Bài viết phản biện : The Vietnam War (Cuộc chiến 20 năm Nam Bắc Vietnam)

Vivi : Bài viết của một người Mỹ, mà chính ông đã tham dự cuộc chiến tại Vietnam .

bababax

Biện minh cho việc phản bội
trong cuộc chiến VN như là một lý do để tồn tại.

Phillip Jennings

Song Vũ dịch

Chỉ có một điều tích cực mà tôi có thể nói về cuốn phim tài liệu Chiến tranh Việt Nam của ken Burns là điều này: Nếu cuốn phim đó là những gì tốt đẹp nhất của cánh tả có được, thì chúng tôi mong rằng chúng tôi hân hoan được nghe lần cuối cùng về nó. Những luận điểm ông Burns trình bầy vừa yếu vừa thiên vị, và mang tính sỉ nhục. Tài liệu được diễn theo kịch bản đã gợi lại nỗi đau buồn và sự nổi giận đạo đức qua những điều được trình bầy như là sự sai lầm của Hoa Kỳ, sự thiếu khả năng, và thiếu mục đích đạo đức của HK.

Lối diễn đạt đặt đối nghịch bằng sự sung sướng và phấn khích của những người thắng trận (cộng sản) với nỗi buồn và sự hối hận tràn đầy của người thua cuộc (Hoa Kỳ và VNCH). Nó cho rằng chỉ có một cái nhìn như thế mới đáng để kết luận. Ông Burns không tìm ra ngay cả một cựu chiền binh HK hoặc VNCH—những người hoàn toàn ủng hộ cuộc chiến, những người hãnh diện đã cầm súng chống lại cộng sản, và chán ngấy cảnh HK bỏ rơi đồng minh chiến đấu bảo vệ sự tìm kiếm tự do cho mình.

Có hàng trăm hàng ngàn người như thế trong chúng tôi.

Cũng không nghi ngờ gì, đã có những người lính miền Bắc chỉ trích thái độ cư sử tàn bạo của cộng sản trong cuộc chiến, nhưng ông Burns cũng đã không tìm thấy họ. Chúng ta cũng chẳng có cách nào biết được có những cựu chiến binh cộng sản nào hân hoan sung sướng xuất hiện trong tài liệu đã từng tham gia trong việc thực hiện tội ác chiến tranh– qua cuộc hành quyết hàng ngàn thường dân ở Huế hoặc trong vô vàn những hành động khủng bố của những cán binh do cộng sản miền Bắc bảo kê cho họ.

Tài liệu của Burns mặc nhiên chấp nhận 5 vấn đề cốt lõi trong quan điểm của phái tự do về chiến tranh:

1. Có sự tương đương về đạo đức giữa HK và lực lượng cộng sản, và những mục đich và mục tiêu của từng bên.

Không, không phải vậy. Cộng sản Bắc việt xâm lược một Miền Nam đang phát triển một nền dân chủ. Người Miền Nam chẳng đe dọa người Miền Bắc điều gì ngoài mẫu mực trong lối sống của họ. Miền Bắc không có quyền cố hữu nào để xâm chiếm Miền Nam, và Miền Nam cũng chẳng có nghĩa vụ nào phải “ Bỏ phiếu của chính họ cho miền bắc” trong năm 1955. Sự sai lầm lầm lỡ ở Mỹ Lai không thể là một tương đương đạo đức so với sự tàn sát những thường dân do cộng sản thi hành, như là một chính sách trong suốt cuộc chiến tranh. Người HK tốt đẹp hơn người cộng sản là điểm mà phe tả không thể chấp nhận.

2. Tổng thống Johnson và đại tướng Wesmoreland chẳng hoàn thành được điều gì.

Chiến lược của HK trong phần đầu của cuộc chiến có thể không hòan hảo. Chiến lược giới hạn cuộc chiến của chúng ta là một ý tưởng yếu kém. Trong bối cảnh của chiến tranh lạnh, nổi sợ hãi về một cuộc chiến hạt nhân và sự can thiệp của cộng sản Trung cộng ở Triều Tiên trong năm 1950, dù sao, không phải không hữu lý, Đến năm 1968, hơn thế nữa, cộng sản đã rất yếu kém và tuyệt vọng, chúng đưa ra một cuộc tấn công thí mạng chống lại Miến Nam trong Tết Mậu Thân—và đã bị thất bại thảm hại. Sau tết, một chiến thắng về quân sư trong cuộc chiến là không thể nghi ngờ. Tổng thống Nixon đã có thể dùng những yếu tố thuận lợi nền tảng đó để Tướng Westmoreland hoàn thành cuộc rút quân toàn bộ thành phần chiến đấu ra khỏi cuộc chiến và sử dụng tối đa không lực để bắt cộng sản phải quỳ gối.

3. Cuộc chiến tại Lào và Campuchia là không liên quan và chỉ là một phần của cuộc nội chiến của Miền nam.

Khi những kẻ theo phái tự do coi thường thuyết Domino đó là một nhắc nhở khác cho biết đám thành kiến đánh phá HK chối bỏ thực tế như thế nào. Lực lượng miền Bắc và sự bành trướng của Nga sô và Trung cộng đã dính líu đến toàn vùng. Cả Lào và Campuchia đều rơi vào sự thống trị cộng sản sau khi HK bỏ rơi đồng minh, với những hệ quả thật đáng sợ.

4. Miền nam tham nhũng suy đồi nên Miền bắc đã làm một chọn lựa khả thi.

Có ai đã từng chứng kiến chế độ cộng sản trong thế kỷ 20 này còn tin vào điều đó không? Biết bao nhiêu triệu người đã chết vì những tội lổi sai lầm dưới sự cai trị của của cộng sản đỏ. HCM giết ít nhất 50.000 công dân của mình trong vòng vài tuần sau khi tự đề cử mình vào lãnh đạo Bắc VN. Tội lỗi của những người bị sát hại này ư? Vì họ là những người có học. Họ là những bác sĩ, luật sư, có nghề nghiệp. Vì họ bày tỏ sự hoài nghi với chính quyền cộng sản. Mọi lãnh tụ cộng sản đều bắt đầu sự cai trị của mình cùng một cung cách đó.

