình Rockefeller chỉ trả tổng cộng có $685 thuế lợi tức trong một năm gần đây. Dòng họ Kennedy có Thương Xá Chicago Merchandise Mart, những lâu đài, du thuyền, máy bay riêng, v.v…, tất cả thuộc quyền sở hữu của hằng hà sa số những tổ chức gia đình và cơ quan giám hộ – nhưng thuế thì dân đen phải trả! Nhưng bọn đạo đức giả như Rockefeller, Ford, và Kennedy lại đóng vai bảo vệ cho quần chúng bị áp bức!
    Chủ nghĩa độc tài không thể có trong nền Cộng Hòa của Hoa Kỳ, vì các tiền nhân của quốc gia nầy đã viết ra Hiến Pháp (U.S. Constitution và Bill of Rights) trong đó quyền hành được phân chia rộng rãi. Ngày nay chúng ta có một chính phủ theo kiểu Dân chủ Xã hội Chủ nghĩa trong đó mọi quyền hành đều được tạp trung trong Hành Pháp của chính phủ. Nạn tập quyền nầy chỉ có thể đưa đến một mô hình độc tài của chính phủ. Đám tài phiệt chóp bu kiểm soát tổng thống một cách gián tiếp và đã chiếm được quyền kiểm soát tiềm năng trên toàn bộ quốc gia. Dưới đây là danh sách những viên chức chính phủ Mỹ vừa là thành viên của hệ thống Council of Foreign Relations của Do Thái, một chi nhánh của tổ chức Bàn Tròn The Round Table nằm dưới sự kiểm soát của triều đại Rothschild.


    Ứng cử viên Tổng thống – Bill Clinton (’ 96,’ 92)
    – Reuben Askew (’ 84)
    – Alan Cranston ’84)
    – John Glenn (’ 84)
    – Walter Mondale (’ 84)
    – John Anderson (’ 80)
    – Howard Baker (’ 80)
    – George Bush (’ 80)
    – Jimmy Carter (’ 80)
    – Dwight Eisenhower (’ 80)
    – Adlai Stevenson (’ 80)
    Bộ Ngoại Giao – Secretary Warren Christopher – Dep Secretary Cliff R. Wharton Jr. – Under Sec.Pol. Afr Pete Tarnoff – Under Secretary Maj. Gen. t Dick Moose – Under Secretary Global Afrs Tim Wirth – Ass Secretary E. – Asian Pacific Affairs Winston Lord (Pres. and a Rep), – Ass Secretary Europ – Canadian Affairs Stephen Oxman – Ass Secretary Intel Res Tobi Gati – Ass Secretary Intr-American Affairs Alex F. Watson – CIA DIRECTORS— MEMBER Richard Helms (66-73 Johnson), James R. Schlesinger (73 Nixon), William E. Colby (73-76 Nixon), George Bush (76-77 Ford), Adm Stansfield Turner (77-81 Carter), William J. Casey (81-87 Reagan) William H. Webster (87-91 Reagan), Robert M. Gates (91-93 Bush), R. James Woolsey (93- Clinton), John Deutch, chosen to replace Woolsey as CIA Director Bộ Tài Chánh – Donald Regan – John Helmann – Lord William – Simon Michael Blumenthal – C. Fred Bergsten – Anthony M. Solomon – Arnold Nachmanoff – Helen B. Junz – Richard Fisher – Roger Altman – George Pratt Shultz Chủ Tịch Công Đoàn – I.W. Abel (United Steelworkers) – Sol Chick Chaikin (Pres. Ladies Garment Workers) – Tom R. Donahue (Sec/ Tres AFL/ CIO) – Murray H. Finley (Pres. Amal. Clothing Textile Workers) – Victor Gautbaum (Amer Fed. State County Muni Employees) – Lane Kirkland (Pres. AFL/ CIO) – H. D. Samuel (Pres Ind. Union Dept. AFL/ CIO) – M. J. Ward (Pres. U. Ass. Plumbing Pipe) – Glenn E. Watts (Pres Comm. Workers of Amer) – Len Woodcock (Pres UAW) – Jerry Wurf (Pres. Amer F. County. and Muni. Emp.) Chỉ Huy Tối Cao Lực Lượng Đồng Minh – Eisenhower 52-53 – Ridgeway 53-56 – Gruenther 56-63 – Norstad 63-69 – Lemnitzer 69-74 – Goodpaster 80 – Rogers Bộ Trưởng Quốc Phòng – McElroy 59-61 – Gates 61-68 – McNamara 69-73 – Laird 73-Richardson 77-77 – Rumsfield 77 – Brown 80 – Weinberger 87-89 – Frank C. Carlucci 93-95 – Les Aspin Truyền thanh/Truyền hình Công cộng: Hartford Gunn, Robert McNeil, Jim Lehrer , C. Hunter-Gault, Hodding Carter III. Associated Press: Keith Fuller, Stanley Swinton, Louis Boccardi, Harold Anderson. U.P.I. H.L. Stevenson Reuters Michael Posner Boston Globe David Rogers L.A. Times Sdicate: Tom Johnson, Joseph Kraft L.A. Times Mirror Richard W. Murphy, Charles A. Kupchan, Michael Clough, Zygmunt Nagorski, Nancy Bodurtha, Richard T. Childress, Carl W. Ford Jr., Nomsa Daniels, Alton Frye, Gregory F. Treverton Newsday Jessica Mathew, Michael Mandelbaum, Richard N. Haass, Richard W. Murphy, John L. Hirsch, Alexander J. Motyl, Nicholas X. Rizopoulos, Alan D. Romberg, C.V. Starr, Gidion Gottlieb, Charles A. Kupchan Baltimore Sun Henry Trewhitt Chicago Sun Times James Hoge Minneapolis Starr/ Tribune John Cowles Jr. Houston Post William P. Hobby Ny Times Co. Richard Gelb, James Reston, William Scranton, A.M. Rosenthal, Seymour Topping, James Greenfield, Max Frankel, Jack Rosenthal, Harding Bancroft, Amory Bradford, Orvil Dryfoos, David Halberstram, Walter Lippmann, L.E. Markel, H.L. Matthews, John Oakes, Harrison Salisbury, A. Hays Sulzberger, A. Ochs Sulzberger, C.L. Sulzberger, H.L. Smith, Steven Rattner, Richard Burt, Time Inc. Ralph Davidson, Donald M. Wilson, Louis Banks, Henry Grunwald, Alexander Herard, Sol Lionwitz, Rawleigh Warner Jr., Thomas Watson Jr. Newsweek/ Wash Post Katherine Graham, Philip Graham, Arjay Miller, TC N. deB. Katzenbach, Frederick Beebe, Robert Christopher, De Borchgrave, GOsborne Elliot, Phillipo Geyelin, Kermit Lausner, Murry Marder, Eugene Meyer, Malcolm Muir, Maynard Parker, George Will, Robert Kaiser, Meg Greenfield, Walter Pincus, Murray Gart, Peter Osnos, Don Oberdorfer. Dow Jones Co. (Wall Street Journal) William Agee, J. Paul Austin TC, Charles Meyer, Robert Potter, Richard Wood, Robert Bartley, Karen House. National Review Wm. F. Buckley, Jr. Richard Brookhiser.


    1.4. Hợp tác xã hội

    Theo thuyết Universalism, Conceptual Realism, Holism,Collectivism, xã hội là một đơn vị sống (living entity) của chính nó, độc lập và tách rời với đời sống của những cá nhân khác nhau, hành động cho chính nó và nhắm đến những mục tiêu của chính nó thường khác biệt với những cứu cánh cá nhân. Thông thường, sự mâu thuẫn giữa những mục tiêu xã hội và mục tiêu cá nhân sẽ phơi bày lên. Muốn bảo đảm sự phát triển của xã hội thì phải làm chủ được lòng ích kỷ cá nhân và buộc cá nhân phải hy sinh những ý hướng vị kỷ để làm lợi cho xã hội.
    Khi những mâu thuẫn nầy xảy ra, tất cả những lý thuyết xã hội chủ nghĩa đều buộc phải từ bỏ những phương pháp thế tục của khoa học nhân văn và suy luận theo luận lý; và thay vào đó là những giáo điều tín ngưỡng mang tính thần học và siêu hình học. Họ phải giả định rằng, qua trung gian của các nhà tiên tri, thừa sai, và những lãnh tụ phù phép, Thượng Đế bắt buộc những người xấu tự bẩm sinh – nghĩa là, có xu hướng theo đuổi những mục tiêu riêng của mình – phải đi theo con đường chính đạo mà Thượng Đế hay lịch sử muốn họ phải đi.
    Đó là triết lý đặc trưng cho những tôn giáo của người xưa. Đó từng là một yếu tố trong tất cả những giáo điều thần học. Con người bị buộc phải tuân thủ luật lệ của một siêu quyền năng và tuân thủ những giới chức được quyền năng đó giao phó trách nhiệm thực thi pháp luật. Vì thế, xã hội con người do luật lệ đó tạo ra chính là công trình của thần linh chứ không phải của con người. Nếu Thượng Đế không can thiệp và không ban trí khôn cho con người lầm lẫn thì xã hội sẽ không hiện hữu. Adam và Eve sẽ vẫn còn ở lại Vườn Địa Đàng một mình.
    Đương nhiên hợp tác xã hội là một điều tốt cho nhân loại. Đương nhiên con người chỉ có thể ra khỏi giai đoạn man khai bên trong khuôn khổ xã hội. Tuy nhiên, có thể họ chẳng bao giờ nhìn thấy con đường tự cứu rỗi. Nhưng những yêu cầu hợp tác xã hội và tuân thủ luật lệ đạo đức đặt ra những giới hạn nặng nề cho họ. Do tri thức man khai con người có thể xem việc mất mát một lợi điểm nào đó là một điều xấu và một hạn chế đối với những nhu cầu của mình. Con người thường không thể nhận thức được những lợi điểm lớn hơn về sau, những lợi điểm chỉ có được nhờ thoái thác những lạc thú hiện tại và hiển thị. Nhưng đối với mặc khải siêu nhiên (supernatural revelation) có thế họ đã không bao giờ biết được định mệnh của họ muốn họ làm những gì cho hạnh phúc của chính họ và của con cháu họ.
    Lý thuyết khoa học như được phát triển bởi triết lý xã hội của thuyết duy lý (rationalism) và tự do (liberalism) của thế kỷ 18 không tham chiếu sự can thiệp phép lạ của các quyền siêu nhân. (Từ Liberalism ở đây có nghĩa là tự do cá nhân đồi với mọi hạn chế chứ không đồng nghĩa với từ neo-liberalism có nghĩa là đại chính phủ với bao nhiêu thứ hạn chế.) Cứ mỗi bước mà cá nhân thay thế hành động riêng lẻ của mình bằng hành động tập thể đều đưa đến một cải thiện tức thì và hiển thị trong hoàn cảnh của mình. Những lợi điểm từ sự hợp tác hòa bình và phân công lao động là phổ quát. Chúng lập tức mang phúc lợi cho mọi thế hệ, không chỉ cho những hậu duệ về sau. Đối với những gì cá nhân phải hy sinh cho xã hội, họ sẽ được đền bù bằng những lợi ích lớn hơn. Sự hy sinh của họ chỉ là bề ngoài và tạm thời; họ bỏ qua lợi nhỏ để gặt hái một lợi ích lớn hơn sau nầy. Không một ai có lý trí lại không thể nhìn thấy sự kiện hiển nhiên nầy. Khi hợp tác xã hội được tăng cường bằng cách nới rộng lãnh vực phân công lao động hay khi việc bảo vệ pháp luật và bảo vệ hòa bình được tăng cường, động cơ thúc đẩy chính là xu hướng của mọi người liên quan muốn cải thiện những điều kiện của chính họ. Khi theo đuổi những quyền lợi của chính mình, cá nhân nỗ lực tăng cường hợp tác xã hội và quan hệ hòa bình. Xã hội là sản phẩm của hành động con người, nghĩa là, con người kêu gọi tháo gở tối đa những tình trạng bất ổn. Giải thích tiến hóa xã hội không cần đến một chủ thuyết nào cả – chủ thuyết chỉ gây khó chịu cho các nhà tôn giáo đích thực, vì theo họ, chủ thuyết đó cho rằng sáng tạo ban đầu có quá nhiều khiếm khuyết nên cần phải có sự can thiệp đấng siêu việt để ngăn chặn thất bại.
    Vai trò lịch sử của lý thuyết về phân công lao động như được phát triển bởi kinh tế chính trị Anh từ Hume đến Ricardo là hủy diệt toàn bộ những chủ thuyết siêu hình liên quan đến nguồn gốc và hoạt động của hợp tác xã hội. Luật pháp và hợp pháp tính (law and legality), điều lệ đạo đức và những định chế xã hội không còn được tôn trọng như là những thiên lệnh bí ẩn. Chúng bắt nguồn từ con người, và thước đo duy nhất phải được áp dụng cho chúng chính là thước đo của hoài bảo về an sinh con người.
    Kinh tế gia duy lợi (utilitarianism) không đòi hỏi con người hy sinh hạnh phúc của mình cho lợi ích xã hội. Họ chỉ khuyên con người nhận ra đâu là những quyền lợi được hiểu một cách đứng đắn. Trong mắt con người, sự mầu nhiệm của Thượng Đế không tự thể hiện trong việc can thiệp thường xuyên vào một số vấn đề của các ông hoàng và chính trị gia, mà thể hiện bằng ban bố cho những con chiên của ngài lý trí và khao khát theo đuổi hạnh phúc.

