Bộ sử Việt Nam mới “Tôn trọng quá khứ, vì lợi ích quốc gia”

Vivi: Người Việt Nam Cộng Hòa không cần và không yêu cầu đảng cộng sản Vietnam trả lại tên “Việt Nam Cộng Hòa”. Cũng không cần những tên trí thức csVN kêu gọi hay ủng hộ việc trả tên VNCH .

Tuy nhiên, chúng tôi tin rằng “Chế độ csVN cai trị sẽ sụp đổ, nhưng không phải người trí thức csVN lật đổ” .

Bộ sách sử mới của Việt Nam, do Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam biên soạn, 8/2017

Bộ sách sử mới của Việt Nam, do Viện Hàn lâm Khoa học
Xã hội Việt Nam biên soạn, 8/2017

 

Bộ sử mới của Việt Nam vừa chính thức ra mắt, được cho là chứa đựng thông tin “chân thực, khách quan” về Việt Nam Cộng hòa, cũng như cuộc chiến tranh với Trung Quốc nổ ra năm 1979. Một nhà sử học đánh giá bộ sử này “tôn trọng quá khứ, vì lợi ích quốc gia”.

Báo chí Việt Nam cho hay Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam hôm 18/8 đã phát hành rộng rãi trên thị trường bộ sách mang tên Lịch sử Việt Nam dày 10.000 trang, được coi là bộ sử đồ sộ nhất của đất nước từ trước đến nay.

Theo lời phó Giáo sư, tiến sĩ Đinh Quang Hải, Viện trưởng Viện Sử học, được báo chí dẫn lại, bộ sử nói về Việt Nam từ khởi thủy đến năm 2000. Điểm đáng chú ý của bộ sử là nó bổ sung những kết quả nghiên cứu mới nhất của các ngành khoa học xã hội và nhân văn, ông Hải cho biết.

Ông Hải nói các nhà nghiên cứu của bộ sách này “muốn phản ảnh chân thực nhất, khách quan nhất, đặc biệt là về chiến tranh biên giới phía bắc”, là cuộc chiến do Trung Quốc phát động đánh vào Việt Nam đầu năm 1979.

Trên báo chí Việt Nam, phó giáo sư, tiến sĩ Trần Đức Cường, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, nhấn mạnh rằng bộ sử “nói kỹ hơn nhiều” về chiến tranh biên giới phía bắc và cuộc chiến bảo vệ biên giới phía tây nam trước quân Khmer Đỏ Campuchia. Ông Cường lưu ý rằng chỉ có 8 dòng nói về hai cuộc chiến này trong sách giáo khoa.

Vị chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử cho biết thêm cuốn sử nói rõ rằng cuộc chiến do Trung Quốc phát động là “chiến tranh xâm lược”. Bên cạnh đó, theo lời ông Cường, bộ sử cũng nói rõ là cuộc chiến đó “không gói gọn trong tháng 2/1979 mà còn kéo rất dài”, đến khoảng năm 1988 “mới thực sự có hòa bình ở biên giới phía bắc”, sau khi các cán bộ, chiến sĩ của Việt Nam “phải hy sinh rất nhiều xương máu”.

Vẫn theo PGS TS Cường, bộ lịch sử mới “bổ khuyết được nhiều vấn đề mà các công trình sử học trước đó chưa có điều kiện nghiên cứu”.

Tôi cho rằng việc làm này không phải là sự đảo lộn gì ghê gớm, mà vấn đề là nhận thức lại quá khứ trên cơ sở chính lợi ích của hiện tại … Vì nó thể hiện trong bộ sử cho nên nó cũng là một cái thể hiện được quan điểm của người dân Việt Nam hiện đại đối với vấn đề quá khứ

Ông chỉ ra rằng các sách sử trước đây của chính quyền Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam dùng các từ “ngụy quân”, “ngụy quyền” để gọi Việt Nam Cộng hòa và quân đội của chính thể đó. “Nhưng bây giờ chúng ta viết là chính quyền Sài Gòn, quân đội Sài Gòn”, ông Cường nói.

Bản đồ diễn biến chiến sự ở Việt Nam Cộng hòa tính đến thời điểm 31/3/1975 (ảnh tư liệu)

Bản đồ diễn biến chiến sự ở Việt Nam Cộng hòa tính đến thời điểm 31/3/1975 (ảnh tư liệu)

 

Nhận xét về những thay đổi quan trọng này, nhà sử học Dương Trung Quốc, người cũng là một đại biểu quốc hội, đưa ra ý kiến với VOA:

“Tôi cho rằng việc làm này không phải là sự đảo lộn gì ghê gớm, mà vấn đề là nhận thức lại quá khứ trên cơ sở chính lợi ích của hiện tại. Tôi cho rằng việc viết như thế không chỉ là vấn đề ứng xử với quá khứ mà là ứng xử với chính hiện tại này. Tôi cho là như thế nó công bằng, có một sự tôn trọng nhất định. Nó thể hiện một thái độ không phải chỉ là cởi mở hay khoan dung, mà thực sự là một nhận thức hết sức thực tiễn. Tôi cho đây là việc làm mà vì nó thể hiện trong bộ sử cho nên nó cũng là một cái thể hiện được quan điểm của người dân Việt Nam hiện đại đối với vấn đề quá khứ”.

Một trong những cơ sở chủ quyền của chúng ta là cơ sở lịch sử, là tính liên tục trong quản lý nhà nước … Mỗi thế hệ, mỗi triều đại, hoặc mỗi thể chế đều có sự đóng góp nhất định cho lịch sử chung của dân tộc.

Trong một bài viết được báo Tuổi Trẻ đăng hôm 20/8 với tít “Thừa nhận Việt Nam Cộng hòa là bước tiến quan trọng”, tiến sĩ sử học Nguyễn Nhã bình luận rằng việc bộ sử Việt Nam mới thừa nhận chính thể tại miền nam Việt Nam trước 1975 là việc làm “có lợi trước nhất cho công cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam” ở Biển Đông.

Ông Nhã nhắc lại sự thật lịch sử là nhiều nước trong đó có Trung Quốc và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ký Hiệp định Geneva 1954, theo đó công nhân Việt Nam Cộng hòa “là một thực thể chính trị” với “chính quyền hợp pháp” quản lý lãnh thổ kể cả biển phía nam vĩ tuyến 17 của Việt Nam khi chưa thống nhất đất nước.

Nhà sử học Dương Trung Quốc nhấn mạnh với VOA việc công nhận Việt Nam Cộng hòa là điều thiết yếu khi nói đến tính liên tục trong công cuộc khẳng định chủ quyền:

“Một trong những cơ sở chủ quyền của chúng ta là cơ sở lịch sử, là tính liên tục trong quản lý nhà nước. Từ thời các Chúa Nguyễn chúng ta có bằng chứng, thời Hoàng đế Gia Long chúng ta có bằng chứng, thì tất cả các giai đoạn lịch sử sau là sự nối tiếp kế tục của nhau. Cho nên phải có đủ tiếng nói mang tính chất đại diện của lợi ích quốc gia, chủ quyền dân tộc. Thì cái sự công nhận ấy nó cũng thể hiện sự tôn trọng những giá trị ấy. Mỗi thế hệ, mỗi triều đại, hoặc mỗi thể chế đều có sự đóng góp nhất định cho lịch sử chung của dân tộc”.

Thông tin rằng bộ sử mới viết khách quan về Việt Nam Cộng hòa đã đón nhận nhiều ý kiến tích cực trên báo chí Việt Nam và các diễn đàn mạng xã hội.

Bài báo hôm 20/8 của Tuổi Trẻ trích đăng ý kiến của nhà nghiên cứu Trần Viết Ngạc nhận định rằng nội dung bộ sử mới là “tiền đề cho thống nhất nhân tâm” và “cho hòa giải dân tộc”. Nhiều người tiếp đó bình luận rằng đây là việc làm “tuyệt vời” và “có thể là một dấu hiệu khởi sắc của dân tộc”.

Ông Dương Trung Quốc nhận xét:

“Tôi cho là hoàn toàn đúng những điều những người dân họ suy nghĩ. Lịch sử là tài sản chung của cả dân tộc và trao truyền qua nhiều thế hệ. Cho nên nó càng thể hiện tính khách quan, tính công bằng, trong đó có cả tính khoa học nữa, và cuối cùng cũng là tính chính trị của nó nữa, thì tôi cho là điều đó sẽ tự nhiên tạo ra cho nhận thức ấy có giá trị lâu bền và nó được sự thừa nhận của những người dân, đó là thước đo cao nhất của bộ sử”.

Lâu nay, sách báo dưới chế độ xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản lãnh đạo ở Việt Nam vẫn dùng các thuật ngữ “ngụy quân, ngụy quyền” để nói đến quân đội và chính quyền Việt Nam Cộng hòa.

Hồi tháng 5/2016 và tháng 4/2015, các trang web của Báo Vĩnh Long và Đài Tiếng nói Việt Nam đăng cùng một bài của tác giả ký tên Trung Hiếu cáo buộc rằng chính quyền Việt Nam Cộng hòa là “bất hợp pháp”, và quân đội, cảnh sát của chính quyền này là “có gốc gác thực dân”.

Bài báo dùng những từ như “chính quyền phản động”, “chính thể phi pháp” hay “lực lượng phản dân hại nước”, “đang tâm làm tay sai” khi mô tả về thực thể chính trị tồn tại ở miền nam Việt Nam từ 1954 đến 1975.