Đó là hình thức tiêu biểu của chủ nghĩa gia trưởng muốn làm gì thì làm—cận biên với chủ nghĩa phân biệt chủng tộc—họ gắn cho dân chúng Miền Nam kém thông minh và quá dửng dưng, họ được coi như không đáng và không muốn được hưởng tự do. Quan điểm này được chấp nhận một cách đương nhiên cho rằng cuộc bầu cử một cách dân chủ của chính quyền ông Diệm ở Sài gòn rất bết bát nên sẽ khá hơn khi được Hồ chí Minh cai trị. Người cộng sản gọi ông Diệm là bù nhìn của Mỹ, và chính quyền HK ở Washington bực bội khi thấy ông không thi hành những điều họ nói. Thực tế, Diệm là một lãnh tụ do dân bầu của một nước cộng hòa tự do. Một khi HK thông đồng cấu kết bức hại ông trong năm 1963, chúng ta cho rằng đó một trách nhiệm đạo đức để làm cho Miền Nam vẫn còn duy trì được tự do.

5. Hoa Kỳ đã không và sẽ mãi mãi không là một ngoại lệ.

Cuối cùng thì đây là điều mà Burns đã có một niềm tin. Rằng HK chẳng bao giờ làm một điều gì đó dựa trên nguyên tắc đạo lý Judeo-Christian. Rằng HK chẳng bao giờ sẵn sàng hy sinh một cái gì để đem lại một điều gì cho người khác. Rằng thật ngớ ngẩn tin rằng hàng ngàn thanh niên Mỹ hy sinh mạng sống của mình chỉ vì muốn làm điều gì phải, một thứ tinh thần đạo đức, để đi bảo vệ một dân tộc đang cố gắng sống độc lập tự chủ. Rằng kể từ những ngày lập quốc người Mỹ đã chẳng bao giờ làm điều gì đó sinh động từ những tài liệu nền tảng lập quốc của mình. Và rằng tổng thống Kennendy đã không tin vào mệnh lệnh bảo vệ tự do và ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản.

Burns đã sai lầm trong tất cả mọi điểm.

Chẳng phải vì cuộc chiến là khó hiểu. Người Pháp yêu cầu chúng ta giúp đỡ họ để cứu thuộc địa Đông Dương sau thất bại tại Điện Biên Phủ. Chúng ta từ chối. Hồ Chí Minh dựng nên một kiểu độc tài cộng sản. Ông ta là một loại lãnh tụ theo chủ nghĩa quốc gia cực đoan tàn sát đồng bào của chính mình và duy trì cai trị bằng bạo lực. Cho nên gần một triệu người miền Bắc đã phải chạy trốn vào Miền nam. Mà suốt 20 năm kế tiếp máu lửa sau đó, có ai từ miền Nam chạy trốn ra miền bắc không? Không hề.

HK gởi cố vấn. Cộng sàn VN nhận vũ khí từ Trung cộng và Nga sô. Chiến tranh leo thang. Chúng ta gởi hàng chục ngàn quân chiến đấu, bắt đầu là TQLC năm 1965. Cuộc chiến kéo dài,mà cộng sản chẳng có một chiến thắng nào đáng kể. Các “ bác” Nga Tàu bắt đầu thấm mệt về các tổn phí và mất mặt vì vì không áp lực nổi miền Bắc mở cuộc hòa đàm. Hà nội xin xò được nhận một lần viện trợ cuối cùng ( Đủ để trang bị nhiều tiểu đoàn quân lính của họ )

Tự thuyết phục mình rằng người dân Miền Nam sẽ tập họp sau lưng họ khi toàn bộ các thành thị và thôn quê miền nam bị họ tràn ngập, cộng sản Miền bắc tung ra cuộc tổng công kích trên 100 địa điểm thành phố thị xã. Họ đã bị đánh bại toàn bộ khắp mọi nơi, ngoại trừ Huế (Hoàng thành) tại đây, họ đã chống cự đẩy lui lính Miền Nam và TQLC Hoa Kỳ đủ thới gian để tàn sát hàng ngàn thường dân trước khi họ bị đánh bại thoát thân rút trở lại vào rừng . Việt Cộng, ít nhiều là những thiếu niên địa phương và bao gồm hầu hết 50.000 cán binh của họ đã hy sinh trong dịp tết này.

Sự quản trị chiến tranh thay đổi sau Tết. Mặc dầu báo chí HK quyết định rằng chúng ta đã thua và bắt đầu chiến dịch vận động công chúng để rút ra khỏi cuộc chiến. Giới quân sự bắt đầu một giai đoạn 4 năm để đánh nhừ tử đám lính cộng sản. Nixon, được bầu để chấm dứt chiến tranh, rút lính tác chiến ra khỏi Miền Nam đồng thời sử dụng tối đa hỏa lực không quân, bao gồm việc oanh kích các căn cứ địa an toàn trong lãnh thổ Cam bốt và cảng Hải phòng Miền bắc VN.

Mùa thu 1972, cộng sản mất hết tinh thần và cạn kiệt vũ khí. Họ đồng ý vào bàn hội nghị, họ trắc nghiệm Nixon bằng các cuộc tấn công vào các làng mạc Miền Nam đi ngược chiều với tiến trình hòa bình. Nixon đáp trả bằng các cuộc dội bom vào ngày lễ Giáng sinh tại miền Bắc.Việc coi hành động đó tương tự một hành vi tội ác giống như thảm họa diệt chủng và thảm kịch Hiroshima là chuyện khôi hài (số người chết trong các cuộc dội bom này ít hơn phân nửa số người chết trong vụ khủng bố tại Tòa nhà Thương mại quốc tế ngày 9/11 ), cuộc oanh tạc ở Miền bắc chứng minh cho cộng sản biết rằng họ vô vọng trong việc chống lại hỏa lực tổng hợp của quân lực HK.

Tháng sau, tháng Giêng 1973, Bắc việt ký hiệp định hòa bình Paris. Cũng trong thời điểm này, Miền Nam hân hoan trong cuộc bầu cử một chính quyền dân chủ. Lực lượng tác chiến Hoa Kỳ ra đi. Tù binh Mỹ được thả. HK hứa với Miền Nam rằng họ sẽ trở lại nếu Miền Bắc vi phạm hiệp định. Xem ra đã rất giống một chiến thắng trong cuộc chiến.

Tuy nhiên, Miền Bắc đã chẳng có một mảy may nào tỏ ra họ sẽ tuân thủ hiệp ước. Họ từng bước dàn dựng tăng gia các cuộc tấn công mạnh mẽ vào quân đội Miền Nam, trong khi đó Hoa Kỳ chẳng làm gì hết thì Miền Bắc được Moscow tăng cường võ trang rồi ồ ạt tấn công tràn ngập Miền Nam, Quốc hội HK, bị kiểm soát bởi các đối thủ của Nixon trong đảng Dân chủ, là những người đã truất phế ông ra khỏi Tòa Bạch Ôc, bỏ phiếu không thi hành trách nhiệm của mình và cắt viện trợ cho đồng minh Nam VN.

