Tiếng xuân rũ

Tiếng xuân rũ

Lửa thử vàng gieo đầu xuân đón
Thuyền đầu non tung cánh buồm reo
Lấp lánh soi đường đèn đom đóm
Thân làm cây quế xác xuân treo

Ba kiếp xuân sầu hàn tâm sự
Mai tàn, áo vải trải non cao
Tiếng sét lê dân cung Tần Thủy
Nhục vinh, vinh nhục thẹn nao nao

Trời đen mà xuân đâu có hay
Trong trăng xuân mỉm cười với mây
Trà ấm xuân ngậm từng hơi khói
Đèn mờ xuân dấu lệ đong đầy

Núi ngũ hành oán khúc nghìn thu
Gương sạm cháy mờ áng mây mù
Xuân vĩnh biệt tình mèo le lói
Đời hóa kiếp làm cánh phù du

Nàng tiên xuân xếp cánh ngủ khì
Ao thay,đồng biến xám đen sì
Bên rừng cáo chạy tìm bể tắm
Bốn phương trời én đậu cành si

Cánh hoa xuân nửa kiếp chưa tàn
Đàn chim non nhuộm đủ lông vàng
Tung cánh mây trời về tổ cũ
Núi sông khô lệ đỏ hai hàng

Xuân nắng nhạt một chiều xuân ấy
Gió gieo đầu khô lệ Tố Như
Khách tình si ôm gối vô tư
Mồ hư thực đồng tan, hồ cạn !

Vivi
19.6/2021

Xuân tang

Xuân tang

Chiều xuân đó non sông cài tang trắng
Áo trận thay màu lao cải bơ vơ
Trong đau thương em thơ thẩn trông chờ
Ngóng tin chồng nơi rừng sâu lồng lộng

Ba xuân rồi anh nhọc nhằn lao động
Chẳng biết ngày trở lại mái nhà yêu
Có những lần anh nhắn gởi mây chiều
Về thăm em trong những ngày khốn khổ

Khốn khổ thân em nuôi con và mẹ
Mẹ bây giờ như chiếc lá thu bay
Như thân anh trong kiếp sống lưu đày
Nơi địa ngục của bạo quyền Cộng Phỉ

Bạn anh chết không nấm mồ an nghỉ
Giặc bắn rồi vứt xác bỏ rừng sâu
Em nhớ thay anh đốt nén hương sầu
Cho những linh hồn cùng chung số phận

Nào còn đâu những oai hùng chiến trận
Ba xuân rồi xác chết cũng lang thang
Ba xuân rồi hô khẩu ngữ vinh quang
Trong khu rừng già không hoa không cỏ

Đó là nơi âm cung rực cờ đỏ
Tượng Rợ Hồ cao ngất đó em ơi
Tượng Mác-Lê của sầu hận muôn đời
Ôi ! Tủi hận một chiều xuân đổi chủ .

Vivi
Norway thu 1994
(30.4.1975)

Bóng hình bảy lăm

Bóng hình bảy lăm

Chiều xuân đó non sông ủ rũ
Lệ lưu đày rừng rú khổ sai
Làm thân cầm thú miệt mài
Trâu cày ngựa cỡi, hình hài tả tơi

Ngày hai buổi thú người hò hét
Bày những trò đâm chém thê lương
Nồi da xáo thịt lạ thường
Ngàn năm sử mẹ, đoạn trường nghìn thu

Nhà giam dựng mịt mù tăm tối
Hai chân cùm tê nhói từng cơn
Vo ve loài muỗi nhởn nhơ
Máu tươi hút cạn, chất nhờn cũng tan

Dài năm tháng thân tàn kiệt sức
Lắm bạn bè thân bón sậy lau
Gia đình chẳng được gặp nhau
Không lời an ủi cơn đau cuối đời

Tượng đài “Thương Tiếc” ơi quằn quại
Mấy mươi năm nghĩ lại rùng mình
Nghe từng hạt máu khắc ghi
Làm sao xóa được bóng hình bảy lăm !

Vivi
Norway 20.01.2007

Tượng thương tiếc

Tượng thương tiếc

Thương tiếc Tượng Đài Thương Tiếc
Trôi theo Vận Nước, Sử Việt xót xa !

Đời ngang dọc khắp bờ Non Nước
Áo xanh rừng đẫm ướt mồ hôi
Ba lô nón sắt gối đầu
Hầm chông bãi sậy, hố sâu làm nhà

Anh lính chiến lìa cha xa mẹ
Trốn người yêu lặng lẽ lên đường
Hiên ngang hống hách sa trường
Hiến thân Tổ Quốc, quê hương an lành

Nơi biên ải quân hành ngang dọc
Bảo an dân, gấm vóc Sơn Hà
Bom mù lửa đạn xông pha
Máu xương thịt đổ, nhà nhà cư an

Thân áo trận đâu màng danh lợi
Tượng “Thương Tiếc” đứng đợi chờ nhau
Kẻ về trước, người về sau
Hồng trang bi sử, ruột đau Tộc Hồng

Nghĩa trang buồn, máu nồng trận mạc
Từ chiến trường từng xác tuổi xanh
Trở về lần lượt ghi danh
Mộ bia đá tạc, lưu dành mai sau

Ôi ! Quốc mạt chào nhau chiến trận
Bóng “Tượng Đài” vắt hận bi hồn
Đảng tru, đảng phá, đảng chôn
Nghĩa trang ô nhục, sử hồng rũ tang !