Nhà sử học đồng thời là đại biểu quốc hội Dương Trung Quốc nhận định với VOA rằng theo thời gian Việt Nam “sẽ còn có những thay đổi nhận thức khác cho thực sự đúng nghĩa hai chữ lịch sử”.

nguon

Advertisements

7 thoughts on “Bộ sử Việt Nam mới “Tôn trọng quá khứ, vì lợi ích quốc gia”

  1. Ai bật đèn xanh để “Thừa nhận VNCH” ?

    zzxc

    Vietnam – Cali Today News – Sau “sự biến” PGS. TS Trần Đức Cường, nguyên viện trưởng Viện sử học, chủ tịch Hội khoa học lịch sử VN, tổng chủ biên bộ sách Lịch sử VN trả lời phỏng vấn báo Tuổi Trẻ và trở thành quan chức đầu tiên xác nhận việc “thừa nhận VNCH”, có những biểu hiện và tin tức cho thấy phát ngôn chưa từng có này không phải là một hành động bột phát, “xé rào” của ông Trần Đức Cường và báo Tuổi Trẻ.

    Tuổi Trẻ không có được vị thế báo trung ương mà chỉ là một tờ báo trực thuộc cấp địa phương: Thành đoàn TP.HCM. Do vậy Tuổi Trẻ cũng thuộc cấp quản lý của các cơ quan TP.HCM. Từ sau vụ một số tổng biên tập những đời trước của báo Tuổi Trẻ bị kỷ luật về “vi phạm chính trị” như Kim Hạnh, Lê Văn Nuôi, Lê Hoàng…, tờ báo này đương nhiên bị Ban Tuyên giáo trung ương, Ban Tuyên giáo thành ủy TP.HCM và các cơ quan công an “soi” từng chữ. Về sau này, gần như toàn bộ ban biên tập của Tuổi Trẻ đều do người của Thành đoàn TP.HCM đưa về “cài cắm”, tức nhằm bảo đảm “ổn định chính trị”. Do vậy trong hàng chục năm qua, Tuổi Trẻ từ vị thế một tờ báo chính trị – xã hội nổi bật trong công chúng và đặc biệt trong lòng người dân Sài Gòn, đã trở nên mờ nhạt hẳn, ít tiếng nói phản biện và ít dám “đụng chạm” đến các vụ vụ tham nhũng, càng không có chuyện “xé rào” về dân chủ hay nhân quyền.

    PGS. TS Trần Đức Cường trả lời phỏng vấn- Ảnh: V.V.TUÂN

    Những người làm báo và am hiểu về nội tình “chính trị nội bộ” ở Sài Gòn khẳng định “có cho vàng báo Tuổi Trẻ cũng chẳng dám đăng bài phỏng vấn ‘thừa nhận VNCH’ quá nhạy cảm như thế, nếu không được cấp trên bật đèn xanh. Mà cấp trên đó phải cao, thậm chí rất cao…”.

    Một tuần sau bài phỏng vấn ông Trần Đức Cường, bài “Nhìn nhận công lao nhà Mạc và chúa Nguyễn” với nội dung “thừa nhận VNCH” vẫn yên bình ngự trên báo Tuổi Trẻ mà không bị gỡ bỏ như số phận nhiều bài báo khác, dù có những bài báo chỉ mới chạm khẽ vào “xã hội dân sự” hay “biểu tình chống Trung Quốc”.

    Không những thế, sau bài “Nhìn nhận công lao nhà Mạc và chúa Nguyễn”, báo Tuổi Trẻ còn tiếp tục phỏng vấn TS Nguyễn Nhã – một trong những người nghiên cứu và thường xuyên phản biện về vấn đề Hoàng Sa – Trường Sa. Thậm chí với bài này, Tuổi Trẻ còn đặt thẳng tựa đề “Thừa nhận Việt Nam cộng hòa là bước tiến quan trọng”.

    Thái độ thận trọng còn lại của Tuổi Trẻ là hai báo phỏng vấn trên không được đăng vào mục “Chính trị”, mà đăng ở mục “Văn hóa”, và thay vì được đưa ra trang chính thì xếp vào trang trong.

    Trong khi đó, nhà báo Võ Văn Tạo ở Nha Trang trả lời phỏng vấn đài RFA Việt ngữ cho biết báo Quân Đội Nhân Dân – một tờ báo thuộc loại ‘kiên định” nhất trong số báo đảng chuyên “chống diễn biến hòa bình” và công kích chính quyền cũ, đã nhận dược chỉ thị của cấp trên yêu cầu từ nay gọi đúng tên “Việt Nam Cộng Hòa”.

    Sau báo Tuổi Trẻ, phản ứng của báo chí nhà nước là khá chậm rãi. Tuy dư luận báo giới sôi nổi hẳn lên và đánh giá việc “thừa nhận VNCH” là một sự thay đổi lớn về tư tưởng, một sự kiện mang tính lịch sử, nhưng vì chủ đề này quá nhạy cảm chính trị nên đa số báo chí nhà nước vẫn im lặng quan sát, chỉ có một ít tờ báo “theo” báo Tuổi Trẻ, chẳng hạn trang báo điện tử Zing.vn với bài “Loại bỏ tư duy ‘ta thắng địch thua’ trong nghiên cứu lịch sử”, phỏng vấn PGS. TS. Đinh Quang Hải – Viện trưởng Viện Sử học Việt Nam về chủ đề trên, hay trang Infonet cũng nói lướt qua chủ đề này…

    Một hiện tượng đáng chú ý khác là phản ứng đối với “thừa nhận VNCH” từ giới cựu chiến binh, cách mạng lão thành, quan chức nhà nước… là hoàn toàn không đáng kể. Cho đến nay, hầu như chưa có bất kỳ một tờ báo nhà nước nào phản đối loạt hai bài phỏng vấn của báo Tuổi Trẻ về “thừa nhận VNCH”. Cũng cho tới nay, chỉ có một số dư luận viên – không biết người của phe nhóm nào trong đảng – tỏ ra phản ứng quyết liệt và vẫn dùng từ “ngụy quân ngụy quyền” đối với chính thể VNCH.

    Một lý lẽ khác mà nhóm dư luận viên trên nêu ra là “quan điểm của các nhà lịch sử vẫn chỉ là quan điểm cá nhân không phải là quan điểm nhân danh quốc gia, dân tộc và càng không phải quan điểm đại diện cho tiếng nói và nguyện vọng của Nhân dân Việt Nam. “Ngụy quân và ngụy quyền” vẫn là những gì tồn tại thực tế ở Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước và Nhân dân Việt Nam mặc dù không xét lại lịch sử nhưng không chấp nhận bất kỳ quan điểm nào nhận thức sai về lịch sử”, và kêu gọi “tẩy chay không mua bộ sách Lịch sử Việt Nam”…

    Trong khi đó, vài nguồn tin không chính thức cho biết rất có thể “thừa nhận VNCH” đã trở thành một chủ trương của đảng cầm quyền, được chỉ đạo bởi chính Bộ Chính trị. Tuy nhiên, có lẽ đảng cầm quyền vẫn e ngại đây là vấn đề có thể gây tranh cãi lớn và muốn giữ “thể diện”, nên cho Hội Sử học Việt Nam đi tiên phong trong việc khơi mào ý tưởng này, để nếu tình hình thuận lợi thì có thể một chủ trương chính thức sẽ được công bố mà có thể được hiểu là “lấy lòng người Việt hải ngoại”.

    Cần nói thêm, bối cảnh ra đời của “chủ trương” trên lại là lúc mà đảng cầm quyền “bí toàn tập”, ít nhất trên phương diện kinh tế và ngân sách, chỉ thấy “tiền ra” mà hiếm có “tiền vào”.

    Thiền Lâm
    nguon

  2. Tranh luận chung quanh từ ‘ngụy quân’, ‘ngụy quyền’.

    Dinh Độc lập, Sài gòn, ngày 29/04/1975.

    Dinh Độc lập, Sài gòn, ngày 29/04/1975.

    Có những ý kiến khác nhau về việc Viện Hàn lâm Khoa học Việt Nam phát hành bộ sách Lịch sử Việt Nam, công nhận Việt Nam Cộng hòa (VNCH) là một thực thể, và không còn gọi chính quyền ở Sài gòn trước 1975 là “ngụy quân, ngụy quyền” nữa. Có người cho đây là một dấu hiệu tích cực, có người hoài nghi động cơ phía sau việc loại bỏ cụm từ “ngụy quân, ngụy quyền”, có người cho là điều này không có nghĩa lý gì, và cũng có người cho đây là “một sự kiện lịch sử”, có thể báo hiệu những sự thay đổi khác trong tương lai. 

    Giáo sư Nguyễn Thanh Trang, người từng cộng tác với Viện Đại học Huế thời Việt Nam Cộng hòa, hiện cư ngụ ở bang California, nói rằng việc Việt Nam Cộng Hoà được công nhận là một tín hiệu đáng mừng:

    “Họ công nhận thực thể Việt Nam Cộng hòa, không còn gọi là ngụy quân, ngụy quyền nữa, theo thiển ý của chúng tôi, đó là một dấu hiện đáng mừng.”

    Cho đến nay, chính quyền Hà Nội vẫn gọi chính quyền miền Nam là “ngụy quyền” và những người lính miền Nam là “ngụy quân.”

    Ông Phan Ngọc Lượng, một cựu quân nhân Việt Nam Cộng hòa đang sinh sống ở bang California, bày tỏ nghi vấn về động cơ phía sau việc công nhận “Chính quyền Việt Nam cộng hoà là một thực thể ở miền Nam Việt Nam.”

    “Khó mà tin được điều họ làm. Tôi không biết động cơ, chương trình của họ là gì. Lúc nào tôi cũng đặt sự nghi ngờ đối với Cộng sản, vì họ lừa nhiều lần rồi. Điều gì họ làm đều có mục đích phía sau.”