Họ từ bỏ ngay chính cả nền hòa bình mà gần 60.000 người HK và hàng trăm ngàn người dân Miền Nam đã chiến đấu và hy sinh vì nó. Họ không chấp nhận trách nhiệm của mình về những sự bạo tàn tiếp theo sau đó.

Đó là lý do tồn tại để cuốn phim của ông Burns biện minh cho sự hèn nhát và sự phá sản về đạo đức để ủng hộ cho cuộc xâm lược của cộng sản vào Miền Nam và quay lưng lại làm ngơ với những kẻ sát nhân, cầm tù, làm bần cùng những chiến hữu đồng minh của chúng ta ở VN, Lào và Cam bốt. Người ta không thể vì chống lại nhân dân Miền Nam mà bỏ qua việc cộng sản đã xâm lăng và cầm tù 17 triệu người dân Miền Nam. Chỉ bôi vẽ cuộc chiến tranh bằng cách cho rằng cuộc chiến ấy là vô đạo đức, bất hợp pháp, và và không thể thắng , và chính quyền Miền Nam xấu xa, không có khả năng, là đủ để phái cánh tả HK có thể hy vọng sống trong yên bình. Chơi màn cá cược nguy hiểm kiểu này là điều tệ hại không nên làm.

10:00 16/10/17
Song Vũ lược dịch

(Bài viết phản biện : The Vietnam War, của tác giả Phillip Jennings, một cựu chiến binh Mỹ tham chiến tại Việt Nam)

Nguồn bài gốc tiếng Mỹ : Nguồn

Justifying Betrayal of Vietnam 
Emerges as the Raison d’être 
Of Ken Burns’ Film on the War

The only positive thing I can say about Ken Burns’
documentary on the Vietnam War is this — if it is the best the left has, we may blessedly have heard the last of them. The arguments Mr. Burns presents are weak, biased, and insulting. The documentary is scripted to evoke sorrow and moral indignation over what was presented as American error, ineptness, and lack of moral purpose.

The narrative counterposes happy and earnest winners (the communists) with sad and angst-ridden losers (America and the South Vietnamese). It deemed only such perspectives worthy of inclusion. Mr. Burns fails to find even one American or South Vietnamese veteran who wholly supported the war, was proud to have appeared in arms, and sickened by the United States’ abandonment its freedom-seeking ally.

There are literally hundreds of thousands of us.

No doubt, too, there were North Vietnamese who are critical of the brutality of the communist conduct of the war, but Mr. Burns can’t find them either. We have no way of knowing whether the happy and earnest communist veterans who did appear in the documentary participated in the war crimes — the execution of thousands of civilians — in Hue or any of the countless acts of North Vietnamese-sponsored terrorism.

The Burns documentary accepts without question five pillars of the liberal view of the war:

  1. There was moral equivalency between the U.S. and Communist forces, and the goals and objectives of the respective governments.

No there wasn’t. Communist North Vietnam invaded a South Vietnam striving for democracy. The South Vietnamese posed no threat to the North other than by their example. The North had no inherent right to conquer South Vietnam, and the South Vietnamese had no obligation to “vote themselves communist” in 1955. The aberration of My Lai was not “morally equivalent” to the slaughter of civilians carried out by the communists, as a matter of policy, throughout the war. That Americans are better than communists is a point that the left just cannot accept.

  1. President Johnson and General Westmoreland accomplished nothing.

American strategy in the first half of the war might not have been perfect. Our strategy of limited war was ill-advised. In the context of the Cold War fears of nuclear war and Communist Chinese intervention a la Korea in 1950, though, it was not without a rationale. By 1968, moreover, the communists were so weakened and desperate they initiated a suicidal attack against the South — the Tet Offensive — and were obliterated. After Tet, the military outcome of the war was no longer in doubt. President Nixon was able to use the favorable facts on the ground that Westmoreland achieved to withdraw all U.S. combat units from the theater and, by unleashing our air power, to bring the communists to their knees.

  1. The wars waged in Laos and Cambodia are irrelevant and were just part of the “civil war” in South Vietnam.

When liberals scoff at the “domino theory” it is another reminder of how America-bashing bias obviates reality. North Vietnamese forces — and by extension the Soviets and Chinese communists — were involved in all the region. Both Laos and Cambodia fell to communist domination after America abandoned its ally, with dreadful results.

  1. South Vietnam was so corrupt that the North was a viable alternative.

Is there anyone who witnessed communism in the 20th century who believes that? Countless millions have died for the sin of being ruled by reds. Ho Chi Minh slaughtered at least 50,000 of his citizens within weeks of his self-appointment to be ruler of North Vietnam. Their sin? They were educated. They were doctors, lawyers, professionals. They had expressed doubt in the communist government. Every communist leader begins his reign much the same way.

It is typical liberal paternalism — bordering on racism — to attribute to the South Vietnamese people so little intelligence and so much indifference that they are deemed not worthy of wanting and deserving freedom. This viewpoint takes it for granted that the democratically elected Diem administration in Saigon was so evil that rule by Ho Chi Minh would have to be an improvement. The communists called Diem an American puppet, and the Washington establishment was annoyed that he wouldn’t do what he was told. In fact Diem was the elected leader of a free republic. Once America was complicit in his murder in 1963, we assumed a moral duty to see to it that South Vietnam remained free.

  1. America was not and has never been exceptional.

Ultimately this is what Mr. Burns would have one believe. That America never does anything based on Judeo-Christian principles. That Americans are never willing to sacrifice anything to give someone else something. That it would be silly to believe that thousands of young Americans sacrificed their lives simply doing the right, the moral thing, by going to the defense of a people trying to govern themselves. That since our founding the American people have never been animated by our founding documents. And that President Kennedy didn’t believe in the imperative to defend freedom and stop communism.

Mr. Burns is wrong in every instance.

Nor is the war hard to understand. The French asked for our help to save their Indochina colony after their 1954 defeat at Dien Bien Phu. We refused. Ho Chi Minh erected a typical communist dictatorship. He was the kind of a nationalist who slaughters his own people and governs with force. So about a million North Vietnamese fled south to Free Vietnam before America became involved in the war. Yet never during the next bloody 20 years did anyone from South Vietnam flee to the north. Never. None.