    1.5. Nan đề của Chủ nghĩa (Liberalism)

    Vấn đề chủ yếu của tất cả những hình thức triết lý xã hội là: làm thế nào nhận thức được luật pháp đích thực, nhận thức được tông đồ đích thực của Thượng Đế, và nhận thức được uy quyền đích thực. Vì nhiều người tự cho là Thượng Đế gởi họ xuống, và mỗi tiên tri nầy lại rao giảng một kinh thánh khác nhau. Đói với thành viên trung thành của thuyết Collectivism, không thể có bất kỳ nghi ngờ nào; họ hoàn toàn tin chắc mình chỉ nói một chủ thuyết đúng duy nhất. Nhưng chính niềm tin vững chắc như thế khiến cho những mâu thuẫn khó hòa giải hơn. Mỗi đảng được chuẩn bị phải làm cho những đề cương của đảng mình hơn hẳn. Nhưng vì luận lý không thể quyết định giữa những chủ thuyết mâu thuẫn khác nhau nên không có phương pháp nào giúp giải quyết những tranh biện như thế ngoài xung đột vũ trang. Những chủ thuyết xã hội không duy lý (non-rationalist), không duy lợi (non-utilitarian), và không tự do (non-liberal) phải phát động chiến tranh và nội chiến cho đến khi một trong các đối thủ bị tiêu diệt hay đầu hàng. Lịch sử của những tôn giáo lớn trên thế giới là hồ sơ của những cuộc chiến tranh lớn nhỏ, tương tự như lịch sử của những tôn giáo giả mạo (counterfeit religions), chủ nghĩa xã hội (socialism), và chủ nghĩa quốc gia (nationalism) hiện nay.
    Sự độc ác và tuyên truyền bằng thanh kiếm từ tay tên hành quyết hay người lính là đặc tính cố hữu của bất kỳ một hệ thống đạo lý xã hội chủ nghĩa nào. Luật Thượng Đế hay Định Mệnh tuyên bố mình có giá trị phổ quát, và, theo luật định, mọi người đều phải phục tùng những giới chức mà luật đó cho là hợp pháp. Bao lâu uy thế của những giáo điều xã hội chủ nghĩa và hàm ngụ triết lý của chúng – tức thuyết khái niệm thực tại (conceptual realism) – còn nguyên vẹn, thì không thể có vấn đề khoan nhượng hay hòa bình lâu dài. Khi cuộc chiến ngưng lại nó chỉ ngưng lại để lấy thêm sức mạnh mới nhằm đánh tiếp.

    1.6. Chủ nghĩa Xã hội: Tẩy não và guồng máy công an trị

    Những người chủ trương đạo đức xã hội chủ nghĩa và chính chủ nghĩa đó không thể hy vọng dùng luận lý để chứng minh cái đúng của dạng nguyên tắc đạo đức mà họ chủ trương và tính thượng đẳng cũng như tính chính đáng độc nhất của lý tưởng xã hội đặc thù của họ. Họ buộc yêu cầu mọi người chấp nhận hệ thống ý thức hệ của họ như là chân lý và phục tùng cái quyền uy mà họ cho là đích thực; họ cương quyết bóp nghẹt mọi tiếng nói bất đồng hay trấn áp những người bất đồng để họ khuất phục.
    Đương nhiên sẽ luôn luôn có những cá nhân hay tập thể mà trí tuệ không thể nhận thức được những lợi ích do hợp tác xã hội mang lại. Những người khác với sức mạnh tinh thần và ý chí quá yếu nên họ không thể chống lại cám dỗ khiến họ cố tìm một lợi lộc tạm thời bằng những hành động có hại cho việc điều hành êm thấm của hệ thống xã hội. Công tác chỉnh đốn những cá nhân theo yêu cầu hợp tác xã hội đòi hỏi phải hy sinh. Đó là những hy sinh tạm thời và bề ngoài vi chúng sẽ được đền bù bằng những lợi ích lớn hơn sẽ có được nhờ sống bên trong xã hội.
    Tuy nhiên, họ đau khổ trong chính hành động thoái thác một lạc thú đang mong đợi, và không phải ai cũng nhận thức được những lợi ích về sau của mình và hành xử tương ứng. Những thành viên xã hội chủ nghĩa tin rằng giáo dục có thể giúp mọi người nhận thức điều mà những quyền lợi của chính họ đòi hỏi họ phải làm: khi được tẩy não đúng cách, họ sẽ tự mình nhận thức điều đó, luôn luôn tuân thủ những quy luật hành xử cần có để bảo vệ xã hội. Chủ nghĩa xã hội cho rằng một trật tự xã hội trong đó không ai được hưởng những đặc quyền đặc lợi trên lưng đồng bào của họ có thể hiện hữu mà không cần một cưỡng bách nào nhằm ngăn ngừa hành vi phương hại đến xã hội. Đó là một xã hội công an trị, một bộ máy áp bức và cưỡng bách.
    Chủ nghĩa xã hội xem nhẹ sự kiện không thể chối cãi được là có một số người hoặc quá nông cạn hoặc quá yếu kém không thể tự nhiên thích nghi với những điều kiện của đời sống xã hội. Cho dù chúng ta có thừa nhận rằng mọi người thành niên có đầu óc lành mạnh đều có khả năng nhận thức được mặt tốt của hợp tác xã hội và hành động thích ứng đi nữa thì vẫn còn vấn đề của những trẻ con, người già, và người mất trí. Chủ nghĩa Xã hội tin rằng một người có hành động chống xã hội nên được xem là mắc bệnh tâm thần và cần được chửa trị. Nhưng bao lâu những trường hợp đó không được chửa trị hết tất cả và bao lâu còn trẻ con và người già thì một số điều khoản phải được thực hiện bằng không họ sẽ gây thiệt hại cho xã hội. Xã hội không thể tồn tại nếu đa số không sẵn sàng ngăn cản những thành phần thiểu số phá hoại trật tự xã hội, ngăn cản bằng cách áp dụng bạo lực hay đe đọa dùng bạo lực. Quyền hành nầy được trao cho nhà nước hoặc chính phủ.
    Nhà nước và chính phủ là bộ máy cưỡng chế xã hội. Nó được độc quyền dùng bạo lực. Không một cá nhân nào dược tự do xử dụng bạo lực hay đe dạ dùng bạo lực nếu không dược chính phủ trao cho quyền đó. Nhà nước chủ yếu là một định chế để bảo vệ những quan hệ hòa bình. Tuy nhiên, muốn bảo vệ hòa bình phải chuẩn bị đập tan những hành vi của những kẻ phá hoại hòa bình. Muốn làm điều nầy, nhà nước xã hội chủ nghĩa phải bảo đảm được rằng những công dân của họ phải bị tước hết mọi phương tiện tự vệ. Không được phép xử dụng súng, gậy, dao hay những vũ khí tự vệ nào khác.

    2. Chủ nghĩa Tự do Liberalism

    (Còn tiếp theo)

  3. (Tiếp theo)

    2.1. Chủ nghĩa Tự do: phương án ngăn ngừa cách mạng và nội chiến

    Chủ thuyết xã hội tự do (liberal social doctrine) dựa trên những giáo điều của đạo đức duy lợi (utilitarian ethics) và nhìn vấn đề quan hệ giữa giai cấp cai trị và giai cấp bị trị theo một góc độ khác hơn là thuyết UniversalismCollectivism. Thuyết Liberalism vì chủ thuyết đó đích thực nhận thức rằng giai cấp cai trị – luôn luôn là thiểu số – không thể ngồi lâu trên ngôi nếu không có sự hậu thuẫn tự nguyện của đám thiểu số bị trị. Bất luận hệ thống chính phủ là cái gì, nó luôn luôn đặt nền tảng trên tâm thức của giai cấp bị trị cho rằng nếu phục tùng và trung thành với chính phủ nầy vẫn tốt hơn cho quyền lợi của chính họ thay vì cách mạng để thiết lập một chế độ khác. Thành phần đa số có quyền gạt bỏ một chính phủ không thân dân và xử dụng quyền đó khi nào họ tin rằng sự an sinh của chính họ đòi hỏi phải làm thế.
    Nội chiến và cách mạng là những phương tiện để thành phần đa số lật đổ đám cai trị và những cách thức cai trị không phù hợp với họ. Vì mục tiêu hòa bình trong nước, chủ nghĩa Liberalism nhắm đến chính phủ dân chủ. Do đó, dân chủ không phải là một định chế cách mạng. Ngược lại, đó chính là phương án ngăn ngừa cách mạng và nội chiến. Chủ nghĩa đó cung ứng một phương pháp điều chỉnh ôn hòa giúp chính phủ thích nghi với nguyện vọng của đa số. Khi nhà cầm quyền và những chính sách của họ không còn làm vừa lòng đa số quần chúng trong nước, qua bầu cử, họ sẽ bị loại và bị thay thế bằng những người khác với những chính sách khác.
    Nguyên tắc đa số làm chủ hay chính phủ do dân theo đề nghị của chủ nghĩa Liberalism không tìm cách đè đầu đám tiện dân đen và những thành phân man khai trong nước. Chủ nghĩa nầy cũng tin rằng một quốc gia nên được cai trị bởi những người thích hợp nhất cho nhiệm vụ đó. Nhưng họ tin rằng khả năng cai trị của một người tự chứng tỏ là tốt hơn bằng cách thuyết phục những đồng bào của họ thay vì xử dụng bạo lực. Đương nhiên, không có gì bảo đảm những cử tri sẽ ủy thác quyền cai trị cho ứng cử viên có năng lực nhất. Nhưng không một hệ thống nào khác có thể cung ứng một bảo đảm như thế. Nếu bên đa số của quốc gia bằng lòng với những nguyên tắc thiếu lành mạnh và ưa chuộng những ứng cử viên không giá trị thì không có phương thuốc nào khác hơn là thay đổi đầu óc của họ bằng cách trình bày những nguyên tắc hợp lý hơn và đề bạt những ứng cử viên khá hơn. Một thành phần thiểu số sẽ không bao giờ thành công lâu dài bằng những phương án khác.

    2.2. Chính phủ Thần quyền trá hình

    Chủ nghĩa Đại Đồng Universalism và Chủ Nghĩa Xã Hội Collectivism đương nhiên là những hệ thống của chính phủ thần quyền (theocratic government). Đặc tính chung cho tất cả những biến thể của chúng là: chúng cho thấy sự hiện hữu của một thực thể siêu việt mà con người phải phục tùng. Điểm khác biệt giữa chúng chỉ là cái tên mà chúng đặt cho thực thể đó và nội dung của những luật lệ mà chúng tuyên bố nhân danh thực thể đó. Sự cai trị độc tài của một thiểu số không thể tìm thấy một tính chính danh nào ngoài việc tham chiếu một mệnh lệnh giả định lấy từ một quyền năng siêu việt tuyệt đối. Không thành vấn đề nếu kẻ chuyên quyền đặt những tuyên bố của họ trên nền tảng những uy quyền thiêng liêng của các thiên vương hay trên sứ mạng lịch sử của kẻ tiên phong cho giai cấp vô sản. Những từ ngữ societystate đều có nghĩa thần thánh theo lối dùng chữ hiện nay của những người thăng tiến chủ nghĩa xã hội, kế hoạch hóa, và kiểm soát xã hội trên mọi hoạt động cá nhân. Những bề trên của tín ngưỡng mới nầy quy cho thần linh của họ tất cả những thuộc tính mà thần học quy cho Thượng Đế – omnipotence, omniscience, infinite goodness, v.v…
    Nếu người ta giả định bên trên và bên kia những hoạt động cá nhân có một thực thể bất diệt đang nhắm đến những cứu cánh của chính mình, khác với những cứu cánh của những người trần tục, thì người ta đã thiết lập được khái niệm về một đấng siêu việt. Như thế người ta không thể lẫn tránh câu hỏi: cứu cánh nào chiếm ưu tiên nếu xảy ra xung đột – cứu cánh của nhà nước / xã hội hay cứu cánh của cá nhân? Câu trả lời cho câu hỏi nầy đã được hàm ngụ trong chính khái niệm về nhà nước hay xã hội theo quan niệm của thuyết đại đồng và xã hội chủ nghĩa. Nếu người ta khẳng định sự hiện hữu của một thực thể theo định nghĩa là cao hơn, quý phái hơn, và tốt hơn những cá nhân thì người ta không thể hoài nghi giả định cho rằng những mục tiêu của đấng siêu việt nầy phải đứng trên những mục tiêu của những cá nhân khốn khổ. Nếu nhà nước hay xã hội là một thực thể có khả năng quyết đoán và ý hướng cũng như tất cả những đức tính khác mà chủ nghĩa xã hội ban cho họ thì quả là vô nghĩa khi đối chiếu những mục tiêu tầm thường của cá nhân khốn khổ với những thiết kế lớn lao của nhà nước.
    Đặc tính bán thần học của tất cả những thuyết xã hội chủ nghĩa trở nên rõ nét trong những mâu thuẫn của chúng với nhau. Một thuyết xã hội chủ nghĩa không khẳng định tính thượng đẳng của một tập thể như một đơn vị; họ luôn luôn tuyên bố vai trò tối cao của một thần linh xã hội chủ nghĩa nhất định. Hoặc họ bác bỏ thẳng thừng sự hiện diện của những thần linh khác như thế hoặc họ đưa chúng xuống một vị trí phụ tùy và thấp hơn so với thần linh của chính họ. Những kẻ tôn thờ nhà nước tuyên bố một nhà nước nhất định, nghĩa là nhà nước của chính họ, là nhà nước xuất sắc nhất; trong khi những thành viên của chủ nghĩa quốc gia thì tuyên bố quốc gia của họ là quốc gia xuất sắc nhất. Nếu những người bất đồng thách thức chương trình nào đó của họ bằng cách đề cao tính thượng đẳng của một thần tượng xã hội chủ nghĩa khác, họ liền phản đối bằng cách lặp lại lời tuyên bố: chúng tôi đúng vì một tiếng nói từ bên trong nói với chúng tôi rằng chúng tôi đúng và bạn sai. Những xung đột của những tín ngưỡng và giáo phái mâu thuẫn không thể được quyết định bằng lý luận mà bằng vũ khí. Những hình thức thay thế cho nguyên tắc tự do và dân chủ với đa số làm chủ là những nguyên tắc quân phiệt của xung đột vũ trang và đàn áp độc tài.
    Tất cả những biến thể của các tín ngưỡng xã hội chủ nghĩa đều có chung sự thù ghét khôn nguôi đối với những định chế chinh trị nền tản của hệ thống tự do: đa số làm chủ, khoan nhượng đối với những quan điểm bất đồng, tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do báo chí, và mọi người bình đẳng trước pháp luật. Sự hợp tác của những tín ngưỡng xã hội chủ nghĩa trong các nỗ lực của họ nhằm tiêu diệt tự do đã đưa đến nhận định sai lầm cho rằng vấn đề trong những xung đột chính trị ngày nay chính là xung đột giữa chủ nghĩa cá nhân (individualism) và chủ nghĩa tập thể (collectivism). Thực vậy, đó là một cuộc chiến giữa một bên là chủ nghĩa cá nhân và bên kia là hằng hà sa số những giáo phái xã hội chủ nghĩa. Sự thù ghét lẫn nhau giữa những giáo phái nầy cũng không kém ác liệt như sự thù ghét của họ đối với hệ thống tự do.