    Ông Lượng cho rằng chữ “ngụy” trong “ngụy quân, ngụy quyền” đã sai ngay từ đầu:

    “Cái chữ ngụy họ từng dùng không biết để chỉ ai cho đúng? Tôi biết chính phủ Việt Nam Cộng hòa không lừa gạt ai. Tôi là một quân nhân. Tôi tham gia quân đội từ lúc bé, 12 tuổi tham gia thiếu sinh quân cho tới khi cuộc chiến tàn. Tôi không bao giờ chấp nhận người Cộng sản. Cũng không quan tâm họ gọi mình như thế nào. Tôi nghĩ anh em cựu quân nhân ở đây cũng không nhạy cảm với từ ‘ngụy quân, ngụy quyền’ vì họ biết họ không là ‘ngụy’ mà chính người Cộng sản mới là ‘ngụy.’ Dân chúng đều hiểu rõ chuyện này. Đó là điều quan trọng đối với chúng tôi.”

    Trả lời phỏng vấn báo Tuổi trẻ hôm 18/8, ông Trần Đức Cường, nguyên viện trưởng Viện sử học, chủ tịch Hội khoa học lịch sử Việt Nam, tổng chủ biên bộ sách Lịch sử Việt Nam, nói: “Chính quyền Việt Nam cộng hoà là một thực thể ở miền Nam Việt Nam.”

    Bộ sách Lịch sử Việt Nam vừa ra mắt

    Bộ sách Lịch sử Việt Nam vừa ra mắt

    Ông Cường còn nói rằng nhóm viết sách lịch sử đã từ bỏ cách gọi ‘ngụy quân’, ‘ngụy quyền,’ mà thay vào đó, gọi là ‘chính quyền Sài Gòn’, ‘quân đội Sài Gòn.’

    Giáo sư Nguyễn Thanh Trang nhận định rằng thông thường các cơ quan, viện nghiên cứu Việt Nam phải thể hiện quan điểm thống nhất của Đảng, và ông cho rằng lần xuất bản này được thực hiện trong một hoàn cảnh khá đặc biệt:

    “Đây là một bước tiến mà Viện Hàn lâm Khoa học đã thực hiện. Có thể đây là một công việc vì nhu cầu, vì hoàn cảnh đặc biệt mà Hà Nội sẵn sàng cho cơ quan này lên tiếng.”

    Giáo sư Trang nói có thể tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc tại quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa trong Biển Đông là nguyên nhân buộc cơ quan nghiên cứu hàng đầu của Việt Nam phải chỉnh đổi cách gọi chính quyền Sài gòn trước năm 1975:

    “Sau năm 1954 khi Việt Nam bị chia đôi, thì chủ quyền biển đảo là chủ quyền của Việt Nam Cộng hòa, chứ không phải của Hà Nội. Cho nên bây giờ họ xác nhận Việt Nam Cộng hòa là một thực thể chính trị, một quốc gia độc lập, có chủ quyền, được quốc tế thừa nhận thì đó là một điều quan trọng.”

    Nhà báo độc lập Phạm Chí Dũng trong một bài viết cho VOA nhận định: ‘thực thể Việt Nam Cộng Hòa không hoặc chưa phải là phát ngôn hay chủ trương được chính thức công bố, nhưng hiện tượng bộ sách Lịch sử Việt Nam không còn xem Việt Nam Cộng Hòa là ‘nguỵ quân ngụy quyền’ vẫn là một sự xác nhận gián tiếp về tính chủ trương chưa được công bố, cùng lúc được ‘bật đèn xanh’ từ một cấp trên nào đó.”

    Luật sư Lê Công Đinh ở thành phố Hồ Chí Minh viết trên trang Facebook của ông rằng việc bộ sách công nhận VNCH “không có ý nghĩa gì”, vì đây chưa phải là “sự công nhận chính thức của nhà nước cộng sản hiện nay.”

    Tuy nhiên, liên quan đến cộng đồng người Việt trong và ngoài nước về cách gọi tên và việc công nhận này, Giáo sư Nguyễn Thanh Trang nói rằng chính quyền Hà Nội cần phải đối xử bình đẳng với tất cả mọi người.

    “Đây là một việc làm rất đáng khích lệ nhưng cũng quá trễ. Qúa trễ, nhưng có còn hơn không! Tuy vậy, điều này không có nghĩa là lịch sử sang trang thì xóa hết tất cả mọi chuyện. Chắc chắn rằng cộng đồng người Việt hải ngoại mong muốn Việt Nam có những chủ trương và hành động cụ thể đối xử với tất cả người Việt Nam, nhất là những người phục vụ dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa một cách bình đẳng. Có như vậy mới hy vọng lôi kéo sự hưởng ứng và đóng góp của người Việt hải ngoại, nhất là trong mặt trận bảo vệ chủ quyền đất nước trước nạn xâm lăng của Trung Quốc.”

    Trên trang Facebook, Luật sự Định chia sẻ rằng công nhận VNCH là “hành động chính trị đơn thuần,” chứ không mang lại giá trị hay ý nghĩa pháp lý gì và không giúp ích gì thêm cho lập luận xác nhận chủ quyền đối với hai quần đảo đang trong vòng tranh chấp.

    Trên trang VNTB.org xuất hiện bài viết được cho là của Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn, nguyên Cục Trưởng Cục Tuyên huấn, Bộ Quốc phòng, không chấp nhận việc công nhận chính quyền Sài gòn, tác giả cho rằng công nhận chế độ VNCH là “đánh tráo lịch sử” và “yêu cầu Đảng, Nhà nước phải kiểm tra xử lý kiên quyết thu hồi, đính chính trở lại tập sử và làm rõ trách nhiệm những người gây nên hậu quả sai trái.”

    Gần đây nhất, hồi tháng 6/2017, báo Quân đội Nhân dân, trong một bài ca ngợi Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn như là “người truyền lửa cho cộng đồng người Việt trong và ngoài nước”, vẫn tố cáo “tội ác của chế độ Mỹ-Ngụy”. Bài báo nói ông Tuấn từng được phân công để “lên lớp chính trị cho gần một vạn binh lính, nhân viên ngụy quân, ngụy quyền.”

    Trên Blog VOA, nhà báo Phạm Chí Dũng dự báo hiện tượng xác nhận “thực thể Việt Nam Cộng Hòa” có thể được xem là một sự kiện lịch sử, và có thể là một tiền đề dẫn đến một giai đoạn “tự chuyển hóa” về quan điểm chính trị của Đảng, hay nói chính xác hơn, là bắt đầu từ một bộ phận nào đó của đảng cầm quyền. Tiến trình chuyển đổi này có thể nhanh hơn hoặc tăng tốc vào năm sau – 2018.”

     

  3. Ý nghĩa của việc thừa nhận chính thể Việt Nam Cộng hòa

    Kỷ niệm 25 năm chiến tranh Việt Nam: Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara (L) gặp Thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ, Tổng thống Lyndon B. Johnson và Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu (Nam Việt Nam) trong Hội nghị Honolulu tại Camp Smith, Hawaii ngày 08 tháng 2 năm 1966.

    Kỷ niệm 25 năm chiến tranh Việt Nam: Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara (L) gặp Thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ, Tổng thống Lyndon B. Johnson và Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu (Nam Việt Nam) trong Hội nghị Honolulu tại Camp Smith, Hawaii ngày 08 tháng 2 năm 1966.

    Nguyễn Tường Thụy – RFA

    Bộ Lịch sử Việt Nam vừa xuất bản đang được công luận quan tâm. Nội dung có những thay đổi về cách nhìn nhận một số sự kiện lịch sử, trong đó, điều mà công luận quan tâm nhất là trả lại tên gọi cho chính thể Việt Nam Cộng Hòa. Đây là vấn đề cực kỳ nhạy cảm và tế nhị vì vậy bộ sử nhận được rất nhiều hoan nghênh nhưng còn có cả những ý kiến phản đối dữ dội.

    Thực ra, không phải bây giờ mà từ 6,7 năm nay, trong hệ thống chính trị đã đề cập về vấn đề này. 

    Đại đoàn kết có lẽ là tờ báo đầu tiên đưa ra luận điểm này với bài “Công hàm 1958 với chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam” (20/07/2011)

    “Theo Hiệp định Genève 1954, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm phía Nam vĩ tuyến 17 tạm thời thuộc quyền quản lý của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Trong thời điểm đó, dưới góc độ tài phán quốc tế, thì Chính phủ VNDCCH không có nghĩa vụ và quyền hạn hành xử chủ quyền tại hai quần đảo này theo luật pháp quốc tế.”

    Nhưng phải 3 năm sau, vào thời điểm Trung Cộng đem giàn khoan HD 981 xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của VN (tháng 5/2014), báo chí VN mới phản công rầm rộ. Nhiều tờ báo dẫn lại đọan trích trên của Đại Đoàn Kết hoặc dựa theo luận điểm này để bác bỏ sự luận điểm của Trung Cộng cho rằng Công hàm 1958 do ông Phạm Văn Đồng ký đã công nhận Hoàng Sa và Trường Sa là của TQ.

    Còn báo điện tử của Chính phủ viết:

    “Chính quyền VNCH, theo Hiệp định Genève 1954, đã liên tục thực thi chủ quyền lâu đời của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bằng các văn bản hành chính nhà nước cũng như bằng việc triển khai chủ quyền thực tế trên hai quần đảo này. Đỉnh cao của sự khẳng định chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là trận hải chiến quyết liệt của Hải quân VNCH chống lại sự xâm lược của tàu chiến và máy bay Trung Quốc tại quần đảo Hoàng Sa năm 1974”.