The U.S. sent advisors. The communists received arms from China and Russia. The war escalated. We sent tens of thousands of combat troops, beginning with the Marines in 1965. The war dragged on, but the communists could not win a significant battle. The Chinese and Russian “uncles” began to tire of the cost and loss of face and pressured the North to open peace talks. Hanoi begged for and received a last ditch supply (enough to outfit multiple battalions of communist troops).

Convincing themselves that the southerners would rally to their side when they overwhelmed the cities and villages in South Vietnam, the North Vietnamese launched a suicidal attack on 100 towns. They were soundly defeated in every one of them in under a week, save Hue (the royal capital) where they held off the South Vietnamese and U.S. Marines long enough to slaughter thousands of the Hue citizens before being beaten back into the jungle. The Viet Cong, more or less the local boys and comprising most of the 50,000 communist troops lost in Tet, were decimated.

Management of the war changed after Tet. Although the American press decided we were losing and began lobbying the public to get out of the war, the military began a four-year pummeling of communist troops. Nixon, elected to stop the war, pulled American combat units out of South Vietnam and simultaneously unleashed U.S. air power, including bombing sanctuaries in Cambodia and the Hai Phong harbor in North Vietnam.

By the fall of 1972, the communists were depleted of morale and arms. Agreeing to a peace conference, they nevertheless tested Nixon by attacking South Vietnamese villages in contradiction of the peace process. Nixon responded with the Christmas Bombing of North Vietnam. Ridiculously referred to as a criminal act akin to the Holocaust and Hiroshima (it killed less than half the number of people killed at the World Trade Center on 9/11), the bombing of the north convinced the communists that they were helpless against the full strength of the American military.

A month later, in January 1973, the North Vietnamese signed the Paris Peace Treaty. At that time, South Vietnam enjoyed a democratically elected government. American combat forces were gone. American POWs were set free. America promised South Vietnam that we would come to its aid if North Vietnam violated the agreement. It looked a lot like victory.

However, the North Vietnamese had not one particle, not one gluon of an intention of adhering to the treaty. They staged increasingly strong attacks in South Vietnam and, while the United States did nothing, were re-armed by Moscow and attacked and overran South Vietnam. The American Congress, controlled by Nixon’s opponents in the Democratic Party, which had driven him from the White House, voted to renege on our treaty obligations and cut aid to our South Vietnamese allies.

They forfeited outright the peace for which almost 60,000 Americans and hundreds of thousands of South Vietnamese fought and died. They accepted no responsibility for the atrocities that followed.

It is the raison d’être of Mr. Burns’ film to justify the cowardly and morally bankrupt left that supported the communist invasion of South Vietnam and turned its back on the murder, imprisonment, and misery of our former allies in Vietnam, Laos, and Cambodia. One cannot be against the South Vietnamese without being for the communists who conquered and enslaved 17 million people. Only by painting the war as immoral, illegal, and un-winnable, and the South Vietnamese government as evil and inept, can the American left hope to rest in peace. It shouldn’t bet the farm on that.

Mr. Jennings is the author of, among other books, “The Politically Incorrect Guide to the Vietnam War.”

Nguồn

Advertisements

2 thoughts on “Bài viết phản biện : The Vietnam War (Cuộc chiến 20 năm Nam Bắc Vietnam)

  1. “The Vietnam War” và khi Đồng Minh tháo chạy

    Chuck Hagel

    Bản quyền hình ảnhMARK WILSON

    Image captionCựu binh, chính trị gia Chuck Hagel trong một buổi khai trương ‘Vietnam War Exhibit’ ở Arlington, Virginia năm 2016

    Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng

    Ánh lửa từ những bó đuốc của đoàn người da trắng đi tuần hành tại Charlottesville tháng 8 vừa qua làm sáng rực bầu trời khuôn viên trường Đại Học Virginia (UVA) gợi lại cho chúng tôi bao nhiêu kỷ niệm về vấn đề da màu và biểu tình trong suốt bảy năm theo học tại nơi đây, 1958-1965. 

    Xung đột sắc tộc và màu da ở Mỹ đã có từ trước

    Đại học Virginia là trường của người da trắng vì không nhận sinh viên da đen. Và sinh viên da trắng phải là phái nam. Muốn vào UVA, nữ sinh viên phải theo học ở Mary Washington College tại Fredericksburg, cách Charlottesville 66 dặm.

    Vừa tới thành phố này chúng tôi đã thấy phòng vệ sinh dành cho “White” và “Black.” Thoạt đầu cũng lúng túng, không biết mình nên chọn phòng nào?

    Cái gì phải đến thì đã đến. Năm năm sau, ngày 10/09/1962, một cuộc nổi loạn ở Oxford, Mississipi làm hai người chết và một số bị thương.

    Tổng thống JF Kennedy phải điều động tới 16.000 vệ binh tới để dẹp loạn và bắt chấp nhận một sinh viên da đen vào học tại Đại học Mississipi. Cả thành phố Oxford bị đặt dưới quyền kiểm soát của quân đội. Làm sao mà ở nước Mỹ lại có thể có cái cảnh này, chúng tôi tự hỏi?

    Trong tất cả các cuộc biểu tình phản chiến, kể cả biến cố vệ binh bắn vào sinh viên biểu tình tại Đại học Kent State ngày 4/5/1970 vừa được nhắc lại trong bộ phim The Vietnam War của Ken Burns và Lynn Novick, không bao giờ có cả một thành phố bị đặt dưới quyền kiểm soát của quân đội như vậy.

    Ngày 11/06/1963 mọi người ngỡ ngàng khi thấy TV chiếu cảnh Thống đốc Alabama, ông George Wallace đứng chặn ngay trước cửa Đại học Alabama (Tuscaloosa) không cho hai sinh viên da đen vào lớp học. Tổng thống John F. Kennedy lại phải đưa vệ binh tới, và cảnh sát tháp tùng hai sinh viên nhập học.

    Khi được bầu lên thống đốc ông Wallace đã tuyên bố: “Tách biệt bây giờ, tách biệt ngày mai, tách biệt mãi mãi.” (segregation now, segregation tomorrow, segregation forever).

    Miền Bắc Việt Nam cũng có phong trào chống chiến tranh

    Chính phủ VN nói gì về phim ‘The Vietnam War’?

    Thành công chính trị của phụ nữ Mỹ gốc Việt trong năm 2016

    Tiếp theo là cuộc biểu tình vĩ đại “March on Washington” ngày 28/08/1963 do Mục sư Martin Luther King lãnh đạo. Thông điệp của ông về “Tôi có một giấc mơ” (I have a dream) và phản ứng của đoàn người biểu tình ước tính tới 250.000 người. Ngày hôm sau, một nhà lãnh đạo nhân quyền bị ám sát ở Jackson, Mississipi.