    2.3. Xung đột giữa các thuyết Marxist và không Marxist

    Không phải một chủ nghĩa Marxist thuần nhất chống lại chủ nghĩa tư bản, mà bao nhiêu nhóm Marxist. Những nhóm nầy – như Stalinists, Trotskyists, Mensheviks, phe Đệ Nhị Quốc Tế, v.v… – đánh nhau hết sức tàn bạo và vô nhân đạo. Kế đến lại có bao nhiêu phe phái không Marxist khác cũng áp dụng cùng những phương pháp tàn bạo như thế khi tranh đấu lẫn nhau. Nếu dùng chủ nghĩa xã hội thay cho chủ nghĩa tự do sẽ dẫn đến đấu tranh đẫm máu vô tận. Một ví dụ điển hình là Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Ngày nay đó là sự kình chống giữa người Da Den và người Mễ; giữa người Mễ và người Da Trắng, giữa đàn ông và đàn bà, giữa những người đồng tính và giáo hội, giữa những người dùng ma túy và người chống ma túy, v.v…
    Thuật ngữ thông thường không biểu hiện được những vấn đề đó một cách hoàn toàn. Thông thường triết học gọi chủ nghĩa cá nhân là một triết lý hợp tác xã hội và từng bước tăng cường những liên kết xã hội. Mặt khác, việc áp dụng những tư tưởng căn bản về chủ nghĩa tập thể không thể đưa đến cái gì khác ngoại trừ phân hóa xã hội và tiếp diễn xung đột. Đương nhiên hình thức xã hội chủ nghĩa nào cũng hứa hẹn hòa bình vĩnh cữu – bắt đầu với cái ngày chiến thắng quyết định của chính nó và sự sụp đổ hay triệt tiêu tất cả những ý thức hệ khác cũng như những thế lực hậu thuẫn khác.
    Tuy nhiên, việc thực hiện những kế hoạch nầy tùy thuộc vào biến thái triệt để trong nhân loại. Con người phải được phân chia thành hai gai cấp: một bên là đám độc tài như thần thánh và một bên là đám quần chúng bị buộc phải trao hết quyền tự do lựa chọn và lý trí để trở thành không gì hơn là những nô lệ trong các kế hoạch của bọn độc tài đó. Đám quần chúng phải bị truất hết quyên làm người để khiến một số người duy nhất trở thành chủ nhân ông hoặc quyền uy như thần thánh. Suy nghĩ và hành động, những đặc tính tối thượng của con người trong tư cách con người, sẽ trở thành đặc ân của một số người duy nhất. Không cần phải chỉ ra rằng những kế hoạch như thế là bất khả thi. Sự nối tiếp của những đế quốc độc tài đều bị thất bại. Chúng ta đã chứng kiền sự sụp đổ của một số trật tự mệnh danh là muôn năm, như Hitler, Mussolini, v.v… Những chế độ nào còn lại sẽ khó lòng tồn tại lâu hơn.

    2.4. Chủ nghĩa Liberalism không phải là một lý thuyết

    Sự phục hồi hiện nay của khái niệm chủ nghĩa xã hội – nguyên nhân chính của tất cả những sự hấp hối và đại họa trong thời đại chúng ta – đã thành công quá lớn nên nó đã đưa vào quyên lãng những tư tưởng chủ yếu về triết lý tự do xã hội. Ngày nay đa số những ai yêu chuộng các định chế dân chủ đều quên đi những tư tưởng đó. Những luận điểm mà họ nêu ra để biện minh cho dân chủ và tự do đều mang màu sắc sai lầm của chủ nghĩa xã hội; những học thuyết của họ thực ra chỉ là xuyên tạc hơn là thăng tiến chủ nghĩa tự do đích thực. Dưới mắt họ, bên đa số luôn luôn đúng chỉ vì họ có quyền nghiền nát đối lập; luật đa số là luật độc tài của đảng đông nhất, và đám đa số cầm quyền không tự chế trong việc thực thi quyền hành của mình và trong việc giải quyết những vấn đề chính trị. Bao lâu một đảng phái thành công trong việc tranh thủ hậu thuẫn của đa số công dân và do đó chiếm được quyền kiểm soát guồng máy chính phủ, họ được tự do ngăn cản bên thiểu số có được tất cả chính những quyền dân chủ trước kia đã từng khiến họ phải tranh đấu để dành lấy quyền chính.
    Chủ nghĩa neo-liberalism nầy đương nhiên chính là phản đề của chủ nghĩa Liberalism. Chủ nghĩa tự do đích thức không cho rằng đám đa số là thần thánh và không hề sai lầm; họ không nói rằng sự kiện duy nhất một chính sách được nhiều người thăng tiến là một bằng chứng cho thấy những giá trị của chủ nghĩa đó cho lợi ích chung. Họ không cỗ xúy chủ nghĩa độc tài đa số và dùng bạo lực để áp bức thiểu số bất đồng. Chủ nghĩa tự do nhắm đến một định chế chính trị có khả năng bảo vệ tiến trình hợp tác xã hội điều hòa và từng bước tăng cường những quan hệ xã hội hỗ tương. Mục tiêu chính của chủ nghĩa đó là tránh xung đột bạo động, tránh chiến tranh và cách mạng vốn làm băng hoại sự hợp tác xã hội của con người và đẫy lùi con người trở lại tình trạng ban sơ trong đó tất cả những bộ lạc và tổ chức chính trị không ngừng tranh đấu lẫn nhau. Vì phân công lao động đòi hỏi phải có hòa bình ổn định, nên chủ nghĩa tự do nhắm đến thiết lập một hệ thống chính phủ có khả năng bảo vệ hòa bình và dân chủ.
    Chủ nghĩa tự do, theo nghĩa của thế kỷ 19, là một chủ thuyết chính trị. Đó không phải là một lý thuyết mà là một ứng dụng những lý thuyết được phát triển qua công trình nghiên cứu hành động con người và đặc biệt qua kinh tế học nhằm xác định những vấn đề của hành động con người bên trong xã hội. Như một chủ thuyết chính trị, chủ nghĩa tự do không trung lập về mặt giá trị và những cứu cánh tối hậu mà con người tìm kiếm bằng hành động. Nó giả định rằng mọi người hay ít nhất đa số người đều chủ tâm đạt đến những mục tiêu nào đó. Nó mang đến cho họ thông tin về những phương tiện thích hợp để thực hiện những kế hoạch của họ. Những quán quân của chủ thuyết tự do ý thức đầy đủ sự kiện những giáo điều của họ chỉ có giá trị đối với những ai dấn thân vào những nguyên tắc nầy mà thôi.
    Trong khi các ngôn ngữ, và cả kinh tế học, xử dung những từ ngữ như happiness (hạnh phúc) và removal of uneasiness (thoát khổ) theo một nghĩa hoàn toàn quy thức, chủ nghĩa tự do gắn vào những từ đó một nghĩa cụ thể. Nó giả định rằng con người thích sống hơn chết, thích lành mạnh hơn bệnh tật, no đủ hơn chết đói, giàu hơn nghèo. Nó dạy con người biết cách hành động phù hợp với những đánh giá nầy. Người ta thường gọi những quan tâm nầy là duy vật và thường chỉ trích chủ nghĩa tự do về một chủ nghĩa duy vật được cho là thô bạo và không đếm xỉa gì đến những theo đuổi cao siêu hơn hay quý phái hơn của nhân loại. Theo những người phê bình nói trên, con người không chỉ sống bằng bánh mì, và họ xem thường tính bần tiện và thấp kém của triết lý duy lợi. Tuy nhiên, những chỉ trích gắt gao nầy không đúng, vì chúng xuyên tạc quá đáng những giáo điều của chủ nghĩa tự do.
    Thứ nhất: chủ nghĩa tự do không quả quyết rằng con người phải bị buộc phải phấn đấu cho những mục tiêu kể trên. Điều họ muốn nói là đại đa số đều thích một cuộc sống lành mạnh và sung túc hơn là đau khổ, đói khát, và chết. Chân lý đó không thể bị thách thức. Thực tế chứng minh rằng tất cả những lập luận chống chủ nghĩa tự do – như những giáo điều thần quyền của nhiều phái tôn giáo, quốc gia chủ nghĩa, và xã hội chủ nghĩa – đều cho thấy cùng một thái độ đối với những vấn đề nầy. Tất cả họ đều hứa hẹn với những tín đồ của họ một cuộc sống sung túc. Họ không bao giờ liều lĩnh nói với mọi người rằng chương trình của họ sẽ làm hại cho an sinh của đối tượng. Ngược lại, họ nhấn nạnh rằng, trong khi những kế hoạch đối phương sẽ đưa đến bần cùng hóa, chính họ lại muốn cung ứng sự sung mãn cho nhưng người theo họ. (Bạn thử so sánh mức lương trung bình của một công nhân bên ngoài với mức lương kết xù của các công nhân viên chính phủ liên bang!) Các đảng phái Cơ Đốc cũng quyết liệt không kém trong việc hứa hẹn với các con chiên củ họ một tiêu chuẩn sống cao hơn so với những thành viên quốc gia chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa. Những giáo hội ngày nay thường nói về tăng lương và lợi tức nông trại nhiều hơn là về những giáo điều Cơ Đốc Giáo.
    Thứ nhì: Chủ nghĩa tự do không xem thường những hoài bảo trí tuệ của con người. Ngược lại, chủ nghĩa nầy rất nhiệt tình đi tìm sự hoàn hảo về trí tuệ và tâm linh, đi tìm trí khôn và thẩm mỹ tối ưu. Nhưng quan điểm của họ về những thứ cao siêu và quý phái nầy dứt khoát không phải là những biểu hiện thô bạo bên phía đối phương của họ. Họ không chia xẻ quan điểm ngây thơ cho rằng bất kỳ một hệ thống xã hội nào cũng có thể trực tiếp thành công bằng cách khuyến khích tư duy triết học hay khoa học, bằng cách sản tạo những tuyệt tác nghệ thuật và văn chương để giúp khai sáng thêm quần chúng. Họ nhận thức rằng tất cả những gì xã hội đó có thể hoàn thành được trong những bộ môn nầy là cung ứng một môi trường không đặt ra những chướng ngại không thể vượt qua trên lối đi của thiên tài và giúp con người bình thường đủ tự do đối với những ưu tư vật chất để quan tâm đến những việc khác ngoài miếng ăn. Theo quan điểm chung của họ, phương thức xã hội tối thượng để giúp con người trở thành nhân bản hơn chính là giảm nghèo. Trí tuệ, khoa học, và nghệ thuật phát triển tốt đẹp hơn trong một thế giới người giàu chứ không phải trong thế giới của những người nghèo.