    Ông Trần Công Trục nguyên trưởng ban Biên giới của Chính phủ, tức là một quan chức cao cấp có trách nhiệm trực tiếp đến chủ quyền của đất nước, trong chương trình thời sự 19 giờ ngày 22/5/2014 của đài VTV1 còn nói toạc ra là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nếu có tuyên bố này nọ về Hoàng Sa, Trường Sa thì cũng chẳng có giá trị pháp lý gì:

    “Các bạn hãy nhớ rằng tuyên bố của chúng ta vào thời kỳ 1958 nghĩa là cái lúc mà hai miền Bắc, Nam được hiệp định Genève ký kết năm 1954 phân chia quyền quản lý cho 2 nhà nước với tư cách là chủ thể trong quan hệ quốc tế là Việt Nam dân chủ cộng hòa và Việt Nam Cộng Hòa. Quần đảo Hoàng Sa của chúng ta nằm dưới vĩ tuyến 17 thuộc quyền quản lý của VNCH với tư cách là chủ thể trong quan hệ quốc tế theo hiệp định Genève, Và vì vậy, mọi tuyên bố, mọi hành vi của VNCH có giá trị pháp lý thay mặt Nhà nước VN quản lý vùng đất ấy còn VNDCCH chúng ta không trực tiếp quản lý. Vì vậy cho dù tuyên bố đó như thế nào thì giá trị pháp lý trong quan hệ quốc tế không có. Cho nên TQ họ muốn dùng tất cả mọi lý lẽ để nói rằng chúng ta thừa nhận thì đấy hoàn toàn là sự bịa đặt”.

    Đấy là báo chí, còn bây giờ là chính sử. Vấn đề xoay quanh thể chế chính trị ở Miền Nam Việt Nam, từ vĩ tuyến 17 trở vào là ngụy quyền hay Việt Nam Cộng hòa. Câu hỏi dễ trả lời, đó là Việt Nam Cộng hòa vì đấy là sự thật lịch sử.

    Xuyên tạc VNCH là ngụy quyền, Quân lực VNCH là ngụy quân là cách gọi nhằm phục vụ ý đồ tuyên truyền của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, là miệt thị đối phương. Sau khi VNCH thua trận, cách gọi này vẫn được duy trì, thể hiện tính hẹp hòi, bần tiện, không sạch sẽ của kẻ thắng trận.

    Trả lại tên gọi VNCH và chính thức đưa vào chính sử thì vấn đề ảnh hưởng sâu và rộng hơn so với báo chí. Nhưng dù báo chí hay sử sách thì về nguyên tắc, nó không phản ánh quan điểm của thể chế chính trị đương thời mà trong trường hợp này là Nhà nước Việt Nam hiện nay. Cần phải có sự khẳng định, thừa nhận bằng văn bản hay bằng tuyên bố hoặc lồng vào nội dung nào cũng được của Nhà nước Việt Nam hay Bộ ngoại giao Việt Nam.

    Tuy nhiên, do đặc thù của hệ thống chính trị ở Việt Nam thì việc báo chí, đặc biệt là sử sách viết như thế nào cũng do đảng CSVN và Nhà nước VN chi phối, vì vậy nó vẫn phản ánh quan điểm, thái độ của Nhà nước Việt Nam.

    Có ý kiến cho rằng thừa nhận VNCH là bước tiến quan trọng. Tôi không cho đây là bước tiến. Bản chất của vấn đề là gọi lại cho đúng tên, thế thôi. Điều này có thể ghi nhận, chứ không có gì đáng khen. Liên hệ đến công cuộc gọi là đổi mới năm 1986. Từ chỗ nền kinh tế bị bóp nghẹt, đảng CSVN nới lỏng ra một phần nên thoát ra được cuộc khủng hoảng kinh tế. Như vậy, cái gọi là “đổi mới” ở đây thực chất là sửa sai, từ chỗ cấm rồi buông, trói rồi cởi. Tuy nhiên, ông Đỗ Mười đã vơ công ấy là công của đảng CSVN: “Không có Đảng thì không có đổi mới”. Chỉ cần đặt ra câu hỏi ai cấm, ai trói và tự trả lời thì sẽ hiểu, công của Đảng CSVN có hay không.

    Vấn đề Việt Nam Cộng hòa cũng vậy, gọi chính thể này đúng tên cũng là việc sửa sai, có gì đáng khen. Lịch sử phải ghi lại những sự kiện một cách khách quan trung thực như nó đã xảy ra. Đó là thiên chức của người viết sử. Lịch sử không xu nịnh ai. Trả lại sự thật cho lịch sử là tất yếu.

    Nhiều người còn nghi ngờ sự thực tâm khi gọi đúng tên của chính thể ở miền Nam giai đoạn 1954-1975, cho rằng việc này nhằm vào nhiều mục đích chính trị. Có chăng, việc thừa nhận này nên ghi nhận và khuyến khích ở sự can đảm.

    Dẫu đơn giản chỉ là gọi lại cho đúng tên, thế mà nhiều người đã giãy nảy lên, ra sức phản đối. Với họ, cứ phải gọi VNCH là ngụy quân ngụy quyền mới được. Họ cho rằng, Giáo sư Phan Huy Lê  “đánh tráo sự thật lịch sử”. Điển hình cho nhóm người này là ông Nguyễn Thanh Tuấn, trung tướng – nguyên Cục trưởng Cục Tuyên huấn, Tổng cục chính trị, Bộ Quốc phòng. Ông ta tỏ ra hậm hực và rất cay cú về bộ Lịch sử mới xuất bản, đòi xử lý nhóm biên soạn.

    Đây là kết quả của sự nhồi nhét, tuyên truyền một chiều. Sự nhồi nhét ấy đã tạo ra một lớp người còn bảo thủ hơn cả Đảng. Đã có lời cảnh báo rằng rô bốt là sản phẩm của con người nhưng coi chừng có ngày con người không kiểm soát nổi nó.

    Nhưng ý nghĩa của việc thừa nhận Việt Nam Cộng hòa không đơn thuần chỉ là tên gọi. Điều quan trọng ở chỗ, khi đã công nhận VNCH là một thực thể, có giá trị pháp lý theo Hiệp định Genève tương tự VNDCCH ở Miền Bắc thì vấn đề nảy sinh từ đó là:

    – Bản chất của cuộc chiến tranh 1954 – 1975 là gì? Đó có phải cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước như trước nay vẫn tuyên truyền không?

    – Sự có mặt của Mỹ và đồng minh của VNCH ở Miền Nam (Úc, New Zealand, Hàn Quốc, Thái Lan và Philippines) có khác gì về bản chất so với sự có mặt của đồng minh của VNDCCH ở Miền Bắc (Liên Xô, Trung Quốc, Triều Tiên) ở miền Bắc không khi cả 2 nhóm đồng minh này đều tham chiến? v.v…

    – Và vấn đề lquan trọng nhất là tại sao quân đội VNDCCH lại có mặt trên lãnh thổ VNCH và lật đổ nó?

    Ở đây, tôi chỉ gợi mở vấn đề, chứ không có tham vọng lý giải nó trong phạm vi một bài viết.

    Dù sao thì, việc thừa nhận Việt Nam Cộng Hòa cũng đáng hoan nghênh và là một sự can đảm cần khuyến khích. Thế hệ lãnh đạo Việt Nam hiện nay, vào năm 1975 họ chưa có vai trò gì. Họ không phải chịu trách nhiệm về cuộc chiến tranh. Cái khó nhất của họ là cuộc chiến tranh do thế hệ lãnh đạo trước tiến hành đã cho họ thừa hưởng nhiều đặc quyền, đặc lợi mặc dù với dân tộc và với đất nước thì không. Vì vậy, nếu họ dám thừa nhận sai lầm của thế hệ lãnh đạo trước và dám sửa cũng là một sự can đảm. Họ hoàn toàn nhận thức được bản chất của cuộc chiến tranh 1954-1975 chứ không đến mức bảo thủ như ông trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn vừa nêu trên. Điều quan trọng là họ có thực tâm hay không và thực tâm đến đâu Nếu biết đặt quyền lợi của đất nước, của dân tộc lên trên hết thì những vấn đề tưởng như là phức tạp sẽ giải quyết được. Đó là chủ quyền, biển đảo của Tổ quốc, là sự hòa giải dân tộc, là khai thác và phát triển giá trị của Việt Nam Cộng hòa và cao hơn là đưa đất nước tiến cùng thời đại chứ không phải hổ thẹn với quốc dân và thế giới như hiện nay.

    Tin, bài liên quan

     

  4. Cáo buộc Việt Nam Cộng Hòa làm tay sai Mỹ là “thiếu khách quan”

    Cựu Đại sứ Bùi Diễm
    Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
    Image captionÔng Bùi Diễm là Đại sứ của Việt Nam Cộng Hòa tại Hoa Kỳ trong giai đoạn từ 1967-1972

    BBC

    Một cựu Đại sứ của Việt Nam Cộng Hòa cho rằng việc nói chính quyền Việt Nam Cộng Hòa là ‘tay sai’ của Mỹ là một sự ‘cáo buộc’ và cần phải nhìn nhận vấn đề trong một tổng thể khách quan hơn của bối cảnh chiến tranh lạnh mà tại miền Bắc Việt Nam trong cuộc chiến kết thúc vào tháng 4/1975 cũng có sự ủng hộ, hậu thuẫn của nước ngoài. 

    Ý kiến này được ông Bùi Diễm, Đại sứ của VNCH tại Hoa Kỳ trong thời kỳ 1967-1972 đưa ra khi phản ứng trước quan điểm trên truyền thông quốc tế của nhà chủ biên bộ sách ‘Lịch sử Việt Nam’ được Viện sử học, thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Việt Nam, công bố trong nước thời gian gần đây.