    Quảng Trị
    Bản quyền hình ảnhSOVFOTO
    Image captionBộ đội miền Bắc ở Quảng Trị

    Những biến cố liên tục này làm cho nước Mỹ bất an, chia rẽ không kém gì những cuộc biểu tình phản chiến trong bộ phim The Vietnam War.

    Năm 1963 thì Ken Burns mới lên mười tuổi và Lynn Novick mới lên một, không để ý tới biểu tình. Có thể vì vậy mà trong phim này, đã hàm ý rằng chỉ vì chiến tranh Việt Nam nên mới có biểu tình xé nát nước Mỹ. Phim không nói đến sự thật là vì sợ phải đi lính, một số khá đông thanh niên đi biểu tình là để chống quân dịch như chúng tôi sẽ đề cập dưới đây.

    Phần II của phim The Vietnam War đề cập về cùng một thời gian với cuốn Khi Đồng Minh Tháo Chạy (KĐMTC), đó là từ Tết Mậu Thân cho tới khi Miền Nam sụp đổ. Trong cuốn sách này, chúng tôi tập trung vào việc Hoa Kỳ đã bỏ rơi miền Nam như thế nào.

    Còn phim The Vietnam War, tuy có đề cập tới những sự kiện theo dòng lịch sử, nhưng tập trung vào biểu tình, thương vong, và hoàn cảnh bi đát của những người quân nhân Mỹ trên chiến trường. Họ đã không được hậu phương ủng hộ, cho nên lẫn lộn về sứ mệnh của mình: “Tôi đang chiến đấu cho cái gì đây?” (What do I fight for?)

    Trong khuôn khổ giới hạn của bài này, chúng tôi chỉ đề cập vắn gọn tới một số sai lầm và thiếu sót của bộ phim.

    Trung thực hay thiên lệch?

    Phần II của phim vẫn tiếp tục phán xét, còn nặng hơn Phần I. Phim đã lặp lại những luận điệu của phe thiên tả rằng chính phủ Sài Gòn tham nhũng, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu hành động độc tài như ông vua trong một nước bé nhỏ, quân đội VNCH không hữu hiệu, nạn trốn quân dịch.

    Nặng nề nhất là đã một cách gián tiếp làm cho khán giả hiểu lầm rằng chính phủ miền Nam chỉ là bù nhìn của Mỹ.

    Về tham nhũng, chúng tôi miễn bình luận vì trong những năm vừa qua, độc giả đã nghe và xem quá nhiều về tham nhũng ở ngay Washington, hay thống đốc Virginia vào tù.

    Hiệp định Paris: ‘Nam Bắc VN cùng vi phạm’?

    Ý kiến về ‘Người Cày Có Ruộng’

    30 tháng Tư: Ngày hòa bình

    Cộng đồng Việt
    Bản quyền hình ảnhWIN MCNAMEE
    Image captionCựu binh Hoa Kỳ và cộng đồng người Việt tỵ nạn ngày nay

    TT Thiệu độc tài: Ken Burns và Lynn Novick không biết rằng Sài Gòn có tới cả chục đảng phái, mấy chục tờ báo, luôn chỉ trích, công kích chính phủ? Rồi ca nhạc phản chiến tràn lan, sinh viên xuống đường biểu tình thoải mái.

    Quân đội không hữu hiệu, trốn quân dịch? Sau trên 40 năm với bao nhiêu nghiên cứu đặt lại vấn đề thành công của quân đội VNCH mà phim vẫn lập lại luận điệu xưa cũ.

    Trước khi phê bình như vậy, thiết tưởng Ken Burns và Lynn Novick phải cho nghiên cứu (vì ngân sách 30 triệu USD rất lớn) xem có dân tộc nào trên thế giới này đã chịu chấp nhận cho gần một phần ba số thanh niên nam ở tuổi lao động (1,2 triệu trên 3,9 triệu) đi quân dịch hay không?

    Quả thật đã có nạn lính ma, lính kiểng nhưng chỉ là số rất nhỏ, đại đa số đã vui lòng nhập ngũ.

    “Hành động nói to hơn lời nói”: Chính Đại sứ Graham Martin là người có mặt tại Sài Gòn đến giờ phút cuối cùng đã phải cải chính trước Quốc Hội rằng (sau khi Mỹ rút hết từ mùa Xuân 1973):

    “Miền Nam chỉ mất một tỉnh đầu tiên là Phước Long vào tháng 1/1975 khi các ngài đã cắt hết viện trợ.”

    Lúc ấy quân đội chỉ còn đủ đạn dược để chiến đấu 30-45 ngày. Cho nên nếu ngày 30/4 không xảy ra thì muộn lắm cũng sẽ xảy ra hai tháng sau, vào ngày 30/6/1975?

    Chính phủ miền Nam là bù nhìn của Mỹ? Cáo buộc này đã được nhiều người phản biện. Nơi đây, chúng tôi chỉ nhắc lại như thế này: tuy dù vì hoàn cảnh thật nghèo sau mười năm chiến tranh của Pháp (1945-1955), VNCH đã phải lệ thuộc vào viện trợ của Mỹ nhưng không phải vì thế mà lãnh đạo của họ trở thành bù nhìn.

    Như đã đề cập trong cuốn Khi Đồng Minh Nhảy Vào, thời Đệ Nhất Cộng Hòa, TT Ngô Đình Diệm đã yêu cầu Tổng thống Kennedy rút cố vấn đi, và cũng không muốn cho Mỹ đưa quân đội tác chiến vào miền Nam.

    Khi thấy Mỹ bỏ Lào, ông nhìn thấy chân trời tím và biết rằng trước sau thì Mỹ cũng bỏ rơi miền Nam nên muốn điều đình với miền Bắc để tìm một giải pháp hòa bình. Ông đã chống lại Mỹ và sau cùng đã hy sinh tính mạng để giữ được chính nghĩa quốc gia.

    Thời Đệ Nhị Cộng Hòa, TT Thiệu đã nhất quyết chống lại TT Nixon, không chấp nhận bản dự thảo Hiệp định Paris cho dù bị đe dọa sẽ có đảo chính giống như 1963, rồi TT Nixon còn tàn nhẫn đến mức nói “cắt cổ ông Thiệu nếu cần thiết.” Nhưng TT Thiệu vẫn cưỡng lại. Sau cùng TT Nixon phải bí mật cam kết để bảo đảm hòa bình và tiếp tục viện trợ đầy đủ cho miền Nam để đổi lấy sự đồng ý của TT Thiệu. Nhưng cam kết thì cũng chỉ là mánh khóe để bỏ rơi miền Nam (xem KĐMTC).