    2.5. Lý thuyết thuần túy khoa học

    Đúng là xuyên tạc sự thật nếu quy trách chủ nghĩa duy vật cho thời đại tự do chủ nghĩa. Thế kỷ 19 không chỉ là một thế kỷ của cải tiến vô tiền khoáng hậu về phương pháp sản xuất kỹ thuật và về an sinh vật chất nơi quần chúng. Thế kỷ đó đã thực hiện nhiều công tác hơn chư không chỉ giúp nối dài tuổi thọ của con người. Những thành tựu khao học và nghệ thuật của nó là bất diệt. Đó là một thời đại của những nhạc sỹ, nhà văn, nhà thơ, họa sỹ và điều khắc bất hủ. Thế kỷ đó đã cách mạng hóa triết học, kinh tế học, toán học, vật lý, hóa học, và sinh vật học. Và lần đầu trong lịch sử, thế kỷ nầy đã giúp người dân tiếp cận được những công trình và những tư duy vĩ đại.
    Chủ nghĩa tự do dựa trên một lý thuyết thuần túy lý trí và khoa học về hợp tác xã hội. Những chính sách mà nó đề xuất là ứng dụng một hệ thống tri thức không hề liên quan đến tình cảm, tín ngưỡng trực giác không có đủ bằng chứng, không liên quan đến những kinh nghiệm thần bí và ý thức cá nhân về những hiện tượng siêu việt. Theo nghĩa nầy, những thuộc từ thường bị hiểu lầm và bị diễn giải sai lầm như atheistagnostic có thể được gán cho chủ nghĩa đó. Quả là một sai lầm nghiêm trọng nếu kết luận rằng những khoa học về hành động con người và chính sách xuất phát từ những giáo điều của chúng – tức chủ nghĩa Liberalism – là phản thần (anti-theist) và thù nghịch với tôn giáo. Chúng hoàn toàn đối nghịch với mọi hệ thống thần quyền. Nhưng chúng hoàn toàn trung lập đối với những tín ngưỡng không chủ trương can thiệp vào công việc điều hành những vấn đề xã hội, chính trị, và kinh tế.
    Thần quyền (theocracy) là một hệ thống dùng một đấng siêu việt để bảo đảm tính chính danh của mình. Luật lệ căn bản của một chế độ thần quyền là một trực giác không thể kiểm chứng bằng lý trí và bằng chứng minh luận lý. Tiêu chuẩn tối hậu của nó là trực giác có khả năng cung ứng cho tinh thần niềm tin chắc chắn về những gì không thể được khái niệm bằng lý trí và lý luận. Nếu trực giác nầy tham chiếu một trong những hệ thống giáo điều cổ truyền về sự hiện hữu của một Đấng Thiêng Liêng và Chúa Tể vũ trụ, thì chúng ta gọi đó là một tín ngưỡng tôn giáo. Nếu nó tham chiếu một hệ thống khác thì chúng ta gọi đó là một tín ngưỡng siêu hình.

    2.6. Chính phủ thần quyền

    Như thế, một hệ thống chính phủ thần quyền không cần phải được xây dựng trên một trong những tôn giáo lớn trong lịch sử thế giới. Đó có thể là kết quả của những tín điều siêu hình học vốn chối bỏ một giáo hội và giáo phái tự trị cổ truyền và tự hào có được đặc tính phản thần và phản siêu hình học. Ngày nay, những đảng thần quyền thế lực nhất đều chống lại Cơ Đốc Giáo và chống lại tất cả những tôn giáo khác tiến hóa từ chủ nghĩa độc thần Do Thái (Jewish monotheism). Đặc tính thần quyền của những đảng nầy là họ khao khát tổ chức những công việc trần thế của nhân loại hợp với những nội dung của một hệ tư tưởng mà tính giá trị không thể được chứng minh bằng lý trí. Họ giả vờ rằng những lãnh tụ của họ được ban ân sủng bằng một kiến thức mà phần còn lại của nhân loại không có và kiến thức đó ngược hẳn với những tư tưởng được đưa ra bởi những người không có sức thu hút siêu phàm (charisma). Những lãnh tụ có sức hút siêu phàm đều được ban cho một uy quyền huyền bí cao hơn với chức năng cai quản những công việc của nhân loại. Một nình họ được khai sáng; tất cả những người khác đều là mù, điếc, hay bất lương.
    Hiển nhiên, nhiều hình thức tôn giáo lớn đã bị ảnh hưởng của những khuynh hướng thần quyền. Những giáo điều của họ đều bắt nguồn từ tham vọng quyền chính, từ mưu đồ đàn áp và triệt tiêu mọi nhóm bất đồng. Tuy nhiên, chúng ta không được lầm lẫn hai điều – tôn giáo và thần quyền.
    William James gọi tôn giáo là “tình cảm, hành động và kinh nghiệm của con người trong cô đơn của họ, bao lâu họ nhận thức chính mình trong mối quan hệ với bất cứ những gì mà họ có thể xem như thần thánh.” James liệt kê những niềm tin sau đây như là những đặc tính của cuộc sống tôn giáo: (i) Thế giới hữu hình là một phần của một vũ trụ tâm linh hơn, từ đó lấy ra ý nghĩa chủ yếu của nó; (ii) Liên kết hay quan hệ hài hòa với vũ trụ cao hơn đó là cứu cánh đích thực của chúng ta; (iii) Cầu nguyện hay nội thông (inner communion) với tâm linh tương ứng – tức Thượng Đế tâm linh hay luật trời – là một tiến trình giúp hoàn tất công trình, đón nhận năng lượng tâm linh và sản sinh những hệ quả, tâm lý hay vật lý bên trong thế giới hiện tượng. James nói tiếp, tôn giáo cũng bao gồm những đặc tính tâm lý sau đây: (i) lòng nhiệt thành được bổ sung vào đời sống như một món quà, và mang hình thức hoặc của một ngây ngất trữ tình hoặc của một tiếng gọi của trang nghiêm và anh hùng; (ii) một bảo đảm cho an ninh và hòa bình; (iii) ưu thế hơn hẳn của tình thương.
    Đặc tính kinh nghiệm và tình cảm tôn giáo của nhân loại không đề cập đến kế hoạch hợp tác xã hội. Theo James, tôn giáo là một quan hệ thuần túy cá nhân giữa con người và một thực thể thiêng liêng, bí mật và đáng sợ. Tôn giáo đặt trên con người một mô hình cư xử cá nhân nào đó. Nhưng tôn giáo không xác quyết bất cứ điều gì liên quan đế những vấn đề tổ chức xã hội. Thánh St. Francis d’Assisi, thiên tài tôn giáo vĩ đại nhất của Tây Phương, không quan tâm đến chính trị và kinh tế. Ông muốn dạy các tín đồ của ông sống ngoan đạo; ông không thảo ra một kế hoạch nào về tổ chức sản xuất và không kêu gọi họ xử dụng bạo động chống những kẻ bất đồng. Ông không chịu trách nhiệm về mọi diễn dịch liên quan đến những lời rao giảng của ông theo hệ phái mà ông thiết lập.
    Chủ nghĩa tự do không đặt ra chướng ngại nào trên bước đương mà con người muốn thích ứng hành xử cá nhân và những công việc riêng tư của họ theo cách mà họ hay giáo hội của họ diễn dịch những giáo điều của Kinh Thánh. Nhưng chủ nghĩa nầy triệt để phản đối mọi ý đồ muốn triệt tiêu tranh luận về nhưng vấn đề an sinh xã hội viện lẽ trực giác hay mặc khải tôn giáo. Chủ nghĩa tự do không kêu gọi ly dị hay kiếm soát sinh đẻ đối với bất kỳ ai. Nhưng chủ nghĩa nầy chống lại bất kỳ ai muốn ngăn cản người khác tự do tranh luận những vấn đề vừa nêu.
    Theo chủ nghĩa tự do, mục đích của luật đạo đức là buộc con người thích nghi hành xử của họ với những yêu cầu của đời sống xã hội, tự chế những hành động phương hại đến sự bảo toàn hợp tác xã hội hài hòa và cải tiến những quan hệ xã hội. Chủ nghĩa tự do hoan nghênh sự hậu thuẫn mà những giáo điều có thể mang đến cho những tiền đề đạo đức nào mà họ chấp thuận, nhưng chủ nghĩa nầy phản đối mọi tôn chỉ nào có thể đưa đến phân hóa xã hội bất cứ từ đâu đến.
    Quả là xuyên tạc sự thật nếu nói rằng – như nhiều lãnh tụ tôn giáo thần quyền vẫn nói – chủ nghĩa tự do chống lại tôn giáo. Ở đâu có sự can thiệp của nguyên tắc giáo hội vào những vấn đề thế tục, ở đó có sự tranh đấu lẫn nhau giữa những giáo phái hay giáo hội khác nhau. Nhờ tách rời giáo hội với nhà nước nên chủ nghĩa tự do thiết lập được hòa bình giữa những giáo phái khác nhau và tạo cho họ cơ hội thoải mái rao giảng Thánh Kinh. Chủ nghĩa tự do là duy lý, cho rằng chúng ta có thể thuyết phục đại đa số rằng hợp tác hòa bình bên trong khuôn khổ xã hội phục vụ những quyền lợi đích thực tốt hơn là đấu tranh lẫn nhau và phân hóa xã hội. Chủ nghĩa nầy hoàn toàn tự tin vào lý trí con người. Rất có thể sự lạc quan đó là vô căn cứ và thuyết tự do đã sai lầm. Nhưng nếu thế thì không còn hy vọng nào cho tương lai của con người.
    Sẽ phải mất một thời gian nữa và phải hy sinh nhiều người hơn nữa để đảo ngược sự thiệt hại mà thuyết neo-liberalism đã gây ra cho Anh ngữ. Thuyết nầy chỉ giỏi náo dối và thậm chí ngày nay chính họ cũng không thể phân biệt đâu là nói láo đâu là nói thật.

    3. Phong Trào Neo-Tea-Party


    ** Quan điểm bên dưới không nhất thiết phản ảnh quan điểm của tác giả sách nầy. Chúng tôi khách quan trình bày để độc giả tùy nghi nhận định.


    Ngày nay, một phong trào mới đang xuất hiện và đang tiến nhảy vọt – phong trào neo-Tea-Party. Phong trào nầy đáng sợ đối với phe neo-Progressive vì mục tiêu của phong trào Tea-Party là bảo thủ trong bản chất. Phong trào neo-Tea-Party xuất thân từ Đảng Dân Chủ, Đảng Cộng Hòa và những cử tri phi liên kết. Mục tiêu chủ yếu của họ là: một ngân sách cân bằng, chính phủ nhỏ, thuế thấp hơn, quyền hạn tiểu bang và an ninh quốc gia hoàn toàn ngược hẳn với những khái niệm của Obama về đại chính phủ, nợ núi, can thiệp của chính phủ nhiều hơn vào đời sống của người công nhân bình thường và hiệu năng suy giảm của quân đội Hoa Kỳ.
    Phần lớn báo chí đang loan truyền thông tin thất thiệt về những mục tiêu của phong trào neo-Tea-Party thay vì tường thuật về cấu trúc chính của các nhóm neo-Tea-Party đang hoạt động ở thủ đô nhằm cho thấy những lo ngại của họ về một chính phủ đang đào thoát. Những tổ chức chống neo-Tea-Party cài đặt một số tên lưu manh để gây rối và trương những biểu ngữ hạ cấp để bêu xấu neo-Tea-Party. Báo chí chỉ trưng lên những tên lưu manh nầy và những hành động của chúng cho công chúng Hoa Kỳ thấy để họ có một ấn tượng xấu về toàn bộneo-Tea-Party. Đó là âm mưu điển hình của công đoàn – phá hoại bằng ám sát và đe dọa. Mỗi ngày càng có nhiều người hơn muốn bịt tai trước cáo giác của truyền thông đại chúng và đang đi tìm những kênh thông tin tự do hiếm hoi cũng như thông tin trên mạng. Cái mệnh danh là tự do báo chí đã bị mua đứt và được chi trả bởi đám chính phủ toàn cầu nên không một ai có thể nghe được sự thật từ bọn chúng trong tương lai.

    (…………………………………..)

    Đỉnh Sóng

    – nguon
  4. Lộ đồ Bắc thuộc

    (Chinese Subjugation Road Map)

    zzzzz-m1

    Từ gần bốn thập niên nay, khi nói đến Đảng Cộng sản VN, nhiều người thường lặp đi lặp lại câu nói:

    “Theo Tàu thì mất nước; theo Mỹ thì mất đảng.”

    Lối suy nghĩ nầy biểu hiện những mặt nhận thức thiếu sót nghiêm trọng về bang giao quốc tế cận/hiện đại và thực chất của Chiến tranh VN.