    Trao đổi với BBC Tiếng Việt hôm 23/8/2017, ông Bùi Diễm nói:

    Cựu Đại sứ VNCH Bùi Diễm nói về bộ sách ‘Lịch sử Việt Nam’

    Bàn tròn BBC: Bộ sách ‘Lịch sử Việt Nam’ – vấn đề & ý kiến

    GS Vũ Minh Giang nói về bộ ‘Lịch sử Việt Nam’

    Từ ‘Việt Nam Cộng hòa’ đến hòa giải dân tộc

    “Mình phải nhìn Việt Nam trong bối cảnh của một cuộc chiến tranh lạnh thời bấy giờ, người Mỹ mà can thiệp vào vấn đề Việt Nam là do chính sách gọi là ‘be bờ’ chống lại sự lan tràn của cộng sản xuống miền Nam Việt Nam.

    “Nếu mà nói tới sự giúp đỡ của người Hoa Kỳ ở miền Nam Việt Nam, thì người ta cũng phải nói tới sự có mặt của những quân đội Trung Cộng ở miền Bắc trong suốt trận chiến tranh, những quân đội đó không tham gia vào trận chiến đối với miền Nam, nhưng đã giúp những người ở miền Bắc có tất cả sự dễ dàng để người miền Bắc có thể mang quân đội để mà tấn công miền Nam Việt Nam.

    Cựu Đại sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Mỹ, ông Bùi Diễm bình luận về bộ sách ‘Lịch sử Việt Nam’.

    “Vì vậy cho nên những lời buộc tội rằng miền Nam Việt Nam dưới quyền, dưới ảnh hưởng của người Hoa Kỳ, thì chúng ta cũng phải nhìn lại vấn đề dưới khía cạnh một cuộc Chiến tranh lạnh một bên là Mỹ quốc và một bên kia là thế giới cộng sản, có cả Liên Xô và có cả Trung Cộng lúc bấy giờ.”

    Ý kiến trên của cựu Đại sứ Bùi Diễm được đưa ra sau khi được hỏi về một bài báo trên RFA Tiếng Việt từ Hoa Kỳ trích dẫn ý kiến của PGS. TS. Trần Đức Cường, Tổng chủ biên bộ sách ‘Lịch sử Việt Nam’ bình luận về việc vì sao các nhà biên soạn sử dụng tên gọi chính quyền Việt Nam Cộng Hòa thay thế cho tên gọi ‘Ngụy quân, ngụy quyền’.

    Ông Cường được RFA dẫn lời nói: “Bản chất chính quyền Sài Gòn và quân đội Sài Gòn theo chúng tôi không có gì thay đổi cả. Đấy là một chính quyền được dựng lên từ đô la và vũ khí, thực hiện chiến lược toàn cầu của Mỹ, ngăn chặn chủ nghĩa Cộng Sản lan xuống vùng Đông Nam Á, đồng thời chia cắt đất nước Việt Nam một cách lâu dài, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ. Điều đó không có gì nghi ngờ cả”.

    “Thứ hai, quân đội Sài Gòn thực chất được Mỹ trang bị hoàn toàn và quan trọng hơn là thực hiện mưu đồ của Mỹ. Đó cũng là một đội quân đi đánh thuê. Thực chất các nhà sử học không có một đánh giá nào khác so với thời gian trước đây.”

    “Nhưng về cách gọi, chúng tôi nghĩ rằng trong một văn bản khoa học, mình gọi trung tính vẫn hơn là ngụy quân, ngụy quyền. Bởi vì cách gọi này mang tính biểu cảm, miệt thị cho nên chúng tôi gọi là quân đội Sài Gòn và chính quyền Sài Gòn,” PGS. TS Trần Đức Cường nói với ban Việt ngữ Đài châu Á Tự do.

    Vì sao cần Việt Nam Cộng Hòa?

    Tổng thống Thiệu qua lời kể cựu bí thư

    GS Vũ Minh Giang bình luận về Bộ sách Lịch sử Việt Nam 15 tập do Viện Sử học mới công bố.

    Đài Sài Gòn 30/4/1975 phát đi những gì?

    Sử gia Nguyễn Đình Đầu buồn vì sách Petrus Ký bị thu hồi

    Thu hồi sách của Trần Trọng Kim: Nên hay không?

    Về lý do vì sao các nhà biên soạn sách lịch sử của Việt Nam ở trong nước thời gian qua và hiện nay có sự thay đổi về cách gọi tên chính quyền Việt Nam Cộng Hòa như trên, cựu Đại sứ Bùi Diễm nói:

    “Nhà cầm quyền Việt Nam bây giờ có nói đến vấn đề nhìn nhận Việt Nam Cộng Hòa, điều đó tôi nghĩ cũng là một sự thực lịch sử không ai chối cãi được,

    “Có lẽ bây giờ những nhà cầm quyền ở Việt Nam cần đến những điều đó để nói cho rõ rằng Hoàng Sa hay là Trường Sa là của Việt Nam để có thể… tranh đấu với những người Trung Quốc, Trung Cộng về những vấn đề đó, cho nên mới trở lại nhìn nhận Việt Nam Cộng Hòa,” ông Bùi Diễm nhận xét.

    Cũng hôm 23/8, Giáo sư Vũ Minh Giang, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, bình luận với BBC về lựa chọn sử dụng tên gọi của nhóm biên soạn bộ sách sử của Viện Sử học Việt Nam, ông nói:

    “Trong lịch sử Việt Nam có nhiều thực thể lịch sử mà cách trình bày, cách gọi tên như thế nào đó là quyền của mỗi người, cái đó không có một quy ước nào là phải gọi thế này, hay gọi thế kia, nhưng với một bộ lịch sử mà có tính khoa học cao và nhất là tới đây có những bộ sử mà nó đảm bảo tính chuẩn quốc tế của nó, thì bớt đi những từ biểu cảm khi nói về các thực thể lịch sử, thì tính chất khoa học cao lên.

    Bùi Văn Bồng: Hy sinh của chiến sĩ ở Gạc Ma

    “Chẳng hạn như đối với thực thể chính quyền Việt Nam Cộng Hòa thì gọi đúng tên, định danh là như thế, tôi cho rằng nó đúng với những thực thể lịch sử ấy, thay vì việc thể hiện sự biểu cảm trong các danh xưng.

    ‘Những người thích, yêu thì nói một kiểu, còn những người không thích thì nói một cách, thì đấy là cách, quyền của mỗi người khi mà gọi danh xưng ấy. Nhưng đã viết vào một bộ sử mà có tính chuẩn tắc, khoa học, nên sử dụng những từ hạn chế biểu cảm, đấy là quan điểm của tôi.”

    Hôm 24/8, một nhà phổ biến kiến thức phổ thông và chủ trương các dự án về sách hóa nông thôn và tủ sách cho các dòng họ ở Việt Nam, ông Nguyễn Quang Thạch, đưa ra bình luận về một số ‘nét mới’ trong bộ ‘Lịch sử Việt Nam’ mới công bố hôm 18/8, trong đó có gọi cuộc chiến 17/2/1979 ở Biên giới phía Bắc Việt Nam là cuộc chiến tranh xâm lược của Trung Quốc đối với Việt Nam và việc từ bỏ cách gọi ‘Ngụy quân, ngụy quyền’ như trên đã đề cập, ông nói:

    “Thứ nhất gọi tên cuộc chiến với Trung Quốc đúng như bản chất của nó là tốt, để cho học sinh và giáo viên thấy được rằng sống bên một quốc gia mạnh mà luôn luôn có tư tưởng bành trướng như Trung Quốc, thì chúng ta phải làm cho dân tộc mình mạnh lên để song tồn với họ.

    “Thứ hai là nói về Việt Nam Cộng Hòa mà không gọi ‘Ngụy quân, ngụy quyền’ nữa, thì đấy làm cho người Việt ở trong nước người ta sẽ gắn kết với nhau hơn, không tạo ra những xung đột, mối nguy không đáng có, tương tự như khi người ta phổ biến nghiên cứu khoa học của họ mà xác thực các triều đại này làm được việc này, việc kia, hay chưa làm được…, thì việc ấy là việc tốt,” ông Nguyễn Quang Thạch nói với BBC.

    ‘Một thiếu sót lớn và xúc phạm với liệt sỹ’

    VN: Lập đài tưởng niệm trận Gạc Ma và nhìn lại

    Về ‘mệnh lệnh’ tranh cãi trận Gạc Ma 29 năm trước

    Đại tá Phạm Hữu Thắng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, nói về trận Gạc Ma và tưởng niệm.

    Hy sinh của chiến sĩ ở Gạc Ma

    Hôm 24/8, tại một Bàn tròn thứ Năm của BBC Tiếng Việt nhân bộ sách 15 tập được công bố và được truyền thông đưa tin khá rầm rộ ở Việt Nam, Tiến sỹ Nguyễn Xuân Diện, một trong các khách mời và là nhà nghiên cứu từ Viện Nghiên cứu Hán – Nôm, đưa ra một vài nhận xét từ một số chi tiết cho tới phương pháp luận khái lược khi soạn thảo, ông nói:

    “Sự kiện Gạc Ma năm 1988 mà không được đưa vào bộ sử này thì đây là một thiếu sót vô cùng lớn lao và là một sự xúc phạm lớn đối với những người đã hy sinh cho Tổ Quốc để bảo vệ biển đảo, chủ quyền của đất nước…

    “Một vài điểm khác nữa, một bộ sử dù là bất cứ một cá nhân hay là một đơn vị, cơ quan nào tổ chức, thì điều đầu tiên phải tuân thủ là viết sử phải viết đúng sự thật và nếu như có những sự thật viết ra rồi mà chưa tiện công bố, thì gác lại, chứ không được viết một cách sai lạc hoặc là khác đi.

    “Vì vậy cho nên bộ sử này dù có công nhận chính quyền Việt Nam Cộng Hòa hay không công nhận Việt Nam Cộng Hòa, có gọi cuộc chiến tranh chống Trung Quốc là chiến tranh chống xâm lược hay không, thì sự thực lịch sử cũng đã tồn tại rồi.