    Vì sao cha tôi và các trí thức bị cách ly?

    Lệnh rút khỏi Huế của Tổng thống Thiệu

    Nixon đã cản trở hòa đàm ở Việt Nam thế nào?

    Không giải thích cho rõ tại sao thương vong lên cao?

    Tử thương lên tới 58.200 người là vì hai lý do:

    Thứ nhất: Mỹ muốn trực chiến. Mặc dù cả hai tổng thống VNCH – Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu – đều đã yêu cầu là Mỹ chỉ cần yểm trợ phương tiện, vật chất và huấn luyện quân đội miền Nam để họ tự bảo vệ, rồi chỉ yểm trợ khi nào bị tấn công, nhưng Mỹ đã không nghe, cứ mang thật nhiều quân vào rồi đưa họ ra chiến trường.

    Ngay từ lúc Mỹ mới nhúng tay vào miền Nam cũng đã có sự bất đồng ý về chiến thuật giữa cố vấn Mỹ và tuớng lãnh miền Nam. Trong một buổi họp, viên tư lệnh Mỹ ở miền Nam đã nói toạc ra là “ai chi tiền thì người đó chỉ huy” (who pays, commands). Rồi tới khi chiến tranh leo thang, sứ mệnh của quân đội Hoa Kỳ được xác định là chiến đấu, sứ mệnh quân đội miền Nam là gìn giữ an ninh ở hậu phương.

    Tân Sơn Nhất
    Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
    Image captionLễ đưa thi hài quân nhân Mỹ về nước năm 1965 tại sân bay Tân Sơn Nhất

    Vì thế Tướng Westmoreland đã theo một chiến thuật gọi là “tìm và diệt địch” (search and destroy). Người lính Mỹ đi tìm địch phải lội vào bùn lầy, trực thăng thả họ xuống những nơi hẻo lánh, núi đồi hiểm trở. Trận Đồi 937 (còn gọi là Hamburger Hill) ờ Thung lũng A Shao có tới 56 tử thương và 480 bị thương.

    Vì quân đội Mỹ đã chủ động, nên quân đội miền Nam không được huấn luyện tối đa cho tới năm 1969 khi Mỹ bắt đầu rút. Lúc ấy mới có chương trình Việt Nam Hóa, giúp tân trang và đẩy mạnh huấn luyện. Ta nên nhớ chỉ sau Tết Mậu Thân quân đội VNCH mới được trang bị súng M-16, còn trước đó chỉ là loại cổ, súng Garrant M-1 và súng Carbine từ thời Đệ nhị Thế chiến.

    Thứ hai, Mỹ áp dụng mô hình chiến tranh quy ước (conventional warfare) để đánh chiến tranh du kích. Mô hình này dựa vào hai yếu tố chính yếu, đó là “di động tính và hỏa lực” (mobility and fire power). Di động tính là dùng nhiều trực thăng để chuyển quân, nhưng trực thăng bay thấp, dễ bị bắn trúng. Hỏa lực: máy bay thả nhiều bom đạn và đại pháo gây nhiều thương vong cho người dân Việt và có khi còn cho cả người lính Mỹ.

    Không nói hết sự thực về lý do ‘biểu tình phản chiến’

    Trong suốt thập niên 1960, chúng tôi – trước là sinh viên, sau là giáo sư – đã sinh hoạt gần gũi với các sinh viên: phản chiến có, ủng hộ có. Đôi khi còn đi lẫn vào đám đông để quan sát, nghe ngóng, cho nên đã thấy ngay sự thiếu sót của bộ phim về ‘biểu tình phản chiến.’ Phim lại dành nhiều thời giờ cho phong trào này.

    Như đã đề cập trên đây, những cuộc nổi loạn, xung khắc về da màu đã châm ngòi phong trào biểu tình ngay từ năm 1962, ba năm trước khi quân đội Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng (3/1965). Khi cuộc chiến bùng nổ, phong trào phản chiến nhập luôn với phong trào nhân quyền, làm cho những cuộc biểu tình trở nên náo động và xáo trộn hơn, như:

    • Biểu tình tại Washington ngày 21/10/1967 (100.000 người);
    • Xáo trộn tại đại hội Đảng Dân Chủ vào mùa hè 1968;
    • Biểu tình (lớn nhất) tại Washington ngày 15/11/1969, với khẩu hiệu “Moratorium March”, ước tính giữa 250.000 – 500.000 người (phim dùng con số 500.000 người).

    Độc giả lưu ý là vào ngày 4/4/1970 cũng có cuộc biểu tình lớn nữa, nhưng với khẩu hiệu là “Tuần hành cho chiến thắng” (March for Victory): có tới 50.000 người tham dự.

    Qua hình ảnh và dẫn giải, phim cho khán giả cái ý niệm là biểu tình sôi động như vậy chỉ vì chiến tranh Việt Nam.

    Thực ra thì có nhiều phong trào xen kẽ với nhau. Nhiều khi những người đi biểu tình còn mang cả biểu ngữ khác nhau.

    Ngoài nhân quyền của Mục sư Luther King, các cuộc tuần hành còn có nhiều mục tiêu khác, thí dụ như:

    • Tranh đấu tăng công ăn, việc làm (kết quả là chương trình Equal Opportunity Employment);
    • Yêu cầu phải cung cấp nhà cửa cho người có lợi tức thấp (kết quả là TT Johnson lập ra bộ Phát triển gia cư và thành thị – Housing and Urban Development);
    • Chống bất bình đẳng nam nữ;
    • Tranh đấu cho quyền của người đồng tính luyến ái (Gay Movement);
    • Quan trọng nhất là “Phong trào Chống lại Quyền uy” (Anti-Establishment Movement), với những khẩu hiệu “phá nát nhóm chiếm ưu thế trong xã hội (tearing down the establishment), đứng lên đối mặt với nhóm quyền uy (“standing up to the establishment.”

    VN muốn Úc ngừng treo cờ vàng?