    Đây là đôi mắt của một nhà tu hành hay của một chính trị gia?

    zzzzz-m2
    Có gì tương đồng giữa màu cờ và màu áo?
    zzzzz-m3

    Phát biểu đó mặc nhiên dựa trên một tiền đề sai lạc, theo đó Mỹ và Trung Quốc (TQ) ở trong thế đối chân (antipode). Thế đối chân nầy chỉ có thực trước Hiệp Định Paris. Làm sao có thế “đối chân” hay “đối đầu” khi đám tai phiệt Mỹ/Do Thái đang mạn nồng chăn gối với đám chóp bu Trung Nam Hãi? Đám tài phiệt siêu quyền lực nầy muốn là trời muốn. Làm sao có thế “đối chân” hay “đối đầu” khi chỉ tiền lãi nợ mà Mỹ trả cho TQ  mỗi năm cũng thừa sức đài thọ toàn bộ ngân sách quốc phòng của nước nầy? Đó là chưa kể núi nợ khổng lồ mà Chú Sam đã lỡ vay của tên trọc phú Phương Đông nầy. Tuy nhiên, sau khi hiệp định nầy được ký kết, Mỹ và TQ đã trở thành những “đối tác kinh tế,” nghĩa là không còn ở thế đối chân nữa. Tệ hại hơn thế, hai tay chơi nầy đã có mưu đồ phân chia quyền lực trên thế giới trên lưng của những nước nhược tiểu. Nạn nhân điển hình của trò chơi nầy là Việt Nam Cộng Hòa, hay rộng hơn là toàn bộ Việt Nam đã bị Mỹ bán đứng cho TQ qua những mật ước giữa Kissinger và Chu Ân Lai, với sự khuất phục của Đảng Cộng Sản VN. Bản đồ hình Lưỡi Bò không thể có nếu không có sự thỏa thuận ngấm ngầm của Mỹ. Khi họp thượng đỉnh tại Hoa Kỳ ngày 8 tháng 6 năm 2013,Tập Cẩm Bình đã ngang nhiên tuyên bố với Barack Obama: “Thái Bình Dương mênh mông đủ chỗ cho hai nước lớn Hoa Kỳ và Trung Quốc”.  Mỹ và TQ không những đồng lõa trong vấn đề Biển Đông và Việt Nam mà có thể họ còn đồng lõa trong những vấn đề Tây Tạng, Tân Cương, Miến Điện, v.v. Ngay cả Đạt Lai Lạt Ma cũng có thể chỉ là con cờ của Mỹ và TQ. [Trước khi Thế Vận Hội Bắc Kinh khai mạc, trong khi người dân Tây Tạng xuống đường tự thiếu để tranh đấu thì Đạt Lai Lạt Ma ngồi vào “thương thuyết” với Bắc Kinh và lên tiếng chỉ trích những người tự thiêu hy sinh cho Tây Tạng. Động thái đó chăng khác nào dùng vòi rồng xịt nước vào ngọn lửa đấu tranh của người dân Tây Tạng yêu nước. Trong khi Thánh Gandhi và Dr. Martin Luther King vận dụng đâu tranh bất bạo động để giải phóng những người bị áp bức thì Đạt Lai Lạt Ma dùng chiêu bài bất bạo động để thui chột và can ngăn ý chí đấu tranh của người Tây Tạng yêu nước. Ông rao giảng chủ trương bất bạo động và thuyết từ bi hỉ xả không đúng nghĩa, không đúng cách, không đúng chỗ, và không đúng lúc.] Thánh Gandhi không chỉ dùng nước bọt để giúp giải phóng Ân Độ. Martin Luther KIng không chỉ dùng nước bọt để giúp giải phóng người da đen. Lời nói, dù bóng bẫy khoa ngôn đến đâu, cũng chỉ là lời theo gió bay đi nếu không có hành động. Ngôn từ bóng bẫy nhiều khi chỉ là liều thuốc ngủ nếu không có hành động. Nếu không thực sự có lòng nhân ái và yêu dân tộc của một kẻ tu hành đích thực như Thánh Gandhi thì những lời rao giảng kia chung quy chỉ là liều thuốc an thần biến dân tộc Tây Tạng thành ngọn cỏ gió đùa trước bạo lực xâm lăng của Nhà Hán.

    Mọi chuyện liên quan đến Việt Nam dường như đã được an bài và đi theo một lộ đồ (road map) bắc thuộc được thiết kế giữa ba tay chơi Mỹ, Tàu và ĐCSVN nhằm từng bước đưa Việt Nam vào thời kỳ bắc thuộc lần thứ năm. ĐCSVN chỉ là con cờ của Mỹ và TQ, hay đúng hơn là một tập đoàn Thái Thú mới, từng bước thực thi những mật ước nhượng đất, nhượng biển cho Bắc Kinh, sau khi đầu hàng những đợt không tập đẫm máu bằng B52 của Mỹ ở Miền Bắc. Trong một bài viết về tình hình VN, Giáo Sư Nguyễn Xuân Vinh cho biết,

    “Từ ngày Việt Minh cướp chính quyền, và trong suốt thời gian chống Pháp, và sau này trong cuộc tấn công để cưỡng chiếm miền Nam, Việt cộng đã lệ thuộc hoàn toàn vào Hoa Lục, với sự chỉ đạo trực tiếp của Trung cộng. Tới thời gian hiện tại, mọi chỉ thị của Bắc Kinh đang được âm thầm thực hiện, đều theo kế hoạch làm biến toàn thể VN thành một bộ phận của TQ. Đất nước đang bị Cộng Sản Hà Nội giao hoàn toàn cho Bắc Kinh quyết định. Các rừng đầu nguồn, từ Bắc chí Nam đã cho quân Trung cộng âm thầm chiếm đóng trong kế hoạch cho thuê rừng đầu nguồn dài hạn 50 năm. Các làng TQ mọc lên khắp nơi tại VN cũng như kế hoạch khai thác Bô Xít tại cao nguyên Gia Rai và các công trình trúng thầu xây cất nhà máy ở khắp nước mà công nhân được tuyển dụng tại TQ, và khí cụ được chuyển sang từ phương Bắc. Việt cộng đã bị ép buộc phải bỏ chiếu khán nhập cảnh cho Trung cộng và điều này làm cho cuộc di dân TQ tràn ngập sang VN. Tại VN, người dân bị cướp đoạt mọi quyền tự do nên cho đến nay không có một cuộc kiểm tra thống kê chính thức để biết kế hoạch kiểm soát và Hán hoá VN đã tiến hành đến mức độ nào hay đã vượt quá mức báo động như đã lên tới 40% xẩy ra trước đây ở Miến Điện.”

    Câu nói “Theo Tàu thì mất nước; theo Mỹ thì mất đảng” còn cho thấy nhản quan sai lầm về bản chất con buôn đa trá của Mỹ với một đường lối ngoại giao ăn đong, vụ lợi và thời cơ. Theo nhản quan đó, Mỹ được giả định là thế lực thù nghịch của ĐCSVN. Không đúng thế. Chúng ta đã nhận thấy một sự thực phũ phàng với một tổng thống Mỹ không ngớt lời ca tụng cô đào phản chiến Jane Fonda, không ngớt lời ca tụng Henry Kissinger, tên tội đồ đã bán đứng Hoàng Sa, Miền Nam, và sau đó toàn bộ Việt Nam cho TQ, không ngớt lờisuy tôn Hồ Chí Minh. Chúng ta đã nhận thấy một sự thực phũ phàng với một nhân vật phản chiến, thân cộng, và trù dập vấn đề nhân quyền về VN đang đứng đầu Bộ Ngoại Giao của Mỹ. Khi bổ nhiệm nhân vật nầy vào chúc ngoại trưởng Mỹ, Obama đã tạt một gáo nước lạnh vào mặt cộng đồng người Việt tỵ nạn khắp nơi trên thế giới. Với chính sách nầy, Mỹ là nghi can hàng đầu âm mưu hà hơi tiếp sức nhắm duy trì và bồi dưỡng chế độ toàn trị tại VN, một bộ máy đàn áp dã man nhất thời đại chống lại những người dân yêu nước của một quốc gia vốn bị Mỹ phản bội. Nếu không có sự hà hơi tiếp sức của Mỹ thì chế độ toàn trị của Hà Nội khó lòng mà kiêu căng, hung hãn và độc ác như hiện nay. ĐCSVN không có sự lựa chọn theo Tàu hay theo Mỹ, mà họ bị buộc phải theo cả hai, phục tùng mệnh lệnh của cả hai trong ván cờ phân chia thế giới. Chuyến đi của Trương Tấn Sang đến Mỹ vào cuối tháng 6/2013 vừa rồi là một bằng chứng cụ thể của sự phối hợp nhịp nhàng nhưng kín đáo giữa hai chủ và một tớ: Bắc Kinh và Washington một bên và ĐCSVN một bên. Chúng ta có thể chia xẻ nhận định của GS Vinh, theo đó,

    Trong chuyến sang Bắc Kinh của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang những ngày 19-21 tháng 6 năm 2013 để nhận chỉ thị của Tập Cận Bình trước khi sang Hoa Kỳ theo lời mời của Tồng thống Barack Obama, TQ và VN đã ra một Tuyên Bố chung. Những ai đọc bản thông báo này đều thầy ngay là một bản dịch sang tiếng Việt từ bản chính viết bằng Hoa ngữ. Nội dung chỉ là toàn thể mọi bàn thảo nào trong tương lai đều phải dựa trên phương châm “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” với tinh thần “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”. Đặc biệt là sáu tỉnh trên đất Việt ở sát biên giới là Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh đã bị Trung cộng chiếm đóng trong trận chiến năm 1979 thì nay Trung cộng đề nghị là có sự hợp tác điều hành chung ở những nơi đó và còn cộng thêm Điện Biên Phủ, không phải là tỉnh biên giới vì nằm sâu trong nước Việt.

    Cò mồi Hạnh Dương của Obama thì cố đánh lừa dư luận bằng cách cho rằng chuyến đi của Sang là hoàn toàn không chuẩn bị và Mỹ không có ý định đón Sang vào lúc đó. Đúng là nói láo như vẹm. ĐCSVN chỉ là một bộ máy bù nhìn đắc lực đang đàn áp người dân để giúp Bắc Kinh tiến hành Thời kỳ Bắc thuộc lần thứ năm, tái tục giấc mộng đại Hán đã kéo dài hàng ngàn năm. Theo Tàu hay theo Mỹ cũng giống nhau thôi: dứt khoát mất nước mà không mất đảng. Do đó câu nói trên nên được kịp thời sửa đổi là như thế nầy:

    “Theo Mỹ hay theo Tàu cũng đều mất nước cả; duy có ĐCSVN là không mất.”

    Chúng tôi xin trích tiếp một đoạn văn khác của GS Nguyễn Xuân Vinh:

    “Trung cộng nay đã dùng chính trị và kinh tế để ép được Việt cộng phải hàng phục, dâng đất, dâng biển và trên thực tế đã chiếm trọn được toàn thể VN bằng những biện pháp di dân, lũng đoạn kinh tế và mua chuộc lãnh đạo. Khởi đầu trong kế hoạch di dân để thành lập “đạo quân thứ Năm” trên toàn quốc, Trung cộng đã cho quân sang làm thường dân tiến qua biên giới, từ xa lộ huyết mạch Hoa Nam nối với Đường Trường Sơn vào tới Bình Dương nơi lập ra Đông Đô Đại Phố là một trung tâm kinh tế lớn với kiến trúc hoàn toàn đặctrưng văn hoá Hán Tộc. Các làng TQ đã mọc theo, người TQ tự làm, tự quản không tiếp xúc với người Việt mà chỉ xử dụng Đường Trường Sơn qua xa lộ Hoa Nam để về nước. Các kế hoạch bố trí quân sự của Trung cộng đã làm cho một số cấp chỉ huy quân sự Việt cộng nay nghỉ hưu phải lo ngại. Một vài người đã lên tiếng về kế hoạch trồng rừng và chiếm lĩnh cao điểm, trá hình là trung tâm khai thác Bô Xit, thuộc vào chiến lược quân sự của Trung cộng, nhưng không được chú ý. Các lực lượng tranh đấu cho nhân quyền trong nước, đang từng bước đòi hỏi sự bạch hoá này cho toàn dân được biết, nhưng đang bị đàn áp khốc liệt. “

    Cộng đồng người Việt tỵ nạn  nên phân định quyền lợi nào là của nhân dân Hoa Kỳ và quyền lợi nào là của đám tài phiệt Mỹ-Do Thái tham lam đê tiện. Phần lớn cộng đồng nầy còn mang quốc tịch VN. Với tư cách là những công dân Việt Nam, chúng ta chỉ biết ơn những người thọ thuế Hoa Kỳ, những công dân Hoa Kỳ lương thiện đã cưu mang chúng ta trên phần đất tự do nầy; nhưng, với tư cách là những công dân Hoa Kỳ, chúng ta phải mạnh dạn điểm mặt bọn lái buôn chính trị đã và đang trực tiếp hay gián tiếp bán đứng tổ quốc VN cho Tàu. Chúng ta nên mạnh dạn đòi hỏi chính phủ hiện nay của Mỹ hãy chấm dứt hà hơi tiếp sức, đồng lõa, hay khuyến khích bộ máy đàn áp hiện hành tại Việt Nam. Chúng ta cũng không ngần ngại yêu cầu chính phủ Mỹ trực tiếp đứng ra nhận trách nhiệm về thảm kịch chính trị ngày nay của dân tộc VN. Giới lập pháp và hành pháp Hoa Kỳ phải thể hiện ít nhất một cử chỉ hay hành động nào đó để trả lời trước lịch sử. Lời cảm ơn của chúng ta phải gởi đến đúng chỗ và đúng người. Chúng ta không thể cám ơn những đám tội đồ quốc tế. Món nợ của cộng đồng người Việt tỵ nạn đối với nhân dân Hoa Kỳ là có thực; nhưng món nợ nầy có thể trả được bằng những đóng góp, nều không phải của thế hệ thứ nhất thì dứt khoát của những thế hệ tiếp theo của những người tỵ nạn. Ngược lại, món nợ của chính phủ Mỹ đối với dân tộc VN còn lớn đến triệu lần và không biết đến bao giờ mới trả được. Nợ cũ chưa trả xong trong khi nợ mới lại tiếp tục chồng lên với sự dung túng và đồng lõa với bọn ác, với bộ máy tay sai chỉ tồn tại để đàn áp và bóc lột dân tộc nầy. Những gì của César hãy trả lại cho César. Chính phủ Mỹ phải trả lại nền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ cho dân tộc VN. Mỹ có thể ngoảnh mặt trước lương tâm của họ nhưng không thể mãi mãi ngoảnh mặt trước lịch sử. Bao lâu con Đại Bàn còn hiện diện trong Tòa Bạch Ốc bấy lâu những chính trị gia Hoa Kỳ còn được nhắc nhở IN GOD WE TRUST, và không có Thượng Đế nào chấp nhận sự phản bội và quịt nợ.