    “Và ngay những sự kiện 1975 cũng vậy, dù là các nhà sử học, những người viết sử hay là tập thể viết sử mà viết như thế nào, thì sự thực lịch sử đã tồn tại và với một thời đại Internet như hiện nay, mọi người có thể vào tất cả các văn khố để có thể đọc, vậy thì không ai có thể trốn tránh, hay lảng tránh được…

    “Vấn đề thứ hai là vì đây là một tác phẩm sử học, một bộ sử học được biên soạn ròng rã trong chín năm trời bởi hàng chục, hàng trăm người ở trong một cơ quan khoa học hàn lâm như vậy, vì vậy cho nên chúng ta phải nhìn nhận bộ sử này đúng như nó là một bộ sử và trước hết bởi vì sự tôn trọng đối với lịch sử, chứ chúng ta tránh tình trạng là chỉ thấy một vài từ thay đổi mà đã thấy một điều gì đấy như là rất cảm tính.

    “Tôi cho rằng hãy nhìn bộ sử này với tinh thần rất nghiêm khắc của một người đọc một bộ sử, trước hết là như vậy, rồi mới nói đến rằng nó có những từ ngữ nọ, từ ngữ kia, nó làm cho tinh thần dân tộc được chấn hưng lên, hay là một sự vui mừng, một sự hy vọng hòa hợp v.v…

    PGS. TS. Trần Đức Cường
    Bản quyền hình ảnhBLOG NGUYEN XUAN DIEN
    Image captionPGS. TS. Trần Đức Cường, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, là Tổng Chủ biên bộ sách ‘Lịch sử Việt Nam’ 15 tập do Viện Sử học Việt Nam biên soạn.

    “Tất cả những cái đó tôi cho là mang tính chất cảm tính, còn những nhà khoa học đọc bộ sử này, trước hết người ta đọc bằng một con mắt lạnh lùng của nhà sử học và nhìn nhận bộ sử ấy như một đối tượng để người ta xem xét, vì vậy bộ sử 15 tập này mới được tái bản và có sửa chữa, cho nên nó vẫn đang trong hành trình để đi đến với mọi người đọc, cho nên chúng ta cần phải có nhiều thời gian hơn nữa để đọc bộ sử này,” Tiến sỹ Nguyễn Xuân Diện nói với Bàn tròn của BBC hôm 24/7/2017.

    Được biết, bộ sách ‘Lịch sử Việt Nam’ do Viện Sử học Việt Nam soạn thảo được hoàn thành sau chín năm với hơn 30 nhà nghiên cứu sử học tham gia, có độ dầy hơn 10 nghìn trang, đây được coi là bộ ‘thông sử’ quy mô ‘chưa từng thấy’ từ trước tới nay ở Việt Nam phản ánh lịch sử nước này từ khởi thủy cho đến những năm 2000, theo truyền thông Việt Nam.

    Mời quý vị bấm vào đây để theo dõi một cuộc Tọa đàm Bàn tròn của BBC Tiếng Việt với tựa đề “Bộ sách ‘Lịch sử Việt Nam’ – vấn đề & ý kiến” với các khách mời tham gia gồm nhà nghiên cứu lịch sử Nguyễn Nhã từ Sài Gòn, Đại tá Phạm Hữu Thắng, Viện Lịch sử Quân sự, Bộ Quốc phòng Việt Nam, Tiến sỹ Nguyễn Văn Huy, nhà nghiên cứu Dân tộc học từ Paris, Pháp, Tiến sỹ Nguyễn Xuân Diện, Viện Nghiên cứu Hán – Nôm từ Hà Nội và nhà bình luận, phân tích gia Nguyễn Xuân Nghĩa, từ Hoa Kỳ.

    nguon

  5. Tuyệt Chiêu Sử Học

    Bộ sử cũ của Vũ Duy Mến

    Chữ “ngụy quân và ngụy quyền” biến mất… trên văn bản tài liệu sử. Và thay bằng đúng tên một thời: Việt Nam Cộng Hòa.
    photo-0-1487560256322
    Giáo sư Phan Huy Lê

    Chữ “ngụy quân và ngụy quyền” biến mất… trên văn bản tài liệu sử. Và thay bằng đúng tên một thời: Việt Nam Cộng Hòa.

    Viện Sử học Việt Nam vừa cho phát hành bộ lịch sử Việt gồm 15 tập, do Giáo sư Phan Huy Lê làm chủ biên, trong đó khi nói đến miền Nam từ năm 1956 đến 1975, những nhà viết sử đã dùng danh xưng đúng của mảnh đất này là “Việt Nam Cộng Hòa” chứ không còn gọi là “ngụy quyền Sài-Gòn.”

    Lịch sử sau này sẽ ghi dấu chuyển biến lớn này. Dù có cho phép hay can thiệp từ Bộ Chính Trị CSVN hay không, việc gọi đúng tên là một chuyển biến lớn, vì sẽ cho các sinh viên, học sinh tiếp cận ngành sử trong cái nhìn trung tính cân thiêt.

    Cũng nên ghi rằng nhà sử học Phan Huy Lê đã từng khui ra một bí mật: em bé Lê Văn Tám mới 12 tuổi xông vào đốt kho đạn Thị Nghè của Pháp trong tháng 10/1945 là hư cấu, vì chẳng có em bé 12 tuổi nào như thế, vì em bé đó chỉ là nhân vật tưởng tượng do Trần Huy Liệu (Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền và Cổ động) bịa đặt ra. Lịch sử không bao giờ biết được tên người du kích cảm tử tự kích nổ mìn phá kho xăng.

    Nhà sử học Phan Huy Lê khi tiết lộ sự thật về Lê Văn Tám năm 2009 đã bị các dư luận viên chỉ trích, ném đá… vì cho rằng sử gia họ Phan đã khai tử một huyền thoại thiếu niên.

    Bây giờ là Bộ Lịch sử Việt Nam, chủ biên laị là sử gia Phan Huy Lê.

    Trên RFA, nhà văn Nguyễn Tường Thụy qua bài tựa đề “Ý nghĩa của việc thừa nhận chính thể Việt Nam Cộng hòa” đã nhận xét:

    “Bộ Lịch sử Việt Nam vừa xuất bản đang được công luận quan tâm. Nội dung có những thay đổi về cách nhìn nhận một số sự kiện lịch sử, trong đó, điều mà công luận quan tâm nhất là trả lại tên gọi cho chính thể Việt Nam Cộng Hòa. Đây là vấn đề cực kỳ nhạy cảm và tế nhị vì vậy bộ sử nhận được rất nhiều hoan nghênh nhưng còn có cả những ý kiến phản đối dữ dội….

    …Dù sao thì, việc thừa nhận Việt Nam Cộng Hòa cũng đáng hoan nghênh và là một sự can đảm cần khuyến khích. Thế hệ lãnh đạo Việt Nam hiện nay, vào năm 1975 họ chưa có vai trò gì. Họ không phải chịu trách nhiệm về cuộc chiến tranh. Cái khó nhất của họ là cuộc chiến tranh do thế hệ lãnh đạo trước tiến hành đã cho họ thừa hưởng nhiều đặc quyền, đặc lợi mặc dù với dân tộc và với đất nước thì không. Vì vậy, nếu họ dám thừa nhận sai lầm của thế hệ lãnh đạo trước và dám sửa cũng là một sự can đảm.”(hết trích)

    Trong khi đó, trên VOA, sử gia Nguyễn Nhã qua bài viết nhan đề “Công nhận VNCH sẽ có lợi như thế nào?” đã nhận xét:

    “Việc viết bộ sử Lịch sử Việt Nam gồm 15 tập do GS Phan Huy Lê chủ biên, không dùng từ “ngụy quyền Sài gòn” mà sử dụng “Việt Nam Cộng Hòa” là bước tiến mới của giới sử học Việt Nam. Song tôi nghĩ phải có sự chính thức của chính quyền thống nhất hiện nay vì sẽ có nhiều cái lợi, như sau:

    Một là, để đấu tranh bảo vệ chủ quyền chính đáng của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa mà pháp lý quốc tế hồi cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, khi Trung Quốc bắt đầu tranh chấp chủ quyền năm 1909 cho Paracels mà Trung Quốc cho là đất vô chủ (res -nullius), thì sự chiếm hữu phải mang tính thật sự, nhà nước, liên tục và hòa bình.

    Từ năm 1954 đến 1975 chỉ có chính quyền ở Miền Nam mới có quyền quản lý Hoàng Sa và Trường Sa vì hai quần đảo này ở vị trí dưới vĩ tuyến 17, cũng đã từng được rất nhiều nước thừa nhận, nên phải được chính thức thừa nhận mới bảo đảm tính pháp lý quốc tế liên tục.

    Hai là, hiện có hơn 4 triệu Việt Kiều trong đó các thành phần trong chính quyền Việt Nam Cộng Hòa cũng rất quan trọng, công nhận VNCH sẽ tạo sự đoàn kết, hòa hợp hòa giải dân tộc. Nhân kỷ niệm ngày 30 thánh 4, nguyên thủ tướng Võ Văn Kiệt đã tuyên bố có “một triệu người vui, một triệu người buồn” đã tạo điều kiện hòa hợp hòa giải dân tộc mà tôi cũng đã phát biểu phải là chiến lược chứ không chỉ là sách lược.

    Ba là sự đoàn kết dân tộc là điều kiện quan trọng, nhất là chất xám người Việt ở khắp nơi trên thế giới để xây dựng đất nước hùng cường mà hiện có triển vọng trở thành cường quốc biển chứ không chỉ là cường quốc trung bình như có nhà nghiên cứu ở Mỹ vừa phát biểu.