    Henry Kissinger bị phản đối khi đến Oslo

    USS Hue City: Chiến hạm Mỹ mang tên TP Huế

    Người tỵ nạn
    Bản quyền hình ảnhJACK CAHILL
    Image captionQuân nhân VNCH cứu giúp người tỵ nạn

    Liên kết với phong trào này là nhiều nhóm đi biểu tình làm cho chính chúng tôi cũng lẫn lộn, như: Quân giải phóng Symbionese, Đảng Black Panthers, Malcolm X, Malvina Reynolds, Ron Paul, Noam Chomsky, Bernie Sanders, John Lennon, K-Rino, Anti-Flag, Terminator X, Gil-Scott Heron.

    Rất ồn ào là phong trào Hippy với khẩu hiểu “Giao hoan, không giao chiến” (Make love not war).

    Tuy rằng đa số thanh niên Mỹ đã tự nguyện, nhưng còn thành phần – tuy nhỏ nhưng rất ồn ào – sợ bị gọi nhập ngũ, nên tham gia biểu tình, thực ra là để chống chế độ quân dịch, nhưng cứ hô lên lý do phản chiến là vì cuộc chiến này ‘vô nghĩa’ (meaningless), ‘phí phạm’ (wasteful), chính phủ nói dối…

    Chứng cớ là khi Tổng thống Richard Nixon chấm dứt chế độ quân dịch vào ngày 1/7/1973, thay thế bằng chế độ tự nguyện, thành lập quân đội tình nguyện (All votunteer army) thì phong trào biểu tình hầu như biến mất.

    Cuộc chiến hiện nay tại Iraq – Afghanistan đã kéo dài tới 16 năm và chưa thấy ánh sáng cuối đường hầm, tốn phí tới $2,4 ngàn tỷ (trillion). Theo ước tính của Đại học Harvard thì sẽ có thể tới $4 ngàn tỷ tới $6 ngàn tỷ, tốn hơn chiến tranh Việt Nam rất nhiều (khoảng $250 tỷ – tương đương $1,7 ngàn tỷ tính theo mãi lực 2017).

    Số quân nhân được điều động thay nhau tới chiến trường này ước tính cũng đã tới 2,5 triệu người (xấp xỉ bằng chiến tranh Việt Nam) mà sao trong 16 năm qua, biểu tình chống chiến tranh chỉ xảy ra trong hai năm đầu (2001-2002): thí dụ như ở Los Angeles (2.500); San Francisco: 10.000 người. Lớn nhất là tại Washington (tháng 2/2002) khoảng 75.000 người.

    Từ đó, tức là trong 12 năm qua, không thấy có biểu tình. Dĩ nhiên là cuộc chiến này được biện luận với lý do chống khủng bố (war on terror) nhưng Tổng thống George W. Bush nhảy vào Iraq và những cáo buộc rằng ông đã nói dối về lý do của cuộc chiến thì vẫn còn là những vấn đề tranh luận (như đánh giá của Bob Woodward trong State of Denial).

    Không đề cập đến kịch bản tháo chạy

    Henry Kissinger và Richard Nixon
    Bản quyền hình ảnhBETTMANN
    Image captionHenry Kissinger và Richard Nixon. TS Nguyễn Tiến Hưng hỏi ‘Vì sao bộ phim của Ken Burns và Lynn Novick không phỏng vấn ông Henry Kissinger?’

    Phần II của bộ phim nói về giai đoạn từ đầu 1969 tới tháng 4/1975: đó là thời gian mà Cố vấn (rồi kiêm Ngoại trưởng) Henry Kissinger đóng vai trò chính yếu của Hoa Kỳ về ‘The Vietnam War’. Thế mà phim không phỏng vấn ông Kissinger cho kỹ để tìm hiểu về kịch bản phản bội và tháo chạy.

    Hầu như một mình, chỉ một mình ông Kissinger đã làm việc trong bóng tối, thao túng nền ngoại giao Hoa Kỳ. Có lần ông tâm sự với ký giả Oriana Fallaci:

    “Điểm chính là lúc nào tôi cũng hành động một mình. Người Mỹ thích cái đó vô cùng. Người Mỹ thích hình ảnh một gã chăn bò dẫn đầu một toán di dân, một mình trên lưng ngựa, thủng thẳng tiến vào một tỉnh lỵ, một thị xã; chỉ mình với ngựa thôi… Có thể là không có cả súng nữa…” (KĐMTC, trang 66-67).

    Vietnam War: ‘Cuộc chiến day dứt tất cả chúng tôi’

    ‘Cơ hội để người Việt hiểu quá khứ của mình’

    Nam Bắc Hàn và Cuộc chiến Việt Nam

    Ông là một nhà ngoại giao thiên tài, nhưng đồng thời cũng là một con người mưu mô, gian dối – chúng tôi gọi là ‘Đao phủ Henry II’, người có trách nhiệm lớn trong việc bức tử VNCH (‘Đao phủ Henry I’ là ĐS Henry Cabot Lodge, người đã xúi bẩy tướng lãnh đảo chính và sát hại TT Diệm). Như vậy là miền Nam đã thật xui vì gặp phải hai tay Henry.

    TT Nguyễn Văn Thiệu
    Bản quyền hình ảnhPHOTOQUEST
    Image captionNăm 1968: Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và trẻ em trong một trại tỵ nạn vùng đồng bằng sông Cửu Long

    Phim không nói gì tới – mà rất có thể là Ken Burns và Lynn Novick cũng không biết – sự kiện rất quan trọng là ‘bốn năm mật đàm của Kissinger (từ đầu 1969 tới cuối 1972) là hư vô’ vì cuối cùng ông đã chấp nhận tất cả những đòi hỏi gói ghém trong 10 điểm của Mặt Trận Giải Phóng (MTGP) đưa ra từ năm 1969.

    Kissinger còn nhượng bộ nhiều hơn đòi hỏi, đó là chấp nhận rút hết quân đội Mỹ nội trong 60 ngày.

    Lập trường đàm phán 10 điểm của MTGP đâu có đòi hỏi điều này? Và trong bốn năm ấy, có tới gần 21.000 người quân nhân Mỹ thiệt mạng, tương đương bằng 36% tổng số tử thương của Mỹ trong cả cuộc chiến (58.200).

    Trong bốn năm ấy, bao nhiêu thương vong, tàn phá, cho cả hai miền Nam, Bắc. Vụ ném bom B-52 tại Hà Nội cuối năm 1972 còn đào sâu thêm nữa hận thù Nam Bắc.

    Khi tôi hỏi Tổng thống Thiệu về vụ này, ông trả lời:

    “Nếu Kissinger có thể ném bom Dinh Độc Lập thì ông ta (TT Thiệu dùng chữ khác) cũng đã không ngần ngại.”