    Chúng ta không thể tiếp tục xem chế độ Hà Nội như là một chính thể có chủ quyền chính trị mặc dù chính thể đó được Mỹ và các nước khác trên thế giới thừa nhận như một quốc gia độc lập. Bọn bồi bút thân cộng cứ bám vào tư cách pháp nhân chính trị ảo nầy của Hà Nội để trực tiếp hay gián tiếp đánh bóng một chế độ bù nhìn với những lời lẽ đao to búa lớn như CHXHCNVN, “quan hệ đối tác chiến lược” hay “hợp tác toàn diện” nhằm khiến người đọc tin đó là một “nhà nước pháp quyền độc lập” có quyền lựa chọn chính trị như bất kỳ quốc gia nào khác. Quan hệ Hà Nội – Washington và Hà Nội – Bắc Kinh là loại quan hệ chủ tớ, thế thôi. ĐSCSVN chỉ đóng vai đầy tớ trong kịch bản Kissinger. Bọn bồi bút trong các ban Việt Ngữ của VOA, BBC, RFA, RFI v.v. có đánh bóng chế độ Hà Nội cho lắm thì cũng chẳng khác nào đánh bóng một “Công Chúa Lọ Lem.” Bài viết hay “phỏng vấn” nào của đám nầy mà không nhắc đến các tay phù thủy như Carl Thayer hay Nguyễn Mạnh Hùng thì bài đó kể như bị xem là “không đạt yêu cầu.” Đám “học giả” nầy dứt khoát hiện thân cho giai cấp “Thương nữ bất tri vong quốc hận, Cách Giang do xướng Hậu Đình Hoa.” Họ cố tình đưa ra những “bình luận ngây ngô vô tội vạ” nhằm lập lờ đánh lận con đen. Đó là hệ thống toàn cầu nhằm bưng tai bịt mắt thế giới trước thảm họa bán nước và mất nước của dân tộc VN, trước bản chất tay sai và tội đồ của ĐCSVN.

    Cuộc chiến tranh ngắn ngày năm 1979 giữa TQ và VN có thể chỉ là một dàn dựng tinh vi giữa Mỹ, Tàu, và ĐCSVN, như một bước của LỘ ĐỒ BẮC THUỘC. Với ĐCSVN, không có thủ đoạn nào là không thể tiến hành được, miễn sao duy trì được sự tồn tại của đảng nầy bằng cách triệt để cúi đầu trước Thiên Triều. Trương Tấn Sang và một số nhân vật chóp bu  của Bắc Bộ Phủ rất có thể là những tên người Tàu chính cống được Bắc Kinh cấy vào hàng ngũ ĐCSVN từ nhiều thập niên trước.

    Nói theo lời của Mark Steyn, có thể thế giới đang trên đường đi đến điểm hẹn với định mệnh, nên đám tội đồ đang có mặt khắp nơi. Từ thời Nixon/Kissinger trở về sau, Hoa Kỳ đã hành xử như một con sâu róm phải nọc tò vò, chỉ sống để chờ chết rồi mang theo những món nợ không bao giờ trả nỗi. Con tò vò đó là hệ thống siêu quyền lực quốc tế gồm phần lớn những chủ ngân hàng cực lớn của Anh, Mỹ, Do Thái, và bây giờ thêm tên trọc phú TQ. Con tò vò đó là thủ phạm đã làm tha hóa Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ và biến quốc gia nầy thành một tên lái buôn hèn hạ, một thực thể chính trị chỉ biết làm thuê trả nợ, chà đạp những giá trị từng được các Nhà Lập Quốc Hoa Kỳ đề cao trong Hiến Pháp. Quả thực chẳng phải lộng ngôn khi nói rằng quốc hội Mỹ ngày nay cũng chỉ gồm những tay đại gia chỉ biết chăm sóc những đặc quyền đặc lợi của cá nhân, tai thì bít với máy nghe nhạc phản chiến của Jane Fonda, Joan Baez, mắt thì đeo kính lọc màu chỉ để thấy màu xanh của tấm dollar hay màu đỏ của những lá cờ máu, miệng ba hoa những ngôn từ đao to búa lớn, cố làm cho nhân loại tin rằng Hoa Kỳ hãy còn là mẫu mực khả kính của thế giới, trong khi đó chỉ là “cứt bò.” Hãy xem Thượng Viện Mỹ đang làm gì khi, từ bao năm nay, họ cố tình làm ngơ Dự Luật Nhân Quyền VN? Phải chăng họ đang đi trong buổi hoàng hôn nhá nhem của cõi chết cận kề, không còn ý thức về thiện ác? Tại sao chúng ta cứ tiếp tục “thỉnh nguyện” hay “vận động” để họ quan tâm đến nhân quyền và tự do dân chủ ở VN? Tại sao chúng ta không đưa hồ sơ Chiến Tranh VN ra một tòa án quốc tế, dù biết rằng những định chế quốc tế lớn như tòa án quốc tế, Liên Hiệp Quốc, Hội Đồng Bảo An LHQ đang nằm trong tay của đám tội đồ hay đang bị khống chế bởi những đám tội đồ. Tuy vậy, ít ra chúng ta cũng đánh thức những người còn chút lương tri chính trị và lương tri đạo đức, còn hơn là cứ phải tiếp tục gõ cửa những kẻ vừa câm, vừa điếc lại vừa mù. Thực ra họ không câm khi cần nói láo, không điếc khi cần nghe đến tiền, và không mù khi cần thấy miếng ăn Quả thực chẳng phải lộng ngôn khi nói rằng quốc hội Mỹ ngày nay chỉ gồm những tay đại gia như John Kerry,  chỉ biết chăm sóc những đặc quyền đặc lợi cá nhân, tai thì bít với máy nghe nhạc phản chiến của Jane Fonda, Joan Baez, mắt thì đeo kính lọc màu chỉ để thấy màu xanh của tấm dollar hay màu đỏ của những lá cờ máu, miệng ba hoa những ngôn từ đao to búa lớn, cố làm cho nhân loại tin rằng Hoa Kỳ hãy còn là mẫu mực khả kính của thế giới, trong khi đó chỉ là “cứt bò.” Hãy xem Thượng Viện Mỹ đang làm gì khi, từ bao nhiêu năm nay, cũng như John Kerry, họ cố tình làm ngơ Dự Luật Nhân Quyền VN? Phải chăng họ đang đi trong buổi hoàng hôn nhá nhem của cõi chết cận kề, không còn ý thức về thiện ác? Tại sao chúng ta cứ tiếp tục “thỉnh nguyện” hay “vận động” để họ quan tâm đến nhân quyền và tự do dân chủ ở VN? Tại sao chúng ta không đưa hồ sơ Chiến Tranh VN ra một tòa án quốc tế, dù biết rằng những định chế quốc tế lớn như tòa án quốc tế, Liên Hiệp Quốc, Hội Đồng Bảo An LHQ đang nằm trong tay của đám tội đồ hay đang bị khống chế bởi những đám tội đồ. Tuy vậy, ít ra chúng ta cũng đánh thức những người còn chút lương tri chính trị và lương tri đạo đức, còn hơn là cứ phải tiếp tục gõ cửa những kẻ vừa câm, vừa điếc lại vừa mù. Thực ra họ không câm khi cần nói láo, không điếc khi cần nghe đến tiền, và không mù khi cần thấy miếng ăn. Nếu có ai nghĩ rằng làm thế chẳng khác nào “con cóc mà kiện ông trời,” thì xin vui lòng nhớ câu nói dân gian “Cóc cắn trời gầm không hả.” Đó có thể là một nguyền rủa (curse) mà nước Mỹ sẽ phải gánh chịu bao lâu nền độc lập của Việt Nam chưa được khôi phục. Nếu không làm được gì để người Mỹ ý thức được lời nguyền rủa đó thì ít ra chúng ta cũng đừng tiếp tục im lặng ngồi nhìn thảm họa mất nước của dân tộc Việt Nam bị lịch sử từng bước đẩy sâu và bóng tối. Không nhất thiết trời lúc nào cũng tượng trưng cho điều thiện và lúc nào cũng đứng về phía những người có lương tri và cóc không nhất thiết lúc nào cũng tượng trưng cho sự bất lực hay những giá trị tiêu cực trong một quan hệ thực sự nhân bản. Giữa cóc và trời dứt khoát phải có một trật tự của một loại công lý bất thành văn nhưng vượt trên mọi công lý của loài người được hiểu theo nghĩa là hợp quần của cả kẻ xấu lẫn người tốt, của cả đám tội đồ lẫn những người lương thiện đang bị nhiễu hại.

    Chúng ta sẽ đưa hồ sơ đó ra tòa án nhân loại với những tội danh:

    – Chính quyền Nixon-Kissinger đã đồng lõa với những quốc gia mà thời đó Hoa Kỳ chính thức xem như những kẻ thù của nước Mỹ, của Việt Nam Cộng Hòa, và của thế giới tự do;

    – Chính quyền Nixon-Kissinger đã phản bội đồng minh và âm thầm bán đứng Hoàng Sa, Miền Nam VN, và toàn bộ đất nước VN cho kẻ thù đó, tức là TQ, để đổi lấy những đặc quyền đặc lợi về kinh tế trên thị trường bao la và nghèo đói của quốc gia cộng sản nầy;

    – Chính quyền Nixon-Kissinger phạm tội ác chiến tranh với những đợt không tập đẫm máu bằng B52 ở Miền Bắc. Những trận không tập nầy không nằm trong nỗ lực chấm dứt chiến tranh, vì bấy giờ Mỹ đã quyết định bỏ rơi Miền Nam. Đúng hơn, những trận không tập đó được thực hiện theo đòi hỏi của Bắc Kinh nhằm buộc Đảng Cộng Sản VN đầu hàng TQ với những mật ước nhượng đất nhượng biển và nhượng toàn bộ nền độc lập của dân tộc VN cho TQ. Như thế, Mỹ đã dùng sinh mạng của những người dân vô tội ở Miền Bắc để mưu đồ phục vu những quyền lợi kinh tế tham lam và ích kỷ của một thiểu số tài phiệt con buôn bất lương và đê tiện;

    – Chính phủ Mỹ ngày nay có trách nhiệm phải trả lại cho dân tộc VN những gì mà chính quyền Mỹ trước kia đã cướp đi và bán cho kẻ thù của chính họ.

    – Chính phủ Mỹ ngày nay có trách nhiệm châm dứt sự cấu kết và đồng lõa đầy tội ác với chế độ toàn trị phản nhân quyền và tự do dân chủ ở VN.

    – Quốc Hội Hoa Kỳ có trách nhiệm phải trả lời trước lịch sử về thảm trạng chính trị hiện nay của dân tộc VN;

    – Quốc Hội Hoa Kỳ có trách nhiệm phục hồi danh dự, những tổn thất và những mát của quân dân cán chính Miền Nam.

    Chúng tôi khẩn thiết kêu gọi các luật gia Hoa Kỳ, luật gia quốc tế, và luật gia Mỹ gốc Việt hãy giúp liệt kê đầu đủ những tội danh của hồ sơ chính trị nầy và có hành động thiết thực để đưa hồ sơ nầy ra trước công pháp quốc tế.

    Nhìn trở lại nước Mỹ ngày nay, hồi chuông báo tử dường như đang cận kề, và lịch sử cũng dường như đang hiện thực hóa lời tiên tri của Lê Nin:

    “Bọn tư bản sẽ bán cho chúng ta sợi dây và chúng ta sẽ dùng nó để treo cổ chúng.”

    (The capitalists will sell us the rope with which we will hang them).

    Chủ nghĩa tư bản không bán sợi dây đó mà ngụy thuyết duy lợi của Kissinger và các tập đoàn tài phiệt Mỹ/Do Thái đã bán sợi dây đó cho TQ và ngày nay TQ đem sợi dây đó bán lại cho Mỹ.  Dựa theo đó, các đồng chí TQ của Lenin ở Bắc Kinh có lẽ đã cải đổi phiên bản đó để mang lại hậu quả cay nghiệt hơn:

    Chúng ta (TQ) bán cho chúng (Mỹ) sợi dây, và ngồi nhìn chúng tự treo cổ lấy.