    Bốn là, thừa nhận Việt Nam Cộng Hòa, Việt Nam chúng ta hiện nay có thể chính thức thừa hưởng gia tài rất quý báu về văn hóa giáo dục, kinh tế mà chính quyền Việt Nam Cộng Hòa với cơ chế mà gần như cả thế giới hiện nay đang thực hiện.”(hết trích)

    Trong khi đó, trên BBC nhà giáo Bùi Văn Phú qua bài nhan đề “Từ ‘Việt Nam Cộng hòa’ đến hòa giải dân tộc” nhận xét:

    “…Gọi tên “Việt Nam Cộng hòa” lúc này có liên quan gì đến việc đòi lại chủ quyền ở Hoàng Sa, Trường Sa là điều tôi cho là xa vời, vì ảnh hưởng của Trung Quốc hiện nay quá lớn trong chính trường Việt Nam khiến lãnh đạo Hà Nội, dù có xích lại gần hơn với Hoa Kỳ, cũng sẽ không làm gì mạnh về chủ quyền trên Biển Đông.

    Sự kiện Việt Nam, do áp lực từ Trung Quốc, tháng trước đã phải yêu cầu công ty Repso của Tây Ban Nha ngưng khoan dầu trong vùng biển đặc quyền kinh tế của Việt Nam cho thấy điều đó.

    Qua việc nhắc đúng tên của miền Nam là “Việt Nam Cộng hòa”, tôi chỉ hy vọng lãnh đạo Hà Nội thực tâm nhìn nhận trên đất nước đó đã có một nền văn hoá, một không khí sinh hoạt chính trị sôi nổi trong hai mươi năm và những di sản đó vẫn còn trong lòng nhiều người Việt, trong nước cũng như tại nước ngoài.”(hết trích)

    Cũng nên nhắc rằng, khi giàn khoan Trung Quốc vào quậy Biển Đông năm 2014, chính phủ Bắc Kinh có nhắc tới Công Hàm Phạm Văn Đồng năm 1958, thế là… toàn dân VN sôi sục, vì thấy rõ kể như là VC bán biển rồi.

    Trong một bài viết “Các Ông Chỉ Có Một Đường Binh…” trên nhiều mạng hồi năm 2014, ghi lại cuộc nói chuyện của Đại diện CSVN với đối tác phía Mỹ một buổi cơm tối thân mật tại một nhà hàng Tàu trong vùng Virginia, không thấy ghi tên người viết, ghi lời khuyên của phía Mỹ là nhà nước CSVN chỉ cần đổi tên thành Việt Nam Cộng Hòa là tức khắc vô hiệu hóa Công Hàm Phạm Văn Đồng và sẽ có chính nghĩa chủ quyền Hoàng sa và Trường sa.

    Bài viết trích như sau:

    “Đại diện Mỹ ngừng một lát rồi nói tiếp:

    – Tôi xem công hàm Phạm văn Đồng nhiều lần và phải công nhận vào thời điểm năm 1958, ông Đồng hay ai đó soạn cho ông Đồng ký công hàm này là “khôn liền” ngay lúc đó mà không có “khôn lâu”.

    – Ý ông là?

    – Ngôn từ trong công hàm này vào năm 1958 rất là KHÔN NGOAN. Vì các ông BÁN VỊT TRỜI mà thu được gần cả tỉ đô la viện trợ của Trung Quốc cho một món hàng tương lai không biết có chiếm được hay không. Ví như một người muốn đi cướp nhà người khác không có súng, không có tiền, đi hứa với thằng cướp khác: “Khi nào tao cướp được nhà đó thì tao tôn trọng quyền của mày được trồng rau ở sân sau”. Khi cướp được thì phải thực hiện lời hứa đó.

    Đại diện CSVN mỉa mai:

    – Nếu “khôn lâu” như ông trong trường hợp đã lỡ ký LỜI HỨA đó thì ông phải làm sao?

    – Nếu tôi là các ông mà tôi bắt buộc phải viết công hàm đó để có viện trợ thì tôi vẫn viết như thế …

    – Huề tiền!

    – Tôi vẫn nhận gần cả tỉ đô la để đánh Hoa Kỳ và kéo nó đến bàn Hội Nghị Paris năm 1973 để nó phải rút quân …

    Đại diện CSVN phá liên cười:

    – Ông khôi hài quá, thế mà lại dạy “ngoại luộc trứng.”

    Đại diện Mỹ vẫn từ tốn nói tiếp:

    – CSVN ký công hàm Phạm văn Đồng là khôn liền ngay năm 1958, nhưng ai đó quyết định xé hiệp định Paris chiếm Miền Nam năm 1975 là ĐẠI NGU để Trung Quốc nó ị trước. Chiếm Miền Nam là biến công hàm đó thành hiện thực và đối diện gần 1 tỉ đô la nợ Trung Quốc, là từ bỏ 4 đến 6 tỉ đô la bồi thường chiến tranh của Hoa Kỳ. Việt Nam bỏ cơ hội thành một nước Đức và nước Nhật sau thế chiến thứ hai.

    Đại diện CSVN hết kiên nhẫn ngắt lời:

    – Ông có khiếu kể chuyện cổ tích. Xin phép trở lại trọng tâm. Thế thì có giải pháp nào cho chúng tôi trong bế tắc này không?

    Đại diện Mỹ nhìn quanh rồi pha trò:

    – Có tình báo Hoa Nam Cục ở đây không?

    Rồi, ông nói tiếp:

    – Theo tôi thì các ông phải tuân thủ công hàm Phạm văn Đồng vì 1974 các ông đã tuân thủ thì hôm nay phải tuân thủ để yên cho Trung Quốc đặt giàn khoan.

    – Không còn cách nào hết sao?

    – Chỉ còn cách mà tôi đã nói với các ông hôm đầu tiên.

    – Cách gì ông nhắc lại đi.

    – Một cách vô cùng giản dị, không cần viện trợ của Hoa Kỳ, chẳng cần ủng hộ của thế giới, mà lại đoàn kết, hòa hợp hòa giải với mọi thành phần người Việt trong và ngoài nước và quan trọng là vô hiệu hóa công hàm Phạm văn Đồng.

    – Làm cách nào?

    – Ngay ngày mai …Đổi lại tên nước thành Việt Nam Cộng Hòa. Lấy lại tên Sài Gòn và dời thủ đô về đó. Lấy CỜ VÀNG làm quốc kỳ. Có như thế thì trước diễn đàn thế giới, VNCH chỉ VẮNG MẶT 39 năm chứ KHÔNG CHẾT. Công hàm Phạm văn Đồng chỉ là tờ “giấy lộn” vì tên cướp có vô nhà nhưng chủ nhà về lại và đã đuổi cổ nó ra. Trời Việt lại … HỪNG ĐÔNG.

    Đại diện CSVN vuốt mồ hôi lạnh trên trán:

    – Chỉ đơn giản thế thôi sao?

    Vịt Bắc Kinh trên bàn đã NGUỘI LẠNH, lớp mỡ trắng đã bắt đầu đóng viền quanh dĩa vì không ai còn đoái hoài đến nó.

    Đại diện Mỹ vỗ vai đại diện CSVN nói một câu tiếng Anh:

    – All road lead to Rome (Đường nào cũng về La Mã). Hãy trả cho Ceazar những gì của Ceazar. Các ông chỉ có một ĐƯỜNG BINH. Cầm bài chi lâu cho nó … ƯỚT.”(hết trích)

    Có phải các sử gia đang khuyến khích nhà nước Hà Nội dời đô vào Sài Gòn và đổi tên nước thành Việt Nam Cộng Hòa? Đó là tuyệt chiêu vậy… Phải chi Nguyễn Phú Trọng dám sử dụng độc chiêu này.

    CHÚ Ý

    Bộ sử Việt Nam mới ‘tôn trọng quá khứ, vì lợi ích quốc gia’.

     

  6. Từ “Việt Nam Cộng hòa” đến hòa giải dân tộc

    Sách sử Việt Nam
    Bản quyền hình ảnhOTHER

    Những ngày qua có thông tin Viện Sử học Việt Nam vừa cho phát hành bộ sử Việt gồm 15 tập, do Giáo sư Phan Huy Lê làm chủ biên, trong đó khi nói đến miền Nam từ năm 1956 đến 1975, những nhà viết sử đã dùng danh xưng đúng của mảnh đất này là “Việt Nam Cộng Hòa” chứ không còn gọi là “ngụy quyền Sài-Gòn”. 

    Nhiều thảo luận đã đưa ra lí giải vì sao có thay đổi cách gọi tên như thế.

    Có ý kiến cho đây là vì Hà Nội muốn đòi lại chủ quyền ở Hoàng Sa, Trường Sa đang bị Trung Quốc chiếm đóng – những vùng quần đảo này trước đây thuộc về Việt Nam Cộng hòa (miền Nam), còn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (miền Bắc) qua Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng lại thừa nhận Hoàng Sa nằm trong lãnh hải Trung Quốc.

    Theo công pháp quốc tế thì chỉ khi thừa nhận có quốc gia Việt Nam Cộng hòa thì Hoàng Sa mới thuộc chủ quyền của nước Việt Nam.

    Cũng có người nói thay đổi cách gọi tên của miền Nam là tạo không khí cho chính sách hòa giải dân tộc để chung sức chống lại Trung Quốc đang bành trướng.

    “Năm năm vàng son” của Việt Nam Cộng Hòa

    Đề cử người Mỹ gốc Việt lên thiếu tướng

    30/04: Những xui xẻo định mệnh của VNCH

    Tướng Kỳ – Một cuộc đời nhiều khen chê

    Những nhà sử học cho đó là cách viết sử nghiêm minh và chuẩn mực, điều mà trước nay bởi nguyên do chính trị và tuyên truyền nên sách sử xuất bản tại Việt Nam trong hơn nửa thế kỷ qua đã dùng những từ miệt thị khi nói về Việt Nam Cộng hòa, như khi nói về chính quyền thì gọi là “ngụy quyền” và những người phục vụ chính quyền đó là “ngụy quân”.