Trương Hiếu
Norway 19.06.2019
(Nghĩa trang Quân Đội VNCH)

Cầu Hiền Lương

Cầu Hiền Lương

Hiền Lương ngăn cách Nước Non
Thiên thu thù hận mãi còn ly tan !

Từ thuở Cầu buồn chia lệ ướt
Tình người Nam Bắc rũ dòng sông
Vành tang thù hận cài Non Nước
Rụng bóng ly tan đọng máu hồng

Vô thần mị Quốc gây oan nghiệt
Cầu nhuộm hai màu xóa Hiền Lương
Nghẹn ngào tiếng Quốc tình ly biệt
Nồi da xáo thịt cảnh tang thương

Hai mươi năm lẻ Cầu chia cắt
Non Nước trầm buồn lặng lẽ trôi
Dòng sông máu lệ sầu Nam Bắc
Đêm đêm quằn quại khóc chia đôi

Thiếu phụ ôm con đầu tang trắng
Quì bên chân mộ đốt hương nhang
Tình nồng vĩnh biệt đời hoang vắng
Ngấn lệ thương đau ai oán than

Bà Mẹ hai miền sầu tóc bạc
Bên Cầu rũ hận ngóng đàn con
Đứa nam, đứa bắc, đứa lưu lạc
Huyết sử Tiên Rồng Nước héo hon !

Vivi
Norway 10.11/2014

Trường xưa

Trường xưa

Lâu quá chưa lần về thăm lại
Mái trường yêu thuở dại năm nao
Hàng cây phượng vĩ lao xao
Hứng trời u ám, gió gào nắng mưa

Thầy cô nay lưa thưa đầu bạc
Ở quê nhà hay lạc nơi đâu
Thế thời gieo lắm ưu sầu
Xứ người tủi nhớ, mắt sâu lệ dài

Trường yêu ơi ! Hình hài thuở đó
Đứng chờ ta hay bỏ thay tên
Trăng soi đỉnh mộng lênh đênh
Rũ chân áo trắng gập ghềnh bể dâu

Bạn bè lạc từ lâu không gặp
Chưa lần nào họp mặt chúc nhau
Những lời xóa vết buồn đau
Cho hoa tình nở muôn màu đẹp tươi

Ôi nhớ quá mấy mươi xuân biệt
Ngày ra đi không kịp vẫy chào
Nước non Non nước nghẹn ngào
Đôi giày lủng gót buồn trao nợ đời !

Vivi
Norway 2021

Chúc cố xứ

Chúc cố xứ

Chong ngọn đèn mờ cầu cố hương
Dân an Quốc thái cạn thê lương
Bao lần xuân đến nhà tan tác
Mấy bận xuân lìa nước nhiễu nhương
Nhớ nước vắt sầu xoa uất hận
Thương nhà gạt lệ xóa đau thương
Hướng về cố xứ buồn quê Mẹ
Thời vận sĩ gian tranh bá vương !

Vivi
Norway 08.2.2021

Nước Việt quê tôi

Nước Việt quê tôi

Đất nước quê tôi hùng vĩ
Tổ Tiên gìn giữ, nào nghĩ ngẩn ngơ !

Quê tôi nằm trông ra biển
Sóng vỗ triền miên khúc điệu u buồn
Bao đời xương thịt máu tuôn
Trải đỏ rừng sâu, sông nguồn biển thẳm

Đời mẹ Việt chân mòn thảm
Mắt lệ trông chồng, tay ẵm con thơ
Gió đồi non thổi bơ phờ
Hóa đá Vọng Phu, đợi người trấn ải

Trống quân reo, cờ phất mãi
Đuổi giặc bắc phương dựng lại non sông
Sử xanh bia miệng thơm nồng
Bặch Đằng Đống Đa, máu hồng thắm đỏ

Chí lớn tài cao vò võ
Quốc biến Gia nguy, lớn nhỏ đề danh
Diên Hồng muôn thuở thắm xanh
Muôn dân ghi dạ, bia vàng đá tạc

Quê tôi đó đầy khổ nạn
Tổ Quốc trắng tang, Gia mạt triền miên
Ly tan ngọc thốt Mẹ hiền
Bể dâu non nước, rũ phiền bia sử !

Vivi
Norway 19.6.2000