    Đối với những người còn quan tâm đến sự sống còn của đất nước VN, nhìn đâu đâu họ cũng thấy bóng tội đồ. Chúng và bọn tay sai đang chiếm cứ hầu hết không gian sống của nhân loại, trong đó phần lớn thế giới con người dường như đang ngủ cả; hầu như chẳng còn thế lực chính trị nào đáng kể đứng về phía họ. Cũng như Mỹ, tất cả dường như chỉ lo tất bật kiếm sống như một đám hành khất vô lương tri.

    Bao nhiêu thập niên đánh thuê cho Nga Tàu, ĐCSVN tưởng được chút bổng lộc nào dè lại phải mang cả giang sơn VN đem bán nhằm trả nợ chiến tranh để đổi lại món quà ô nhục “Đại thắng Mùa Xuân,” một gói bùa mê do Bắc Kinh tung ra để dễ bề cướp nước chúng ta.   Phần lớn những người trong nước dường như đang còn say sưa trong cơn mộng du “Đại thắng mùa xuân” đó, đâu biết rằng đó là một gói nọc độc do Bắc Kinh xử dụng từ cuối Chiến Tranh VN.

    Thôi thì đành mượn lời của Lý Đợi trong nhóm thơ Mở Miệng để nhắn nhủ với nhau:

    các ngươi tưởng mình là ai
    các ngươi trông chờ vào cái gì
    các người là hến chăng – sao im hơi thế?

    (Lý Đợi – Nhóm Thơ Mở Miệng)

    (………………)

    [Xin xem trọn tài liệu trên Nguyệt San Đỉnh Sóng Số#27]

    – Đỉnh Sóng

    – nguon

  5. Trung Quốc sẽ sụp đổ

    (The Coming Collapse of China – Gordon G. Chang)
    *

     zzzzz-m4

    Từ 1978 đến giữa thập niên 1990, Trung Quốc đã có được nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới, và có vẻ họ đang nghĩ cách thống trị Á Châu, và xa hơn thế, trong tương lai.  Nhưng trong cuốn The Coming Collapse of China, sau khi tập trung trên những sự kiện thay vì lý thuyết và nhìn vào những điều kiện phía sau những con số to lớn, Gordon Chang trình bày Cộng Hòa Nha Dân như một nghiên cứu về một tiềm năng hoang phí: “Nếu nhìn bên dưới bề mặt thì sẽ thấy một Trung Quốc yếu kém, một quốc gia đang suy thoái trong tầm dài và thậm chí đang trên bờ vực sụp đổ.  Những triệu chứng suy hoại đang được nhìn thấy khắp nơi.”  Đối với một quốc gia vốn luôn luôn có một cái nhìn xa về lịch sử, thời gian đang nhanh chóng hết.

    Vì không thể hoàn tất việc cải tổ của họ nên Trung Quốc đã duy trì một ảo tưởng về tiến bộ, nhưng trong thực tế, họ đã gây ra nhiều vấn đề hơn là những cơ hội cho những doanh gia tiềm năng và các nhà đầu tư ngoại quốc.  Vì cải tổ không đủ nhanh hay bao quát, Trung Quốc không có khả năng khai thác những lợi ích của công cuộc hiện đại hóa của họ hay bắt kịp về mặt kỹ thuật với phần lớn thế giới. Việc chính phủ cố duy trì những xí nghiệp quốc doanh không những khiến Trung Quốc mất khả năng cạnh tranh mà còn khiến cho những ngân hàng thất bại vì phải cho các xí nghiệp nầy vay tiền mà không lấy lại được.  Nạn thất nghiệp làn tràn, tham nhũng bên trong Đảng Cộng Sản, hàng triệu nông dân bất mãn, và thiếu lãnh đạo nói chung đang đe dọa ổn định chính trị. Đang Cộng Sản chỉ biết đàn áp nhưng không còn khả năng lãnh đạo, chỉ duy trì kiểm soát thông qua bạo lực và bản năng phục tùng của người dân.  Cùng lúc đó, những tệ đoan xã hội như cờ bạc, ma túy, đĩ điếm đã trở thành những vấn đề lớn lao.

    Bị kẹt giữa chủ nghĩa Cộng Sản và chủa nghĩa Tư Bản, Trung Quốc đang trôi dạt, vừa không muốn đi tới nhanh theo yêu cầu vừa không thể quay trở lại. Không ai rõ cái gì sẽ cản lối khi tên khổng lồ sụp đổ.

    Dù đã qua một thập niên, những tiên đoán của Gordon Chang vẫn còn giá trị.  TQ đã vượt trội các quốc gia khác vì đó là chiều lên của một siêu chu kỳ (upward supercycle) của ba thập niên, chủ yếu vì ba lý do.  Thứ nhất, chính sách chuyển biến “cải tổ và mở cửa” của Đặng Tiểu Bình, được tiến hành lần đầu tiên cuối thập niên 1970.  Thứ nhì, thời kỳ thay đổi của Đặng trùng hợp với sự kết thúc Chiến Tranh Lạnh, đưa đến việc bãi bỏ những hàng rào chính trị đối với thương mại quốc tế.  Thứ ba, tất cả những biến cố nầy xảy ra trong khi TQ đang hưởng lợi về mặt dân số, một kích thước phi thường trong lực lượng lao động. Một yếu tố tiêu cực khác đã giúp kéo dài sự tồn tại của TQ sau khi gia nhập Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới là những thủ đoạn lái buôn và vi phạm luật lệ của tổ chức nầy của họ. Sự tăng trưởng toàn cầu của hai thập niên vừa qua đã kết thúc năm 2008 khi những thị trường trên thế giới sụp đổ.  Những biến cố náo động của năm đó đã khiến kết thúc giai đoạn cực kỳ dễ dãi trong đó các quốc gia cố kết nạp TQ vào hệ thống quốc tế và đã khoan nhượng những chính sách lái buôn của họ. Tuy nhiên, bây giờ mọi quốc gia đều muốn xuất khẩu nhiều hơn và, trong một kỷ nguyên bảo hộ hay mậu dịch quản lý, TQ sẽ không thể xuất khẩu phương án làm giàu như họ đã làm trong cuộc khủng hoảng tài chánh Á Châu cuối thập niên 1990.  TQ bị lệ thuộc nhiều hơn vào mậu dịch thế giới so với những quốc gia khác, do đó sự xung đột mậu dịch – hay thậm chí giảm cầu trên toàn thế giới – sẽ gây thiệt hại cho họ nhiều hơn nước nào khác. Sự sụp đổ của Trung Quốc sẽ dứt khoát không tránh khỏi.

    nguon

  6. Nato và chiến lược phòng thủ mới

    *
    Thượng đỉnh NATO ở Warsaw 2016

    Trong mỗi cuộc hội nghị thượng đỉnh của NATO, thông báo khi kết thúc hội nghị đều nhấn mạnh các thành tích đạt được. Nhưng cuộc họp thượng đỉnh của NATO vừa diễn ra tại Warsaw Ba Lan (08 và 09 tháng bẩy) vừa qua, đã đạt được thành tích thực sự quan trọng, làm thay đổi chiến lược phòng thủ của khối quân sự hùng mạnh nhất hành tinh, với 28 quốc gia thành viên.

    Thượng đỉnh NATO họp tại Warsaw là một sự kiện chính trị quan trọng nhất của thế giới trong năm nay. Tham dự hội nghị có 61 đoàn đại biểu, 3 nghìn nhà ngoại giao. Đoàn đại biểu Mỹ đứng đầu với 300 thành viên, tiếp sau là đoàn của bộ chỉ huy NATO với 180 sỹ quan và viên chức, do tổng thư ký Jens Stoltenberg dẫn đầu. Tham dự thượng đỉnh có 18 tổng thống, 21 thủ tướng, 41 bộ trưởng bộ ngoại giao và 39 bộ trưởng bộ quốc phòng.

    Chuyển hướng phòng thủ

    Từ năm 2008, Nga tăng cường những hoạt động quân sự đối với các quốc gia láng giềng, tấn công Gruzia tháng 08-2008, sáp nhập bán đảo Crimea tháng 03-2014, tiếp tục hỗ trợ quân nổi dậy ở vùng Donbass và các vùng lãnh thổ dọc biên giới, gây tình trạng bất ổn cho Ukraina. Nga còn dùng dầu hỏa và khí đốt để chia rẽ sự thống nhất, đòan kết của NATO và bành trướng vùng ảnh hưởng tại trung và đông Âu… Những hoạt động trên của Nga làm cho các quốc gia trong khối NATO, nhất là các quốc gia ở biên giới phía đông của NATO rất lo ngại. Các thành viên, các nhà hoạch định chính sách phòng thủ của NATO cân nhắc, tiếp tục con đường đối thoại hay tăng cường lực lượng phòng thủ ở biên giới phía đông. Họ đi đế kết luận, cần ngăn chặn ngay các hành động xâm lược hung hăng của Putin.

    Lần đầu tiên trong lịch sử, thượng đỉnh NATO Warsaw 2016 đã biểu lộ rõ ràng nhất sự đoàn kết và thống nhất ý chí của các thành viên. Trong đối sách với nước Nga, đường lối đối thọai được thay bằng ngăn chặn, thói „bắt nạt” phải bị „răn đe”. Vẫn tiếp tục có đối thoại, nhưng phải dựa trên tôn trọng luật pháp quốc tế. Nước Nga từ một đối tác trở thành mối đe dọa an ninh của các thành viên NATO.

    Việc tăng cường lực lượng phòng thủ cho các quốc gia thành viên tại biên giới phía đông, chứng tỏ NATO đã cọi trọng an ninh của các quốc gia thành viên cũ cũng như mới, thúc đẩy sự đoàn kết, thống nhất của tất cả các thành viên.
    Bảng so sánh lực lượng quân sự giữa NATO và Nga
    NATO                                                                                     NGA
    3,5 triệu                 Quân thường trực                            750.000
    2,5 triệu                 Quân dự bị                                        2,5 triệu
    5.800                     Máy bay                                             1.300
    10.000                   Xe tăng                                              3.000
    282                         Tầu chiến                                           33
    150                         Tầu ngầm                                           60
    8.000                    Đầu đạn hạt nhân                             8.500

     

    Những quyết định quan trọng nhất 

    Hội nghị thượng đỉnh Warsaw 2016 đã quyết định những vấn đề quan trọng sau đây :

    1- Thiết lập 4 tiểu đoàn đóng tại Ba Lan và ba nước vùng biển Ban Tích với thời gian không hạn định. Sỹ quan và chiến sỹ sẽ phục luân phiên với thời hạn 6 tháng.

    Tiểu đoàn đóng tại Ba Lan dưới sự chỉ huy của các sỹ quan Mỹ, biên chế các đơn vị cấp dưới lấy từ quân đội Anh, Rumani và Kanada.Tiểu đoàn đóng tại Litwa do các sỹ quan Đức chỉ huy với các đơn vị cấp dưới từ Bỉ, Hà Lan, Luksembur, Pháp và Na Uy. Tiểu đoàn đóng tại Latvia do các sỹ quan Kanada chỉ huy với các đơn vị cấp dưới từ Ba Lan, Bồ Đào Nha, Pháp và Ý. Tiểu đoàn tại Estonia do các sỹ quan Anh chỉ huy với các đơn vị cấp dưới từ Đan Mạch….
    Bộ chỉ huy của các tiểu đoàn trên đây đều được trang bị dự phòng, để khi cần có thể nâng cấp thành sư đoàn

    2- Một lữ đoàn của NATO sẽ được thành lập tại Rumani trên cơ sở đóng góp quân lực của quân đội Rumani và Ba Lan.

    3- NATO sẽ tăng quân số của lực lượng phản ứng nhanh lên 40 nghìn quân (gấp 3 lần hiện nay). Lực lượng này sẽ được chuyển quân đến các nơi có xung đột trong thời gian nhanh chóng. Nó cũng có thể được điều động đến phía đông và phía nam, nếu biên giới của NATO bị quân của Nhà Nước Hồi Giáo đe dọa.

    4- Bước đầu chuẩn bị thành lập bộ chỉ huy của hệ thống lá chắn chống tên lửa. Hệ thống này bao gồm dàn tên lửa có điều khiển để chống tên lửa, được lắp đặt tại Rumani và Ba Lan, dàn rada tại Thổ Nhĩ Kỳ, các bệ phóng tên lửa đặt trên tầu thủy.

    5- Không gian ảo được công nhận là không gian hành động. Những hoạt động tấn công vào mạng lưới tin học của các quốc gia thành viên, được coi như tấn công vào liên minh. NATO sẽ nghiên cứu, phối hợp các cơ sở công nghiệp quốc phòng tìm ra thủ phạm, cung cấp thông tin, khắc phục hậu quả và trừng phạt tội phạm.

    6- Để bảo vệ không phận của Thổ Nhĩ Kỳ, NATO đã đưa đến đó loại máy bay-rada AWACS và lắp đặt hệ thống phòng không Patriot. AWACS sẽ bay trên lãnh thổ Thổ Nhĩ Kỳ hay trên không phận quốc tế, thí dụ như trên biển Địa Trung Hải để theo dõi không phận các quốc gia phía nam của NATO.