    Tuy nhiên, một tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam đã lên tiếng phản đối cách gọi tên đó và cũng có ý kiến cho rằng Việt Nam Cộng hòa là “một thây ma” đã chết từ lâu không việc gì phải dựng nó sống lại.

    Trên Facebook của tôi, có bạn tỏ ra rất lạc quan với những biến chuyển chính trị trong vòng một năm qua, với việc Việt Nam đang xích gần lại với Hoa Kỳ hơn bao giờ hết trong quan hệ mang tính chiến lược, trước sự bành trướng của Trung Quốc ở Biển Đông, và đang tạo ảnh hưởng đến lãnh đạo Hà Nội cũng như tác động đến nền kinh tế đang có nhiều khó khăn ở Việt Nam.

    Hiệp định Paris 1973

    Toàn cảnh lễ ký kết Hiệp định Paris ngày 27/1/1973 tại Paris.
    Bản quyền hình ảnhKEYSTONE/GETTY
    Image captionToàn cảnh lễ ký kết Hiệp định Paris ngày 27/1/1973 tại Paris

    Cũng có nhận định cho rằng sắp đến thời điểm đem Hiệp định Paris 1973 ra để thi hành.

    Sự kiện này không phải là điều mới. Từ thập niên 1990, giáo sư Vũ Quốc Thúc, một nhà kinh tế và giáo sư đại học thời Việt Nam Cộng hòa đã đưa ra chủ trương khôi phục và thi hành Hiệp định Paris, tức là đòi cho người dân miền Nam được quyền tự quyết về tương lai chính trị và những quyền tự do căn bản.

    Tướng Khánh liên lạc với Mặt trận

    Nam Bắc Hàn và Cuộc chiến Việt Nam

    ‘Cuộc chiến của Hà Nội’

    Bà Đặng Tuyết Mai và những năm tháng bên ông Kỳ

    Căn bản của Hiệp định Paris là để quân đội Mỹ rút khỏi Việt Nam trong danh dự và hai miền chấm dứt chiến tranh, tái lập hòa bình trên đất nước Việt Nam.

    Sau đó giải quyết khác biệt chính trị bằng việc thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc, tiến đến bầu cử để chọn lựa thể chế chính trị.

    Hai chính phủ Việt Nam Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam thực thi chính sách hòa hợp hòa giải dân tộc, người dân miền Nam có các quyền căn bản, theo điều 11 của hiệp định:

    • Thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc, xóa bỏ thù hằn, cấm mọi hành động trả thù và phân biệt đối xử với những cá nhân hoặc tổ chức đã hợp tác với bên này hoặc bên kia;
    • Bảo đảm các quyền tự do dân chủ của nhân dân: tự do cá nhân, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do tổ chức, tự do hoạt động chính trị, tự do tín nguỡng, tự do đi lại, tự do cư trú, tự do làm ăn sinh sống, quyền tư hữu tài sản và quyền tự do kinh doanh.

    Về việc thống nhất hai miền Nam và Bắc, quyết định đó tùy thuộc vào chính phủ hai bên.

    Hoa Kỳ cũng đồng ý viện trợ hơn ba tỉ đôla để tái thiết miền Bắc Việt Nam.

    Chữ ký các Ngoại trưởng, Hiệp định Paris 1973
    Bản quyền hình ảnhOTHER

    Hiệp định được Ngoại trưởng bốn bên ký tại Paris ngày 27/1/1973, gồm Hoa Kỳ, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Việt Nam Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam.

    Ngày 30/4/1975 xe tăng và bộ đội cộng sản miền Bắc vào chiếm miền Nam, chính quyền Sài Gòn đầu hàng.

    Một năm sau hai miền chính thức được thống nhất, đưa đến một thực tế là chỉ còn một nước Việt Nam từ đó đến nay.

    Chủ trương hòa hợp hòa giải

    Đất nước đã thống nhất, nhưng lòng người thì chưa. Đó là nhận xét của nhạc sĩ Phạm Duy khi ông trở về Việt Nam năm 2005 để sống những ngày cuối đời và chết ở đó.

    Từ nhiều năm qua, lãnh đạo Hà Nội đã ban hành những nghị quyết, chính sách với mục đích hòa giải dân tộc, như Nghị quyết 36 cách đây hơn một thập niên; những chính sách mời gọi người Việt ở nước ngoài, không phân biệt quá khứ, về đầu tư, tham gia vào việc xây dựng đất nước. Hay chính sách cấp thị thực 5 năm cho người Việt có hộ chiếu nước ngoài.

    Những chủ trương hòa giải dân tộc đó đã nhắm sai đối tượng, vì chỉ quan tâm tới người Việt sinh sống ở nước ngoài, trong khi đối tượng chính mà nhà nước cần có tinh thần hoà giải là với những công dân Việt đang sinh sống trên đất nước Việt Nam.

    Ngày nay ở Việt Nam chưa có hòa giải vì những người bất đồng quan điểm với nhà nước vẫn còn bị sách nhiễu, giam tù hay quản chế.

    Những tù nhân lương tâm đã được thế giới nhắc đến như Mẹ Nấm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Anh Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh, Trần Thị Nga, Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Bắc Truyển, Trần Huỳnh Duy Thức là ví dụ.

    Tổng thống Việt nam Cộng hòa, Nguyễn Văn Thiệu, khánh thành một bệnh viện tại Sài Gòn 22/3.1973.
    Bản quyền hình ảnhKEYSTONE/HULTON ARCHIVE/GETTY IMAGES
    Image captionSách báo của Miền Bắc trước đây thường dùng cụm từ ‘ngụy quân, ngụy quyền’ để gọi chính phủ và quân đội Việt Nam Cộng hòa

    Gọi tên “Việt Nam Cộng hòa” lúc này có liên quan gì đến việc đòi lại chủ quyền ở Hoàng Sa, Trường Sa là điều tôi cho là xa vời, vì ảnh hưởng của Trung Quốc hiện nay quá lớn trong chính trường Việt Nam khiến lãnh đạo Hà Nội, dù có xích lại gần hơn với Hoa Kỳ, cũng sẽ không làm gì mạnh về chủ quyền trên Biển Đông.

    Sự kiện Việt Nam, do áp lực từ Trung Quốc, tháng trước đã phải yêu cầu công ty Repso của Tây Ban Nha ngưng khoan dầu trong vùng biển đặc quyền kinh tế của Việt Nam cho thấy điều đó.

    Qua việc nhắc đúng tên của miền Nam là “Việt Nam Cộng hòa”, tôi chỉ hy vọng lãnh đạo Hà Nội thực tâm nhìn nhận trên đất nước đó đã có một nền văn hoá, một không khí sinh hoạt chính trị sôi nổi trong hai mươi năm và những di sản đó vẫn còn trong lòng nhiều người Việt, trong nước cũng như tại nước ngoài.

    Hãy để cho nền văn hoá đó được sống. Đừng cấm đọc, cấm in lại hay ngăn cản không cho phổ biến những ca khúc đã đi vào lòng hàng triệu người dân Việt. Điều đó sẽ thể hiện tinh thần hòa giải của chính quyền.

    Còn nếu thực sự đem Hiệp định Paris ra làm căn bản hòa hợp hòa giải cho cả nước, đó sẽ là điều mừng cho đất nước và dân tộc, sau hơn 40 năm chiến tranh chấm dứt, đất nước thống nhất.

    Bài viết phản ánh quan điểm riêng của tác giả là một nhà báo tự do hiện sống tại vùng Vịnh San Francisco, California.

    VN: ngôn từ XHCN ngày càng giảm?

    Trung-Việt: Tương đồng và tương quan?

    Việt Nam ‘cô độc trước Trung Quốc’

    Tướng Giáp, Tướng về hưu

    nguon – BBC

  7. Sách viết về lịch sử, tôi gọi là sách sử hay sử sách, chưa phải, nhiều trường hợp còn không phải, là lịch sử; bởi nó được viết bởi những người của chánh quyền đương đại. Nhà cầm quyền đượng đại nhiều khi tranh đoạt việc cầm quyền bằng hành vi bất minh, bất chánh, tàn bạo, … thì làm sao ghi nhận lịch sử, nhứt là đối với triều đại đã bị mình soán đoạt khách quan được. Cho nên sử sách triều Nguyễn Gia Long gọi triều Nguyễn Tây Sơn, hay nhà cầm quyền CSVN kêu chánh quyền VNCH là ngụy quyền cũng không ngoài lý do đó. Trong khi thực tế chánh phủ VNCH là có thực, họ không tiếm danh, tiếm quyền của kẻ khác, được nhiều quốc gia trên thế giới công nhận, ít nhứt cũng được các quốc gia tham gia ký hiệp định Ba Lê về Việt Nam năm 1973, trong đó có Chánh phủ VNDCCH và Chánh phủ lâm thời (cái “chánh quyền lâm thời” nầy mới thiệt là ngụy đây, vì nó đâu có thiệt, và thực tế nó đâu, nó chỉ có “lâm thời” chớ đâu có “chánh thức”) thừa nhận khi ký kết hiệp định mang tính quốc tế với chánh quyền VNCH.
    Việc thay cách gọi “ngụy quyền”, “ngụy quân” thành “chánh quyền Sài Gòn”, quân đội Sài Gòn” vẫn chưa phải là tôn trọng quá khứ, vẫn chưa phải là đúng lịch sử. Nếu “tôn trọng quá khứ” và đúnh lịch sử, phải gọi là chánh quyền, chánh phủ, quân đội Việt Nam Cộng hòa vậy!

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s