    Ông Thiệu cho rằng nếu Mỹ cứ rút quân đi và không có Hiệp định Paris thì có lợi hơn nhiều cho miền Nam, vì ít nhất Quốc Hội Mỹ còn chút lương tâm, sẽ không cúp viện trợ quá đột ngột và quá nhanh chóng với lý do là miền Nam đã có cả hòa bình, cả danh dự, như thế là đủ rồi.

    Kissinger nhất quyết phải có được một hiệp định để chứng tỏ rằng ông đã thành công và giữ được sự tin cậy (credibility) của chính sách ngoại giao Hoa Kỳ. Sự thực là ngược lại.

    Vì phim không soi sáng về những sắp xếp xảo quyệt của ông Kissinger để tháo chạy cho nên đã làm cho khán giả tiếp tục hiểu lầm về những gì đã dẫn tới bi kịch trong phần kết của cuốn phim: Sài Gòn sụp đổ và ngày cuối cùng là thê lương ảm đạm.

    Tôn Đức Thắng, Nguyễn Hữu Thọ và Lê Đức Thọ ở Sài Gòn năm 1975
    Bản quyền hình ảnhHERVE GLOAGUEN
    Image captionCác nhà lãnh đạo phe thắng cuộc: từ trái sang: Tôn Đức Thắng, Nguyễn Hữu Thọ và Lê Đức Thọ ở Sài Gòn năm 1975

    Trong cuốn The Palace File (Hồ Sơ Mật Dinh Độc Lập) (1986) chúng tôi có đề cập tới những sắp xếp của Kissinger (Chương 5 và 9).

    Chắc chắn rằng những nhà bình luận của phim The Vietnam War đã đọc cuốn này, vì có nhắc tới một câu nói đến việc Tổng thống Thiệu phàn nàn về “Mỹ đã tìm được nhân tình mới (Trung Quốc)…” nhưng không dẫn nguồn, mà chỉ nói “Ông Thiệu nói với một phụ tá.” Và chỉ có thế, không nhắc tới những tài liệu và bằng chứng về phản bội.

    Đây là một thiếu sót quan trọng vì cuốn The Palace File đã được William Safire của tờ New York Times đánh giá là “Một cuốn sách làm ta mở mắt”, và The New York Times/ Book Review còn chọn nó cho các ứng cử viên Tổng Thống phải đọc: “Vừa Đọc Vừa Vận Động: Một Lớp Cấp Tốc Cho Chức Vị Tổng Thống.” Sách cũng được TT Ronald Reagan và cựu ngoại trưởng George Schultz trân trọng.

    Chuẩn tướng Lương Xuân Việt sang Hàn Quốc

    Thấy gì từ tập đầu phim The Vietnam War?

    Mười năm sau cuộc chiến, Đại sứ Martin đã đi tới kết luận: “Rút cuộc chúng ta chỉ phủi tay và tháo chạy” (In the end we simply cut and ran).

    Trong một buổi làm việc tại Trung Tâm Quân Sử Lục Quân Hoa Kỳ có Đại tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham mưu trưởng quân đội VNCH và Trung tướng Ngô Quang Trưởng, Tư lệnh Quân khu I tham dự, Tướng William Westmoreland, cựu Tư lệnh quân lực Mỹ tại Việt Nam đã tóm gọn sự sụp đổ bằng ba chữ: “We betrayed you!” – Chúng tôi đã phản bội các ông.

    Kết luận

    Điểm son của phim The Vietnam War là đã phần nào lấy lại danh dự cho người quân nhân Mỹ vì họ đã phải chiến đấu trên một chiến địa khó khăn, hiểm trở, chấp nhận thương vong, rồi trở về thấy quê hương mình bị chia rẽ. Họ không được chào đón hân hoan như đoàn quân chiến thắng sau Thế Chiến II. Nhiều khi còn bị chế riễu.

    Cáo buộc VNCH làm tay sai Mỹ ‘là thiếu khách quan’

    Bà Hạnh Nhơn ‘trọn đời giúp thương phế binh VNCH’

    Ngoại giao Pháp và những cơ hội bị bỏ lỡ của VN

    Tuy nhiên bộ phim thiếu trung thực và thiên lệch. Burns và Novick chỉ nói đến ‘một nửa ly nước vơi’ (half empty). Chúng tôi thấy đã có bài trên internet với chủ đề “Burns và Novick, những người thày của quân bình sai lầm” (Burns and Novick, masters of false balancing).

    Phim lấy tên là THE VIETNAM WAR mà lại không nói về lý do tại sao có cuộc chiến, và những gì đã thực sự xảy ra – WHY VIETNAM WAR? WHAT HAPPENED?

    Như chúng tôi đã đề cập trong bài trước: lý do nhảy vào Việt Nam của năm đời tổng thống Hoa kỳ (Ngoại trưởng Foster Dulles còn dùng ba chữ “Take the plunge” – phải lao vào) là để bảo vệ quyền lợi của Mỹ chứ không phải để bảo vệ tự do của người Miền Nam.

    Sau cùng, thật đáng tiếc là bộ phim đã không rút ra được những bài học quan trọng cho nước Mỹ và đồng minh – WHAT LESSONS FROM THE WAR? Chúng tôi đã tóm gọn một số bài học trong cuốn KĐMNV (Chương 28) và KĐMTC (Chương 20), thí dụ như ‘đừng can thiệp quá sâu vào nội bộ chính trị và quân sự của nước khác.’

    Ta có thể đặt ra một câu hỏi: liệu bài học này có thể giúp cho nước Mỹ tránh được những lầm lỗi trong tương lai như đã lầm lỗi khi can thiệp quá sâu vào việc lật đổ chính phủ Mossadeq ở Iran và việc giải tán quân đội Iraq sau khi lật đổ Sadham Hussein, dẫn đến tình trạng sình lầy của nước Mỹ ngày nay ở Trung Đông hay không?

    Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, tiến sỹ Nguyễn Tiến Hưng, Cựu Tổng trưởng Kế hoạch VNCH từ năm 1973 đến 1975, phụ tá về tái thiết của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Hiện định cư tại Hoa Kỳ, ông đã xuất bản các cuốn sách Khi Đồng minh Tháo chạy (2005) và Khi Đồng minh Nhảy vào (2016).

    Các bài khác của giáo sư Nguyễn Tiến Hưng:

    Bình Nhưỡng từng bắn hạ máy bay Mỹ thời Nixon

    30/04: Những xui xẻo định mệnh của VNCH

    Bình Nhưỡng từng bắn hạ máy bay Mỹ thời Nixon

     

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s