    7- NATO đã ký kết thỏa thuận với với Cộng Đồng Châu Âu (EU). Lần đầu tiên hai tổ chức sẽ hợp tác đầy đủ trong các hoạt động bảo vệ an ninh. Thí dụ kết hợp chiến dịch trên biển Sophia với đội tầu Sea Guardian để chống nạn buôn người.

    8- NATO tiếp tục tham gia cuộc chiến chống khủng bố, chủ yếu là chống Nhà Nước Hồi Giáo qua việc huấn luyện các đơn vị chống khủng bố của Irak (trung tâm huấn luyện đặt tại Bagdad), Jordani,Tunezja và Libia.

    9- NATO xác định rằng, Gruzia đang chuẩn bị tốt các bước trên đường đến với NATO.

    10- NATO giúp đỡ Ukraina với một chương trình đặc biệt, gồm 40 dự án để đưa quân đội Ukraina đạt đến các chuẩn mực của quân đội NATO. NATO phản đối hành động xâm lược đối với Ukraina và nhấn mạnh việc Nga sáp nhập bán đảo Crimea là trái với luật pháp.

    NATO và bài học an ninh cho các nước nhỏ

    NATO (North Atlantic Treaty Organisation) là một tổ chức chính trị – quân sự, được thành lập ngày 04-04-1959 tại Washington, trên cơ sở hiệp ước được ký kết của 12 quốc gia sáng lập (Bỉ, Đan Mạch, Pháp, Hà Lan, Islandia, Kanada, Luksembur, Na Uy, Bồ Đào Nha, Mỹ, Anh và Ý). Các quốc gia ký kết thống nhất nhiệm vụ chung bảo vệ các giá trị cuả tự do, dân chủ và luật pháp. Điều 5 của hiệp ước nhấn mạnh :”Tấn công quân sự vào một hoặc một số nước của NATO ở châu Âu hoặc Bắc Mỹ, sẽ được coi là tấn công vào toàn khối”.

    NATO được thành lập do cuộc chiến tranh lạnh giữa các nước phương Tây và Liên Bang Xô Viết. Mục đích là bảo vệ các nước phương Tây trước sự đe dọa vũ trang của chủ nghĩa cộng sản.

    Từ khi được thành lập đến nay, NATO đã qua 5 lần phát triển mở rộng. Với 28 thành viên, NATO trở thành liên minh quân sự vững mạnh nhất, bảo vệ an ninh cho các quốc gia thành viên, đóng góp cho hòa bình của thế giới.

    Sau khi Liên Xô tan rã (1991), các nước vùng biển Ban Tích và đông Âu thoát khỏi sự khống chế của Liên Bang Xô Viết và trở thành những quốc gia tự do, dân chủ. Những trí thức đối lập ưu tú trở thành những nhà lãnh đạo của các quốc gia kể trên, họ đã nhanh chóng xác định, rằng đất nước không thể có an ninh nếu đơn độc bên cạnh một nước Nga hiếu chiến, một nước Nga luôn có tư tưởng bành trướng, xâm lược đối với các nước láng giềng nhỏ và yếu.

    Ba Lan là một thí dụ sống động về sự lựa chọn thời cơ và biện pháp đảm bảo an ninh quốc phòng. Tháng 06 – 1989, Công Đoàn Đoàn Kết đã chiến thắng trong cuộc bầu cử dân chủ đầu tiên sau gần nửa thế kỷ cầm quyền của cộng sản, Ba Lan trở thành một quốc gia độc lập, tự do, dân chủ. Nhưng khối quân sự Warsaw mà Ba Lan là một thành viên vẫn còn tồn tại, hàng chục vạn quân Liên Xô (không ai biết chính xác số lượng, người ta chỉ biết có thời kỳ cao điểm lên đến 400,000) đóng trên 65 địa điểm dải khắp Ba Lan, với 13 sân bay quân sự, căn cứ hải quân và nhiều kho tàng vũ khí, kể cả đầu đạn hạt nhân chiến thuật. Chính phủ và tổng thống Lech Walesa đã đặt việc nhanh chóng đàm phán để quân đội liên xô rút khỏi lãnh thổ Ba Lan là mục tiêu ngoại giao hàng đầu. Theo sự thỏa thuận giữa hai bên, những người lính Liên Xô đầu tiên rời Ba Lan tháng 12-1990. Năm 1991 Liên Xô tan rã, kèm theo sự giải thể khối quân sự Warsaw, Ba Lan đã đề nghị Nga (thay thế Liên Xô) đẩy nhanh tốc độ rút quân. Ngày 17-09-1993, đơn vị cuối cùng của quân đội Liên Xô đã rời khỏi Ba Lan trước sự chứng kiến của tổng thống Ba Lan Lech Walesa.

    Mục tiêu nhanh chóng ra nhập NATO đã được các chính phủ kế tiếp nhau, do dân bầu chọn coi là nhiệm vụ hàng đầu. Năm 1992, lần đầu tiên tổng thư ký NATO Manfred Worner thăm chính thức Ba Lan, ông tuyên bố cánh cửa NATO mở để đón tiếp Ba Lan. Ngày 12-02-1994 Ba Lan trở thành đối tác của NATO, đồng thời tiếp nhận các điều kiện để trở thành thành viên NATO. Từ 1994 đến 1997, chính phủ Ba Lan đã nhanh chóng cải cách quân đội, thay đổi biên chế tổ chức, đổi mới trang thiết bị quân sự. Các thiết bị thông tin liên lạc của bộ tổng tham mưu, các binh chủng không quân, hải quân, bộ binh … đều phải thay đổi cho phù hợp với tiêu chuẩn kỹ thuật của NATO. Các sỹ quan trung cao cấp, các cán bộ dân sự của bộ quốc phòng được đào tạo tiếng Anh để có thể giao dịch, tham gia trong các cơ quan của bộ chỉ huy NATO .

    Sau nhiều đợt đàm phán và kiểm tra, ngày 12-03-1999 Cộng Hòa Ba Lan đã trở thành thành viên chính thức của NATO. Đây là một sự kiện lịch sử quan trọng nhất của dân tộc Ba Lan. Trong suốt chiều dài lịch sử, Ba Lan nằm kẹt giữa hai nước lớn Nga và Đức, luôn bị đe dọa, xâm lược, thậm chí bị xâu xé lãnh thổ, không còn tên trên bản đồ châu Âu và thế giới. Ngày nay Ba Lan là một quốc gia độc lập, tự do và dân chủ, được đảm bảo an ninh bởi một liên minh quân sự mạnh nhất thế giới, NATO luôn bảo vệ các quốc gia thành viên, bảo vệ các giá trị tự do, dân chủ và quyền con người

    Các nước đông Âu và bài học cho Việt Nam

    Có những điểm tương đồng giữa Việt Nam và các nước đông Âu. Cả hai đều là những nước nhỏ đứng cạnh một nước lớn. Hai nước lớn Trung Quốc và Nga đều có thể chế độc tài, có tư tưởng bành trướng, xâm lược, bắt nạt các nước láng giềng trong quá khứ và hiện tại.

    Các nước đông Âu ngay sau khi giành được độc lập, tự do họ đã xác định:

    1- Không thể tin vào những hứa hẹn, những cam kết, ngay cả những hiệp ước với nước Nga.

    Những diễn biến xẩy ra sau đây đã chứng minh nhận định này là hoàn toàn đúng.

    Tháng 8 năm 2008 viện cớ phía Gruzia gây chiến trước, để bảo vệ những người Nga ly khai tại 2 vùng Osetia và Abkhazia thuộc lãnh thổ Gruzia, quân Nga đã tiến chiếm gần hết lãnh thổ của Gruzia. Máy bay, xe tăng, pháo binh, bộ binh đã phá hủy nhiều cơ sở quân sự và kinh tế của Gruzia. Theo ước tính, quân Nga đã gây thiệt hại cho Gruzia khoảng 20 tỷ USD. Hành động xâm lược của Nga đã bi quốc tế lên án mạnh mẽ, Nga đã phải rút quân, nhưng tuyên bố công nhận độc lập của Osetia và Abchazia, tiếp tục gây bất ổn định cho Gruzia.

    Ngày 05-12-1994 tại hội nghị thượng đỉnh của tổ chức An Ninh và Hợp Tác Châu Âu (OBWE) tại Budapest Hungari, các nước trong đó có Mỹ, Anh và Nga đã ký kết văn bản mang tên „Bản Ghi Nhớ Budapest”. Theo bản thỏa thuận này, Ukraina sẽ giao cho Nga toàn bộ số vũ khí hạt nhân đang sở hữu, bao gồm 176 tên lửa với đầu đạn hạt nhân chiến lược, 2500 tên lửa với đầu đạn hạt nhân chiến thuật (Ukraina là cường quốc hạt nhân thứ 3 trên thế giới, tính theo số lượng đầu đạn hạt nhân, đứng sau Mỹ và Nga). Đổi lại, Ukraina được nhận viện trợ kinh tế và sự cam kết tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.

    Nhưng Nga đã không giữ cam kết, ngày 21-03-2014, Putin ký sắc lệnh sáp nhập bán đảo Crimea của Ukraina vào Nga. Chưa hết, Putin còn cung cấp quân lính, vũ khí, viện trợ kinh tế… cho quân ly khai, tiến hành chiến tranh, gây bất ổn kéo dài cho Ukraina.

    2- Họ là những nước nhỏ yếu về quân sự, không thể một mình chống chọi với Nga. Để đảm bảo an ninh quốc gia, các nước đông Âu đã chọn lựa một chiến lược phòng thủ đúng đắn, đó là liên kết với những nước là bạn bè thật sự, ra nhập liên minh quân sự để chống lại sự xâm lược.

    Còn Việt Nam ?

    Đường lối ngoại giao nhu nhược của chính quyền cộng sản Việt Nam đã làm cho nguy cơ bị xâm lược đã và đang hiện hữu. Thay vì phải xác định nguy cơ bị xâm lược đã và sẽ đến từ Trung Quốc, họ đề cao phương châm mười sáu chữ vàng và 4 tốt. Người dân Việt Nam đã hơn nửa thế kỷ dưới chế độ cộng sản, được „giáo dục”ngoan ngoãn nghe lời Đảng, không nhận biết rõ ràng ai là kẻ thù của dân tộc, thờ ơ với vận mệnh của đất nước, phó thác mọi việc đã có Đảng và chính phủ lo (!). Biển đảo đã và đang mất dần, đường lưỡi bò do Trung Quốc tự vẽ đã chiếm gần trọn Biển Đông, họ ngang nhiên phá, cướp thuyền bè, tài sản, đánh đập ngư dân Việt Nam ngay trong vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam.

    Đảng Cộng Sản Việt Nam rất đắc chí với phương châm ngoại giao :”Chúng tôi không liên minh với bất cứ nước nào để chống lại nước thứ ba”.

    Tại sao lại không liên minh với một nước nào đó để chống lại sự xâm lược của nước thứ ba?

    Tại sao lại làm bạn với mọi quốc gia trên thế giới, lại không tìm những người bạn tốt, có tiềm lực giúp ta khi bị xâm lăng?

    Đối với các nước cùng cảnh ngộ, cùng bị Trung Quốc chèn ép bắt nạt như Philippines chẳng hạn, chính quyền Việt Nam đã xử sự một cách đáng hổ thẹn. Việt Nam là nước có nhiều thuận lợi về pháp lý, Việt Nam cũng là nước có yêu cầu cấp bách nhất trong việc kiện Trung Quốc ra Tòa trọng tài thường trực quốc tế tại La Hay. Nhưng chính quyền Việt Nam đã im lặng, họ cũng không hề tuyên bố rõ ràng ủng hộ việc làm của Philippines, hãn hữu, họ chỉ đưa ra tuyên bố chung chung, „vô thưởng vô phạt”, họ hành động như kẻ „ngậm miệng ăn tiền”.

    Ngày nào Trung Quốc còn là quốc gia cộng sản độc tài như hiện nay, ngày đó còn tồn tại nguy cơ xâm lược đối với Việt Nam.

    Để chống lại nguy cơ trên đây, Đảng Cộng Sản Việt Nam trước hết phải từ bỏ liên minh ý thức hệ với Đảng Cộng Sản Trung Quốc, đặt lợi ích của nhân dân lên trên lợi ích của Đảng, ngừng đàn áp những người yêu nước phản đốiTrung Quốc xâm lược. Đi đôi với việc tăng cường sức mạnh quốc phòng, Đảng phải đoạn tuyệt với đường lối ngoại giao nhu nhược, ngoại giao „đu dây”, ngoại giao mòn rỗng. Đảng phải liên kết, liên minh với những quốc gia thực tâm muốn giúp đỡ Việt Nam chống lại hành động xâm lược của Trung Quốc. Chỉ có như vậy, Đảng mới không bị nhân dân ghi vào sử sách của dân tộc như những Trần Ích Tắc của thời nay.

    Warsaw tháng 7-2016

    © Đàn Chim Việt
    nguon

    ______________

    Ghi chú:

    Những số liệu trong bài viết lấy từ nhật báo WYBORCZA và Fakt của Ba Lan.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s